1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

STRESS và ỨNG PHÓ với STRESS ppt _ TÂM LÝ, Y ĐỨC

54 187 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 685,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NỘI DUNG• Khái niệm stress đầu tiên xuất hiện trong sinh học dùng để chỉ phản ứng bình thường của cơ thể đối với bất cứ một tác động có hại nào, sau đó stress bắt đầu được sử dụng để mi

Trang 1

STRESS VÀ ỨNG PHÓ VỚI

STRESS

Bài giảng pptx các môn ngành Y dược hay nhất có tại

“tài liệu ngành dược hay nhất”;

https://123doc.net/users/home/user_home.php?

use_id=7046916

Trang 2

MỤC TIÊU: Sau khi kết thúc bài

học sinh viên có khả năng:

1 Định nghĩa được stress tâm lý là gì? và nêu được

các nguyên nhân của stress tâm lý.

2 Nêu được mối liên quan giữa gia đình với stress

3 Trình bày được tính chất và phương thức gây

bệnh của stress.

4 Mô tả được các dấu hiệu và triệu chứng của

stress.

5 Trình bày được các yếu tố ảnh hưởng và phương

thức đương đầu với stress.

6 Nêu được các stress đối với bệnh nhân nằm viện

và cách phòng chống.

Trang 3

NỘI DUNG

• Khái niệm stress đầu tiên xuất hiện trong sinh học

dùng để chỉ phản ứng bình thường của cơ thể đối với bất cứ một tác động có hại nào, sau đó stress bắt đầu được sử dụng để miêu tả các trạng thái của cá nhân đối với các điều kiện bên ngoài ở các mức độ sinh lý, tâm lý, hành vi

Trang 4

• Ở đây chúng ta tiếp cận vấn đề stress từ góc

độ tâm lý học y học.

Trang 5

KHÁI NIỆM CHUNG VỀ

STRESS

Trang 6

1.1 Những nhận xét ban đầu:

• Đến năm 1914, Walter Cannon đã sử dụng thuật ngữ

STRESS trong sinh lý học, để chỉ các stress cảm xúc

Trang 7

1.1 Những nhận xét ban đầu:

• Stress là một thuật ngữ có giới hạn rộng dùng để chỉ

những trạng thái của con nguời xuất hiện do phản ứng với những tác động đa dạng từ bên ngoài như:mất sức hoặc kiệt quệ về sức lực sau một lao động nặng nhọc, kéo dài; sau khi bị nhiễm lạnh hay say nắng, say nóng,

bị mất máu nhiều, bị nhiễm trùng nặng; sau những

cơn sợ hãi, căng thẳng, lo âu hoặc sau những niềm vui, phấn chấn quá mức chịu đựng của cơ thể

Trang 8

1.1 Những nhận xét ban đầu:

• Những nguyên nhân gây ra hiện tượng thì khác nhau,

nhưng phản ứng của cơ thể đối với chúng thì đều giống nhau Tất cả các phản ứng này đều diễn ra theo ba giai đoạn:

– Giai đoạn đầu: con người cảm thấy khó khăn – Giai đoạn hai: con người thích nghi với những

khó khăn.

– Giai đoạn ba: giai đoạn cuối cùng,con người

không chịu đựng được nữa.

Trang 9

• Ba giai đoạn này giống như một quy luật chung điều hòa

tập tính của mọi sinh vật khi chúng bị rơi vào những điều kiện đặc biệt căng thẳng và giống như tiến trình của một phản ứng thích nghi không đặc hiệu của cơ thể đối với

những tác động nặng nề, đột ngột khác nhau của môi

trường.

Trang 10

1.2 Khái niệm về stress:

Trang 11

• Cá thể và stress là mối tương quan giữa tác nhân kích thích và

phản ứng của cơ thể, nói cách khác nó vừa chỉ tác nhân công kích (như tiếng ồn của thành phố, cái nắng nóng của sa mạc, bệnh tật, sự thay đổi chỗ ở, việc làm ), vừa chỉ phản ứng của

cơ thể (về mặt tâm lý, sinh học và tập tính) (như sự hốt hoảng khi gặp thiên tai nặng nề, sự cô quạnh khi sống lâu ngoài đại dương; sự căng thẳng khi gặp khó khăn trong công việc )

• Trước các tác nhân công kích đó cơ thể thích nghi với môi

trường xung quanh, có sự cân bằng mới sau khi chịu những tác động đó.

Trang 12

• Hay nói như H Selye, stress là mối tương quan giữa tác nhân kích thích và phản ứng của cơ thể.

Trang 13

• Chúng ta có thể xem stress như sự đáp ứng

của chủ thể trước một nhu cầu hoặc như sự tương ứng trong mối quan hệ giữa con người với môi trường xung quanh

• Một số người còn cho rằng, stress là một chứng bệnh gắn liền với nền văn minh hiện đại, bị chi phối bởi sự cạnh tranh và những mối nguy hại khác.

Trang 14

• Trong điều kiện bình thường , stress là một đáp ứng thích nghi về mặt tâm lý, sinh học và tập tính Stress đặt chủ thể vào quá trình dàn xếp thích ứng với môi trường xung quanh, tạo cho cơ thể một cân bằng mới sau khi chịu những tác động của môi trường Nói cách khác, phản ứng stress bình thường đã góp phần làm cho cơ thể thích nghi

Trang 15

Nếu đáp ứng của cá nhân với các yếu tố stress không đầy đủ, không thích hợp và cơ thể không tạo ra được một cân bằng mới, thì những chức năng của cơ thể ít nhiều sẽ bị rối loạn, những dấu hiệu bệnh lý cơ thể, tâm lý, tập tính sẽ xuất hiện và sẽ tạo ra những stress bệnh lý cấp tính hoặc kéo dài.

Trang 16

CÁC GIAI ĐOẠN CỦA PHẢN

ỨNG STRESS

• Theo H.Selye, phản ứng stress, hay hội chứng thích ứng

chung (GAS – General Adaptation Syndrom) được chia thành 3 giai đoạn như sau:

– Giai đoạn báo động

– Giai đoạn thích nghi

– Giai đoạn kiệt quệ

Trang 17

2.1 Giai đoạn báo động:

• Đây là giai đoạn được biểu hiện bằng những biến đổi

đặc trưng của chủ thể khi tiếp xúc với các yếu tố gây stress Những biến đổi này là:

• Các hoạt động tâm lý được kích thích, đặc biệt là tăng

cường quá trình tập trung chú ý, ghi nhớ và tư duy

• Các phản ứng chức năng sinh lý của cơ thể được triển

khai như tăng huyết áp, nhịp tim, nhịp thở và tăng

trương lực cơ bắp

Trang 18

2.1 Giai đoạn báo động:

• Những thay đổi tâm lý – sinh lý – tập tính giúp

con người đánh giá các tình huống stress và bước đầu đề ra chiến lược đáp ứng trước các tình huống

đó Giai đoạn báo động có thể diễn ra rất nhanh (vài phút) hoặc kéo dài vài giờ, vài ngày chủ thể

có thể chết trong giai đoạn này, nếu yếu tố gây stress quá mạnh, tình huống stress quá phức tạp Nếu tồn tại được, thì các phản ứng ban đầu chuyển sang giai đoạn ổn định (hay còn gọi là giai đoạn thích nghi).

Trang 19

2.2 Giai đoạn thích nghi:

• Mọi cơ chế thích ứng được động viên để cơ thể chống

đỡ và điều hòa các rối loạn ban đầu Sức đề kháng của cơ thể tăng lên, con người có thể làm chủ được tình huống stress, lập lại các trạng thái cân bằng nội môi (homeostase) và tạo ra sự cân bằng mới với môi trường Giai đoạn này còn được gọi là giai đoạn chống đỡ.

Trang 20

2.2 Giai đoạn thích nghi:

• Trong một tình huống stress bình thường, chủ

thể đáp ứng lại bằng hai giai đoạn: báo động

và chống đỡ.

• Nếu giai đoạn chống đỡ tiến triển tốt thì các

chức năng tâm, sinh lý cơ thể được phục hồi Nếu khả năng thích ứng của cơ thể mất dần, thì quá trình phục hồi không xảy ra và cơ thể chuyển sang giai đoạn kiệt quệ.

Trang 21

2.3 Giai đoạn kiệt quệ:

• Phản ứng stress trở thành bệnh lý khi tình huống stress hoặc quá bất ngờ, dữ dội, hoặc ngược lại, quen thuộc nhưng lặp đi lặp lại, vượt quá khả

năng dàn xếp của chủ thể

Trang 22

SELYE phân biệt giữa 2 loại stress:

EUSTRESS là khía cạnh dương tính, sáng tạo và phát huy

của stress.

DISTRESS là khía cạnh âm tính và gây bệnh của stress.

ALBRECHT (1979) đã lưu ý “Stress là một phần tự nhiên

của hoạt động con người… Chúng ta phải học được để

phân biệt giữa mức độ stress vừa phải và quá mức… một tình trạng không có stress là không thể được” Do đó,

Stress vừa phải hay eustress giúp chúng ta đạt đỉnh cao của thành tích, trong khi stress quá mức gây nên bất hoạt.

Trang 23

NGUYÊN NHÂN GÂY NÊN

TRẠNG THÁI STRESS:

• Yếu tố gây stress từ bên ngoài

• Yếu tố gây stress từ bên trong

Trang 24

3.1 Yếu tố gây stress từ bên

ngoài:.

• bao gồm môi trường xung quanh, từ xã hội nơi làm việc, từ

những sự kiện lớn trong đời và từ những rắc rối thường ngày

Trang 25

3.1.1 Môi trường xung quanh:

- Tiếng ồn

- Ánh sáng chói mắt

- Nhiệt độ thay đổi, quá nóng, lạnh

- Không gian chật chội

Trang 26

3.1.2 Từ xã hội, nơi làm việc:

Trang 27

3.1.3 Các sự kiện lớn trong đời:

Trang 28

3.1.4 Rắc rối hàng ngày:

- Di chuyển: kẹt xe, ngập đườn, mưa gió, bị phạt, va

chạm

- Lạc chìa khóa, lạc con, vợ

- Hư xe, xẹp bánh xe

Trang 29

3.2 Yếu tố gây stress từ bên

trong: do lối sống và cá tính

Trang 30

3.2.1 Lối sống:

- Thuốc lá, cà phê, rượu

- Thiếu ngủ, thiếu thì giờ để ngủ.

- Thời khóa biểu quá tải.

Trang 31

3.2.2 Cá tính:

- Thiếu tự tin, bi quan, tự kỷ

- Cầu toàn, ôm đồm

- Quan trọng hóa vấn đề

- Suy nghĩ cứng nhắc

- Thiếu kiên nhẫn

Trang 32

GIA ĐÌNH & STRESS TÂM LÝ:

• Trước đây người ta chú trọng nghiên cứu tâm lý cá nhân

Từ 1979, đặc biệt ở Mỹ người ta đã chuyển trọng tâm sang tâm lý gia đình, xem gia đình như là một hệ thống, một tổng thể Theo quan điểm này những triệu chứng xuất hiện ở cá nhân được xem như là hệ quả của một sự rối nhiễu hệ thống gia đình và trị liệu trước kia chỉ xoay quanh từng cá nhân nay trở thành trị liệu toàn bộ gia đình

• (vd: Bệnh nhân tâm thần phân liệt, rối loạn thần kinh

chức năng, trẻ em phạm pháp… nguyên nhân chính là do gia đình-stress trong gia đình gây nên)

Trang 33

Stress xảy ra khi có những rối loạn

như sau:

• Rối loạn về quan hệ

• Giữa cha-mẹ (vợ-chồng), giữa cha-me-con cái, giữa con cái với nhau.

• Rối loạn về vai trò

– Người cha: Gây tai hại tình cảm do quá uy quyền (độc đoán), quá

nghiêm khắc hoặc quá nhu nhược, thiếu gương mẫu (vắng nhà luôn, bỏ bê gia đình, không quan tâm nuôi dạy con cái, nghiện rượu hư đốn, phạm pháp) Trường hợp nặng hơn: cha bị điên, chết, hoặc lấy vợ khác.

– Người mẹ: Gây tai hại về tình cảm do quá nghiêm khắc-thiếu tình

thương, hoặc quá nhu nhược-thiếu gương mẫu (vắng nhà luôn, bỏ

bê gia đình, không trông nom con cái, hư đốn, ngoại tình, mãi dâm, nghiện rượu, phạm pháp) Trường hợp nặng hơn mẹ bị điên, chết hoặc đi làm lẽ-lấy chồng khác.

– Con cái (anh chị em): Căm ghét tiềm tàng hay công khai, ganh đua

bạo ngược, có sự tiếp tay của cha hay mẹ-hoặc cả hai dẫn đến

thiếu công bằng, phân biệt đối xử.

Trang 34

Giải tỏa stress tâm lý gia đình:

Thực hiện gia đình trị liệu (family therapy) cần dựa vào 2

luận đểm mới

– Lý thuyết hệ thống

– Học thuyết giao tiếp

Trang 35

TRIỆU CHỨNG CỦA STRESS:

Trang 38

5.3 Triệu chứng hành vi:

- Thay đổi cảm giác ngon miệng

- Uống rượu, thuốc

- Hút thuốc nhiều hơn

- Thao thức

- Sốt ruột, cắn móng tay

Trang 40

5.5 Bệnh liên quan đến stress:

Stress không phải là bệnh nhưng có liên quan đến:

- Bệnh tim mạch

- Bệnh của hệ thống miễn dịch

- Hen suyễn

- Tiểu đường

- Rối loạn tiêu hóa

- Viêm loét dạ dày

- Bệnh da – vảy nến

- Đau đầu và nửa đầu

- Rối loạn kinh nguyệt

- Trầm cảm.

Trang 41

6 QUÁ TRÌNH TỪ STREESS TÂM

LÝ ĐẾN BỆNH LÝ:

các thay đổi nhiều khi nghiêm trọng về sinh hóa tế bào gọi

là “nhân chứng của Streess của sinh lý”

+Sự tăng tiết corticosteroid và catécholamin

thượng thận

+ Giảm tỷ lệ lipid tỷ trọng cao (LHD) như

alipoprotein

Trang 42

6 QUÁ TRÌNH TỪ STREESS TÂM

LÝ ĐẾN BỆNH LÝ:

các thay đổi nhiều khi nghiêm trọng về sinh hóa tế bào gọi

là “nhân chứng của Streess của sinh lý”

– Giảm tỷ lệ Zn làm phì đại tiền liệt tuyến.

– Streess chống hấp thụ calcium

– làm thay đổi nhiều nguyên tố vi lượng, các

chất xúc tác của sự sống như sodium,

potassium, sắt, mangan, crom, selenium v.v

Trang 43

8 ĐƯƠNG ĐẦU VỚI STRESS:

thích nghi với môi trường, hoàn cảnh gây nên stress

Trang 44

8.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến

sự đương đầu với stress:

trải, từng nếm mùi đau khổ, từng vấp ngã thì sự đương đầu với stress tốt hơn.

tuệ tốt, dễ tìm ra được những biện pháp tốt nhất để thoát khỏi hoàn cảnh gây stress.

Trang 45

8.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến

sự đương đầu với stress:

người lớn dễ hơn trẻ em, nam dễ hơn nữ.

lớn tới sự đương đầu với stress (số lượng, tần số, thời

gian…).

Trang 46

8.3 Các phương thức đương đầu

với stress:

bật đèn lên; lo lắng bị bệnh thì đi khám thầy thuốc…).

mắn hơn người khác (vd: bị tai nạn gãy chân - may còn giữ được tính mạng; mất của - của đi thay người…)

Trang 47

8.3 Các phương thức đương đầu

với stress:

Tự kềm chế bản thân: cố quên đi những điều gây khó chịu, động viên

chính mình (liệt hai chân vẫn thành nhà văn, nhà thơ nổi tiếng).

khác.(vd: một HỌC SINH học không tốt các môn tự nhiên đòi hỏi tính toán suy luận, bạn ấy cố gắng học tốt các môn xã hội đòi hỏi phải đầu tư thời gian học bài)

Trang 49

Nick Vujicic

Nick Vujicic sinh ngày 4-12-1982 tại Úc Từ lúc chào đời anh không có

tay lẫn chân Đến bây giờ vẫn không có nghiên cứu khoa học nào có thể giải thích được điều này Thế nhưng, bố mẹ anh luôn cố gắng giúp anh có một cuộc sống bình thường như bao đứa trẻ khác. 

18 tháng tuổi, Nick đã được bố tập bơi Đến năm anh 6 tuổi, bố dạy

anh cách dùng chân để đánh máy và mẹ đã chế tạo một dụng cụ bằng nhựa để giúp anh có thể cầm bút chì Cũng có lúc anh cảm thấy chán chường và không muốn tiếp tục sống Đó là lúc anh 8 tuổi, anh đã sợ hãi khi nghĩ rằng một ngày nào đó không có bố mẹ bên cạnh để chăm sóc Nhưng với sự giúp đỡ của gia đình, bạn bè anh đã vượt qua tất cả trở ngại đó.

Trang 50

Nick Vujicic

Tất cả hoạt động của anh đều được thực hiện bởi một chân nhỏ bên

trái “Tôi gọi nó là cái dùi trống của tôi, tôi sẽ không làm được gì nếu thiếu nó Khi xuống nước, tôi sẽ nổi hoàn toàn bởi 80% cơ thể tôi là những lá phổi Bàn chân nhỏ xíu đóng vai trò là chiếc chân vịt” - anh lạc quan nói

Thật khó có thể tưởng tượng chỉ với chiếc chân nhỏ bé ấy anh có thể

chơi gold, đá bóng, bơi lội thậm chí lướt sóng rất cừ khôi! Năm 23 tuổi, anh lấy bằng cử nhân thương mại với chuyên môn kế hoạch tài chính và kế toán Anh còn là diễn giả nhiệt thành, luôn mang đến cho các bạn trẻ nhiều niềm hi vọng vào cuộc sống thông qua những câu chuyện cảm động

Năm 1990, Nick được trao giải thưởng Công dân trẻ của Úc vì lòng

dũng cảm và sự bền chí. 

Trang 51

9 STRESS ĐỐI VỚI BỆNH

NHÂN :

Trang 52

Một số hành động chăm sóc người bệnh, hạn chế stress:

Người thầy thuốc cần thường xuyên tiếp xúc, nhạy cảm với

những hoàn cảnh, điều kiện thường gây stress ở bệnh

nhân.

Giải thích hợp lý-khoa học về bệnh cảnh của họ, giải đáp

thắc mắc, nói rõ cho họ khả năng khỏi bệnh hoặc phục hồi.

Trang 53

Một số hành động chăm sóc người bệnh, hạn chế stress:

Khéo gợi chuyện để họ tâm sự, bộc lộ những lo lắng

- những cảm nghĩ sai lệch về bệnh tật của bản thân.

Đưa họ hòa vào công tác chăm sóc cùng cán bộ điều

dưỡng.

Luyện tập TDTT, dưỡng sinh, thư giãn, phục hồi

chức năng.

Trang 54

Thắc mắc

?

Ngày đăng: 02/02/2021, 10:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm