- Trong những năm gần đây, phương thức kiểm kiểm tra, đánh giá, chất lượng học sinh, cách ra đề thi đã có nhiều thay đổi theo hướng đưa những bài tập đa dạng về kiến thức đi sâu vào bản [r]
Trang 1Huongdanvn.com –Có hơn 1000 sáng kiến kinh nghiệm hay
MỤC LỤC
Phần 1: Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 2
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
Phần 2: Nội dung Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 3
Chương 2: xây dựng một số bài tập 6
Phần 3: Kết luận 12
Phần 4: Tài liệu tham khảo 13
Phần 5: Phụ lục 14
Trang 2PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong chương trình THPT, Hoá học là bộ môn khoa học tự nhiên có vai trò quan trọng cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản và thiết thực đầu tiên về hoá học, rèn cho học sinh óc tư duy sáng tạo và khả năng trực quan nhanh nhạy Hình thành cho các em những phẩm chất cần thiết như cẩn thận, kiên trì, trung thực, tỉ mỉ, chính xác, yêu thích khoa học
Công cuộc đổi mới PPDH và phương tiện dạy học (PTDH) đã được Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII chỉ rõ: “Đổi mới PPDH – đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo cho người học, từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh”
Hóa học là môn khoa học thực nghiệm, do đó dạy và học hóa học không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt và lĩnh hội kiến thức khoa học mà còn phải nâng cao tính thực tiễn của môn học: rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo thực hành, nâng cao khả năng vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn sản xuất Trong dạy học hóa học, bài tập hóa học (BTHH) là nguồn quan trọng để HS thu nhận kiến thức, củng cố khắc sâu những lí thuyết đã học phát triển tư duy sáng tạo của học sinh, nâng cao năng lực nhận thức Tuy nhiên việc bố trí thời lượng trong làm bài cho phần kiến thức, bài tập hóa học rất ít đặc biệt với các bài tập trắc nghiệm Do vậy đa số học sinh THPT hiện nay gặp rất nhiều khó khăn trong việc phân loại và tìm ra phương pháp giải phù hợp
theo yêu cầu của ngành giáo dục về “Đổi mới phương thức kiểm tra đánh giá chất
lượng học sinh trong dạy học hóa học ở trương THPT” theo đó các bài tập được ra
theo hướng tăng cường bản chất hóa học hạn chế những tính toán quá phức tạp trong một bài tập, vì vậy học sinh cần nắm được bản chất hóa học của đề bài để từ đó đưa
ra phương pháp giải tối ưu nhất
Với những lý do trên, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “Phương pháp giải nhanh một số dạng bài tập hóa học hữu cơ thường gặp ở trường THPT ”.
2.Mục đích nghiên cứu
Nhằm nâng cao chất lượng học tập bộ môn hoá học nói chung, hình thành cho học sinh kĩ năng giải bài tập hóa học cơ bản, giúp học sinh hiểu được bản chất vấn đề, củng cố khắc sâu kiến thức cơ bản
Tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn của bản thân nhằm đáp ứng những yêu cầu của người giáo viên trong thời đại mới
3 Đối tượng nghiên cứu
Các dạng bài tập hóa học hữu cơ nhằm củng cố kiến thức, kỹ năng cho học sinh học môn hóa học hữu cơ ở Trường THPT Dầu Giây
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm:
Ôn tập kiến thức và các dạng bài tập hóa học hữu cơ
Củng cố kiến thức lớp 11-12
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 3- Nghiên cứu SÁCH GIÁO KHOA và tài liệu tham khảo
- Phân loại từng dạng bài tập để áp dụng giải dạng bài tập
- Thực nghiệm sư phạm
- Củng cố kiến thức cơ bản, rèn luyện kỹ năng, phát triển tư duy của học sinh;
cung cấp cho học sinh kiến thức cơ bản và có hệ thống.
6 Phương pháp nghiên cứu
- Vận dụng các phương pháp đặc trưng bộ môn Hóa học
- Lý thuyết về dạy học tích cực
PHẦN 2: NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG PPGN BÀI TOÁN HÓA HỌC HỮU CƠ TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC
1.1 Thực trạng dạy học hóa học ở trường THPT hiện nay…… ……
Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, mà trọng tâm là đổi mới PPDH sau Nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc hội khóa X, cho đến nay đã thực hiện được một số thành công mới:
- Chú trọng tới vấn đề tăng cường hoạt động tích cực nhận thức của HS
- Khuyến khích sử dụng các PPDH tích cực trong hoạt động dạy học
- Đầu tư phương tiện dạy học hiện đại
- Nâng cao tính cơ bản, tính thực tiễn, tính hiện đại của chương trình học
- HS hoạt động độc lập, tích cực hơn và có khả năng làm việc theo nhóm cao hơn trước đây
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện ở mỗi địa phương, do các nguyên nhân khách quan và chủ quan, thực trạng dạy học nói chung và PPDH hoá học nói riêng còn nhiều hạn chế, chất lượng chưa đều:
- Trong các giờ học luyện tập, ôn tập kiến thức PPDH còn nặng về thuyết trình, hoạt động của HS còn thụ động, ít hoạt động tư duy, chủ yếu là nghe giảng, ghi bài (hoặc đọc chép) khi làm bài tập hóa học và làm bài kiểm tra kỹ năng giải toán còn chậm không đáp ứng được yêu cầu đổi mới hình thức ra đề kiểm tra đặc biệt là đề thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh Đại học hiện nay
- Chủ yếu sử dụng các PPDH thụ động, Các PPDH thường dùng là thuyết trình (giảng giải), đàm thoại, thầy ra đề hướng dẫn trò làm từng bước giải chi tiết nên mất rất nhiều thời gian Có trình bày nêu vấn đề nhưng chưa giúp HS giải quyết vấn đề mà mới chỉ là nêu vấn đề và chuyển tiếp vấn đề, chưa có chú ý hình thành từng bước năng lực tự giải quyết vấn đề từ thấp lên cao dần cho HS
- Gắn việc giảng dạy với thực tiễn chưa đầy đủ HS đặc biệt lúng túng khi phải giải đáp, giải quyết những vấn đề thực tiễn (thuộc vận dụng kiến thức trong học tập hoặc trong đời sống sản xuất)
Trang 4- Trong giờ học, HS ít vận động đặc biệt là vận động tư duy dẫn đến HS thường chỉ chú ý tới việc tiếp thu rồi tái hiện lại những điều GV giảng hoặc đã viết sẵn trong sách giáo khoa nên có thể trả lời đúng các câu hỏi ở mức độ thấp nhất là những câu hỏi biết, trong khi đó lại lúng túng ở những câu hỏi ở mức độ cao hơn – những câu hỏi yêu cầu hiểu, áp dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá
1.2 Các xu hướng hiện nay trong việc xây dựng bài tập hóa học.
- Loại bỏ các bài tập có nội dung nghèo nàn nhưng lại cần đến những thuật toán phức tạp để giải
Loại bỏ các bài tập có nội dung lắt léo, giả định rắc rối, phức tập, xa rời hoặc phi thực tiễn hóa học
- Tăng cường sử dụng bài tập thực nghiệm
- Tăng cường sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan
- Xây dựng bài tập mới để rèn luyện cho học sinh năng lực phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề
- Xây dựng bài tập có nội dung phong phú, sâu sắc, phần tính toán đơn giản nhẹ nhàng
1.3 Nội dung chương trình hóa học hữu cơ lớp 11 THPT ………
tập
Tổng số tiết
4 Đại cương về hóa học hữu cơ 2 9
7 Hiđrocacbon thơm – Nguồn
hiđrocacbon thiên nhiên
8 Dẫn xuất halogen Ancol – Phenol 2 9
9 Anđehit – Xeton – Axit cacboxylic 2 8
Nhận xét:
- Theo quy định của chương trình, số tiết hóa học ở lớp 11 THPT theo chương trình nâng cao tăng (2,5 tiết/tuần), do đó nội dung tăng (không chỉ đẩy 2 chương ở lớp
12 cũ xuống mà còn có nhiều kiến thức mới được bổ sung, nhiều định nghĩa, khái niệm, quy tắc được chỉnh sửa cho chuẩn xác)
- Phần hóa học hữu cơ ở trường THPT có 10 chương, trong đó lớp 11 có 6 chương, lớp 12 có 4 chương Các khái niệm cơ bản và khó của hóa học hữu cơ, các
nhóm chất hữu cơ cơ bản đều tập trung ở lớp 11, nhất là chương “Đại cương”.
Trang 5- Số tiết luyện tập so với số tiết chương trình học quá ít không có nhiều thời gian để sửa bài tập
- Chương trình hóa học hữu cơ THPT nói chung nặng và khó cho cả người dạy
và người học Chính vì thế cần có những GV giỏi để tổ chức và điều khiển đúng hướng hoạt động nhận thức của HS
1.4 Các dạng bài tập trắc nghiệm hóa học hữu cơ thường gặp ở trường THPT
1.4.1 Ý nghĩa tác dụng của việc sử dụng bài tập hóa học
Việc dạy học không thể thiếu bài tập Sử dụng bài tập để luyện tập là một biện pháp hết sức quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học
Bài tập hóa học có ý nghĩa tác dụng to lớn về nhiều mặt
- Ý nghĩa trí dục:
+ Làm chính xác hóa khái niệm hóa học, củng cố đào sâu và mở rộng kiến thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn
+ Ôn tập hệ thống hóa kiến thức một cách tích cực nhất
+ Rèn luyện các kỹ năng hóa học như: cân bằng PTHH, tính toán theo PTHH…
- Ý nghĩa phát triển: Phát triển ở học sinh ở năng lực tư duy logic, biện chứng, khái quát, độc lập, thông minh và sáng tạo
- Ý nghĩa giáo dục: Rèn luyện đức tính chính xác, kiên nhẫn, trung thực và lòng say mê khoa học hóa học.Bài tập thực nghiệm còn có tác dụng rèn luyện văn hóa lao động
1.4.2 Các dạng bài tập trắc nghiệm thường gặp ở trường THPT
- Câu trắc nghiệm đúng sai
- Câu trắc nghiệm có nhiều câu hỏi để lựa chọn
- Câu trắc nghiệm ghép đôi
- Câu trắc nghiệm điền khuyết hay có câu trả lời ngắn
1.5 Một số phương pháp giải toán hóa học hữu cơ ở THPT
1.5.1 Phương pháp bảo toàn nguyên tố
- Bảo toàn điện tích
- Bảo toàn khối lượng
1.5.2 Phương pháp đại số
1.5.3 Phương pháp trung bình ( khối lượng trung bình, số nguyên tử trung bình)
1.5.4 Phương pháp loại suy
1.5.5 Phương pháp tăng giảm khối lượng
1.5.6 Phương pháp đường chéo
1.5.7 Phương pháp sử dụng 1 số công thức tính nhanh
Kết luận chương 1
Trên đây là những nghiên cứu của tôi về những vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động dạy và học hóa học ở trường phổ thông hiện nay, sử dụng BTHH, mà
Trang 6cụ thể là BTHH hữu cơ vào việc bồi dưỡng học sinh giỏi, luyện thi Đại học… Qua
đó, có thể nhận thấy rằng:
- Từ thực trạng của việc dạy học hóa học hiện nay, việc giảng dạy môn hóa học
ở trường phổ thông cần có sự đổi mới một cách đồng bộ và toàn diện, mà trọng tâm là đổi mới PPDH để phù hợp với sự phát triển khoa học kỹ thuật và trình độ của người học
- Trong dạy học hóa học hữu cơ, bài tập hóa học có vai trò hết sức quan trọng, là nguồn cung cấp kiến thức cho HS Yêu cầu đặt ra cho người GV là phải có PPDH hóa học nói chung, phương pháp rèn kỹ năng giải bài tập một cách hiệu quả để các BTHH hợp chất Hữu cơ phát huy được tất cả những vai trò của nó trong dạy học
- Trong những năm gần đây, phương thức kiểm kiểm tra, đánh giá, chất lượng học sinh, cách ra đề thi đã có nhiều thay đổi theo hướng đưa những bài tập đa dạng về kiến thức đi sâu vào bản chất hóa học, không yêu cầu những tính toán quá phức tạp, hình thức ra đề chủ yếu các bài tập trắc nghiệm yêu cầu học sinh nắm vững bản chất hóa học, thuật giải toán cơ bản để giải nhanh… nhằm mục tiêu cuối cùng là nâng cao hiệu quả hoạt động dạy và hoạt động học, tạo ra một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao, HS được khuyến khích và tạo điều kiện để chủ động tìm kiếm tri thức, phát triển trí tuệ, hiểu được bản chất hóa học hơn là những tính toán mang tính lí thuyết, sắp xếp hợp lý quá trình tự học tập, tự rèn luyện của bản thân mình
Chương 2
XÂY DỰNG MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP HÓA HỌC HỮU CƠ THƯỜNG GẶP VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢI NHANH CHO TỪNG DẠNG
2.1 Xây dựng mô hình một số dạng bài tập trắc nghiệm hóa học hữu cơ thường gặp và phương pháp giải nhanh cho từng dạng
1 Dựa trên công thức tổng quát của hiđrocacbon
Thí du: Công thức tổng quát của hiđrocacbonA có dạng (Cn H 2n+1)m A thuộc dãy đồng đẳng nào?
A) Ankan B) Anken C) Ankin D) Aren
Suy luận: CnH2n+1 là gốc hidrocacbon hóa trị I Vậy phân tử chỉ có thể do 2 gốc hydrocacbon hóa trị I liên kết với nhau, vậy m = 2 và A thuộc dãy ankan: C2nH2n+4
2 Khi đốt cháy hidrocacbon thì m HC = m C + m H
Thí du : Đốt cháy hoàn toàn m gam hỗn hợp gồm CH4, C3H6 và C4H10 thu được 17,6g CO2 và 10,8g H2O m có giá trị là:
A) 2g B) 4g C) 6g D) 8g
Suy luận: mhỗn hợp = mC + mH = 17 644 12+10 8
18 2=6 g
3 Khi đốt cháy ankan thu được nCO 2 > nH 2 O và n Ankan = n H2O – n CO2
Số C trung bình = n CO2 / n HC
Cho sản phẩm cháy vào dung dịch Ca(OH)2 dư thì khối lượng kết tủa thu được là:
A 37,5g B 52,5g C 15g D 42,5g
Suy luận: nankan = nH2O - nCO2 → nCO2 = nH2O - nankan
Trang 7nCO2 =
9,45
18 = 0,15 = 0,375 mol
CO2 + Ca(OH)2 → CaCO3 + H2O
nCaCO3 = CO2 = 0,375 mol
mCaCO3 = 0,375.100 = 37,5g chọn Đáp án: A
Thí du 2: Đốt cháy hoàn toàn hỗn hợp 2 hidrocacbon liên tiếp trong dãy đồng đẳng
thu được 11,2 lít CO2 (đktc) và 12,6g H2O Hai hidrocacbon đó thuộc dãy đồng đẳng nào?
A Ankan B Anken C Ankin D Aren
Suy luận: nH2O =
12,6
18 = 0.7 > 0,5 Vậy đó là ankan
Thí du 3: Đốt cháy hoàn toàn hỗn hợp 2 hidrocacbon liên tiếp trong dãy đồng đẳng
thu được 22,4 lít CO2(đktc) và 25,2g H2O Hai hidrocacbon đó là:
A C2H6 và C3H8 B C3H8 và C4H10
C C4H10 và C5H12 D C5H12 và C6H14
Suy luận: nH2O =
25,2
18 = 1,4 mol ; nCO2 = 1mol
nH2O > nCO2 2 chất thuộc dãy ankan nAnkan = 0,4 mol
Số C trung bình = 1/0,4 = 2,5 chọn đáp án A
Thí du 4: Đốt cháy hoàn toàn hỗn hợp gồm 1 ankan và 1 anken Cho sản phẩm
cháy lần lượt đi qua bình 1 đựng P2O5 dư và bình 2 đựng KOH rắn, dư thấy bình 1 tăng 4,14g, bình 2 tăng 6,16g Số mol ankan có trong hỗn hợp là:
A 0,06 √ B 0,09 C 0,03 D 0,045
Suy luận: nH2O =
4,14
18 = 0,23 ; nCO2 =
6,16
44 = 0,14
nankan = nH2O – nCO2 = 0,23 – 0,14 = 0,09 mol
Thí du 5: Đốt cháy hoàn toàn 0,1 mol hỗn hợp gồm CH4, C4H10 và C2H4 thu được 0,14 mol CO2 và 0,23 mol H2O Số mol ankan và anken có trong hỗn hợp lần lượt là:
A 0,09 và 0,01 B 0,01 và 0,011
C 0,08 và 0,02 D 0,02 và 0,08
Suy luận: nankan = 0,23 – 0,14 = 0,09 ; nanken = 0,1 – 0,09 = 0,01 mol
4 Dựa vào phản ứng cộng của anken với Br 2 có tỉ lệ mol 1: 1.
Thí du: Cho hỗn hợp 2 anken đi qua bình đựng nước Br2 thấy làm mất màu vừa đủ dung dịch chứa 8g Br2 Tổng số mol 2 anken là:
A 0,1 B 0,05 C 0,025 D 0,005
Suy luận: nanken = nBr2 =
8
160 = 0,05 mol
5 Dựa vào phản ứng cháy của anken mạch hở cho nCO2 = nH2O
Thí du 1 : Đốt cháy hoàn toàn hỗn hợp 2 hidrocacbon mạch hở trong cùng dãy
đồng đẳng thu được 11,2 lít CO2 (đktc) và 9g H2O Hai hidrocacbon đó thuộc dãy đồng đẳng nào?
A Ankan B Anken C Ankin D, Aren
Trang 8Suy luận: nCO2 =
11,2
0,5
22, 4 mol ; nH2O =
9 0,5
nH2O = nCO2
Vậy 2 hidrocacbon thuộc dãy anken
Thí du 2: Một hỗn hợp khí gồm 1 ankan và 1 anken có cùng số nguyên tử C trong
phân tử và có cùng số mol Lấy m gam hỗn hợp này thì làm mất màu vừa đủ 80g dung dịch 20% Br2 trong dung môi CCl4 Đốt cháy hoàn toàn m gam hỗn hợp đó thu được 0,6 mol CO2 Ankan và anken đó có công thức phân tử là:
A C2H6, C2H4 B C3H8, C3H6
C C4H10, C4H8 D C5H12, C5H10
Suy luận: nanken = nBr2 =
80.20 100.160 0,1 mol = nankan nhh = 0,2 mol số C = 0,6 / 0,2 = 3 chọn đáp án B
6 Đốt cháy ankin: nCO2 > nH2O và nankin (cháy) = nCO2 – nH2O
Thí du 1: Đốt cháy hoàn toàn V lít (đktc) một ankin thể khí thu được CO2 và H2O
có tổng khối lượng 25,2g Nếu cho sản phẩm cháy đi qua dd Ca(OH)2 dư thu được 45g kết tủa
a V có giá trị là:
A 6,72 lít B 2,24 lít C 4,48 lít B 3,36 lít
Suy luận: nCO2 = nCaCO3 =
45
100 0,45 mol mCO2 = 0,45*44 = 19,8 g
mH2O = 25,2 – 19,8 = 5,4 g nH2O = 0,3 mol
nankin = nCO2 – nH2O = 0,45 – 0,3 = 0,15 mol
Vankin = 0,15.22,4 = 3,36 lít
b Công thức phân tử của ankin là:
A C2H2 B C3H4 C C4H6 D C5H8
Số C = nCO2 /nankin = 3 chọn đáp án B
Thí du 2: Đốt cháy hoàn toàn V lít (đktc) 1 ankin thu được 10,8g H2O Nếu cho tất
cả sản phẩm cháy hấp thụ hết vào bình đựng nước vôi trong thì khối lượng bình tăng 50,4g V có giá trị là:
A 3,36 lít B 2,24 lít C 6,72 lít D 4,48 lít
Suy luận: Nước vôi trong hấp thu cả CO2 và H2O
mCO2 + mH2O = 50,4g ; mCO2 = 50,4 – 10,8 = 39,6g
nCO2 = 0,9 mol nH2O = 0,6 mol
nankin = nCO2 – nH2O = 0,3 mol Vankin = 6,72 lit
7.Dựa và cách tính số nguyên tử C và số nguyên tử C trung bình hoặc khối lượng mol trung bình…
+ Khối lượng mol trung bình của hỗn hợp:
hh hh
m M
n
+ Số nguyên tử C trung bình:
2
CO hh
n n n
Trang 9+ Khi số nguyên tử C trung bình bằng trung bình cộng của 2 số nguyên tử C thì 2 chất có số mol bằng nhau
Ví du 1: Hỗn hợp 2 ankan là đồng đẳng liên tiếp có khối lượng là 24,8g Thể tích
tương ứng của hỗn hợp là 11,2 lít (đktc) Công thức phân tử ankan là:
A CH4, C2H6 B C2H6, C3H8
B C3H8, C4H10 D C4H10, C5H12
Suy luận:
24,8
49,6 0,5
hh
; 14n 2 49,6 n3,4. 2 hidrocacbon là C3H8 và C4H10.
Ví du 2: Cho 14g hỗn hợp 2 anken là đồng đẳng liên tiếp đi qua dung dịch nước
Br2 thấy làm mất màu vừa đủ dd chứa 64g Br2.CTPT của các anken là:
A C2H4, C3H6 B C3H8, C4H10
C C4H10, C5H12 D C5H10, C6H12
64 0,4 160
anken Br
14 35 0,4
anken
; 14n 35 n 2,5. Đó là : C2H4 và C3H6
Thí du 3: Cho 10,2g hỗn hợp khí A gồm CH4 và anken đồng đẳng liên tiếp đi qua
dd nước brom dư, thấy khối lượng bình tăng 7g, đồng thời thể tích hỗn hợp giảm
đi một nửa
1 Công thức phân tử các anken là:
A C2H4, C3H6 B C3H6, C4H10
C C4H8, C5H10 D C5H10, C6H12
2 Phần trăm thể tích các anken là:
A 15%, 35% B 20%, 30%
C 25%, 25% D 40% 10%
Suy luận:
1 VCH4 V2anken nCH4 n2anken
m2anken 7 g; 4
10,2 7
0,2 16
CH
;
7
0,2
n n
Hai anken là
C2H4 và C3H6
2 Vì
2 3 2,5
2
trung bình cộng nên số mol 2 anken bằng nhau Vì ở cùng điều kiện %n = %V
→ %V = 25%
8 Dựa trên phản ứng tách nước của rượu no đơn chức thành anken → n anken
nrượu và sô nguyên tử C không thay đổi Vì vậy đốt rượu và đốt anken tương ứng cho
số mol CO2 như nhau
Thí du: Chia a gam ancol etylic thành 2 phần đều nhau.
Phần 1: mang đốt cháy hoàn toàn → 2,24 lít CO2 (đktc)
Phần 2: mang tách nước hoàn toàn thành etylen, Đốt cháy hoàn toàn lượng etylen →
m gam H2O m có giá trị là:
Trang 10A 1,6g B 1,8g C 1,4g D 1,5g
Suy luận: Đốt cháy ancol etylic được 0,1 mol CO2 thì đốt cháy tương ứng phần etylen cũng được 0,1 mol CO2 Nhưng đốt anken cho mol CO2 bằng mol H2O
Vậy m = 0,1.18 = 1,8
9 Dựa và phản ứng tráng gương: cho tỉ lệ nHCHO : nAg = 1 : 4
nR-CHO : nAg = 1 : 2
Thí du 1: Cho hỗn hợp gồm 0,1 mol HCOOH và 0,2 mol HCHO tác dụng hết với dd
AgNO3/NH3 thì khối lượng Ag thu được là:
A 108g B 10,8g C 216g D 21,6g
Suy luận: 1 mol HCOOH → 2 mol Ag
0,1 mol 0,2
1 mol HCHO → 4 mol Ag
0,2 mol 0,8
→ mAg = (0,2 + 0,8 )*108 =108 g
Thí du 2: Chất hữu cơ X thành phần gồm C, H, O trong đó %O: 53,3 khối lượng Khi
thực hiện phản ứng trang gương, từ 1 mol X → 4 mol Ag CTPT X là:
A HCHO B (CHO)2 C CH2(CHO)2 D C2H4(CHO)2
10 Dựa vào phương pháp tăng giảm khối lượng:
Nguyên tắc: Dựa vào sự tăng giảm khối lượng khi chuyển từ chất này sang chất khác
để xác định khối lượng 1 hỗn hợp hay 1 chất
Áp dụng : dạng bài cho khối lượng đầu , khối lượng sau hoặc khối lượng tăng giảm
Thí du 1: Cho 20,15g hỗn hợp 2 axit no đơn chức tác dụng vừa đủ với dd Na2CO3 thì thu được V lít CO2 (đktc) và dd muối.Cô cạn dd thì thu được 28,96g muối Giá trị của
V là:
A 4,84 lít B 4,48 lít C 2,24 lít D 2,42 lít E Kết quả khác
Suy luận: Gọi công thức trung bình của 2 axit là: R COOH
Ptpu: 2R COOH + Na2CO3 → 2R COONa + CO2 + H2O
Theo pt: 2mol → 2 mol 1 mol m = 2.(23 - 1)= 44g Theo đề bài: Kl tăng 28,96 – 20,15 = 8,81g
→ Số mol CO2 =
8,81
0,2
44 mol → Thể tích CO2: V = 0,2.22,4 = 4,48 lít
Thí du 2: Cho 10g hỗn hợp 2 rượu no đơn chức kế tiếp nhau trong dãy đồng đẳng tác
dụng vừa đủ với Na kim loại tạo ra 14,4g chất rắn và V lít khí H2 (đkc).V có giá trị là:
A 1,12 lít B 2,24 lít C 3,36 lít D 4,48 lít
Suy luận: R – OH + Na → R - ONa + ½ H 2
Theo ptpư: 1 mol 0,5 mol m tăng = 22 g
Theo đề (0,1mol)? m tăng 4,4 g
→ Thể tích H2: V = 0,1.22,4= 2,24 lít
11 Dựa vào ĐLBTNT và ĐLBTKL:
- Trong các phản ứng hóa học, tổng khối lượng các chất tham gia phản ứng bằng tổng khối lượng của các sản phẩm tạo thành
A + B → C + D
Thì mA + mB = mC + m D
- Sử dụng bảo toàn nguyên tố trong phản ứng cháy:
Khi đốt cháy 1 hợp chất A (C, H) thì nO CO( 2 ) nO H O( 2 ) nO O pu( 2 )