Với sự năng động, sáng tạo, nhiệt huyết và trí tuệ của các học viên, cộng với thế mạnh liên ngành và đa dạng về chuyên môn, cộng đồng VNU EE đang phát triển mạnh mẽ với nhiều hoạ[r]
Trang 1HỢP TÁC TRỌNG TRIỂN KHAI CÁC Dự ÁN QỤỐC TÊ
TẠI ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI: THựC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP• • • • • •
Ban Hợp tác và Phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội
I.Tổng quan một số chương trình, dự án quốc tế trọng điểm
Từ những ngày đầu thành lập Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) đến nay, họp tác quốc tế (HTQT) luôn là một trong các định hướng ưu tiên phát triển Thông qua các hoạt động hợp tác hiệu quả, ĐHQGHN đã thu hút được các nguồn lực về tài chính, con người, trang thiết bị, học liệu, phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, tăng cường cơ sở vật chất, tạo giá trị gia tăng cho các hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học, phát triển chương trình đào tạo mới, xuất bản tài liệu và giáo trình Số lượng các đối tác quốc tế ngày càng tăng, đồng thời, quan hệ hợp tác với các đối tác truyền thống, các Đại sứ quán, các tổ chức của Liên hợp quốc và các tô chức phi chính phủ (NGO) ngày càng hiệu quả, gia tăng cả về lượng và chất
Chủ trưong nhất quán của ĐHQGHN về thúc đẩy các hoạt động hợp tác quốc
tế, được quan tâm thực hiện và thể hiện trong các nghị quyết và chiến lược của ĐHQGHN, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ ĐHQGHN lần thứ V nhiệm kỳ 2015- 2020; Chương trình công tác “Nâng cao hiệu quả hoạt động hợp tác và phát triển
ở ĐHQGHN giai đoạn 2015-2020” của Đảng ủy ĐHQGHN, Chiến lược phát triển ĐHQGHN đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 ban hành kèm theo Quyết định số 4488/QĐ-ĐHQGHN ngày 28/11/2014 của Giám đốc ĐHQGHN Với tư cách là đại học đa ngành, đa lĩnh vực, có vị thế và truyền thống lâu đời, ĐHQGHN hợp tác sâu rộng với rất nhiều tổ chức quốc tế như UNESCO, UNDP, Oxfam; các đại sứ quán: Hoa kỳ, Úc, Ireland, EU, Cộng hòa Pháp, Canada, Liên bang Nga, Đan Mạ c h các quỹ và tổ chức phi chính phủ: Quỹ Rosa Luxemburg, Quỹ Wenner Gren, Quỳ Jean Monnet, các mạng lưới giáo dục đại học khu vực và thế giới như AUN (Mạng lưới các đại học Asean), AUF (Tổ chức đại học Pháp ngữ), UMAP (Tổ chức hợp tác đại học Châu Á-Thái Bình Dương), SATU (Tổ chức họp tác đại học Đài Loan-Asean), Các hoạt động hợp tác có mặt ở hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, các chuyên ngành đào tạo của ĐHQGHN như: Kinh tế, Pháp luật, Khoa học Giáo dục, Văn hóa, Tôn giáo, Nhân học, Lịch sử, Môi trường, Biến đổi Khí hậu, Y sinh, Hóa học Vật liệu, Tính toán mô phỏng, Điện tử viễn thông, Công nghệ thông tin, Ngôn ngữ, Chính vì vậy, hiệu quả của các chương trình dự án quốc tế trực tiếp hay gián tiếp đều tác động đến kinh tế - xã hội thông qua các tư vấn chính sách, hoạch định chiến lược phát triển giáo dục đại học, phát triển khoa học công nghệ, góp phần xây dựng và phát triển bền vững đất nước
Trang 2Chủ trương phát triển các chương trình hợp tác nghiên cứu khoa học và đào tạo liên kết quốc tế nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu và giảng dạy của cán bộ, đồng thời gia tăng nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất phục vụ nhu cầu phát triển của đơn vị và của ĐHQGHN được khẳng định xuyên suốt các kỳ Đại hội Đảng bộ ĐHQGHN Cùng với tiến trình phát triển của ĐHQGHN cũng như công tác chỉ đạo, điều hành chung và nỗ lực của các đơn vị, công tác hợp tác phát triển (HTPT) đã thu được nhiều kết quả khả quan, đặc biệt trong những năm gần đây đã phát triển được nhiều chương trình, dự án mang tính thời sự, có ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống, kinh tế, khoa học và xã hội Việt Nam Có thể kể đến các chương trình dự án như: Dự
án “Xây dựng năng lực nghiên cứu chính sách, giáo dục và đào tạo nhằm thúc đẩy phát triển xanh” do PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn nguyên Phó Giám đốc ĐHQGHN chủ trì, mục tiêu xây dựng chính sách phát triển kinh tế và duy trì, đảm bảo xã hội phát triển bền vững Bên cạnh đó, việc hợp tác với các đối tác Bắc Âu về bảo vệ môi trường và thích ứng với biển đổi khí hậu, cũng được các nhà khoa học hàng đầu của ĐHQGHN chủ trì và thực hiện thành công trong giai đoạn 2012 - 2016; Dự án
“Biến đổi khí hậu và những thách thức của quá trình đô thị hóa tự phát tại các vùng đất thấp miền Bắc Việt N am ” thực hiện từ 2013 - 2015, do GS Mai Trọng Nhuận chủ trì; Dự án “Giải pháp đa lợi ích giảm thiểu biến đối khí hậu ở Việt Nam và các nước Đông Dương bằng phát triển năng lượng sinh học” do GS Lưu Văn Bôi chủ trì triển khai trong giai đoạn 2011-2016, là những dự án điển hình về quy mô nguồn lực tài chính, hiệu quả triển khai, liên kết chặt chẽ các yếu tố Quốc tế - Đại học - Địa phương và Doanh nghiệp
Với nguồn tài trợ của các tổ chức quốc tế, các đại sứ quán, nhiều đơn vị trong ĐHQGHN đã tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa học quốc tế lớn, thu hút được nhiều chuyên gia, học giả danh tiếng, tham dự và góp phần nâng cao uy tín, vị thế quốc tế của ĐHQGHN Có thể kể đến một số hoạt động tiêu biểu như Hội thảo Quốc tế Việt Nam học luôn quy tụ số lượng đông đảo các nhà nghiên cứu về Việt Nam trên toàn thế giới được tổ chức 4 năm một lần; Hội nghị Kinh tế trẻ châu Á tổ chức năm 2019 thu hút sự tham gia của gần 500 đại biểu, học giả; Hội nghị quốc tế
về bệnh Whitmore lần thứ IX năm 2019 với hơn 300 nhà khoa học tham dự; Diễn đàn Hà Nội về Biến đổi khí hậu và phát triển bền vững được tổ chức 2 năm một lần với sự tài trợ từ Quỹ Cao học Hàn Quốc và Bộ K H CN Các hoạt động trao đổi học thuật quy mô, tầm vóc quốc tế không chỉ tập trung trong lĩnh vực khoa học sự sống, khoa học xã hội, mà còn ở những lĩnh vực có nhiều sự khác biệt trong quan điểm tiếp cận như Diễn đàn Luật Hiến pháp Châu Á với hơn 300 chuyên gia, nhà nghiên cửu đến từ các quốc gia và vùng lãnh thổ Hàng năm, có trên dưới 100 hội thảo quốc tế được tổ chức tại ĐHQGHN góp phần mở rộng mạng lưới hợp tác khoa học, tạo ra các sản phẩm khoa học, công bố quốc tế và tạo môi trường học thuật hội nhập quốc tế
Thông qua các chương trình hợp tác trao đổi sinh viên song phương và đa phương; các chương trình hợp tác trao đổi tín chỉ trong khuôn khổ các tổ chức, hiệp hội đại học khu vực; các chương trình đào tạo ngắn hạn về văn hóa, lịch sử, kinh tế -
xã hội, tài nguyên môi trường Việt N am , Hàng năm, ĐHQGHN thu hút được hơn
Trang 31000 lượt học viên, sinh viên nước ngoài đến học tập và nghiên cứu và số sinh viên ĐHQGHN đi nghiên cứu, học tập và tham gia trao đổi, giao !ưu văn hóa tại các cơ sở đối tác nước ngoài cũng ngày càng tăng
SỐ lượng sinh viên tham gia các
chương trình họp tác trao đôi của
I 1 ỉl ĩl
■1 ll IIII
2015 20 1 6 2017 2018 2019
■ SỔ sinli viên ĐHQGHN thani 2Ĩa chương trinh trao đôi
tạị nước ngoài
■ Số sinh vien nước neoài đến ĐHQGHN tham gia các
chiromg trình đào tạo ngấu hạn và dài hạn
số sinh viên nước ngoài đến
ĐHQGHN • Đ H KH TN
• ĐHKHXHN V
■ Đ H N N
ĐHKT
■ Đ H G D
• Đ H V N
• K Luật
• KQT
Hình 1 Số lượng sinh viên quốc tế và sỉnh viên ĐHQGHN tham gia các chương trình hợp tác trao đổi (a)
và Tỷ lệ phân bố sinh viên quốc tế tại các đơn vị trong ĐHQGHN (b).
Qua nghiên cứu và phân tích xu hướng của sinh viên, học viên quốc tế tới ĐHQGHN,
có thể nhận thấy, số lượng sinh viên tăng đều hàng năm, các lĩnh vực họp tác đào tạo
về văn hóa, ngôn ngữ, công nghệ, khoa học sự sống, kinh tế, lịch sử Việt Nam thu hút phần lớp số lượng sinh viên quốc tế, đây là thế mạnh cần phát huy nhằm tăng cường chỉ số quốc tế của ĐHQGHN trên các bảng xếp hạng đại học uy tín thế giới
Đặc biệt trong giai đoạn 2017 -2019, ĐHQGHN đã xây dựng và bước đầu triển khai nhiều dự án hợp tác quốc tế, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, tăng cường năng lực cán bộ và các nguồn lực khác vì sự phát triển của ĐHQGHN và các đơn
vị Ngày 4 tháng 11 năm 2019, ĐHQGHN phối hợp với Viện Khảo cứu Cao cấp (EPHE), Viện Hàn lâm và Khoa học Xã hội Việt Nam, Tổ chức Đại học Pháp ngữ chính thức khởi động dự án Vietnamica Dự án này do Liên minh châu Âu và Hội đồng Nghiên cửu châu Âu (European Research Council) tài trợ tập trung vào các hoạt động nghiên cứu lịch sử và số hóa tư liệu v ă n bia Việt Nam Dự án nhằm nghiên cứu lịch sử cung tiến Việt Nam qua văn bia, số hóa tư liệu khoa học xã hội Việt Nam lưu trữ ở châu Ầu và Việt Nam; tham gia đào tạo học viên cao học và nghiên cứu sinh; thiết lập thư viện điện tử, dịch thuật - xuất bản các chuyên khảo và nghiên cứu tổng hợp về lịch sử cung tiến Việt Nam Dự án bao gồm cả sự kết hợp nghiên cứu và
tổ chức đào tạo, chuyển giao công nghệ, nhằm duy trì một cách bền vững các hướng nghiên cứu và tạo ảnh hưởng lâu dài Dự án Vietnamica được triển khai theo cách thức hiện đại, phù hợp với công nghệ số và những xu hướng công nghệ mới cho khoa học xã hội và nhân văn Và điều đặc biệt, dự án Vietnamica thu hút sự tham gia của nhiều học giả và CO’ quan khoa học có uy tín của hai phía Việt Nam và Pháp Với những khía cạnh đó, dự án Vietnamica sẽ góp phần tạo nên một cơ sở dữ liệu toàn diện, giá trị về Việt Nam học, đồng thời là cầu nối giúp làm sâu sắc và thắt chặt thêm quan hệ học thuật giữa Việt Nam và các nước châu Âu, nhất là Cộng hòa Pháp
Trang 4Cũng trong hai năm 2018-2019, ĐHQGHN đã phối họp với Học viện sáng tạo, Đại học Dublin, Ai-len (University College Dublin - UCD) triển khai dự án “Nâng cao năng lực cho cán bộ giảng dạy và cán bộ quản lý của Đại học Quốc gia Hà Nội theo phương pháp tiếp cận tư duy đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp (tư duy hướng đến hiệu quả) nhằm thúc đẩy và tăng cường các kỹ năng trong thế kỷ 21 và nuôi dưỡng tinh thần khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo trong sinh viên” nằm trong khuôn khổ hợp tác song phương Việt Nam-Ireland về giáo dục (VIBE) Dự án hướng đến mục tiêu tăng cường kỹ năng, thúc đấy tư duy đổi mới sáng tạo theo tinh thần khởi nghiệp, phát triến các phương pháp thực hành giảng dạy theo hình thức trải nghiệm mới mẻ cho các cán bộ của ĐHQGHN, qua đó sẽ giúp trang bị tư duy đổi mới sáng tạo theo tinh thần khởi nghiệp và các kỹ năng cần thiết của thế kỷ 21 cho sinh viên, giúp sinh viên thích ứng và phát triển tốt hơn trong tương lai Trong khuôn khổ Dự án, ĐHỌGHN
đã tô chức 4 khóa đào tạo nâng cao năng lực cho hơn 130 cán bộ giảng dạy và quản lý với các chuyên môn khác nhau đến từ nhiêu đơn vị trong toàn ĐHQGHN Trong 10 ngày đào tạo, các học viên được trải qua hai giai đoạn đào tạo: (1) Nhà giáo dục sáng tạo - Nhìn nhận với con mắt mới mẻ; và (2) Nhà giáo dục theo tinh thần khởi nghiệp
- Người thắp lửa Với hình thức học thông qua thực hành và các hoạt động đào tạo
đa dạng, đầy tính sáng tạo và gợi mở, các học viên được trực tiếp tham gia các hoạt động trải nghiệm, được làm việc theo nhóm để vượt qua các thử thách và thực hiện các dự án từ dễ đến khó, qua đó học viên được trang bị nhiều kỹ năng, kiến thức, các công cụ và phương pháp đào tạo tiên tiến, khác biệt và mới mẻ Thông qua dự án, một cộng đồng hơn 130 các nhà giáo dục theo tinh thần khởi nghiệp tại ĐHQGHN
( VNU Entrepreneurial Educators - VNU EE) đã được hình thành để cùng lan tỏa và
tạo sự bền vững cho hoạt động đổi mới hoạt động giảng dạy tại ĐHQGHN Với sự năng động, sáng tạo, nhiệt huyết và trí tuệ của các học viên, cộng với thế mạnh liên ngành và đa dạng về chuyên môn, cộng đồng VNU EE đang phát triển mạnh mẽ với nhiều hoạt động như tổ chức các buổi thảo luận, xê-mi-na, chia sẻ cho cán bộ và đào tạo sinh viên về đổi mới sáng tạo; cùng tham gia viết bài công bố quốc tế và trình bày tham luận tại Hội nghị quốc tế, xây dựng các đề xuất xin tài trợ tò các nguồn trong nước và quốc tế; tố chức các buổi talk show, các buổi chia sẻ, các hoạt động giao lưu, văn hóa, kết nối cộng đồng, v.v Đây là nguồn lực quan trọng để tiến hành đổi mới hoạt động giảng dạy và đào tạo theo hướng cá thế hóa, tạo sự đột phá về chất lượng đào tạo trong những năm tiếp theo
Hợp tác triển khai các chương trình dự án quốc tế, không chỉ góp phần tăng cường năng lực cán bộ, cơ sở dữ liệu khoa học và trao đổi sinh viên quốc tế, mà thông qua các chương trình họp tác, nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất (bao gồm thiết bị nghiên cứu khoa học, học liệu), của ĐHQGHN và các đơn vị cũng được tăng cường, cập nhật, bố sung Trong giai đoạn 2016 - 2020, ĐHQHGN đã xây dựng
và triến khai mới 05 chương trình hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ (chương trình nghị định thư) với các đối tác từ Nhật Bản, Liên bang Nga, Trung Quốc, Đài Loan (Trung Q uốc), đồng thời các cá nhân, đơn vị đã chủ động phát triển hơn 50 chương trinh dự án hợp tác quốc tế với các đại học, tổ chức, các cá nhân nhà khoa học nước ngoài thông qua các tổ chức như JICA, KOICA, FAO, RIKEN, FIRST, AIT,
Trang 5Tồng kinh phí tài trợ trong giai đoạn 2014 -20 1 9 đạt hơn 215 tỷ VNĐ và được phân
bô theo các năm, như tại biếu đô sau:
Tổng kinh phí tài trợ từ các chưong trình dự án
VND
46,505,784.352 VND
35.744,000.000
VND 21,752,169,740
VND
28,355,203,009
I
Có thể nhận thấy tỷ trọng kinh phí từ chương trình, dự án quốc tế và tài trợ đạt
tỷ lệ không cao trong tổng nguồn thu của các đơn vị và đang có xu hướng giảm dần
do một số dự án lớn đã kết thúc trong khi chưa có các dự án mới thay thế
2 Thực trạng khó khăn và những tồn tại khách quan, chủ quan
2.1 Hạn chế, khuyết điểm
Trong quá trình thực hiện và triển khai các hoạt động hợp tác phát triển của ĐHQGHN trong các năm qua, có thể nhận thầy các tồn tại, hạn chế như sau:
- Chưa có văn bản quy định, thống nhất công tác quản lý hoạt động Họp tác Phát triển (bao gồm cả hợp tác quốc tế và hợp tác trong nước) cho toàn ĐHQGHN Hiện nay, căn cứ vào các quy định của Nhà nước, ĐHQGHN mới ban hành được Quy định
về quản lý hoạt động hợp tác quốc tế tại ĐHQGHN - đây là một phần của hoạt động HTPT Một số đơn vị chưa nắm rõ các quy định của Nhà nước và của ĐHỌGHN về công tác quản lý hoạt động hợp tác quốc tế
- Hoạt động hợp tác trong nước mới được chú trọng phát triển trong thời gian gần đây, do đó chưa có nhiều kinh nghiệm trong khai thác và phát triển đối tác trong nước Chính vì vậy, họp tác trong nước vẫn còn có quy mô nhỏ lẻ, nguồn lực phân tán và chưa có định hướng tổng thể: tập trung với các địa phương, các doanh nghiệp nhà nước hay các tập đoàn tư nhân,
- Đội ngũ cán bộ làm hợp tác phát triển ở một số đơn vị còn thiếu và yếu; nguồn nhân lực đủ khả năng và kinh nghiệm trong khai thác và phát triển đối tác (cả trong
và ngoài nước) còn rất hạn chế;
- Chưa có cơ chế phối họp rõ ràng giữa các đơn vị thành viên, giữa đơn vị với ĐHQGHN và giữa các Ban chức năng, dẫn đến tình trạng hoạt động manh mún, rời rạc và không ổn định, không khai thác hết tiềm năng của đối tác cũng như chưa tận dụng hết các nguồn lực chung;
Trang 6- Các cán bộ nghiên cứu khoa học có trình độ cao chưa liên kết với nhau để tạo nên sức mạnh tổng thể của đơn vị, tò đó tạo ra sức mạnh chung của ĐHQGHN Các sản phẩm nghiên cứu mang tính cá nhân và thường làm lợi cho các doanh nghiệp nhỏ
lẻ, hiệu quả chưa cao
- Nguồn tài chính hạn hẹp, đặc biệt chưa có nguồn kinh phí đối ứng trong một số
dự án hợp tác lớn, hạn chế sự chủ động xây dựng chương trình họp tác;
2.2 Tồn tại và nguyên nhân khách quan, chủ quan
- Nguồn tài chính hỗ trợ của Nhà nước và các Quỹ chưa đáp ứng yêu cầu Đồng thời, chưa có chính sách huy động hiệu quả các nguồn Quỹ trong và ngoài nước hỗ trợ cho hoạt động HTPT
- Các nguồn tài trợ, viện trợ quốc tế giảm dần do Việt Nam đã đạt mức thu nhập trung bình và ngày càng cạnh tranh do sự vươn lên của một số đại học vùng và đại học tư thục Đặc biệt, ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động hợp tác, nhất là họp tác quốc tế trong trung và dài hạn
- Chưa ban hành được văn bản quy định về quản lý công tác Hợp tác Phát triển trong toàn ĐHQGHN, đặc biệt hợp tác trong nước Chính vì vậy, cơ chế phối họp triển khai hoạt động HTPT còn chưa rõ ràng về vai trò, trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa v ụ của các bên liên quan
- Năng lực cán bộ làm công tác hợp tác phát triển chưa đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới Một số đơn vị chưa chú trọng đến công tác họp tác phát triển như một phương thức nhằm thu hút nguồn lực, chưa coi đó là đòn bẩy đế nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu, tiếp thu công nghệ mới và hội nhập quốc tế
- Chia sẻ thông tin và tính liên thông, liên kết trong ĐHQGHN nhằm xây dựng
và triển khai các chương trình dự án quốc tế còn yếu vì thế chưa có nhiều dự án hợp tác quốc tế quy mô lớn, hiệu quả lan tỏa trong toàn ĐHQGHN
- Các đơn vị chưa đề xuất kịp thời các chương trình, dự án họp tác quốc tế với các đối tác do ĐHQGHN phát triển; vẫn thực hiện triển khai với các đối tác truyền thống, riêng lẻ và theo các chương trình đơn ngành
3 Một số đề xuất giải pháp nâng cao hoạt động hợp tác
- Giải pháp về chính sách cấp ĐHQGHN và kiến nghị cấp C hính phủ để tháo
gỡ khó khăn, hạn chế rủi ro khi xây dựng và phát triển các chương trình, dự án hợp tác quốc tế Xây dựng cơ chế phối hợp rõ ràng, đồng bộ giữa các đơn vị thành viên, giữa đơn vị với ĐHQGHN, tạo sự phối hợp, gắn kết kịp thời, tận dụng các nguồn lực và điều phối hợp tác chung, phát huy được thế mạnh liên ngành của ĐHQGHN
- Giải pháp huy động nguồn lực tài chính (xã hội hóa, thu hút hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, thương mại hóa sản phẩm tái đầu tư cho nghiên cứ u , ) ĐHQGHN cần có nguồn kinh phí đầu tư rủi ro ban đầu và vốn đối ứng cho các hoạt động hợp tác, đặc biệt hợp tác quốc tế nhằm tạo sự chủ động trong triến khai hợp tác và thúc
Trang 7đẩy tìm kiếm và xây dựng các dự án họp tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ mới, phù hợp với các quy định của pháp luật
- Giải pháp về tăng cường các nguồn lực hồ trợ phát triển các chương trình dự án họp tác quốc tế mới Tăng cường nguồn nhân lực chất lượng cao, thường xuyên bồi dưỡng, đào tạo nâng cao năng lực cán bộ chuyên trách Đồng thời xây dựng hệ thống
cơ sở dữ liệu về đối tác và các hoạt động hợp tác, hoàn thiện nguồn lực cơ sở dữ liệu giúp hỗ trợ quản lý đồng bộ và hiệu quả các hoạt động hợp tác trong ĐHQGHN
- ĐHQGHN và các đơn vị xây dựng kế hoạch hợp tác trong và ngoài nước với định hướng ưu tiên rõ ràng, cụ thể và xây dựng kế hoạch trung và dài hạn giúp nâng cao hiệu quả hoạt động hợp tác phát triển Khai thác tối đa lợi thế đa ngành của ĐHQGHN và kết hợp các yếu tố quốc tế - địa phương - doanh nghiệp để tăng chất lượng và tính cạnh tranh của đề xuất dự án