1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều kiện hình thành và phát triển sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam.doc

114 1K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điều kiện hình thành và phát triển sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam
Người hướng dẫn PGS. TS Nguyễn Văn Hồng
Trường học Đại học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh tế và kinh doanh quốc tế
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều kiện hình thành và phát triển sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cho đến nay sở giao dịch hàng hóa (Commodity exchange) đã không cònmới lạ đối với nhiều quốc gia trên thế giới Kể từ lần đầu tiên xuất hiện vào năm

1848 cho đến nay, sở giao dịch hàng hóa đã không ngừng phát triển và đóng mộtvai trò hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy thương mại và góp phần vào pháttriển nền kinh tế nói chung Tuy nhiên, ở Việt Nam sở giao dịch hàng hóa vẫn còn

là một khái niệm khá xa lạ với những nhà sản xuất hay các nhà đầu tư Người ta vẫnmới chỉ biết đến một loại hình sở giao dịch tương tự sở giao dịch là sở giao dịchchứng khoán mà thôi Với thị trường tiềm năng là hơn 80 triệu dân, trong đó phầnlớn là ở nông thôn, cộng với nền kinh tế ngày càng phát triển với tốc độ tăng trưởngcao trong nhiều năm liên tục, và sự hội nhập ngày càng sâu rộng của thương mạiViệt Nam với thế giới, nhu cầu về sự hình thành sở giao dịch hàng hóa nhằm tăngcường giao dịch hàng là rất lớn Nhưng tại sao ở Việt Nam vẫn chưa hình thànhnhững sở giao dịch hàng hóa thế mạnh đặc biệt là các mặt hàng nông sản? Chính vìvậy, câu hỏi đặt ra hiện nay là cần phải đáp ứng những yếu tố nào để có thể thành

lập được sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam, do đó em đã chọn “Điều kiện hình thành và phát triển sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam” làm đề tài khóa luận tốt

nghiệp của mình

2 Mục đích nghiên cứu của khóa luận

Trên cơ sở xây dựng hệ thống cơ sở lý luận chung về sở giao dịch hàng hóatrên thế giới cũng như việc tìm hiểu những điều kiện cần thiết để hình thành và pháttriển sở giao dịch hàng hóa, khóa luận đã đưa ra nhận xét về khả năng xây dựng sởgiao dịch hàng hóa ở Việt Nam Đồng thời, trên cơ sở tìm hiểu kinh nghiệm của một

số quốc gia đang phát triển, đề xuất mô hình sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu: các điều kiện khách quan và chủ quan để xây dựng sởgiao dịch hàng hóa trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng

Trang 2

Phạm vi nghiên cứu: tìm hiểu cơ sở lý luận chung sở giao dịch hàng hóa,đánh giá khả năng thành lập sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam đồng thời đề xuất

mô hình áp dụng cho Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Để nghiên cứu đề tài, em đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: thuthập tài liệu, phân tích thống kê, hệ thống hóa và diễn giải Bên cạnh đó còn sửdụng phương pháp so sánh đối chiếu để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu, đồngthời nghiên cứu lý luận kết hợp với thực tiễn

5 Bố cục của khóa luận

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dungcủa khóa luận được phân bổ thành 3 chương:

- Chương I: Tổng quan về sở giao dịch hàng hóa

- Chương II: Điều kiện để xây dựng sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam

- Chương III: Kinh nghiệm thành lập sở giao dịch ở một số nước và một số đề xuất

về sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam

Trong quá trình làm khóa luận này em xin gửi lời cảm ơn trước nhất tới PGS

TS Nguyễn Văn Hồng – Bộ môn Giao dịch Thương mại quốc tế, khoa kinh tế vàkinh doanh quốc tế đã hướng dẫn và giúp em hoàn thiện bài khóa luận của mình

Đồng thời em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo bộ môn, và cácthầy cô giáo trong khoa kinh tế và kinh doanh quốc tế và của trường đại học NgoạiThương đã trang bị cho em những kiến thức hết sức bổ ích và thiết thực giúp emhoàn thành bài khóa luận này cũng như trong quá trình công tác sau này

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 6 năm 2008

Trang 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SỞ GIAO DỊCH HÀNG HOÁ

1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN SỞ GIAO DỊCH HÀNG HOÁ

1.1.1 Quá trình phát triển sở giao dịch hàng hoá

Đối với nhiều người thì nhắc đến sở giao dịch hàng hoá là nhắc đến một hệthống thị trường phức tạp với một hệ thống giao dịch phát triển các giao dịch tươnglai và quyền chọn hàng hoá như những sở giao dịch nổi tiếng như sở Thương MạiChicago (CBOT), sở giao dịch ngũ cốc Tokyo (Tokyo Grain Exchange), hay là sởgiao dịch kim loại Luân Đôn (London Metal Exchange) Đối với một số người khácthì lại cho rằng sở giao dịch là một cơ cấu thị trường tiên tiến được sử dụng ở cácnước công nghiệp các nước có thu nhập thấp không thể mơ tới

Lịch sử về sự phát triển thị trường ở Chicago đã cho thấy rằng, hệ thống thịtrường sẽ dần phát triển cùng với sự phát triển của các thị trường này cũng như khi

sự tăng tưởng kinh tế chứ không phải xuất phát từ một thị trường phức tạp ngay từđầu Hay nói khác đi, sở giao dịch Chicago không bắt đầu từ một thị trường pháttriển ngay như ngày hôm nay Vào những năm 1840, khi mà việc sản xuất ngũ cốcngày càng phát triển nhờ sự cải tiến về công nghệ thì những người nông dân ở phíaTây nước Mĩ thường đến Chicago để bán ngũ cốc cho các thương gia, rồi sau đónhững người này sẽ đưa lượng hàng hoá này đi khắp cả nước Dần dần, hoạt độngnày trở nên sôi nổi đến mức hầu như không đủ nhà kho chứa lúa mì của nông dân.Khối lượng sản xuất ngày càng lớn trong khi hệ thống vận tải chưa phát triển phùhợp không thể đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hóa Khi những người nôngdân này đến Chicago họ không hề biết trước giá cả thị trường, hơn nữa ở Chicagolúc này có rất ít các công cụ để cất trữ hàng hoá và cũng không có một quy trìnhchuẩn nào để cân và đánh giá chất lượng ngũ cốc, khiến cho nông dân rơi vào thế bịđộng và phụ thuộc vào thương nhân Thị trường tiêu thụ hỗn loạn, các nhà đầu cơlợi dụng tình trạng này ép giá làm giá ngũ cốc giảm mạnh sau vụ thu hoạch rồi sau

đó lại tăng lên khi nguồn cung đã được giải toả Những hiện tượng mang tính chu

kỳ như vậy đã gây nên những thiệt hại nghiêm trọng cho người sản xuất lương thực,

Trang 4

do đó những người nông dân đã tìm cách tránh rủi ro bằng cách bán ngũ cốc trướckhi vận chuyển đến nơi tiêu thụ, kể cả với mức giá thấp hơn một ít so với giá dựkiến khi ngũ cốc được đưa đến thị trường Người mua và người bán lúc này phảithoả thuận với nhau về số lượng ngũ cốc, chất lượng, giá cả, thời gian, địa điểmgiao hàng và nhận tiền Ban đầu, những hoạt động này diễn ra tự phát và đơn lẻnhưng dần dần do tính ưu việt của nó trong việc tiêu thụ cũng như lưu thông hànghoá nó lại trở nên ngày càng phổ biến Do vậy, một thị trường mới dần được hìnhthành, một thị trường mà ở đó người mua và người bán gặp nhau để thoả thuận, camkết với nhau về việc mua bán, giao hàng và nhận tiền trong tương lai Tuy nhiên, ởmột thị trường mới như vậy, việc tìm được người mua hay người bán đúng với sốlượng và chất lượng hàng hoá nông sản mình cần không phải là một việc dễ dàng.Chính vì vậy, trên thị trường lúc này xuất hiện một người thứ ba - người trung gianvới vai trò môi giới chắp nối những người cần mua và cần bán lại với nhau Nhưngviệc chắp nối của người trung gian thực không đơn giản, để hành nghề họ cũng phải

bỏ thời gian và sức lao động và để thu được lợi nhuận họ cũng phải gánh chịunhững rủi ro khi không gặp được đúng người mua và người bán Các hiện tươngnhư vậy đã đặt ra cho các nhà kinh tế một nhiệm vụ cần phải giải quyết, một mặt đểgiải toả được những ách tắc trong lưu thông, làm ảnh hưởng tới sự phát triển củanền kinh tế, mặt khác đây cũng là một thị trường kinh doanh hết sức hấp dẫn Chính

vì vậy vào năm 1848, Chicago Board of Trade (CBOT) đã được mở ra bởi 82thương nhân buôn ngũ cốc ở một thị trấn nhỏ là Midwestern như là một trung tâmmua bán nơi mà những người nông dân và các thương nhân gặp gỡ để đổi tiền lấyviệc giao ngay những loại hàng hoá nông sản như lúa mì, trên cơ sở những quy địnhnhất định đã được CBOT thiết lập sẵn về việc đánh giá và cân đo lúa mì, và việc cấttrữ những phần lúa mì còn lại chưa được giao dịch, cũng như là việc đấu thầu giá

cả, và giải quyết những tranh chấp diễn ra Đây chính là sở giao dịch hàng hóa đầutiên trên thế giới

Sự phát triển các loại hình sở giao dịch hàng hóa: khi cả những người chế

biến, nông dân đều thấy được lợi ích từ việc mua bán giao dịch qua sở giao dịch thìvào năm 1851, những người nông dân và các thương nhân đã bắt đầu áp dụng các

Trang 5

hợp đồng kỳ hạn (forwards) Người nông dân sẽ thỏa thuận một mức giá để bán mộtlượng ngũ cốc nhất định tại một thời điểm trong tương lai Khi những hợp đồng kỳhạn này trở nên phổ biến thì vào năm 1865, CBOT đã đưa ra một hợp đồng chuẩnđược biết đến là hợp đồng tương lai với ngày giao hàng được xác định trước và mộtkhoản tiền bảo chứng để ràng buộc việc thực hiện nghĩa vụ Ngay sau năm đó thì Sởgiao dịch bông New York cũng được thành lập và đã bắt đầu chi phối thị trườngbông, từ việc mua bán bông rồi sau đó là thực hiện mua các các loại nông sản khác.Dựa trên những sự phát triển này, năm 1859 nghĩa là đúng một thập niên sau khiđược thành lập, chính phủ Mĩ đã chính thức trao quyền cho CBOT và do đó uỷquyền cho CBOT việc đặt ra những tiêu chuẩn về chất lượng của hàng hoá và đảmnhận việc giám sát thường xuyên vào mặt hàng ngũ cốc được giao dịch trên sở giaodịch, nhằm bảo đảm sự thống nhất của thị trường Sự cải tiến này đã giảm những rủi

ro và chi phí liên quan đến việc thoả thuận các hợp đồng kỳ hạn trên cơ sở cá nhân

Ban đầu hoạt động của các thị trường tương lai không có gì đặc biệt Lúc đóngười ta gọi những người hoạt động theo kiểu này là những “kẻ đầu cơ liều mạng”.Những người này thành công trong việc mua vét hàng hay ép giá một mặt hàng nào

đó trên thị trường nhất định Một biến cố nổi tiếng đã xảy ra đó là: ngày thứ sáu đentối năm 1869 là ngày giá vàng bị phá Việc hai nhà kinh doanh Jay Gould và JimFisk mua vét giá vàng đã bị đổ bể khi tổng thống Grant ra lệnh bán vàng của khobạc Mỹ Với ấn tượng là việc mua bán tương lai hàng hoá mang tính chất đầu cơ tạonên sự bất ổn định về tài chính và sự biến động giá giao ngay quá lớn làm chonhững nhà lập pháp liên tiếp phản đối và thậm chí họ còn muốn loại bỏ hình thứcgiao dịch này trên thị trường Cuối cùng vào năm 1922 tức là khoảng 74 năm saungày thành lập đầu tiên của sở giao dịch Chicago, chính phủ Mỹ đã thành lập GrainFutures Administration là một cơ quan giám sát để giám sát sự mở rộng của hoạtđộng giao dịch trên sở giao dịch ngũ cốc và năm 1936 ban hành luật về sở giao dịchhàng hoá Năm 1968, các luật trên lại được sửa đổi và điều chỉnh với các điềukhoản phù hợp trong việc mua bán tương lai Năm 1974 ủy ban mua bán tương lai(CFTC) được thành lập Vai trò và quyền hạn của CFTC hết sức quan trọng vì đó là

tổ chức duy nhất thay mặt chính quyền quản lý các hoạt động của thị trường tương

Trang 6

lai Tuy sự hình thành và phát triển của thị trường tương lai đã tiếp thu được tất cảnhững ưu việt đồng thời cũng khắc phục được những hạn chế của thị trường kỳ hạnnhưng các sở giao dịch tương lai hàng hóa không thay thế hoàn toàn thị trường kỳhạn - tiền thân của giao dịch tương lai, mà chúng song song tồn tại Các giao dịch

kỳ hạn vẫn tiếp tục tồn tại với tư cách là những hoạt động giao dịch ngoài sở, lúcnày sở giao dịch trong thị trường tương lai đóng vai trò như người trung gian chắpnối cho các nhu cầu mua và bán trong thị trường kỳ hạn một cách có tổ chức

Cùng với làn sóng tự do hoá thương mại trên toàn cầu thì sự hình thành các

sở giao dịch hàng hoá ngày càng nhiều với khối lượng giao dịch ngày càng lớn1, đặcbiệt là ở các quốc gia đang phát triển và để thu hẹp khoảng cách để lại do hệ thốnggiá cả cố định trước đây chứ không chỉ có trong phạm vi nước Mỹ 2 Những sở giaodịch còn tồn tại được và hiện nay là những sở giao dịch lớn nhất trên thế giới vàđang giao dịch những loại hàng hoá hoàn toàn khác so với những loại hàng hoá màban đầu nó vẫn giao dịch Ví dụ như sở giao dịch Chicago (Chicago MercantileExchange) ban đầu chủ yếu giao dịch nông sản, còn hiện tại lại chủ yếu giao dịchcác hợp đồng tương lai tài chính; sở giao dịch năng lượng lớn nhất hiện nay, sở giaodịch New York (New York Mercantile Exchange) trước đây giao dịch chủ yếu làkhoai tây và bơ Hiện nay rất nhiều sở giao dịch đang phải đối mặt với một câu hỏi

là liệu họ có nên tiếp tục tập trung vào việc giao dịch những loại hàng hoá truyềnthống hay là tìm kiếm một loại hình hợp đồng mới Sự cân nhắc này dẫn tới việcxuất hiện hợp đồng dầu mỏ trên sở giao dịch hàng nông sản, các hợp đồng quyềnchọn đối với các hợp đồng tương lai đã được giao dịch, thậm chí là cả những hợpđồng phái sinh phức tạp khác như ( bảo hiểm mùa vụ, chi phí vận tải, quyền thải khí

ô nhiễm, v.v…) Do đó, ngày nay hàng hoá giao dịch trên các sở giao dịch ‘hànghoá’ trên thị trường thế giới hiện nay hết sức đa dạng chứ không chỉ gói gọn trongmặt hàng nông sản truyền thống nữa.3

Xu hướng sáp nhập các sở giao dịch hàng hóa: Các sở giao dịch hàng hóa

ngày nay đã trải qua một số giai đoạn sáp nhập, các sở giao dịch ở Mĩ vào những

1 Xem phô lôc 1

2 Xem phô lôc 3 vµ phô lôc 4

Trang 7

năm 1980, hầu hết đều là kết quả của các vụ sát nhập của hai hay thậm chí là nhiều

sở giao dịch Những năm 90 của thế kỉ 20 thậm chí còn chứng kiến nhiều vụ sápnhập hơn nữa Một trong những nguyên nhân của xu hướng này chính là tính cạnhtranh ngày càng tăng của các giao dịch hợp đồng tương lai: mối đe dọa từ hệ thốnggiao dịch điện tử đối với những sở giao dịch với những hệ thống giao dịch truyềnthống Thêm vào đó một nguyên nhân nữa là từ phía các quy định của chính phủđặc biệt là ở những quốc gia như Nhật Bản và Trung Quốc Những nguyên nhân đó

đã dẫn tới một loạt các cuộc sáp nhập: ở Nhật số lượng các cuộc sáp nhập đã làmcho số lượng các sở giao dịch ở nước này giảm xuống hơn một nửa từ 17 sở giaodịch năm 1993 xuống còn 8 năm 1997 ở Anh, Liffe đã sáp nhập với Sở giao dịchhàng hóa Luân Đôn vào tháng 9/1996 Tại Mỹ, NYMEX sàn giao dịch tương lainăng lượng lớn nhất thế giới lúc bấy giờ đã sáp nhập với Comex (Comex hiện nayđang hoạt động như là một công ty con của Nymex), và các thành viên của cảNYCE và CSCE đã đều bỏ phiếu đồng ý sáp nhập và thành lập NYBT (Board ofTrade of city New York) Xu hướng sáp nhập các sở giao dịch hàng hóa trên thếgiới được dự đoán là sẽ tiếp tục kéo dài, điển hình là vụ sáp nhập giữa hai sở giaodịch lớn nhất của Mỹ là CBOT và CME để hình thành một sở giao dịch lớn nhất thếgiới 4

Điều đáng chú ý từ cái nhìn tổng quát về sự lịch sử phát triển của sở giaodịch hàng hoá này chính là việc thị trường Chicago đã được thành lập và phát triển

để giải quyết những vấn đề về chi phí cũng như là rủi ro mà nông dân phải gánhchịu trên thị trường, và nhu cầu phải sắp xếp thị trường hàng hoá nông sản quanhững người tham gia thị trường, qua không gian và thời gian Cũng cần phải nhấnmạnh rằng quy định của chính phủ tăng lên khi thị trường phát triển là để thúc đẩy

sự phát triển thị trường chứ không phải là kiểm soát thị trường

1.1.2 Đặc điểm sở giao dịch hàng hóa

Xét về bản chất một sở giao dịch hàng hoá chỉ đơn giản là một nơi mà ngườimua và người bán tập trung để trao đổi theo một cách thức đã được định trước, với

“những quy định” cụ thể và hết sức rõ ràng Với nghĩa rộng này, một sở giao dịch

4 Xem phô lôc 7: c¸c tËp ®oµn së giao dÞch thÕ giíi

Trang 8

hàng hoá là bất cứ thị trường có tổ chức nào, giao dịch hàng hoá thực hoặc không,được tập trung qua một bộ máy duy nhất, cho phép sự cạnh tranh hiệu quả nhất giữanhững người mua và những người bán Do đó giao dịch qua sở giao dịch hàng hóa

là một phương thức giao dịch đặc biệt so với các phương thức giao dịch khác nhưmua bán trực tiếp, mua bán qua trung gian, mua bán đối lưu,…ở những đặc điểmsau đây

1.1.2.1 Các hợp đồng phải có tiền bảo chứng

Tiền bảo chứng (hay mức ký quỹ) là biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng,bắt buộc đối với cả bên bán và bên mua Thay vì phải bỏ ra một khoản tiền lớn đểđặt cọc hoặc một lượng tiền bằng với giá trị hàng hóa (thế chấp) để bảo đảm choviệc mua bán thì sở giao dịch chỉ quy định một mức bảo chứng rất thấp, tùy vào loạihàng hóa Mức yêu cầu về tiền bảo chứng thấp khi tham gia vào các hợp đồng tại sởgiao dịch là một trong những nguyên nhân làm cho chúng trở thành những công cụđòn bẩy tài chính mạnh mẽ Các loại tiền bảo chứng trên sở giao dịch gồm

Tiền bảo chứng ban đầu (Initial Margin): Tiền bảo chứng ban đầu là khoản

tiền ký quỹ vào tài khoản bảo chứng để bảo đảm trang trải bất cứ khoản lỗ nào donhững biến động xấu trên thị trường Việc ký quỹ tiền bảo chứng ban đầu này đượcxem như khoản tiền đặt cọc cam kết thi hành hợp đồng mà hai bên mua bán phảithực hiện Mức tiền bảo chứng ban đầu cũng khác nhau tùy loại hợp đồng và phảitrả trước khi chuyển lệnh cho người môi giới

Mỗi người tham gia thị trường đều phải trả khoản tiền bảo chứng ban đầucho người môi giới của mình và phải duy trì khoảng mức tiền bảo chứng được yêucầu Trong trường hợp các khách hàng còn phải thông qua một hãng môi giới khácngoài các thành viên môi giới của sở giao dịch hàng hoá, như là các FCM (hãngbuôn hoa hồng_Futures commission Merchants) thì họ còn phải nộp một khoản tiềnbảo chứng ban đầu cao hơn vì các FCM này thường yêu cầu khách hàng phải nộpkhoản tiền lớn hơn vì mục tiêu kinh doanh của họ

 Tiền bảo chứng duy trì (Maintenance Margin): Khi tiền bảo chứng đạt mứcduy trì tối thiểu, nhà đầu tư cần phải nộp tiền để đảm bảo đưa mức tiền bảo chứng

Trang 9

trở lại tiền bảo chứng ban đầu (Initial margin) Đây là khoản tiền tối thiểu mỗi hợpđồng mà khách hàng phải ký quỹ mãi mãi Khoản bảo chứng này thường thấp hơnkhoản tiền bảo chứng ban đầu, nó thường bằng 75% khoản tiền bảo chứng ban đầu

 Tiền bảo chứng biến đổi (Variation Margin hay Margin Call): Những khoản

lỗ và lãi của những khách hàng của các thành viên được kết toán thông qua trungtâm thanh toán bù trừ Cuối mỗi ngày giao dịch, trung tâm thanh toán lại xác địnhcác mức giá kết toán cho mỗi hợp đồng trên cơ sở giá niêm yết trên thị trường vàocuối phiên giao dịch Những thành viên mà bị lỗ ở cuối ngày giao dịch sẽ bị yêu cầunộp tiền bảo chứng thêm Các thành viên thanh toán lại chuyển thông báo về số tiềnphải nộp thêm cho khách hàng của mình

1.1.2.2 Đa số các hợp đồng được thanh lý trước thời hạn

Trong các hợp đồng thông thường, khi các bên muốn thanh lý hợp đồngtrước ngày giao hàng đồng nghĩa với việc thỏa thuận để chấm dứt hợp đồng hoặcthoả thuận chuyển nghĩa vụ của mình cho người khác, khi đó các bên sẽ thoát khỏi

sự ràng buộc về nghĩa vụ với nhau Nhưng trong hợp đồng giao sau được mua bántại sở giao dịch hàng hóa thì các bên có thể thanh lý hợp đồng trước ngày đáo hạnmột cách dễ dàng mà không cần phải thông qua một sự thoả thuận nào Chẳng hạnnhư thanh toán hợp đồng tương lai, giao và nhận hàng hữu hình là cách thanh lýhợp đồng mà không mấy người tham gia thị trường này lựa chọn:

 Giao hàng hữu hình: Kết thúc một vị thế tương lai bằng việc nhận giao hàngthường là biện pháp ‘nặng nhọc’ để hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng Việc giao hànghữu hình đặt ra những chi phí rõ rệt: chi phí kho hàng, bảo hiểm, xếp tàu, và lệ phímôi giới Trên trên thực tế việc giao hàng hữu hình chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ(khoảng 2%) bởi nó đòi hỏi mua hay bán thực sự một thứ hàng, điều mà các nhàkinh doanh thường không muốn làm trừ khi họ có nhu cầu cụ thể đối với hàng hoá(với và do đó chỉ những công ty kinh doanh hàng hoá mới ưa chuộng hình thứcnày

 Bù trừ (Offsetting): đây là hình thức thanh toán vị thế phổ biến nhất, ngườimua khởi đầu và kết thúc vị thế của mình bằng việc bán một hợp đồng tương lai yhệt (cùng một loại hàng và cùng tháng giao hàng) Tương tự, người bán khởi đầu

Trang 10

kết thúc vị thế của mình bằng cách mua một hợp đồng y hệt Sau khi việc mua bán

đó được thực hiện và báo cáo về trung tâm thanh toán thì nghĩa vụ của cả hai bênđược xoá đi trong sổ sách của trung tâm thanh toán và của những người môi giớingoài sở (nếu có)

So với việc nhận hoặc giao hàng hữu hình thì việc thanh toán bằng bù trừtương đối đơn giản hơn Nó chỉ đòi hỏi thị trường tương lai đủ cơ động để tạo thuậnlợi mua bán bằng bù trừ và chỉ khuyến khích chi phí môi giới thông thường

1.1.2.3 Các điều khoản trong hợp đồng được tiêu chuẩn hóa

Các hoạt động mua bán tại sở giao dịch hàng hóa phải được thực hiện liên tục với trình độ chuyên môn nghiệp vụ và bảo đảm an toàn cao Từ yêu cầu đó mà các điều khoản trong hợp đồng phải được tiêu chuẩn hóa một cách tối đa, giúp cho việc ký kết hợp đồng nhanh chóng, đảm bảo an toàn về mặt pháp lý Các điều khoảnđược tiêu chuẩn hóa thường bao gồm: tên hàng, chất lượng, quy mô hợp đồng, thời gian giao hàng và địa điểm giao hàng

Tên hàng là hàng hóa được phép giao dịch trên sở giao dịch đó Hàng hóa đó

đa số là hàng hóa thông thường nhưng cùng với sự mở rộng hoạt động thì một số sởgiao dịch lớn còn cung cấp các sản phẩm hợp đồng tài chính Mỗi sở giao dịch chỉ giao dịch một số loại hàng hóa nhất định, người tham gia thị trường chỉ được phép giao dịch các hàng hóa cho phép đó

Chất lượng hàng hóa cũng được tiêu chuẩn hóa và giám sát nghiêm ngặt Hàng hóa được phân thành các mức chất lượng khác nhau nhưng thông thường thì

sở giao dịch chỉ cho phép giao dịch một vài mức chất lượng nhất định Khi chất lượng hàng hóa được chuẩn hóa, phân loại rõ ràng thì đã tạo điều kiện cho hoạt động giao dịch trở nên thuận tiện, nhanh chóng và đáng tin cậy, từ đó tạo nên uy tín của từng sở giao dịch hàng hóa Đó là lý do vì sao việc làm đánh giá chất lượng hàng hóa là một công việc cơ bản có vai trò rất quan trọng trong hoạt động của các

sở giao dịch

Quy mô hợp đồng là độ lớn giá trị tài sản được giao dịch trong một hợp đồng Độ lớn mỗi hợp đồng tương lai về mỗi loại hàng hóa đều được thống nhất và hầu như được thống nhất trên toàn thế giới giúp cho việc mua bán giữa các sở giao

Trang 11

dịch hàng hóa trên thế giới thông qua hệ thống kết nối mạng toàn cầu lại càng dễ dàng hơn Việc quy định độ lớn mỗi hợp đồng sao cho không quá lớn để những nhà bảo hộ nhỏ cũng có khả năng tham gia và không quá nhỏ để đảm bảo giá trị được bảo hiểm hoặc đầu cơ sẽ bù đắp được chi phí huê hồng hay các chi phí cố định khác.

Thời điểm giao hàng (thời điểm đáo hạn hợp đồng) thường được xác định là tháng giao hàng trong năm Trong tháng giao hàng đó, ngày giao hàng được quy định cụ thể tuỳ vào loại hàng hóa và thị trường Thời điểm giao hàng còn là điều kiện xác định để nhằm phân biệt đối tượng được giao dịch trong hợp đồng tương lai, ví dụ như: hợp đồng giao sau cà phê tháng 3 năm 2005 khác với hợp đồng giao sau cà phê tháng 5 năm 2005…

Địa điểm giao hàng do sở giao dịch quy định trong hợp đồng Như đã trình bày thì việc mua bán trong các hợp đồng tại sở giao dịch thường là mang tính danh nghĩa và không gắn với việc chuyển giao hàng hóa thực tế Nhưng nếu có những thương nhân muốn thực hiện hợp đồng chuyển giao hàng hóa thực sự khi hợp đồng đáo hạn thì việc giao hàng này sẽ tiến hành tại các địa điểm do sở giao dịch quy định để tiết kiệm chi phí, tạo thuận lợi cho cả thương nhân và sở

Sự tiêu chuẩn hóa các điều khoản chủ yếu trong hợp đồng giao dịch tại sở giao dịch hàng hóa là một trong những đặc điểm cơ bản để phân biệt sở giao dịch với các phương thức mua bán hàng hóa khác

1.1.2.4 Trung tâm thanh toán giám sát việc thực hiện hợp đồng

Trung tâm thanh toán bù trừ đóng một vai trò quan trọng trong các sở giaodịch tương lai và quyền chọn hàng hoá bởi vì nó kiểm soát rủi ro vỡ nợ của tất cảcác thành viên của các sở giao dịch đó Người mua và người bán không ràng buộctrực tiếp với nhau trên cơ sở hợp đồng nhưng đều bị ràng buộc bởi trung tâm thanhtoán này Để đảm bảo chức năng của mình thì trung tâm thanh toán bù trừ của các

sở giao dịch hàng hóa đều phải thực thi những nhiệm vụ nhất định, bao gồm:

- Thiết lập và thực hiện chức năng của thị trường: nghĩa là thực hiện thiết lập

và quản lý các mức giá cả trên sở giao dịch; ghi nhận các giao dịch; giám sát các

Trang 12

hoạt động tại sàn; nhập và công cố các mức giá trong suốt phiên giao dịch và cácmức giá thực hiện ở cuối ngày giao dịch.

- Giám sát và quản lý các thành viên tham gia thị trường

- Các hoạt động thanh toán bù trừ: bao gồm những công tác đảm bảo rủi ro tíndụng; duy trì các tài khoản bảo chứng; thực hiện giao hàng đối với những hợp đồngkhông được bù trừ trước hạn

- Phát triển các loại sản phẩm mới: đưa vào áp dụng những công cụ tài chínhmới nhằm thu hút nhà đầu tư, đưa thêm các công cụ bảo hiểm

1.1.3 Phân loại sở giao dịch hàng hoá

Hiện nay trên thế giới các sở giao dịch hàng hóa tồn tại dưới nhiều hình thứckhác nhau Và sự phân loại này cũng được dựa trên những tiêu chí khác nhau, đó là:

1.1.3.1 Căn cứ theo hình thức sở hữu

Luật pháp các nước đều quy định sở giao dịch hàng hoá là một tổ chức có tưcách pháp nhân được thành lập theo quy định của pháp luật Hiện nay trên thế giới,

sở giao dịch hàng hoá có những hình thức sở hữu sau:

Hình thức sở hữu phi lợi nhuận (non-for-profit): Các thành viên có quyền hội

viên ở sở giao dịch cho phép họ có quyền giao dịch trên sở giao dịch và có quyềnquyết định, hoặc biểu quyết những vấn đề liên quan đến hoạt động tại sở giao dịchhàng hoá

Mô hình sở hữu chung có thể có một số lợi ích cho những sở giao dịch hànghoá non trẻ Bởi vì các thành viên có thể nhất trí trong việc trả những chi phí lớnban đầu xuất hiện trong những giai đoạn đầu của sự phát triển sở giao dịch hànghoá Một cách tiếp cận khác là nhà nước sẽ là người sở hữu của sở giao dịch hànghoá Cách tiếp cận này có những ưu thế nhất định nếu nó thu hút đầu tư và thúc đẩytrao đổi mua bán trên thị trường, quản lý vì lợi ích thị trường nói chung chứ khôngphải để sử dụng những sở giao dịch hàng hoá cho mục đích hay đòn bẩy chính trị

Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa là chỉ những sở giao dịch mới thành lậpmới sử dụng hình thức sở hữu này, ngay cả những sở giao dịch hàng hóa lớn thì môhình sở hữu này cũng vẫn được ưa chuộng và được áp dụng Sở giao dịch ngũ cốcTokyo (Tokyo Grain exchange – TGE) là một ví dụ cho mô hình này được thành

Trang 13

lập dưới sự quản lý của bộ Nông, Lâm, Nghư nghiệp Là một tổ chức thành viên,hội đồng thành viên là cơ quan cao nhất của sở giao dịch Các hoạt động hàng ngàycủa sở giao dịch đều dưới sự quản lý của ban giám đốc, đứng đầu là chủ tịch, tất cảđều được các thành viên của hội đồng thành viên bầu.

Hình thức công ty cổ phần (for-profit organization): Các sở giao dịch tiến

hành cổ phần hoá (demutualize) đây là sự chuyển đổi sở giao dịch hàng hoá từ hìnhthức sở hữu thành viên phi lợi nhuận sang hình thức công ty cổ phần Các thànhviên nắm giữ cổ phần

Rất nhiều sở giao dịch hàng hoá được hình thành như là tổ chức nhằm phục

vụ cho lợi ích cho thành viên của mình nên thường có cấu trúc như là các công ty sởhữu bởi các thành viên, đặc biệt là các thành viên cùng một mối quan tâm mua bán.Tuy nhiên, sự tách riêng sự quản lý sở giao dịch thành quyền sở hữu và quyền muabán là một trong những xu hướng phổ biến trên các sở giao dịch hàng hoá trên thếgiới trong 5 năm trở lại đây Quá trình này được thúc đẩy do những mối quan tâmđến sự quản lý một cách hiệu quả, cơ chế tự điều chỉnh, niềm tin của những ngườitham gia thị trường, và thúc đẩy sự tiếp cận tới nguồn vốn đầu tư

1.1.3.2 Căn cứ vào hình thức thị trường

Hầu hết các sở giao dịch hàng hóa trên thế giới đều trải qua hai giai đoạnphát triển chính Và các hình thức giao dịch sở giao dịch hàng hóa này được phânchia dựa trên các hình thức hợp đồng được giao dịch trên các Sở giao dịch tại mỗigiai đoạn phát triển này

Hình thức thị trường sơ cấp: sở giao dịch hình thành như là một địa điểm

tập trung những người mua và người bán có nhu cầu thực sự tiến hành mua bán vàgiao nhận hàng hoá Do đó những người mua và bán này cũng là những người thamgia chính trên thị trường, họ là những người sản xuất, chế biến, người tiêu dùng hay

là những người buôn bán hàng hoá hữu hình và họ có nhu cầu thực sự về hàng hóa,nên thị trường này được gọi là thị trường sơ cấp Trên thị trường sở giao dịch lúcnày thực hiện các giao dịch các loại hợp đồng sau:

Hợp đồng giao ngay hàng hoá: Là hợp đồng của những giao dịch trong đó

hàng hoá được giao ngay và trả tiền ngay vào lúc ký kết hợp đồng Hợp đồng giao

Trang 14

ngay được ký trên cơ sở hợp đồng mẫu của Sở giao dịch giữa người có sẵn hàngmuốn giao ngay với người có nhu cầu gấp, cần được giao ngay

Vì vậy đây chính là một hợp đồng hiện vật Giá cả mua bán ở đây là giá giaongay (spot price hoặc spot quotation) Giao dịch này hiện chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏtrong các giao dịch trên sở giao dịch hàng hoá trên thế giới (chỉ khoảng dưới 10%)

Hợp đồng kỳ hạn (Forward): Hợp đồng kỳ hạn là một thoả thuận trong đó

người mua và người bán chấp nhận thực hiện một giao dịch hàng hoá với khốilượng xác định, tại một thời điểm xác định trong tương lai với một mức giá ấn địnhvào ngày hôm nay

Điểm khác biệt giữa một hợp đồng kỳ hạn và giao dịch giao ngay là thờiđiểm thanh toán giao dịch Trong phần lớn các giao dịch giao ngay, hàng hoá đượctrao đổi và việc thanh toán được thanh toán ngay lập tức (nếu trả bằng tiền mặt)hoặc trong vòng hai ngay giao dịch kể từ khi ký kết hợp đồng Đối với hợp đồng kỳhạn, thời hạn kết thúc giao dịch được để lùi lại một khoảng thời gian trong tươnglai Các hợp đồng kỳ hạn xác định một ngày thanh toán cụ thể hoặc một thời điểmtiến hành giao dịch trên thực tế, tới ngày thanh toán người mua trả tiền để mua hànghoá tại mức giá thoả thuận ban đầu và người bán chuyển giao hàng với số lượng ấnđịnh ban đầu Giá hàng hoá trên thị trường giao ngay vào thời điểm giao nhận hàng

có thể thay đổi, tăng lên hoặc giảm xuống so với mức giá đã ký kết trong hợp đồng.Khi đó, một trong hai bên mua hoặc bán sẽ bị thiệt hại do đã cam kết một mức giáthấp hơn (đối với bên bán) hoặc cao hơn (đối với bên mua) giá thị trường

Như vậy, bằng việc tham gia vào một hợp đồng kỳ hạn, cả hai bên đều giớihạn được rủi ro tiềm năng cũng như hạn chế lợi nhuận tiềm năng của mình Vì chỉ

có hai bên tham gia vào hợp đồng, cho nên mỗi bên chỉ phụ thuộc vào bên kia trongviệc thực hiện hợp đồng mà thôi Ngoài ra, vì giá cả đặt ra mang tính chất cá nhân

và chủ quan nên có thể không chính xác

Hình thức thị trường thứ cấp: giá cả xác định bởi các giao dịch trên sở

giao dịch hàng hoá trở thành mức giá tham khảo trên thị trường cho những nhà kinhdoanh rủi ro về giá trên thị trường Với hình thức thị trường này thì khối lượng giaodịch không đơn thuần phản ánh khối lượng giao nhận hàng hoá, mua bán thực nữa

Trang 15

mà chủ yếu phản ánh những giao dịch liên quan đến rủi ro giá cả trên thị trườnghàng hoá Nhờ có những giao dịch này mà khối lượng giao dịch trên các sở giaodịch hàng hoá được nhân lên rất lớn từ khối lượng hàng hoá mua bán thực Nhữnggiao dịch đó bao gồm giao dịch những loại hợp đồng sau:

Hợp đồng tương lai hàng hoá (futures): Hợp đồng tương lai là một thoả thuận

đòi hỏi một bên của hợp đồng sẽ mua hoặc bán một hàng hoá nào đó tại một thờihạn xác định trong tương lai theo một mức giá đã định trước Chức năng kinh tế cơbản của các thị trường hợp đồng tương lai là tạo điều kiện cho những người thamgia thị trường có thể phòng ngừa rủi ro và những biến động giá bất lợi

Hợp đồng tương lai là những sản phẩm do các sở giao dịch tạo ra Trướcnăm 1972, chỉ có các hợp đồng tương lai liên quan tới những nông sản truyền thốngnhư ngũ cốc hay gia súc, thực phẩm nhập khẩu (cà phê, ca cao và đường) hay kimloại được giao dịch Chúng được gọi chung là các hợp đồng tương lai hàng hoá Cáchợp đồng tương lai dựa trên cơ sở một công cụ tài chính hay một chỉ số tài chínhđược gọi là hợp đồng tương lai tài chính và đang chiếm phần lớn lượng giao dịchtrên sở giao dịch hàng hóa5

Bên cạnh những đặc điểm tương tự như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai

có những điểm khác biệt cơ bản như sau:

-Niêm yết trên sở giao dịch: Điểm khác biệt lớn nhất chính là tồn tại một sởgiao dịch có tổ chức với hợp đồng tương lai Sở giao dịch hợp đồng tương lai chophép người giao dịch được mua và bán các hợp đồng tương lai mà không phải xácđịnh phía đối tác trong một hợp đồng cụ thể

-Tiêu chuẩn hoá: Không giống như các hợp đồng kỳ hạn, các hợp đồngtương lai được tiêu chuẩn hoá Các hợp đồng kỳ hạn có thể được lập ra cho bất kỳloại hàng hoá nào, với bất kỳ số lượng và chất lượng như thế nào và với thời hạnthanh toán bất kỳ được hai bên hợp đồng chấp thuận Trong khi đó, các hợp đồngtương lai niêm yết tại các sở giao dịch quy định một số dạng hàng hoá cụ thể, vớimột số lượng nhất định đáp ứng các yêu cầu tối thiểu về chất lượng và tại một thờiđiểm giao hàng xác định

5 Xem phô lôc 10

Trang 16

-Kiểm soát rủi ro thanh toán: sử dụng các hợp đồng tương lai được niêm yếttrên sở giao dịch thay vì dùng các hợp đồng kỳ hạn, hai bên tham gia vào hợp đồngtương lai sẽ kiểm soát được rủi ro thanh toán Các trung tâm thanh toán bù trừ tại sở

sẽ thực hiện chức năng trung gian trong tất cả các giao dịch đảm bảo khả năng tàichính của các thành viên từ đó đảm bảo sự an toàn cho toàn bộ thị trường

-Tính thanh khoản: Sự tồn tại của công ty thanh toán bù trừ và sự thuận lợicủa việc giao dịch qua sở giao dịch khiến cho tính thanh khoản của các hợp đồngtương lai cao hơn nhiều so với các hợp đồng kỳ hạn

Hợp đồng quyền chọn: là một hợp đồng cho phép người nắm giữ nó được

mua (nếu là quyền chọn mua) hoặc được bán (nếu là quyền chọn bán) một khốilượng nhất định hàng hoá tại một mức giá xác định và trong một thời hạn nhất đinh

Như vậy, quyền chọn khác với các nghiệp vụ khác trên sở giao dịch bởi khibán quyền, người bán trao quyền chứ không phải là nghĩa vụ cho người mua để đổilấy một khoản tiền được gọi là giá quyền hoặc phí quyền Phí quyền chọn được xemnhư là mức giá của quyền chọn đó; giống như những mức giá khác nó được xácđịnh thông qua các sức mạnh cung cầu của thị trường Do đó phí thường biến động.Cho dù người mua quyền chọn có quyết định thực hiện quyền của anh ta hay khôngthì mức phí này vẫn thuộc về người bán quyền chọn và không phải hoàn lại

Hình 1.1: Phí quyền chọn

Mục đích của tất cả các sở giao dịch hàng hoá là phát triển lên hình thức thịtrường thứ cấp, khi đó giá của nó trở thành mức giá tham khảo đáng tin cậy cho loạihình hàng hoá mà nó đang giao dịch Điều này có nghĩa rằng mức giá được phảnánh từ các giao dịch được xem như một chỉ số tốt nhất phản ánh mức giá của cáchàng hoá cơ sở và được những người tham gia thị trường tin tưởng Để làm đượcđiều đó các sở giao dịch hàng hóa cần xây dựng cho mình một hệ thống quy địnhđúng đắn để điều chỉnh hoạt động của mình

Phí quyền chọn

Khoản lỗ tối đa người mua quyền chọn phải chịuLợi nhuận tối đa dành cho người bán quyền chọn

Trang 17

1.1.4 Tổ chức hoạt động sở giao dịch hàng hoá

1.1.4.1 Tổ chức sở giao dịch hàng hóa

Sở giao dịch tồn tại dưới hai hình thức chính dưới hình thức các công ty lợinhuận hoặc phi lợi nhuận Và giống như tất cả các công ty khác một sở giao dịchđều có cổ đông (nếu là hình thức công ty cổ phần), ban giám đốc, các phòng banchức năng riêng

Ban giám đốc: Ban giám đốc tùy theo hình thức sở hữu mà có thể là cácthành viên hoặc là những người được hội đồng thành viên chỉ định Ban giám đốc

sở giao dịch hàng hóa có quyền ban hành các quy tắc, quy định, thông báo hoặc ralệnh về các vấn đề liên quan đến các hoạt động của sở giao dịch hàng hóa Vì thếcác thành viên ban giám đốc phải là những người có kiến thức và năng lực về cáclĩnh vực kinh tế tài chính cũng như quản lý Tuy nhiên, quyền quyết định cuối cùngvẫn nằm trong tay các hội đồng thành viên

Các phòng ban chức năng: Để thực hiện tốt chức năng của một sở giao dịch,

thì các sở giao dịch này cần phải có những phòng ban với những nhiệm vụ riêng:

 Phòng đăng ký và lưu giữ các phiếu lệnh, hợp đồng: Các đơn đặt hàng củangười mua hoặc người bán thường là những người sản xuất thông qua các tổ chứcmôi giới trung gian được đưa vào phòng này Phòng này có nhiệm vụ là xác nhậntính khả thi, hợp pháp của các đơn hàng, sau đó chuyển thành các hợp đồng vàthành các lệnh giao dịch theo mẫu Khi lệnh được thực hiện tại sàn giao dịch thì tiếnhành quản lý theo dõi các hợp đồng

 Phòng giao dịch: Các phiếu lệnh sau khi được phòng đăng ký và được xácnhận là thích hợp sẽ được chuyển thành các lệnh đưa vào giao dịch tại sàn Phònggiao dịch có nhiệm vụ tổ chức điều hành các phiên giao dịch đồng thời có nhiệm vụquản lý và điều hành hệ thống thiết bị giao dịch, đảm bảo duy trì và xử lý các hiệntượng bất trắc trong giao dịch

 Phòng giám sát: thực hiện việc theo dõi và giám sát thường xuyên các hoạtđộng giao dịch tại sàn giao dịch Theo dõi các hành vi của các thành viên giao dịch(các thương gia hoa hồng) Nếu phát hiện thấy nghi vấn có thể tiếp tục theo dõi điềutra hoặc tiến hành xử lý

Trang 18

` Ngoài ra tùy theo sở giao dịch hàng hóa lại có thêm các phòng ban khác như:phòng nghiên cứu pháp chế và thông tin thị trường, phòng tổng hợp…

1.1.4.2 Các công ty môi giới

Trên thực tế, không có thương nhân nào có đủ điều kiện để thu thập đầy đủthông tin, tiến hành ra quyết định mua hay bán và gửi trực tiếp lệnh giao dịch lênsàn Đó là bởi vì những công việc đó quá tốn thời gian và công sức cũng như nhữnghạn chế trong công nghệ của từng cá nhân Và nếu từng thương nhân đơn lẻ thựchiện công việc đó thì đôi khi chi phí bỏ ra còn lớn hơn cả nguồn lợi thu được từhọat động kinh doanh trên thị trường Từ phía sở giao dịch, để đảm bảo tổ chức hoạtđộng giao dịch thuận tiện và dễ kiểm soát thì cần phải có một số thành viên đóngvai trò như những trung gian giữa các thương nhân với nhau và với sở giao dịch.Bắt nguồn từ những lý do đó mà các môi giới đã ra đời và đóng vai trò không thểthiếu trong hoạt động của sở giao dịch

Nhà môi giới chính là những người trung gian giữa từng thương nhân với cácthành viên giao dịch ở sở giao dịch Họ luôn sẵn sàng cung cấp thông tin, đưa ranhững lời khuyên, xử lý và thực hiện các giao dịch cho khách hàng, cập nhật thôngtin tài khoản từng cá nhân tham gia giao dịch trên sàn Tất cả công ty môi giới đềuhoạt động trên cơ sở hoa hồng Cho mỗi giao dịch thì một khoản phí phải được trảcho công ty môi giới bất chấp vụ làm ăn đó thành công hay thất bại Những ngườimuốn tham gia giao dịch thường phải giao dịch thông qua những tổ chức môi giớinày rồi sau đó lệnh mới được chuyển cho các thành viên tại sàn (Hình 1.2)

Hình 1.2: Tổ chức hoạt động cơ bản của sở giao hàng hóa

Thành viên sở giao dịch

Thành viên thanh toán

Thành viên giao dịch

Exchange Corporation

Công ty môi giới

Khách hàng công ty môi giới

Trung tâm thanh toán

Trang 19

Nguồn: Futures Markets _ Darell Duffie

1.1.4.3 Các thành viên sở giao dịch hàng hóa

Quyền hội viên chỉ giới hạn vào một số lượng chỗ quy định Trên thế giới ởcác sở giao dịch khác nhau thì có thể có những tên gọi khác nhau đối với các thànhviên của mình, nhưng xét về bản chất thì có hai loại thành viên chính sau:

Các thành viên giao dịch (Exchange member): Các thành viên này thường có

mặt tại các điểm sàn giao dịch của các loại hợp đồng khác nhau Tuy nhiên để thựchiện được giao dịch họ phải đăng ký các giao dịch của mình với các thành viênthanh toán mà mình đã có thoả thuận về việc thanh toán bù trừ hợp đồng giao dịch

Một đặc điểm quan trọng của một thị trường tương lai hiệu quả đó là khảnăng thanh khoản (liquidity) của nó, đó là khả năng thu hút được khối lượng giaodịch lớn cho phép khách hàng tham gia vào thị trường này có được vị thế mà họmong muốn Có hai loại thành viên giao dịch, cả hai thành viên này đều góp phầnvào việc tạo tính thanh khoản cho thị trường

 Những thành viên môi giới (Brokers): Brokers thực hiện giao dịch các hợpđồng theo uỷ nhiệm từ khách hàng của mình hoặc vì quyền lợi của chính mình

 Các thành viên tự doanh (Locals): Locals là những cá nhân độc lập, nhữngthành viên này sẽ giao dịch chỉ vì lợi ích của mình, do đó họ sẽ tự gánh chịu rủi ro.Các thành viên này thường kỳ vọng vào các chênh lệch giá cả

Các thành viên thanh toán (Clearing member): Các thành viên thanh toán là

những ‘đối tác’ duy nhất của các trung tâm giao dịch hàng hoá Các thành viên giaodịch không phải là các thành viên bù trừ, do đó để thực hiện được các giao dịch cácthành viên này phải thông qua các thành viên bù trừ Để đảm bảo an toàn cho cả hệthống thì trước khi được chấp nhận là một thành viên bù trừ, thì mỗi ứng viên phảitrả một khoản tiền đặt cọc bảo đảm dài hạn cho trung tâm thanh toán bù trừ

Các thành viên giao dịch phải thực hiện các lệnh của khách hàng ngay cả nếukhách hàng mất khả năng thanh toán hay không thể giao hàng Nếu một khách hàng

vỡ nợ, thì thành viên thanh toán phải chịu trách nhiệm này Nếu một thành viênthanh toán vỡ nợ, thì các trách nhiệm của nó lại chuyển sang trung tâm thanh toán

Hai lý do cơ bản để mua một chỗ tại sở giao dịch:

Trang 20

Lý do thứ nhất là để tham gia vào hoạt động mua bán diễn ra tại sàn, và cóquyền thực hiện các giao dịch mà không phải trả lệ phí cho các người môi giớitrong cũng như ngoài sàn Người ta đã thống kê được rằng khi trở thành thành viên,thì so với phí của những người chưa phải là thành viên thì số tiền trung bình mà mộtthành viên có thể tiết kiệm được sẽ được biểu diễn trong bảng sau:

B ng 1.1 Các kho n ti t ki m hàng tháng ảng 1.1 Các khoản tiết kiệm hàng tháng ảng 1.1 Các khoản tiết kiệm hàng tháng ết kiệm hàng tháng ệm hàng tháng

Khối lượng giao dịch

Do vậy, giá chỗ ngồi ở đây được xem như là một công cụ đầu tư hấp dẫn

1.1.4.4 Sàn giao dịch hàng hóa (Trading floor)

Trang 21

Sàn giao dịch là nơi các lệnh giao dịch được công bố tự do và thực hiện khớplệnh, xác nhận giao dịch Bản chất của sàn giao dịch cũng giống như không gian mởcủa một khu chợ nơi mà các thương nhân có thể tham gia một cách chủ động hơnvào các giao dịch; đồng thời có thể tìm kiếm thông tin và nghe ngóng từ động tháicủa các thương nhân khác Trên các sở giao dịch hàng hoá hiện nay nhìn chung đều

áp dụng hai hệ thống sàn giao dịch đó là các sàn giao dịch đấu giá tuyên bố côngkhai (Open outcry) và sàn giao dịch điện tử (electronic trading floor)

Các sàn giao dịch đầu giá tuyên bố công khai: Việc đấu giá công khai được

tiến hành ở những khu vực chỉ định (trading pits) tại sàn giao dịch để tiến hành muabán Các khu vực chỉ định này thường là một cái bục hình tròn bát giác hay hìnhtam giác, có nhiều bậc đồng tâm dốc xuống giữa Một pit thường phục vụ cho giaodịch một loại hình hợp đồng nhất định (tức là một loại hàng hoá hoặc một công cụtài chính nhất định) và các thương gia thuộc loại hợp đồng giao hàng trong ngàythường tụ họp ở các chỗ tương ứng Hợp đồng có ngày giao hàng sớm nhất thườngđược mua bán nhộn nhịp nhất, do đó thường diễn ra ở vòng lớn nhất

Theo quy chế, một thương gia công bố cuộc gọi thầu (bid) hoặc chào bán(offer) phải vừa tuyên bố bằng lời nói (kêu giá và số lượng hợp đồng) vừa phảidùng tay ra hiệu Giá nêu trong hợp đồng đã cho thường thường chào theo một đơn

vị thuận tiện như ounce đối với vàng, thùng đối với dầu, kể cả khi một hợp đồng cóbội số so với đơn vị (ví dụ như 5000 thùng dầu) Gọi thầu và chào bán phải đượctiến hành công khai vì lợi ích của các thương gia tại các pít; mua bán sẽ được hìnhthành với thương gia đầu tiên ra hiệu chấp nhận Nếu hai hay nhiều thương gia cùngđồng ý thì cuộc mua bán sẽ được bàn bạc giữa những người tham gia Cuối cuộcmua bán, thương gia mỗi bên ghi lại số hợp đồng, loại hợp đồng, tháng giao hàng,giá cả…

Các sàn giao dịch điện tử: năm 1967 CBOT bắt đầu áp dụng việc yết giá

bằng điện tử, giảm thời gian báo giá xuống còn vài giây Hầu hết những sở giaodịch được thành lập kể từ sau năm 1990 đều chọn hệ thống giao dịch bằng điện tử.Nhờ sự phát triển bùng nổ của ngành công nghệ thông tin, với những ứng dụng điện

tử mà ngày nay người mua và người bán (hoặc là những người môi giới đại diện

Trang 22

cho họ) không cần phải có mặt tại một địa điểm cụ thể nữa mà được kết nối thôngqua một mạng máy tính, mạng máy tính này sẽ tự động tổng hợp và phân phát thôngtin các giao dịch và thông tin giá cả Chính vì vậy mà sở giao dịch sẽ tiết kiệm đượcchi phí xây dựng và trang bị sàn giao dịch như hình thức đấu giá công khai

Nhìn chung, nếu sản xuất tập trung ở một địa điểm thì sở giao dịch mới đượcthành lập thì hệ thống đấu giá công khai phù hợp hơn Nếu như đã có sẵn cơ sở vậtchất thì việc trang bị một sàn đấu giá công khai rẻ hơn và rủi ro hệ thống bị lỗi làthấp và điều quan trọng là những thành viên giao dịch trên sàn giao dịch thì thíchhình thức này hơn bởi vì họ muốn thu nhặt thông tin và tiếp xúc trực tiếp với cáccông ty bởi vì ở hình thức này người mua và người bán đều phải có mặt Tuy nhiên,nếu như giao dịch hữu hình đã phát triển và được tổ chức tốt và những nhà đầu tưtiềm năng lại ở rải rác khắp nơi thì một hệ thống thích hợp hơn Một hệ thống giaodịch điện tử có thể phải mất những chi phí ban đầu lớn, nhưng khi đã được lắp đặtthì việc thêm những sản phẩm mới là dễ dàng và rẻ hơn Chính vì vậy tuỳ từng điềukiện mà mà sở giao dịch nên cân nhắc nên sử dụng hệ thống giao dịch nào cho phùhợp nhất và đem lại hiệu quả cao nhất

1.1.4.5 Trung tâm thanh toán (Clearing house)

Người bảo lãnh cuối cùng về trách nhiệm giao hàng của người bán và quyềnđược nhận hàng của người mua đối với hàng hoá cơ sở Có nhiều cách để có mộttrung tâm thanh toán bù trừ, trong đó:

- Trung tâm thanh toán bù trừ là một phòng ban của sở giao dịch hàng hoá: Sựđảm bảo về tài chính của những trung tâm này sẽ đảm bảo thông qua sự đảm bảo vềtài chính của các thành viên thanh toán của sở giao dịch và những khoản vốn thuđược sẽ được tích luỹ như là một khoản đảm bảo cố định Hệ thống này có một lợithế là tất cả những khoản thu nhập từ các hoạt động thanh toán là khoản thu nhậpcủa sở giao dịch Tuy nhiên, chỉ khi các thành viên thanh toán là những công ty lớn

và uy tín (như sở giao dịch hàng hoá ở Singapore với những công ty lớn đạt chuẩn3A), hoặc một quỹ bảo hiểm tín dụng lớn đã được tích luỹ trong nhiều năm (ví dụnhư ở CBOT) thì hệ thống này mới tạo ra một biện pháp bảo vệ an toàn

Trang 23

- Thành lập trung tâm thanh toán độc lập ở ngoài sở giao dịch: Các thành viêncủa các trung tâm này chủ yếu là các ngân hàng, họ thực hiện các chức năng thanhtoán bù trừ và đảm bảo về độ an toàn tài chính của thị trường để thu phí Hình thứcnày có lợi ích chính là sự tham gia của những tổ chức có vốn lớn với những xếphạng tín dụng tốt, sẽ đảm bảo cho những người tham gia trên sở giao dịch rằng thịtrường thực sự đảm bảo Để không mất hết những lợi nhuận tài chính thu được từcác hoạt động thanh toán, các sở giao dịch hoặc các thành viên của nó thường có cổphần sở hữu ở tổ chức thanh toán đó Trong trường hợp ở những quốc gia đang pháttriển, thì họ nên cân nhắc việc thành lập các trung tâm thanh toán trong đó tất cả các

sở giao dịch trong quốc gia đó hoặc trong khu vực cùng tham gia

- Sử dụng dịch vụ của một trung tâm thanh toán sẵn có: Lợi thế của hình thứcnày là những trung tâm thanh toán này có uy tín và nó đã có sẵn những hệ thống cầnthiết để thực hiện việc thanh toán có hiệu quả

Các trung tâm thanh toán hay các phòng thanh toán này không những cầnphải có lượng vốn lớn, mà còn phải có khả năng kiểm soát độc lập, nhanh chóng vàphù hợp với các điều kiện thị trường Các hệ thống được sử dụng để vận hành mộtcách ở trung tâm thanh toán có thể được mua trên thị trường và việc mua lại nàythường là rẻ hơn rất nhiều so với việc tự mình phát triển một hệ thống mới Hệthống phần cứng và phần mềm cần thiết để lập nên một sở giao dịch tương lai vàquyền chọn hiệu quả và các hoạt động thanh toán của nó có thể tốn tới 1 tới 2 triệu

đô la Mỹ, vì vậy các sở giao dịch khi mới thành lập cần phải hết sức cân nhắc nên

sử dụng hình thức trung tâm thanh toán cho thích hợp nhất và đem lại hiệu quả caonhất

1.2 NHỮNG GIAO DỊCH TRÊN SỞ GIAO DỊCH HÀNG HOÁ

Như đã đề cập ở trên, giao dịch giao ngay chỉ chiếm một con số rất nhỏ trong

số các giao dịch trên sở giao dịch hàng hóa; thêm nữa loại hình giao dịch này cũngkhá giản đơn nên ở đây trình bầy hai loại giao dịch phức tạp và phổ biến hơn là giaodịch tương lai và quyền chọn hàng hóa mà thôi

1.2.1 Giao dịch tương lai hàng hoá (Futures Commodity Trading)

1.2.1.1 Trạng thái giao dịch mở và khối lượng giao dịch

Trang 24

Trạng thái giao dịch mở (open interest): là số lượng các hợp đồng, mà cụ

thể là hợp đồng tương lai vẫn còn hiệu lực, chưa được tất toán bằng một giao dịch

bù trừ hoặc việc giao hàng theo hợp đồng Tổng giao dịch mở bằng với các vị thếmua cũng như bằng với các vị thế bán, chứ không phải là tổng của cả hai Khi mộtgiao dịch hình thành, giao dịch mở sẽ:

- Tăng nếu cả hai bên giao dịch để tăng vị thế đang có của mình

- Không đổi nếu một bên tăng và bên khác lại giảm vị thế của mình cùng tỷ lệ

- Giảm nếu cả hai bên muốn giảm vị thế đang có của mình

Hình 1.3: Giao dịch mở trên sở giao dịch hàng hóa

Khối lượng giao dịch: là tổng số hợp đồng giao dịch một loại hàng hoá nhất

định Nó được tính bằng số lượng hợp đồng chứ không phải là giá trị thực của hànghoá cơ sở đem giao dịch

Cũng giống như giao dịch mở, khối lượng giao dịch cũng là một chỉ số đo vềlượng cung, cầu và biến động thị trường Tuy nhiên, khối lượng giao dịch khônggiúp xác định hành vi của các nhà đầu tư như chỉ số về khối lượng giao dịch mở và

do đó không dự đoán được xu hướng về giá cả dựa trên khối lượng giao dịch được

1.2.1.2 Mối quan hệ giữa giá giao ngay và giá tương lai

Mặc dù giá giao ngay không dao động hoàn toàn giống nhau nhưng chúng có

xu hướng dao động tương tự như nhau Bởi vì các hợp đồng tương lai hoàn toàn có

Số giao dịch mở thực tế

Giao dịch mở có thể được tính tổng hoặc thực tế Giao dịch mở thực tế là tổng của tất cả các vị thế được đưa đến thanh toán qua thành viên thanh toán Tổng giao dịch mở là số vị thế

mở của tất cả những người tham gia thị trường Tổng giao dịch mở bao giờ cũng lớn hơn giao dịch mở thực tế vì các vị thế của các khách hàng khác nhau của một thành viên thanh toán không bù trừ cho nhau được, hơn nữa việc tính tất cả các vị thế của những người tham gia thị trường cũng khó

Do đó, giao dịch mở thực tế sẽ phản ánh thị trường chính xác hơn

3 vị thế mở 2 vị thế mở

5 vị thế mở

Tổngsốlượnggiaodịchmở

Môi giới/

người buônbán hợp đồngTrung tâmthanh toán

Trang 25

thể kết thúc với việc giao hàng vào ngày đáo hạn, do đó mức giá trong hợp đồngnày phụ thuộc khá nhiều vào giá thị trường giao ngay

Về lý thuyết giá tương lai bằng giá giao ngay cộng với chi phí bảo quản(cost-of-carry), trừ đi lợi thế việc sẵn có hàng hoá (convenience yeild) Do đó nókhông bao giờ cao hơn giá hàng hoá giao ngay cộng với chi phí bảo quản Sự khácbiệt giữa hai hợp đồng tương lai bằng chi phí bảo quản giữa những ngày đáo hạnkhác nhau Chi phí bảo quản tích trữ hàng hoá là những chi phí tài chính khi muabán hàng hoá cơ sở và những chi phí giữ hàng hoá này cho đến khi đáo hạn Cànggần đến ngày đáo hạn của hợp đồng tương lai, thì chi phí bảo quản càng ít, vì cànggần tới tháng giao hàng thì những kỳ vọng của thị trường được phản ánh trong giátương lai lại càng giống với những kỳ vọng trên thị trường giao ngay

Chênh lệch giá (the basis): Thuật ngữ “chênh lệch” là để chỉ sự khác biệt

giữa giá giao ngay và giá tương lai của cùng một loại hàng Chênh lệch biến đổitheo thời gian: tăng nếu giá tương lai giảm còn giá giao ngay lại tăng, và ngược lại

Hình 1.4 : Chênh lệch giá trên các thị trường (Basis)

1.2.1.3 Những hoạt động trên thị trường tương lai

Tự bảo hiểm (Hedging): Hoạt động tự bảo hiểm được thực hiện thông qua

việc đảm nhận một vị thế trên thị trường tương lai gần như tương đương về giá trịnhưng ngược về cam kết ở thị trường giao ngay Tự bảo hiểm thông thường hoàntoàn độc lập với bất cứ một đánh giá nào đưa ra liên quan đến các mức giá tươnglai Nghiệp vụ này thường được những người tham gia thị trường như nông dân,

Tháng baTháng hai

Tháng một

Giá giao ngayChênh lệchGiá tương lai giao vào tháng 3

Trang 26

công ty chế biến hay nhà xuất khẩu…những người không muốn tốn tiền và thờigian nghiên cứu về thị trường tương lai hoặc là những nhà đầu tư không chắc chắnrằng liệu những dự đoán của mình là đúng Có thể có nhiều phương pháp để tiếnhành tự bảo hiểm, nhưng trong phạm vi bài viết chỉ xin nêu ra hai phương pháp đặctrưng nhất:

Tự bảo hiểm vị thế bán (Short Hedge): Một người tham gia thị trường đang

nắm vị thế mua, hoặc đang nắm giữ hàng hóa trên thị trường giao ngay và muốnbảo vệ vị thế của mình khỏi rủi ro giảm giá có thể tham gia bảo hiểm vị thế thôngviệc tham gia thị trường tương lai ở vị thế bán

Ví dụ: một nhà máy sản xuất đường có thể sản xuất ra 200 tấn đường và giả

sử rằng có thể bán ngay sản phẩm của mình ở một mức giá cố định Do đó nhà máynày không cần thiết phải bảo vệ khỏi rủi ro giảm giá mà đã được chuyển giao chomột người chủ mới Tuy nhiên, nếu nhà sản xuất không thể bán sản phẩm của mìnhngay lập tức, anh ta có thể thiết lập một chiến thuật short hedge nhằm bảo vệ khỏimột sự giảm giá đường trong tương lai Giả định rằng nhà sản xuất sẽ bán đườngvào ngày 22/11 Hợp đồng tự bảo hiểm sẽ được mua vào ngày 23/10, vị thế trên thịtrường tương lai sẽ kết thúc vào cùng ngày với ngày đường được bán trên thị trườnggiao ngay tức là ngày 22/11 Do đó khoản lỗ do giá đường giảm trên thị trường vàothời điểm bán sẽ được bù bởi khoản lãi từ vị thế hợp đồng tương lai

Tự bảo hiểm vị thế mua (long hedge): Một người đang nắm giữ vị thế bán

trên thị trường giao ngay ngược lại có thể bảo vệ vị thế của mình khỏi sự tăng giá cảhàng hoá thông qua việc đảm nhận một vị thế mua trên thị trường tương lai

Tuy nhiên các nghiệp vụ tự bảo hiểm trên thị trường tương lai chỉ nên đượcxem như là công cụ giảm rủi ro biến động giá cả chứ không phải là biện pháp xóa

bỏ hoàn toàn rủi ro này Bởi vì bản chất của nghiệp vụ tự bảo hiểm bằng giao dịchtương lai là nhằm thay thế rủi ro biến động giá cả bằng một loại rủi ro nhỏ hơn làchênh lệch giá cả Do đó những người tự bảo hiểm vẫn phải gánh chịu rủi ro khichênh lệch này thay đổi Đặc biệt đối với những người nắm giữ những vị thế khốngkhi đó sẽ còn chịu rủi ro cao hơn những người tự bảo hiểm bởi vì lúc này họ tự bảo

Trang 27

hiểm trên cở sở giá thị trường tương lai, mức giá này chắc chắn sẽ biến động nhiềuhơn so với việc tự bảo hiểm trên chênh lệch giá của hai thị trường.

Arbitrage (nghiệp vụ ác-bít): Ác-bít là việc tận dụng sự khác biệt và sự

không cân bằng về giá trên thị trường Về cơ bản thì ác-bít là việc nhận ra những lợinhuận không chứa đựng rủi ro thông qua việc thực hiện đồng thời mua và bán cùngmột loại tài sản ở hai mức giá khác nhau mà không phải đầu tư bất cứ một khoảnngân quỹ nào

Ác-bít liên thị trường: Ho t ạt động ác-bít tận dụng sự khác biệt về giá của động ác-bít tận dụng sự khác biệt về giá của ng ác-bít t n d ng s khác bi t v giá c a ận dụng sự khác biệt về giá của ụng sự khác biệt về giá của ự khác biệt về giá của ệt về giá của ề giá của ủa

h ng hoá trên nh ng th tr àng hoá ở trên những thị trường khác nhau ở trên những thị trường khác nhau ững thị trường khác nhau ị trường khác nhau ường khác nhau ng khác nhau.

Bán một hợp đồng tương

lai 100 ouces vàng vào

tháng 6 giá $430/ounce

Mua một hợp đồngtương lai Ê12.500

tỉ giá $1.7/Ê

Mua một hợp đồng tươnglai 100 ounces vàng vàotháng 6 giá Ê250/ ounce

-100 ouces vàng

+$43000

-$42500+Ê25000

-Ê25000+100 ounces vàng

Vào ngày 30/6 hợp đồng đến hạn, nhà đầu tư sẽ thu được một khoản lợinhuận $500; các giao dịch vàng và đồng bảng Anh sẽ bù trừ lẫn nhau

Ác-bít liên giao hàng (Interdelivery Arbitrage): Loại hình Arbitrage này

được thực hiện chủ yếu trên thị trường tương lai vì nó tận dụng sự tách biệt giữanhững tháng giáo hàng khác nhau của các hợp đồng của cùng một loại hàng hoá Cóhai loại interdelivery arbitrage

Ác-bít giao ngay/tương lai: có hai dạng chính

-Nếu giá tương lai cao hơn so với giá giao ngay, nhà kinh doanh ác-bít sẽmua hàng hoá ở thị trường giao ngay đồng thời bán chúng ở thị trường tương lai vàđợi đến ngày đáo hạn để giao hàng Do đó loại hình ác-bít này còn được gọi là ác-bít ‘cash and carry’(cash and carry arbitrage) nêu rõ bản chất của nghiệp vụ

-Nếu giá tương lai thấp hơn so với giá giao ngay, người kinh doanh ác-bít sẽbán hàng hoá ở thị trường giao ngay, mua trên thị trường tương lai, và giao hàng khihàng hoá đáo hạn Loại hình ác-bít này còn được gọi là reverse cash and carry Loại

Trang 28

hình ác bít này cũng dựa trên nguyên tắc của cash and carry đó là so sánh giá tươnglai lý tưởng, bằng giá giao ngay cộng với phí bảo quản, với giá tương lai phổ biếntrên thị trường

Tuy nhiên, trên thực tế thì chiến lược này cũng đặt ra những vấn đề nếu nhưxuất hiện việc bán khống Thêm vào đó, với những hợp đồng tương lai nhất định sự

đa dạng về phẩm cấp của hàng hoá có thể được giao hàng tại thời điểm đáo hạn

Ác bít tương lai/tương lai: loại ác bít này tận dụng sự khác biệt giá cả giữa

những tháng giao hàng của cùng một hợp đồng Chiến lược này dựa trên nguyên tắc

về sự liên kết giữa thị trường tương lai và giao ngay bắt nguồn từ thực tế rằng bất

kỳ một vị thế tương lai nào đều có thể được chuyển thành một vị thế trên thị trườnggiao ngay ở thời điểm đáo hạn

Nghiệp vụ ác-bít giữa những ngày đáo hạn của hợp đồng tương lai có thể baogồm vị thế bán ở một tháng đáo hạn và một vị thế mua ở một tháng đáo hạn kháccủa cùng một hợp đồng Với mục đích này, giá hợp đồng tương lai phổ biến trên cácthị trường cần phải được so sánh với giá hợp đồng tương lai trên lý thuyết, đượctính toán trên cơ sở chi phí bảo quản Nhưng lần này, chi phí bảo quản được tínhtoán giữa hai ngày đáo hạn của hợp đồng tương lai chứ không phải là giữa thịtrường tương lai và thị trường giao ngay

1.2.2 Giao dịch quyền chọn hàng hóa

1.2.2.1 Đặc trưng thị trường quyền chọn hàng hóa

Vị thế quyền chọn: Thuật ngữ vị thế trên thị trường nhằm thể hiện trạng thái

trách nhiệm từ việc thực hiện các giao dịch Vị thế này có thể là vị thế mua (long)hoặc bán (short), được áp dụng với cả quyền chọn mua và quyền chọn bán

Vị thế mua: Là người tham gia thị trường mua nhiều hợp đồng quyền chọn(của cùng một loại hàng, có cùng giá thực hiện và cùng ngày đáo hạn) hơn là bánchúng Để có một vị thế mua của một hợp đồng quyền chọn thì phải là người muacủa hợp đồng quyền chọn đó

Vị thế bán: Là người tham gia thị trường bán nhiều hợp đồng quyền chọn(của cùng một loại hàng, có cùng giá thực hiệnvà cùng ngày đáo hạn) hơn là mua

Trang 29

chúng Để có một vị thế bán đối với hợp đồng quyền chọn thì phải là người bán hợpđồng quyền chọn đó.

Hình 1.5: Những vị thế cơ bản của một quyền chọn

Khả năng lãi lỗ của bốn vị thế cơ bản của quyền chọn: Không tính các yếu

tố khác thì lãi hay lỗ của quyền chọn phụ thuộc vào sự thay đổi giá hàng hoá cơ sở

Hình 1.6: Khả năng lãi và lỗ của một của chọn mua

Khi giá hàng hoá giảm xuống dưới giá thực hiện, người mua quyền chọnmua sẽ không thực hiện quyền của mình Anh ta sẽ mất phí mua quyền chọn củamình Tuy nhiên, người bán quyền chọn sẽ thu được phí quyền chọn và đó là lợinhuận Khi giá của hàng hoá tăng lên trên mức giá thực hiện, thì người mua sẽ thu

Có nghĩa vụ mua hàng hoá ở mức giá quy định khi quyền chọn bán được thực hiện

Có quyền những không có nghĩa vụ bán hàng hoá ở mức giá quy định

Có quyền, nhưng không có nghĩa vụ phải mua hàng hoá ở mức giá quy định

Quyền chọn

Mua

Bán

Người bán quyền chọn muaNgười mua quyền chọn bánNgười bán quyền chọn bán

Có nghĩa vụ phải bán hàng hoá

ở mức giá quy định nếu quyền chọn mua được thực hiện

Người mua quyền chọn mua

2 loại quyền chọn 4 loại vị thế cơ bản

Trang 30

được lợi nhuận thông qua việc thực hiện quyền của mình Người bán có nghĩa vụphải giao hàng hoá cơ sở ở mức giá thực hiện và do đó bị lỗ

Hình 1.7: Khả năng lãi và lỗ của một quyền chọn bán

Với quyền chọn bán thì lý do cũng tương tự Cả khả năng sinh lãi của muaquyền chọn bán lẫn lỗ của người bán quyền chọn bán đều gần như không có giớihạn, “gần như” vì giá của hàng hoá cơ sở không thế giảm xuống dưới 0

Vị thế khống (naked position)

Bán khống hợp đồng quyền chọn: là việc bán quyền mà không sở hữu những

hàng hoá cơ sở Mục đích của việc bán hàng như vậy là để thu phí mà không phảiđảm nhận bất cứ một vị thế nào của hàng hoá cơ sở Đây hoàn toàn là vị thế đầu cơ

Do đó, người bán những quyền chọn mua khống thường ở vị thế hết sức rủi ro vì cóthể phải chịu lỗ rất lớn nếu như giá của hàng hoá cơ sở tăng cao so với giá thựchiện

- Khả năng lỗ của việc bán khống quyền chọn mua: Nếu người mua một quyềnchọn mua thực hiện quyền chọn của mình khi mà giá thực hiện nhỏ hơn giá củahàng hoá cơ sở trên thị trường, người bán sẽ buộc phải giao hàng Nhưng nếu ngườibán không sở hữu hàng hoá, thì anh ta sẽ phải mua ngoài thị trường và sẽ phải gánhchịu một khoản lỗ tương đương với sự chênh lệch giữa giá trên thị trường và giáthực hiện (trừ đi khoản phí quyền mà anh ta đã thu được)

- Khả năng lỗ của việc bán khống quyền chọn bán: Người bán quyền chọn bán

sẽ chịu lỗ nếu như giá của hàng hoá cơ sở giảm dưới mức giá thực hiện trừ đi khoảnphí đã thu được Trong trường hợp này, nếu người mua thực hiện quyền của mình,người bán quyền chọn bán sẽ phải mua hàng hoá cơ sở ở mức giá thực hiện trong

Giới hạn lỗ = phí quyền

Giá hàng hoá lúc đáo hạnLỗ

Ví dụ người mua quyền chọn bán Ví dụ người bán quyền chọn bán

Trang 31

khi giá thị trường của loại hàng hoá đó có thể thấp hơn nhiều Để giới hạn những rủi

ro này, trung tâm thanh toán bù trừ yêu cầu “ký quỹ tiền bảo chứng ban đầu” từngười bán quyền chọn mua hoặc quyền chọn bán Lượng tiền ký quỹ bảo chứng nàyđược điều chỉnh hàng ngày

B t ắt đầu và chấm dứt các giao dịch đầu và chấm dứt các giao dịch u v ch m d t các giao d ch àng hoá ở trên những thị trường khác nhau ấm dứt các giao dịch ứt các giao dịch ị trường khác nhau.

Bắt đầu Kể từ khi một nhà giao dịch có một vị thế mới thông qua việc giao

dịch mua hay bán, đấy là một giao mở

Kết thúc Bất kể là vị thế mua hay bán, người giao dịch luôn luôn có thể kết thúc

thông qua việc mua hay bán lại những quyền chọn trên thị trường

Quyền chọn mua Quyền chọn bánThực hiện người muangười bán Mua hàng hoá cơ sởBán hàng hoá Bán hàng hoá cơ sởmua hàng hoá

Để hết hạn Người mua Từ bỏ quyền chọn và mất phí

1.2.2.2 Các chiến lược quyền chọn

Trên thị trường quyền chọn nói chung có thể có nhiều chiến lược được sửdụng Tuy nhiên trong phạm vi quyền chọn về hàng hóa thì chỉ có một số chiến lượcđược sử dụng mà thôi Sau đây là những chiến lược quyền chọn cơ bản được ápdụng trên thị trường hàng hóa

Chiến lược spread (Chênh lệch giá): Chiến lược kinh doanh spread liên

quan đến việc nắm giữ vị thế trên hay hoặc nhiều quyền chọn cùng kiểu (nghĩa làcùng là quyền chọn mua hoặc quyền chọn bán) để thu chênh lệch (spread)

Một chênh lệch (Spread) phát sinh khi đồng thời mua và bán các quyền chọncủa cùng loại hàng hoá với những mức giá thực hiện và/hoặc ngày đáo hạn khácnhau Nguồn gốc thuật ngữ ‘chênh lêch’ là từ thực tế rằng lợi nhuận hay lỗ phụthuộc vào xu hướng tạo ra bởi sự khác biệt về giá cả giữa hai vị thế quyền chọn

Đặc điểm của chiến lược spread: Giới hạn tiềm năng lỗ và lãi và giảm tácđộng của những biến động của bất ổn giá (tác động của bất ổn sẽ tác động lên cả hai

vị thế và do đó bù cho nhau) và vị thế chủ yếu phản ứng lại những biến động giá cảhàng hoá cơ sở trong một giai đoạn thời gian nhất định

B ng 1.2: Phân lo i các lo i spread ảng 1.1 Các khoản tiết kiệm hàng tháng ại các loại spread ại các loại spread

Chênh lệch dọc Chênh lệch ngang Chênh lệch chéo

Trang 32

Giá thực hiện Khác nhau giống nhau Khác nhau

Với mỗi xu hướng thị trường lên hay xuống thì lại có những chiến lượcSpread tương ứng: đó là chiến lược Bull Spread (khi thị trường giá lên) và chiếnlược Bear Spread (khi thị trường giá xuống) Để hiểu rõ thêm về chiến lược này, ta

đi sâu vào chiến lược khi thị trường giá lên Bull Spread

Chiến lược Bull Spread phản ứng một cách tích cực tới sự tăng giá của hànghoá cơ sở, cho dù là sử dụng quyền chọn mua hay quyền chọn bán Nó bao gồmviệc mua quyền chọn mua hoặc bán ở một thời gian thực hiện cụ thể và việc bánđồng thời cùng một lượng quyền chọn của cùng một loại hàng hoá ở mức giá thựchiện cao hơn Khả năng lỗ và lãi trong chiến lược này đều bị giới hạn:

- Chiến lược Bull Spread sử dụng quyền chọn mua: Một quyền chọn mua vớigiá thực hiện thấp hơn (đắt hơn) thì được mua, quyền chọn mua với giá thực hiệncao hơn (rẻ hơn) thì được bán đi

Hình 1.8: Bull Call Spread (Chiến lược spread giá tăng với quyền chọn mua)

Chiến lược Bull Spread sử dụng quyền chọn bán: Một quyền chọn bán vớigiá thực hiện thấp hơn (rẻ hơn) được mua vào trong khi quyền chọn bán với giáthực hiện cao hơn (đắt hơn) sẽ được bán ra

Lỗ tối đa = phí quyền chọn ròng phải nộp

Vị thế Mua quyền chọn mua

Lỗ

Lợi nhuận

Trang 33

Hình 1.9: Bull Put Spread (Chiến lược spread giá tăng với quyền chọn bán)

Chiến lược phối hợp (Combination): là chiến lược kinh doanh quyền chọn

liên quan đến việc nắm giữ vị thế trên cả quyền chọn mua và quyền chọn bán vớicùng một loại hàng hóa Trong chiến lược này lại gồm có bốn loại chiến lược chitiết như Straddle, strip, strap và strangle Dưới đây sẽ xét đến một trong số nhữngchiến lược đó là Straddle

Chiến lược phối hợp straddle: bao gồm việc đồng thời mua hay bán cùng

một lượng quyền chọn mua và bán của cùng một loại hàng hoá cơ sở, với cùng thờigian đáo hạn và cùng một giá thực hiện Khi giá hàng hoá còn duy trì gần với giáthực hiện thì vị thế này chủ yếu là nhạy cảm với những thay đổi trong sự bất ổn giácả

Hình 1.10: Long Straddle (Chiến lược Straddle vị thế mua)

Giá hàng hoáMua quyền chọn bán

Vị thế kết hợpLợi nhuận tối đa = phí quyền nhận được

Trang 34

Một long straddle có khả năng lỗ là giới hạn trong khi khả năng lãi là vô hạn.Người tham gia thị trường kỳ vọng vào một sự thay đổi giá lớn Giá hàng hoá càngkhác xa so với gia thực hiện thì lợi nhuận càng cao.

Một Short straddle có tiềm năng lãi giới hạn còn tiềm năng lỗ là không giớihạn Một nhà đầu tư kỳ vọng vào những biến động giá nhỏ Nếu giá tăng cao, hoặcgiảm manh, người bán phải cân nhắc đến khả năng thực hiện quyền chọn mua hoặcbán đó Giá cả hàng hoá cơ sở càng xa khỏi giá thực hiện thì lỗ càng lớn

1.3 VAI TRÒ CỦA SỞ GIAO DỊCH HÀNG HOÁ

Rõ ràng là các sở giao dịch không phải là hình thành một cách vô nghĩa, vớichức năng chính là để tập trung những người mua và người bán với nhau, sở giaodịch hàng hóa đã đem lại rất nhiều lợi ích như giảm các chi phí giao dịch, là nơitham khảo giá cả hàng hóa, và chuyển giao rủi ro Do đó sở giao dịch hàng hóa đãthể hiện một vai trò hết sức tích cực đối với những người tham gia cũng như toàn bộnền kinh tế nói chung

1.3.1 Đối với những người tham gia sở giao dịch

Sự bất lực của những người sản xuất và chế biến trong việc bảo hiểm chốnglại những rủi ro về giá, do tính bất ổn định của thị trường mang lại, đã tạo ra nhữngtiền đề và động lực to lớn cho sự hình thành và phát triển của các sở giao dịch hànghoá, nơi mà các nhà tự bảo hiểm có thể san xẻ rủi ro sang các nhà đầu cơ

1.3.1.1 Đối với những người tự bảo hiểm

Lợi nhuận tối đa = tổng các khoản phí nhận được

Giá hàng hoá

Vị thế kết

hợp

Vị thế Bán quyền chọn mua

Vị thế Bán quyền chọn bán

Trang 35

Đối với người sản xuất đặc biệt là người nông dân: trong điều kiện thị

trường không ngừng biến động thì vấn đề đặt ra cho những người sản xuất đó là thịtrường tiêu thụ không ổn định, thậm chí nhiều lúc ở nhiều nơi các sản phẩm củangười họ làm ra không tiêu thụ được Thực trạng này đặc biệt nghiêm trọng hơn đốivới những nước nông nghiệp như Việt Nam Sản lượng nông sản của các nước nàythường có xu hướng ngày càng tăng Trên thực tế, đã có không ít trường hợp hànghóa nông sản được sản xuất ra với khối lượng quá lớn dẫn đến việc tiêu thụ rất khókhăn như gạo, cà phê…và đã từng sảy ra tình trạng ‘rớt giá’, gây thiệt hại đáng kểkhông những chỉ cho người nông dân nói riêng mà cả toàn bộ nền kinh tế nóichung Điều này đã làm cho người sản xuất nông thường xuyên gặp rủi ro và bịđộng, thiếu vốn để đầu tư, không khuyến khích được người họ mở mang sản xuất,dẫn đến tình trạng không tận dụng nguồn nhân lực và tài nguyên của đất nước Do

đó, việc hình thành nên các sở giao dịch nông sản chính là một giải pháp cho nhữngvấn đề này Sở giao dịch ra đời sẽ thúc đẩy quá trình tiêu thụ, góp phần giải quyếtnhững ách tắc do khó khăn trong khâu tiêu thụ, gắn trực tiếp hoạt động sản xuất vớingười tiêu thụ hàng hóa với khối lượng lớn

Một vai trò khác hết sức quan trọng của sở giao dịch hàng hóa đối với nhữngngười sản xuất đó chính là việc chuyển rủi ro về giá từ người sản xuất sang nhữngngười kinh doanh rủi ro Các sở giao dịch hàng hoá cung cấp những công cụ nhưcác hợp đồng tương lai hay quyền chọn hay một cơ chế phát hiện giá cả tạo điềukiện cho người nông dân hạn chế được những rủi ro họ phải gánh chịu khi chưa có

sở giao dịch hàng hóa, đặc biệt trong bối cảnh giá cả hàng hoá ngày nay trên thếgiới thường xuyên biến động mạnh trong những khoảng thời gian ngắn đôi khi sựbiến động này lên tới hơn 50% một năm Để tối đa hóa vai trò này thì hiện naynhiều sở giao dịch đã tiến hành nhiều biện pháp để đưa thông tin tới tận tay người

sử dụng: như đăng báo, đưa tin trên các đài phát thanh, truyền hình và thậm chí là ởnhững sở giao dịch như Dalian của Trung Quốc còn gửi tin nhắn tới tận tay ngườinông dân Ngay cả khi phải đối mặt với sự giảm giá trong dài hạn thì với khả năngbảo hiểm rủi ro về biến động giá cả tuy có thời hạn ngắn hơn, các sở giao dịch nàycũng cho phép người nông dân một thời gian để điều chỉnh hình thức mùa vụ, cũng

Trang 36

như là đa dạng hoá sản xuất để tránh rủi ro Khi có một hợp đồng trong tay với sốlượng, chất lượng, giá cả và thời gian giao hàng đã biết trước, tức là đã nắm chắcđầu ra của sản phẩm, người nông dân có thể vạch kế hoạch sản xuất, tiến hành huyđộng vốn, mua sắm vật tư, mở rộng diện tích canh tác tiến hành áp dụng các kỹthuật tiên tiến để nâng cao năng suất và chất lượng Đó là một yếu tố quan trọng đểnâng cao khối lượng nông sản, tận dụng được một cách hợp lý nguồn tài nguyên vànhân lực

Đối với người kinh doanh xuất khẩu: họ thường bị động về thời gian và khối

lượng, chất lượng, giá cả nên bỏ lỡ nhiều cơ hội xuất khẩu đáng tiếc, dẫn đến hiệuquả xuất khẩu chưa cao Do đó, việc hình thành các sở giao dịch không chỉ là mộtgiải pháp cho những vấn đề đó còn đóng một vai trò tích cực trong việc giảm chiphí giao dịch tăng tính cạnh tranh trên thị trường Thông thường, các chi phi giaodịch trong nền kinh tế thị trường thường bao gồm:

 Chi phí trước giao dịch, gồm những chi phí như: tìm người mua hay ngườibán cho hợp đồng, đánh giá độ tin cậy của đối tác, xác định mức giá hợp lý, thẩmđịnh chất lượng hàng hoá, đảm bảo tài chính để thanh toán giao dịch, xác định hìnhthức thanh toán giao hàng và thanh toán và các điều khoản khác của hợp đồng

 Chi phí thực hiện sau giao dịch: quản lý tín dụng và các dòng tiền, giám sátviệc giao hàng, thẩm định chất lượng hàng hoá được giao, những tranh cãi trongquá trình mua bán, bảo hiểm, hoặc đền bù rủi ro vỡ nợ, v.v…

Kết hợp lại với nhau thì những chi phí này có thể là một khoản chi phí đáng

kể, đòi hỏi một khoản tiền, thời gian cũng như công sức đáng kể Thêm vào đó cácchi phí giao dịch này ở những quốc gia đang phát triển lại có xu hướng cao hơnnhiều so với những quốc gia phát triển do mô hình thị trường không hoàn hảo vàthiếu những cơ quan cũng như cơ sở hạ tầng cần thiết Do đó sở giao dịch vớinhững chức năng của mình sẽ góp phần đáng kể vào việc giảm chi phí này

1.3.1.2 Đối với những nhà đầu cơ trên sở giao dịch hàng hóa

Hoạt động mua bán tại sở giao dịch chủ yếu diễn ra là nhằm mục đích thu lợinhuận thông qua hoạt động đầu cơ giá cả dựa trên những biến động về giá cả Bêncạnh những người lo sợ rủi ro giá cả biến động không có lợi thì cũng có những

Trang 37

người sẵn sàng chấp nhận những rủi ro này, và coi đó như là một công cụ đầu cơkiếm lời, những người này thu được lợi nhuận thông qua việc dự đoán chính xác xuhướng giá diễn ra trong giao dịch giao sau Dù đóng vai trò bên mua hay bên bán,nhà đầu cơ không quan tâm nhiều đến việc chuyển giao hàng hóa thực sự; họ sẽnhận lấy rủi ro chuyển sang từ những người tự bảo hiểm, bởi vì những nhà đầu cơ

có khả năng kiểm soát rủi ro và quản lí danh mục đầu tư tốt hơn người nông dânhay doanh nghiệp sản xuất thông thường Lợi nhuận chính là một sự đền bù choviệc họ đã chấp nhận rủi ro Bằng những biện pháp bảo đảm khả năng thanh toáncũng như cung cấp các công cụ cho các giao dịch trên giấy tờ như hợp đồng tươnglai hay hợp đồng quyền chọn, sở giao dịch đã thu hút được một khối lượng lớn cácgiao dịch tạo cơ hội đầu tư trên thị trường, và đem lại lợi nhuận cho nhà đầu tư vàgóp phần nâng cao hiệu quả cạnh tranh của nền kinh tế thị trường nói chung

1.3.2 Đối với nền kinh tế nói chung

Đối với các quốc gia đang phát triển thì việc đáp ứng yêu cầu chất lượng củacác hợp đồng chuẩn hàng hóa trên sở giao dịch có khuyến khích người sản xuấtmạnh dạn đầu tư cho sản xuất đổi mới phương thức sản xuất để tạo ra các sản phẩmđạt tiêu chuẩn có chất lượng cao Ví dụ như người nông dân trước đây không dámđầu tư vào các giống lúa chất lượng cao, các loại cà phê chế biến vì sợ khó cạnhtranh về giá cả so với các sản phẩm cùng loại khác, nhất là trên thị trường nội địathì nay với những hợp đồng chuẩn và với một sự đảm bảo về đầu ra nhất định họsẵn sàng đầu tư để sản xuất ra các sản phẩm đạt các tiêu chuẩn chất lượng và tiêuchuẩn môi trường vốn là những vấn đề ngày càng đáng lo ngại đặc biệt là với nhữngquốc gia đang phát triển Hơn nữa, khi bước vào hội nhập kinh tế thì thị trường đòihỏi chất lượng cao sẽ tạo điều kiện cho các sản phẩm đủ sức thâm nhập và cạnhtranh trên thị trường quốc tế Khi đó người dân mạnh dạn vay vốn, mua vật tư sảnxuất có tác dụng kích cầu đối với các thị trường khác như thị trường vốn, thị trường

tư liệu sản xuất Hơn nữa, khi đã biết trước được việc sẽ tiêu thụ đầu ra thì họ sẽ cóđiều kiện để mua sắm các sản phẩm tiêu dùng từ đó kích cầu đến toàn bộ nền kinh

tế Với những quốc gia Việt Nam, nếu như hình thành được các sở giao dịch nông

Trang 38

sản thì với một tỷ lệ gần 70% dân số nông nghiệp tăng tiêu dùng sẽ là một động lựcrất lớn cho nền kinh tế phát triển.

Sở giao dịch hàng hóa cũng là một trong những công cụ góp phần củng cốthị trường trong nước và gắn thị trường trong nước với các thị trường nước ngoài,tạo điều kiện để phát huy có hiệu quả các nguồn lực phát triển của đất nước Các sởgiao dịch góp phần tăng khối lượng và cường độ của các loại giao dịch về hàng hóatrong nước và với những quốc gia khác trên thế giới, góp phần bình ổn cung cầu vàgiá cả trên thị trường nhờ khả năng cung cấp nguồn hàng lớn Đối với những quốcgia đang phát triển việc hình thành một sở giao dịch giúp các doanh nghiệp vàthương gia của các quốc gia này có cơ hội làm quen dần với thông lệ tập quán vàluật pháp quốc tế, thực hiện các loại kỹ thuật mua bán theo đúng quy định của sởgiao dịch Đây cũng là cách thức để giảm bớt sự tụt hậu giữa trình độ của nềnthương mại các quốc gia này với trình độ của các quốc gia tiên tiến trên thế giới

Một sở giao dịch hàng hoá sẽ giúp cho các nhà chế biến, nhà buôn lớn, nôngdân và ngân hàng có điều kiện xích lại gần nhau Khi chưa có một địa điểm tậptrung như sàn giao dịch, việc liên hệ hơp tác giữa các bên là rất tốn kém Sàn giaodịch và các dịch vụ do sàn cung cấp tạo điều kiện cho các nhà buôn, nông dân gặp

gỡ nhau, chia sẻ một hệ thống thông tin minh bạch và tương đối chính xác Từ đógiảm thiểu một phần rủi ro do thông tin bất cân xứng Khi các bên có điều kiện tiếpcận như nhau với thông tin thì rõ ràng là quá trình giao dịch sẽ thuận tiện hơn vàđặc biệt là công bằng hơn cho cả hai bên tham gia Đây là một trong những ý nghĩa

cơ bản khi thành lập một sở giao dịch hàng hóa Sở giao dịch hỗ trợ họat động giaothương thuận lợi sẽ thúc đẩy sự phát triển chung của nền kinh tế hàng hóa

Trên đây là những vấn đề chung nhất về sở giao dịch hàng hóa trên thế giới

Sở giao dịch hàng hóa không được hình thành một cách tự phát và không có mụcđích, nó sinh ra từ nhu cầu của những nhà sản xuất và tạo điều kiện thuận lợi chohoạt động kinh doanh và phát triển kinh tế nói chung Để có thể hình thành và pháttriển được sở giao dịch hàng hóa thì trước nhất phải hiểu được sự hình thành cũngnhư cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động của nó Sở giao dịch hàng hóa là một hìnhthức thị trường tiên tiến và phức tạp mà ngay cả những quốc gia phát triển cũng có

Trang 39

thể xây dựng một sở giao dịch hàng hóa không hiệu quả Bởi lẽ sở giao dịch cónhững điều kiện nhất định về việc thành lập và phát triển, những điều kiện đó sẽđược bàn đến ở chương sau đây.

Trang 40

CHƯƠNG 2: ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG SỞ GIAO DỊCH HÀNG

HÓA Ở VIỆT NAM

2.1 ĐIỀU KIỆN ĐỂ HÌNH THÀNH SỞ GIAO DỊCH HÀNG HÓA

Mặc dù một sở giao dịch có thể thực hiện tốt chức năng như một thị trườnghàng hoá, nhưng những lợi ích tiềm tàng của nó không thể đảm bảo chắc chắn sẽthành công Để có thể thành lập một sở giao dịch hàng hóa thì cần phải hội tụ nhữngđiều kiện nhất định Đứng trên góc độ những chủ thể trên sở giao dịch là các thànhviên sáng lập sở giao dịch, cơ quan nhà nước, nhà quản lý, điều hành và các tổ chứckinh doanh trên sở giao dịch hàng hóa, sau đây em xin phân các điều kiện này thànhcác điều kiện khách quan và điều kiện chủ quan

2.1.1 Điều kiện khách quan để hình thành sở giao dịch hàng hóa

Như đã nói ở trên, việc chia các điều kiện là đứng trên góc độ chủ thể của sởgiao dịch hàng hóa, do đó những điều kiện khách quan là những điều kiện tồn tại tấtyếu mà các chủ thể này không thể tác động vào được

2.1.1.1 Cơ chế thị trường

Chính các yếu tố thị trường chứ không phải sự kiểm soát độc quyền hay làmột sự kiểm soát quá mức cần thiết của nhà nước tố tạo nên giá cả hàng hóa trên sởgiao dịch Quá kiểm soát thường bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết về chức năng vàmục đích của các sở giao dịch hàng hoá Những can thiệp trên cơ sở quy định củachính phủ không phải là điều xấu nếu như nó không làm ảnh hưởng tới hoạt độngbình thường của thị trường Tuy nhiên sự can thiệp này sẽ trở thành một yếu tố tácđộng tiêu cực đến thị trường khi nó làm cho hoạt động thị trường gián đoạn khiếnnhững người tham gia thị trường khó có thể hoạt động một cách hiệu quả Và chẳng

có một nhà đầu tư nào, kể cả những đầu tư nhiệt tình nhất lại mong muốn giao dịchtrên một thị trường kém hiệu quả vì bị can thiệp như vậy

Cũng có những người hiểu sai cho rằng chính những sở giao dịch hàng hóa

đã tạo nên các mức giá, tuy nhiên, những sở giao dịch này chính là một hình ảnhcủa một thị trường hàng hoá tự nhiên Trên thị trường, chính cung và cầu về loại

Ngày đăng: 27/08/2012, 11:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Don M. Chance, An introduction to derivatives, Virginia Polytechnic institute and State University, the Dryden Press, Harcourt Brace College Publishers Sách, tạp chí
Tiêu đề: An introduction to derivatives
4. Franklin R.Edwards and Cindy W.Na, Futures and Options, Columbia University – Metallgesellschaft, McGraw-Hill, inc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Futures and Options
Tác giả: Franklin R. Edwards, Cindy W. Na
Nhà XB: Columbia University – Metallgesellschaft
7. Robert W.Kolb, Understading Futures Markets, University of Wollongong library, New York institute of Finance Sách, tạp chí
Tiêu đề: Understading Futures Markets
Tác giả: Robert W. Kolb
Nhà XB: University of Wollongong library
3. EDRI (Ethiopian Development Research Institute), Does Ethiopia need a Commodity Exchange Khác
5. Futures Industry (March/April, 2008 reports), Volume surges again Khác
6. International Herald Tribute, Malaysia ready to trade palm oil for rice to stablize domestic supply Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.4 : Chênh lệch giá trên các thị trường (Basis) - Điều kiện hình thành và phát triển sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam.doc
Hình 1.4 Chênh lệch giá trên các thị trường (Basis) (Trang 25)
Hình 1.6: Khả năng lãi và lỗ của một của chọn mua - Điều kiện hình thành và phát triển sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam.doc
Hình 1.6 Khả năng lãi và lỗ của một của chọn mua (Trang 29)
Hình 1.5: Những vị thế cơ bản của một quyền chọn - Điều kiện hình thành và phát triển sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam.doc
Hình 1.5 Những vị thế cơ bản của một quyền chọn (Trang 29)
Hình 1.7: Khả năng lãi và lỗ của một quyền chọn bán - Điều kiện hình thành và phát triển sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam.doc
Hình 1.7 Khả năng lãi và lỗ của một quyền chọn bán (Trang 30)
Hình 1.8: Bull Call Spread (Chiến lược spread giá tăng với quyền chọn mua) - Điều kiện hình thành và phát triển sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam.doc
Hình 1.8 Bull Call Spread (Chiến lược spread giá tăng với quyền chọn mua) (Trang 32)
Hình 1.10: Long Straddle (Chiến lược Straddle vị thế mua) - Điều kiện hình thành và phát triển sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam.doc
Hình 1.10 Long Straddle (Chiến lược Straddle vị thế mua) (Trang 33)
Hình 1.9:  Bull Put Spread (Chiến lược spread giá tăng với quyền chọn bán) - Điều kiện hình thành và phát triển sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam.doc
Hình 1.9 Bull Put Spread (Chiến lược spread giá tăng với quyền chọn bán) (Trang 33)
Hình 1.11: Short Straddle (chiến lược Straddle vị thế bán) - Điều kiện hình thành và phát triển sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam.doc
Hình 1.11 Short Straddle (chiến lược Straddle vị thế bán) (Trang 34)
Bảng 2.1: Tăng trưởng GDP và các ngành kinh tế, 2003-07 (%) - Điều kiện hình thành và phát triển sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam.doc
Bảng 2.1 Tăng trưởng GDP và các ngành kinh tế, 2003-07 (%) (Trang 53)
Bảng 2.2:  Tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế phân theo khu vực kinh tế - Điều kiện hình thành và phát triển sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam.doc
Bảng 2.2 Tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế phân theo khu vực kinh tế (Trang 55)
Bảng 2.5: Diện tích đất trồng lúa qua các năm - Điều kiện hình thành và phát triển sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam.doc
Bảng 2.5 Diện tích đất trồng lúa qua các năm (Trang 58)
Hình 2.2: Sản lượng xuất khẩu cà phê từ năm 2000 đến nay (ngàn tấn) - Điều kiện hình thành và phát triển sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam.doc
Hình 2.2 Sản lượng xuất khẩu cà phê từ năm 2000 đến nay (ngàn tấn) (Trang 63)
Hình 2.4. Giá xuất khẩu trung bình mặt hàng hạt tiêu từ năm 2001 - Điều kiện hình thành và phát triển sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam.doc
Hình 2.4. Giá xuất khẩu trung bình mặt hàng hạt tiêu từ năm 2001 (Trang 72)
Hình 2.3: Chỉ số giá tiêu dùng 5 tháng đầu năm 2008 - Điều kiện hình thành và phát triển sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam.doc
Hình 2.3 Chỉ số giá tiêu dùng 5 tháng đầu năm 2008 (Trang 72)
Hình 2.5: Giá xuất khẩu trung bình nhân điều từ đầu năm 2001 - Điều kiện hình thành và phát triển sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam.doc
Hình 2.5 Giá xuất khẩu trung bình nhân điều từ đầu năm 2001 (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w