* Căn cứ vào công dụng và tình hình sử dụng nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất, NVL được chia thành các loại sau: - Nguyên vật liệu chính bao gồm cả bán thành phẩm mua ngoài: là
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG SẢN XUẤT
KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
I Đặc điểm vai trò, nhiệm vụ kế toán NVL trong doanh nghiệp sản xuất.
1 Kế toán NVL
a.- Đặc điểm của NVL:
NVL chỉ tham gia một chu kỳ sản xuất kinh doanh, khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh thì NVL bị biến dạng hoặc tiêu hao hoàn toàn, không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu để tạo nên thực thể sản phẩm
Về mặt giá trị: toàn bộ giá trị NVL được chuyển hết 1 lần vào chi phí sản xuất sản xuất trong kỳ
NVL tồn kho dưới hình thái giá trị nó biểu hiện là vốn dự trữ sản xuất, thuộc tài sản lưu động của doanh nghiệp
b Vai trò của NVL.
NVL là đối tượng lao động, muốn hoạt động sản xuất kinh doanh thì 3 yếu tố: sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động là 3 yếu tố cần và đủ mới sản xuất kinh doanh được Nếu thiếu một trong ba yếu tố này thì không thể sản xuất kinh doanh được
Đặc điểm nổi bật của nguyên vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh về mặt hiện vật thì NVL bị tiêu hao toàn bộ, không giữ nguyên hình thái ban đầu để cấu thành thực thể sản phẩm Về mặt giá trị: NVL được chuyển dịch toàn
bộ một lần vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ
Như vậy, xét trên hai phương diện hiện vật và giá trị, NVL là một trong những yếu tố không thể thiếu của bất kỳ quá trình sản xuất kinh doanh nào
Hiện nay hoạt động sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh chủ yếu với mục tiêu lợi nhuận, các doanh nghiệp này muốn tồn tại và phát triển thì phải cạnh tranh - đứng
Trang 2vững trên thị trường – mở rộng được thị trường Muốn vậy thì sản phẩm của các doanh nghiệp phải đạt chất lượng tốt, giá thành sản phẩm phải hạ.
Muốn đạt được điều này thì bản thân các doanh nghiệp phải cải tiến công nghệ, bố trí lao động hợp lý, cải tiến công tác quản lý…để tăng năng suất lao động
và phải tiết kiệm mọi chi phí bỏ ra để đạt được chất lượng và giá thành sản phẩm như mong muốn
Trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, nhìn chung vật liệu là yếu tố đầu vào và chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong giá thành sản xuất Do đó, kế toán NVL là cơ sở để cung cấp số liệu cho hạch toán giá thành nếu hạch toán NVL không tốt (không kịp thời, không chính xác…) sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tính toán giá thành sản phẩm, dẫn đến thông tin cung cấp cho nhà quản lý không chính xác, như vậy nhà quản lý nắm bắt không chính xác tình hình quản lý kinh doanh của đơn vị
Hơn nữa, trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, nếu NVL dự trữ thường xuyên, kịp thời nó là yếu tố để quá trình sản xuất kinh doanh được thực hiện liên tục không gián đoạn Nhưng nếu NVL dự trữ quá nhiều sẽ gây tình trạng ứ đọng vốn, ảnh hưởng đến vòng quay của vốn Do đó hạch toán NVL cung cấp những thông tin cho doanh nghiệp có kế hoạch dự trữ, thu mua nguyên vật liệu để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục, không bị gián đoạn
Nhờ công tác hạch toán vật liệu mà doanh nghiệp biết được tình hình sử dụng vốn lưu động, từ đó có các biện pháp nhằm tăng nhanh vòng quay vốn lưu động, để nâng cao hiệu quả của đồng vốn
2 Phân loại và tính giá NVL trong DNSX.
a Phân loại
Để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải sử dụng nhiều loại vật liệu khác nhau Mỗi loại vật liệu có công dụng, tính chất lý, hoá học khác nhau và biến động liên tục, hàng ngày trong quá trình sản xuất kinh doanh
Trang 3Nhằm tổ chức tốt công tác quản lý và hạch toán nguyên vật liệu, đảm bảo sử dụng
có hiệu quả nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh cần phải phân loại nguyên vật liệu Phân loại nguyên vật liệu là việc sắp xếp các loại vật liệu theo nội dung, công dụng, tính chất lý, hoá học của chúng nhằm phục vụ cho yêu cầu quản
lý trong doanh nghiệp
* Căn cứ vào công dụng và tình hình sử dụng nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất, NVL được chia thành các loại sau:
- Nguyên vật liệu chính (bao gồm cả bán thành phẩm mua ngoài): là những loại nguyên vật liệu có tác dụng quyết định đến việc sản xuất, là yếu tố cấu thành thực tể sản phẩm (như: bông, tơ…trong doanh nghiệp sản xuất vải, tre, nứa, gỗ…trong quá trình sản xuất giấy; hạt giống, phân bón…trong doanh nghiệp trồng gỗ nguyên liệu giấy…) Đối với bán thành phẩm mua ngoài, với mục đích tiếp tục quá trình sản xuất sản phẩm, như: sợi mua ngoài trong các doanh nghiệp sản xuất vải…Nhìn chung nguyên vật liệu chính chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí nguyên vật liệu
- Vật liệu phụ: là các loại NVL phụ trợ cho sản xuất, nó chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng chi phí nguyên vật liệu Nó bao gồm:
+ Loại vật liệu để duy trì năng lực hoạt động bình thường của tư liệu lao động
+ Loại vật liệu phụ để phục vụ quá trình sản xuất của người lao động
- Nhiên liệu: là những vật liệu dùng để cung cấp nhiệt năng để phục vụ cho công nghệ sản xuất sản phẩm, cho phương tiện vận tải, máy móc…(như: xăng, dầu, than…)
- Phụ tùng thay thế: Là những chi tiết bộ phận hoặc cụm chi tiết dùng để thay thế những thiết bị, máy móc bị hư hỏng
- Thiết bị XDCB: là những vật liệu dùng cho mục đích xây dựng, lắp đặt các công trình
Trang 4- Phế liệu: là các loại vật liệu thu hồi trong quá trình thanh lý TSCĐ hay trong quá trình sản xuất.
- NVL khác: là những vật liệu chưa được xếp vào các loại vật liệu nêu trên, như: những loại vật liệu đặc trưng trong từng ngành
* Căn cứ vào quyền sở hữu thì vật liệu bao gồm:
* Đối với vật liệu nhập kho
Vật liệu gồm nhiều loại, được nhập kho từ nhiều nguồn khác nhau, do đó cách tính giá của NVL cũng khác nhau Cụ thể:
* Với vật liệu mua ngoài:
= + + -
* Với NVL tự sản xuất: tính theo giá thành sản xuất thực tế
* Với NVL nhận đóng góp từ các đơn vị, cá nhân tham gia liên doanh Giá thực tế là giá thoả thuận do các bên xác định và các chi phí tiếp nhận (nếu có)
* Với NVL thuê ngoài gia công chế biến
Giá thực tế gồm: giá trị NVL xuất chế biến và các chi phí liên quan đến thuê ngoài chế biến (tiền thuê gia công, chi phí vận chuyển…)
* Với NVL được tặng thưởng:
Trang 5Giá thực tế tính theo giá thị trường tương đương và chi phí tiếp nhận (nếu có).
* Với phế liệu: giá thực tế là giá ước tính có thể sử dụng được hay giá có thể bán được
Đối với NVL xuất dùng trong kỳ, tuỳ theo đặc điểm hoạt động của từng doanh nghiệp, tùy theo yêu cầu quản lý và trình độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán,
có thể sử dụng một trong các phương pháp sau (theo nguyên tắc nhất quán trong hạch toán)
Cụ thể các phương pháp tính giá vật liệu xuất kho như sau:
* Phương pháp giá đơn vị bình quân
Theo phương pháp này, giá thực tế vật liệu xuất dùng trong kỳ được tính theo giá trị bình quân (bình quân cả kỳ dự trữ, bình quân cuối kỳ trước hay bình quân sau mỗi lần nhập)
* Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO)
Theo phương pháp này, số vật liệu nào nhập trước sẽ xuất trước, xuất hết số nhập trước mới đến số nhập sau theo giá thực tế của số hàng xuất Như vậy cơ sở của phương pháp này là giá thực tế của vật liệu mua trước được dùng làm giá thực
tế vật liệu xuất trước, do đó giá trị vật liệu tồn kho cuối kỳ là giá thực tế của số vật liệu mua vào sau cùng
* Phương pháp nhập sau, nhập trước (LIFO)
Theo phương pháp này ta phải xác định được đơn giá thực tế nhập kho của từng lần nhập, nhưng khi xuất thì những NVL mua sau cùng sẽ được xuất trước tiên, đơn giá xuất kho theo đơn giá thực tế nhập kho lần cuối, sau đó mới đến các
Trang 6lần nhập trước tương ứng với số NVL xuất kho Do đó giá trị NVL tồn kho cuối kỳ
là giá thực tế của NVL tính theo đơn giá của các lần nhập đầu kỳ
* Phương pháp trực tiếp
Theo phương pháp này, vật liệu được xác định giá trị theo từng lô và giữ nguyên từ lúc nhập vào cho đến lúc xuất dùng (trừ trường hợp điều chỉnh) Khi xuất NVL nào sẽ tính theo giá thực tế của NVL đó Do đó, phương pháp này còn gọi là phương pháp đặc điểm riêng hay phương pháp giá thực tế đích danh Phương pháp này thường sử dụng với các loại NVL có giá trị cao và có tính cách biệt (như: vàng, bạc, đá quý…)
* Phương pháp giá hạch toán
Theo phương pháp này, toàn bộ NVL biến động trong kỳ được tính theo giá hạch toán (giá kế hoạch hoặc một loại giá ổn định trong kỳ)
Cuối kỳ kế toán điều chỉnh từ giá hạch toán sang giá thực tế theo công thức: = x
=
* Phương pháp xuất VL dựa vào giá VL tồn kho cuối kỳ
- Theo phương pháp này trước hết phải xác định được số lượng vật liệu tồn kho cuối kỳ (theo kiểm kê):
Trang 7Để thực hiện chức năng giám đốc và quản lý quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của kế toán Xuất phát từ đặc điểm, vai trò của vật liệu Thự hiện yêu cầu của quản lý NVL trong doanh nghiệp sản xuất, kế toán NVL có các nhiệm vụ sau:
- Tính toán, ghi chép phản ánh một cách chính xác kịp thời về nhập – xuất – tồn kho NVL cả về hiện vật và giá trị
- Tính toán, xác định chính xác, kịp thời, về số lượng và giá trị NVL đã tiêu hao trong quá trình sản xuất kinh doanh, phân bổ chính xác giá trị NVL trong hạch toán (phải thống nhất phương pháp tính giá NVL)
Hướng dẫn kiểm tra các bộ phận trong doanh nghiệp, thực hiện đầy đủ chế độ hạch toán ban đầu về NVL, mở các sổ (thẻ) kế toán chi tiết, bảng kê…theo hình thức sổ mà doanh nghiệp áp dụng
- Kiểm tra việc chấp hành chế độ bảo quản, dự trữ và sử dụng NVL, phát hiện
và đề xuất các biện pháp xử lý NVL thừa, thiếu, ứ đọng, kém phẩm chất…
- Tham gia kiểm kê, đánh giá lại NVL theo chế độ Nhà nước qui định Lập các báo cáo về NVL phục vụ công tác quản lý Phân tích tình hình nhập – xuất – tồn kho, dự trữ, bảo quản NVL từ đó có biện pháp quản lý và nâng cao hiệu quả công tác sử dụng NVL trong sản xuất kinh doanh
3 Kế toán chi tiết NVL.
a Mục tiêu và yêu cầu.
Hạch toán chi tiết NVL đòi hỏi phản ánh cả về số lượng, về chất lượng, về giá trị của từng thứ (từng danh điểm) NVL theo từng kho và từng người phụ trách vật chất
Thực tế hiện nay có 3 phương pháp hạch toán chi tiết NVL sau:
b Kế toán chi tiết.
* Phương pháp thẻ song song.
Trang 8- Ở kho: thủ kho dùng thẻ kho để phản ánh tình hình nhập, xuất, tồn kho NVL về mặt số lượng.
Thẻ kho được mở cho từng danh điểm vật tư
Cuối tháng, thủ kho phải cộng số nhập, xuất và tính ra số tồn kho về mặt số lượng theo từng danh điểm vật tư
- Ở phòng kế toán
Kế toán vật tư mở thẻ kế toán chi tiết vật tư cho từng danh điểm vật tư tương ứng với thẻ kho mở ở kho, thẻ này có nội dung tương tự thẻ kho, nhưng được theo dõi cả số lượng và giá trị
- Hàng ngày, hoặc định kỳ khi nhận được các chứng từ nhập, xuất kho do thủ kho chuyển tới, kế toán vật tư kiểm tra, đối chiếu và phản ánh vào sổ (thẻ) kế toán chi tiết vật tư
Cuối tháng cộng sổ (thẻ) kế toán chi tiết vật tư và đối chiếu với thẻ kho về chỉ tiêu số lượng
Cuối tháng kế toán vật tư căn cứ vào các thẻ kế toán chi tiết để lập bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn kho về mặt giá trị của từng loại vật tư để đối chiếu với số liệu của phần kế toán tổng hợp
Theo phương pháp này việc ghi chép đơn giản, dễ làm Nhưng còn nhược điểm là còn trùng lặp về chỉ tiêu số lượng giữa kho và phòng kế toán Phương pháp này thường áp dụng cho doanh nghiệp có quy mô nhỏ, nghiệp vụ nhập – xuất vậ tư phát sinh ít, trình độ chuyên môn của cán bộ kế toán còn hạn chế
Sơ đồ hạch toán chi tiết vật tư theo phương pháp thẻ song song.
Phiếu NKPhiếu XKThẻ khoThẻ (sổ) chi tiết vật tưBảng tổng hợp nhập, xuất V.tư
tồn kho
Kế toán tổng hợp
Trang 9Ghi chú: Ghi hàng ngày
Ghi cuối thángQuan hệ đối chiếu
* Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển.
- Ở kho: thủ kho ghi như phương pháp thẻ song song
- Tại phòng kế toán:
Kế toán vật tư khong mở thẻ kế toán chi tiết mà mở sổ đối chiếu luân chuyển
để hạch toán số lượng và số tiền của từng thứ (từng danh điểm) vật tư theo từng kho
Sổ nầy mỗi tháng ghi 1 lần vào cuối tháng trên cơ sở tổng hợp các chứng từ nhập, xuất phát sinh trong tháng của từng thứ vật tư, mỗi thứ chỉ ghi 1 dòng trong
sổ (ghi cả số lượng và giá trị)
- Cuối tháng đối chiếu số lượng vật tư trến sổ đối chiếu luân chuyển với thẻ kho, đối chiếu số tiền với kế toán tổng hợp
Theo phương pháp này có ưu điểm là giảm bớt được khối lượng ghi chép của
kế toán, nhưng vẫn có nhược điểm là còn trùng lặp về chỉ tiêu số lượng giữa kho
Trang 10và phòng kế toán Phương pháp này phù hợp với doanh nghiệp có ít chủng loại vật liệu, trình độ chuyên môn của kế toán còn hạn chế.
Sơ đồ hạch toán chi tiết vật tư theo phương pháp
sổ đối chiếu luân chuyển.
Phiếu NKThẻ khoPhiếu XKBảng kê nhậpBảng kê xuất
Sổ đối chiếu luân chuyển
Kế toán tổng hợp
Ghi chú:
Ghi hàng ngàyGhi cuối thángQuan hệ đối chiếu
* Phương pháp sổ số dư
Trang 11và nộp cho kế toán vật tư kèm theo các chứng từ nhập, xuất vật tư.
Cuối tháng, sau khi cộng thẻ kho, thủ kho phải ghi số lượng vật tư tồn kho cuối tháng theo từng danh điểm vật tư vào sổ số dư Sổ số dư được kế toán vật tư
mở cho từng kho và dùng cho cả năm Trước ngày cuối tháng, kế toán giao sổ số
dư cho thủ kho để thủ khi ghi vào sổ, ghi xong thủ kho gửi sổ số dư về phòng kế toán để kiểm tra
số tiền và ghi vào cột số tiền trên phiếu giao nhận chứng từ
Đồng thời ghi số tiền vừa tính được ở phiếu giao nhận chứng từ vào bảng tổng hợp nhập – xuất - tồn kho vật tư theo chỉ tiêu giá trị Mỗi loại vật tư chỉ ghi một dòng vào bảng tổng hợp nhập – xuất – tồn kho vật tư
Cuối cùng kế toán quy số lượng trên sổ số dư ra tiền, lấy số liệu này đối chiếu với giá trị tồn kho trên bảng tổng hợp nhập – xuất – tồn kho vật tư, và lấy số liệu
này đối chiếu với kế toán tổng hợp tài khoản 152.
Theo phương pháp này thường áp dụng trong các doanh nghiệp có quy mô lớn, các nghiệp vụ về nhập – xuất vật tư diễn ra thường xuyên, nhiều chủng loại vật tư Trình độ về chuyên môn của cán bộ kế toán tương đối cao
Sơ đồ hạch toán chi tiết vật tư theo phương pháp sổ số dư
Trang 12Phiếu nhập khoThẻ khoPhiếu xuất kho
Sổ số dư
Kế toán tổng hợpPhiếu giao nhận chứng từ nhậpBảng luỹ kế nhập, xuất, tồn kho NNNnNNVL
Phiếu giao nhận chứng từ xuất
Ghi chú:
Ghi hàng ngàyGhi cuối thángQuan hệ đối chiếu
Qua 3 phương pháp hạch toán NVL trên đây cho thấy: Điểm chung của 3 phương pháp này là thủ kho đều sử dụng thẻ kho để theo dõi tình hình nhập – xuất – tồn kho của từng thứ NVL theo chỉ tiêu số lượng Phương pháp thẻ song song và phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển việc ghi chép ở kho là giống nhau, riêng
Trang 13phương pháp sổ số dư, cuối tháng thủ kho phải sử dụng số liệu về số lượng vật tư tồn kho để vào sổ số dư.
Sự khác biệt nhau cơ bản giữa ba phương pháp hạch toán chi tiết NVL được thể hiện: nếu phương pháp thẻ song song việc ghi chép còn trùng lặp về chỉ tiêu số lượng giữa thủ kho và phòng kế toán, khối lượng ghi chép nhiều, thì phương pháp
sổ đối chiếu luân chuyển đã khắc phục được một phần nhược điểm của phương pháp thẻ song song là kế toán giảm được khối lượng ghi chép vì cuối tháng kế toán chỉ ghi 1 lần (mỗi thứ chỉ ghi 1 dòng) về nhập – xuất vật tư vào sổ đối chiếu luân chuyển
Phương pháp sổ số dư khắc phục được sự trùng lặp giữa kho và phòng kế toán vì: Thủ kho ghi theo chỉ tiêu số lượng, còn kế toán ghi theo chỉ tiêu giá trị Với phương pháp này đòi hỏi trình độ chuyên môn nghịêp vụ của cán bộ kế toán tương đối cao
4 Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu.
a Chứng từ sử dụng và luân chuyển chứng từ.
* Chứng từ sử dụng:
Trong các doanh nghiệp sản xuất, NVL là đối tượng lao động, NVL không thể thiếu được trong quá trình sản xuất, nó biến động thường xuyên liên tục trong quá trình sản xuất Vì vậy kế toán phải lập các chứng từ cần thiết một cách chính xác, kịp thời theo đúng chế độ ghi chép ban đầu đã được Nhà nước ban hành Những chứng từ này là cơ sở để ghi chép vào thẻ kho, sổ kế toán để giám sát, quản lý, kiểm tra tình hình biến động và số hiện còn của từng thứ NVL Nó giúp cho quá trình quản lý – sử dụng NVL có hiệu quả
Để đáp ứng yêu cầu này, kế toán chi tiết nguyên vật liệu phải được thực hiện theo dõi theo từng kho, từng nhóm, từng thứ NVL, và phải được tiến hành đồng thời ở kho và ở phòng kế toán trên cùng hệ thống chứng từ
Trang 14Theo chế độ chứng từ kế toán quy định ban hành theo QĐ số 1141/QĐ - CĐKT ngày 01/11/1995 của Bộ tài chính, các chứng từ về kế toán NVL gồm:
- Phiếu nhập kho (mẫu 01 – VL)
- Phiếu xuất kho (mẫu 02 – VT)
- Phiếu xúât kho kiêm vận chuyển nội bộ (mẫu 03 – VT)
- Thẻ kho (mẫu 06 – VT)
- Biên bản kiểm kê vật tư, sản phẩm, hàng hoá (mẫu 08 – VT)
Ngoài những chứng từ mang tính chất buộc sử dụng thống nhất theo quy định của Nhà nước trên đây, trong các DNSX có thể sử dụng thêm các chứng từ có tính chất hướng dẫn sau:
- Phiếu xuất vật tư theo hạn mức (mẫu 04 – VT)
- Biên bản kiểm nghiệm vật tư (mẫu 05 – VT)
- Phiếu báo vật tư còn lại cuối kỳ (mẫu 07 – VT)
* Luân chuyển chứng từ:
Mọi chứng từ kế toán phát sinh đều được luân chuyển theo thời gian và trình
tự hợp lý để phục vụ cho việc ghi chép phản ánh tổng hợp số liệu một cách kịp thời, chính xác của các bộ phận có liên quan Luân chuyển chứng từ kế toán là xác định đường đi của chứng từ, từ khi lập chứng từ kế toán rồi chuyển đổi kiểm tra chứng từ kế toán, sử dụng chứng từ để ghi sổ kế toán và chuyển vào bộ phận lưu trữ
Tổ chức luân chuyển một số chứng từ kế toán vật liệu như sau:
Bộ phận cung cấp hoặc SX
Thủ khoNhu cầu nhập khoLưu trữ chứng từPhòng kế toánLập phiếu nhập kho
- Kiểm tra chứng từ
Trang 15- Kiểm nhận hàng
- Ghi số thực nhập (vàc phiếu nhập)
- Ghi thẻ kho
- Kiểm tra chứng từ
- Ghi đơn giá vào phiếu nhập
- Ghi sổ chi tiết VL
- Ghi sổ cái TK 152
Sau khi duyệt quyết toán năm
* Nhập kho nguyên vật liệu:
Trang 16* Xuất kho nguyên vật liệu:
Thủ trưởng đơn vị
Bộ phận cung ứng hoặc bộ phận SX
Nhu cầu lĩnhVTLưu trữ chứng từPhòng kế toánThủ kho
Ký duyệt(kèm chứng từ gốc)Lập phiếu xuất kho
- Kiểm tra chứng từ
- Xuất vật tư
- Ghi số thực xuất vào CT
- Ghi vào thẻ kho
- Kiểm tra chứng từ.
- Ghi đơn giá vào PX
- Ghi sổ chi tiết vật tư
- Ghi sổ cái TK152
Trang 17b Tài khoản sử dụng:
nguyên vật liệu là tài sản lưu động, thuộc nhóm hàng tồn kho của doanh nghiệp Kế toán có thể áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên hoặc kiểm kê định kỳ để xác định giá trị hàng tồn kho, giá trị nguyên vật liệu xuất ra trong kỳ Việc sử dụng phương pháp nào là tuỳ thuộc vào đặc điểm SXKD của doanh nghiệp, tuỳ thuộc vào công tác quản lý của doanh nghiệp
* Phương pháp kê khai thường xuyên.
Là phương pháp theo dõi và phản ánh tình hình hiện có, biến động tăng, giảm
về NVL một cách thường xuyên, liên tục trên các tài khoản phản ánh từng loại hàng tồn kho
Theo phương pháp kê khai thường xuyên nếu doanh nghiệp có nhiều chủng loại vật tư, thường xuyên nhập xuất kho thì việc ghi chép sẽ tốn rất nhềiu thời gian, nhưng độ chính xác cao và cung cấp thông tin một cách chính xác, kịp thời ở bất
kỳ thời điểm nào
* Theo phương pháp kê khai thường xuyên kế toán sử dụng các tài khoản sau:
- TK 152: Nguyên liệu vật liệu
TK này dùng để theo dõi giá trị hiện có tình hình tăng giảm của các nguyên vật liệu theo giá thực tế
+ Bên Nợ: Phản ánh giá trị NVL nhập kho theo giá thực tế (do mua ngoài, tự sản xuất, nhận góp liên doanh…)
+ Bên Có:
Trang 18- Phản ánh giá trị NVL xuất kho theo giá thực tế (do xuất dùng xuất góp vốn liên doanh, xuất thuê gia công…)
- Phản ánh các nghiệp vụ làm giảm giá trị NVL (giảm giá hàng mua, hàng mua trả lại…)
+ Số dư nợ: Phản ánh giá trị NVL thực tế tồn kho cuối kỳ
TK 152 có thể mở chi tiết theo từng nhóm, thứ NVL
- TK 151: hàng mua đi đường
TK này dùng để theo dõi các loại NVL mà doanh nghiệp đã mua hay chấp nhận mua, đã thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng cuối tháng chưa về nhập kho (kể cả đang gửi ở kho người bán)
TK 151 có kết cấu như sau:
- Bên Nợ: Phản ánh giá trị hàng đi trên đường tăng trong kỳ
- Bên Có: Phản ánh giá trị hàng đi trên đường kỳ trước đã nhập kho hay chuyển giao ngay cho các bộ phận
- Số dư nợ: phản ánh giá trị hàng còn đang đi đường
Ngoài các tài khoản trên trong quá trình hạch toán kế toán còn sử dụng một số tài khoản khác có liên quan như các TK 111, 112, 138, 331, 133 (nếu doanh nghiệp tính thuế VAT theo phương pháp khấu trừ); 621, 627, 641, 642…
* Phương pháp kiểm kê định kỳ.
Là phương pháp không theo dõi một cách thường xuyên liên tục về tình hình biến động của các loại vật tư, hàng hoá trên các tài khoản phản ánh từng loại hàng tồn kho, mà chỉ phản ánh giá trị tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ của chúng trên cơ sở kiểm kê cuối kỳ Xác định lượng tồn kho thực tế và lượng xuất dùng cho sản xuất kinh doanh và các mục đích khác
* Theo phương pháp kiểm kê định kỳ, kế toán sử dụng các tài khoản sau:
- TK 611 – Mua hàng (tiểu khoản 6111 – mua nguyên vật liệu)
Trang 19Dùng để theo dõi tình hình tăng, giảm, nguyên vật liệu…theo giá thực tế (giá mua và chi phí thu mua).
TK 611 (6111) có kết cấu như sau:
+ Bên Nợ: Phản ánh giá trị thực tế nguyên vật liệu…tồn kho đầu kỳ và tăng thêm trong kỳ
+ Bên Có: Phản ánh giá trị thực tế nguyên vật liệu xuất dùng, xuất nhượng bán…trong kỳ và kết chuyển tồn kho cuối kỳ
TK 611 (6111) cuối kỳ không có số dư
- TK 152 – nguyên liệu, vật liệu: dùng để phản ánh giá trị thực tế nguyên liệu vật liệu tồn kho theo từng loại
Nội dung TK 152 phản ánh như sau:
+ Bên Nợ: Kết chuyển giá trị thực tế nguyên vật liệu tồn kho cuối kỳ
+ Bên Có: Kết chuyển giá trị thực tế NVL tồn kho đầu kỳ
+ Dư Nợ: Phản ánh giá trị thực tế NVL tồn kho
- TK 151 – Hàng mua đang đi trên đường
Dùng để phản ánh giá trị số hàng mua (đã thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp) nhưng đang đi đường và gửi tại kho người bán, chi tiết theo từng loại hàng
Nội dung TK 151 phản ánh như sau:
+ Bên Nợ: kết chuyển giá trị thực tế hàng đang đi đường cuối kỳ
+ Bên Có: Kết chuyển giá trị thực tế hàng đang đi đường đầu kỳ
+ Dư nợ: Phản ánh giá trị hàng mua đang đi đường
Ngoài ra, trong quá trình hạch toán kế toán còn sử dụng một số TK khác có liên quan như TK 133 (nếu doanh nghiệp tính thuế VAT theo phương pháp khấu trừ); 331, 111, 112, 621, 627…
b Các phương pháp hạch toán.
* Hạch toán nguyên, NVL theo phương pháp kê khai thường xuyên.
Trang 20Hạch toán các nghiệp vụ tăng VL trong các doanh nghiệp tính thuế VAT theo phương pháp khấu trừ.
- Tăng do mua ngoài
+ Trường hợp hàng hoá và hoá đơn cùng về
1 Căn cứ vào hoá đơn mua hàng, biên bản kiểm nhận và phiếu nhập kho về
kế toán ghi:
Nợ TK 152 (chi tiết NVL): Giá mua không thuế
Nợ TK 133 (1331): thuế VAT được khấu trừ
Có các TK liên quan (111, 112, 334…) tổng giá thanh toán
+ Trường hợp hàng đang đi đường:
Khi KT chỉ nhận được hoá đơn mà chưa nhận được phiếu nhập kho thì lưu hoá đơn vào cặp hồ sơ hàng đang đi đường, nếu trong tháng hàng về thì ghi bình thường như trường hợp trên, nhưng nếu đến ngày cuối tháng, hàng vẫn chưa về thì căn cứ vào hoá đơn và các chứng từ có liên quan, kế toán ghi:
Nợ TK 151: Phần được tính vào giá NVL
Nợ TK 133: Thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ
Có TK 331: Hoá đơn chưa trả tiền cho người bán
Có TK 111,112,311… Hoá đơn đã thanh toán
Sang tháng sau, khi số hàng trên đã về kho, căn cứ vào phiếu nhập kho kế toán ghi:
Nợ TK 152
Có TK 151
+ Trường hợp hàng về chưa có hoá đơn:
Khi kế toán nhận được phiếu nhập kho, chưa nhận được hoá đơn thì căn cứ vào lượng NVL thực tế nhập kho và giá tạm tính (giá hạch toán), kế toán ghi: