1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến sự thất bại của dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam giai đoạn 1988 2009

98 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA --- NGUYỄN TIẾN DŨNG NGHIÊN CỨU NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THẤT BẠI CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

-

NGUYỄN TIẾN DŨNG

NGHIÊN CỨU NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THẤT BẠI CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN

1988-2009

Chuyên ngành: Quản Trị Kinh Doanh

LUẬN VĂN THẠC SĨ

TP.HỒ CHÍ MINH, tháng 07 năm 2011

Trang 2

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HỒ CHÍ MINH

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS DƯƠNG NHƯ HÙNG

Cán bộ chấm nhận xét 1: TS CAO HÀO THI

2 TS CAO HÀO THI

3 TS NGUYỄN THUÝ QUỲNH LOAN

4 TS NGUYỄN THIÊN PHÚ

5 TS TRẦN HÀ MINH QUÂN

Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV và Bộ môn quản lý chuyên

ngành sau khi LV đã được sửa chữa (nếu có)

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

PHÒNG ĐÀO TẠO SĐH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

Tp.HCM, ngày 01 tháng 07 năm 2011

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ và tên: NGUYỄN TIẾN DŨNG Phái: Nam

Ngày, tháng, năm sinh: 18/11/1981 Nơi sinh: Lâm Đồng

Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH MSHV: 01708664

Khoá (Năm trúng tuyển): 2008

1-TÊN ĐỀ TÀI:

NGHIÊN CỨU NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THẤT BẠI CỦA

DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN

1988-2009

2-NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:

  1 Đánh giá thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 1988-2009

2 Phân tích những nhân tố tác động đến sự thất bại của dự án

3 Phát hiện ra các yếu tố ảnh hưởng đến sự thất bại của dự án để từ đó giúp các nhà đầu tư, các nhà hoạch địch chính sách có những cái nhìn tổng quát để có những chính sách, quyết định trong thời gian tới

Nội dung và đề cương Luận văn thạc sĩ đã được Hội Đồng Chuyên Ngành thông qua

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến quý thầy cô của Khoa Quản Lý Công Nghiệp – Trường đại học Bách Khoa TP.HCM đã trang bị cho tôi một lượng kiến thức vô cùng quý báu trong suốt thời gian tôi theo học tại Khoa Chúc cho các thầy cô sức khỏe dồi dào và gặt hái nhiều thành công trong thời gian tới

Một lời cảm ơn sâu sắc xin gởi đến thầy Dương Như Hùng, người thầy đã tận tâm hướng dẫn, chỉ dạy một cách cặn kẽ cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp trong suốt thời gian 4 tháng vừa qua Chúc thầy sức khỏe và thành công hơn nữa trong sự nghiệp của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn đội ngũ chuyên viên Bộ Kế Hoạch và Đầu tư, các anh chị phụ trách Phòng Tổng hợp, Kinh tế đối ngoại thuộc các Sở Kế hoạch và đầu

tư trong cả nước đã hỗ trợ cho tôi những thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này, tạo điều kiện để tôi đem lý thuyết đã học áp dụng vào thực tiễn

Tôi xin gởi một lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến các anh chị Sở Kế hoạch và đầu tư Tỉnh Lâm Đồng đã hỗ trợ cho tôi những thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này

Và sau cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến tất cả những người thân trong gia đình, những người bạn đã luôn tạo điều kiện, ủng hộ và động viên tinh thần để tôi hoàn thành tốt luận văn này

Trân trọng, Nguyễn Tiến Dũng

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, nội dung của luận văn này chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào

NGUYỄN TIẾN DŨNG

Trang 6

TÓM TẮT

Đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia Mục đích chính của đề tài này là nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến sự thất bại của dự án nhằm giúp các nhà đầu tư, các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn tổng thể đối với sự thất bại của dự án Đề tài được thực hiện dựa trên việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự thất bại của dự

án thông qua phân tích dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các địa phương trong cả nước Từ đó đưa ra được mô hình dự báo cũng như các khuyến nghị giúp các nhà đầu tư, các nhà hoạch định có những quyết định phù hợp liên quan đến việc đầu tư cũng như cấp phép dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian tới

Trang 7

ABSTRAST

To invest directly from foreign has an important role with the economic growth

of a country The main purpose of this topic researches about some influenced factors to the failure of project that can help Investors, Policy Planners to have general view with the failure of project This topic is implemented basing on the analysis some influenced factors to the failure of project by analyzing secondary data which collected from many regions in the whole country Since giving the predicted model and recommendations that can help Investors, Policy Planners to make decisions in accordance with investment and authorizing for foreign investment in the near future

Trang 8

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

THUẬT NGỮ VIẾT TẮT viii

CHƯƠNG I:GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1

1.1 Cơ sở hình thành đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 3

1.3.1 Đối tượng 3

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Ý nghĩa của đề tài 3

1.5 Kết cấu của đề tài 4

CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5

2.1 Các khái niệm 5

2.1.1 Khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài 5

2.1.2 Đặc trưng về đầu tư trực tiếp nước ngoài 6

2.1.3 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài 6

2.2 Điều kiện cơ bản thu hút vốn FDI 7

2.2.1 Yếu tố Chính trị - xã hội 7

2.2.2 Yếu tố qui mô nền kinh tế 8

2.2.3 Yếu tố chính sách 8

2.2.4 Yếu tố cơ sở hạ tầng 10

2.2.5 Yếu tố nguồn lực 10

2.2.5.1 Nguồn lực con người 10

2.2.5.2 Nguồn lực tự nhiên 11

2.3 FDI đối với sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia: 11

2.3.1 Đối với nước tiếp nhận đầu tư: 11

2.3.1.1 Các mặt tích cực: 11

2.3.1.2 Các mặt hạn chế: 13

2.3.2 Đối với nước xuất khẩu tư bản (các nước đầu tư): 15

2.4 Lý thuyết về sự thất bại của dự án đầu tư 16

2.5 Các đặc điểm của dự án FDI không thành công 19

2.6 Phương pháp nghiên cứu và quy trình thực hiện 20

2.6.1 Quy trình thực hiện 20

Trang 9

2.6.2 Phương pháp thực hiện 22

2.6.3 Mô hình nghiên cứu 22

2.6.4 Các giả thuyết 25

2.6.5 Cách sử dụng thang đo, thiết kế mẫu và phương pháp phân tích 26

2.6.5.1 Thang đo sử dụng 26

2.6.5.2 Thiết kế mẫu 27

2.6.5.3 Phương pháp phân tích hồi quy Binary Logistic 28

CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƯ VÀ THẤT BẠI CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 30

3.1 Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 30

3.2 Tình hình thu hút vốn ĐTNN đăng ký từ 32

3.3 Tình hình triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài 38

3.3.1 Tình hình chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 38

3.3.2 Tỷ lệ thực hiện vốn FDI 39

3.3.3 Cơ cấu FDI theo lĩnh vực đầu tư 40

3.4 Những tồn tại trong quá trình thực hiện cấp phép các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài 42

CHƯƠNG IV 45

PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THẤT BẠI CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 45

4.1 Cơ sở lý luận xác định những nhân tố ảnh hưởng đến sự thất bại của dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 45

4.2 Tổng hợp các biến và dấu kỳ vọng 47

4.3 Kết quả phân tích mô hình hồi quy Binary Logistic 48

4.4 Tóm tắt 54

CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55

5.1 Kết luận 55

5.2 Ý nghĩa thực tiễn 56

5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 56

 

Trang 10

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Số lượng mẫu khảo sát

Bảng 3.1 Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép thời kì

1988 – 2009 phân theo năm

Bảng 3.2 Đầu tư trược tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép thời kì

1988 – 2009 phân theo địa phương

Bảng 3.3 Tổng số dự án FDI bị rút giấy phép từ 1988 – 2009

Bảng 4.1 Khai báo biến Dummy

Bảng 4.2 Mã hóa các biến số sử dụng trong mô hình

Bảng 4.3 Tóm tắt mô hình

Bảng 4.4 Phân loại dự án

Bảng 4.5 Độ phù hợp tổng quát của mô hình

Bảng 4.6 Bảng tính toán số liệu các biến độc lập

Hình 2.1 Quy trình thực hiện

Biểu đồ 3.1 Độ mở về đầu tư nước ngoài

Biểu đồ 3.2 Sự chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư giai đoạn 2002 – 2009 Biểu đồ 3.3 Vốn FDI đăng kí so với vốn thực hiện, 2000 – 2008

Biểu đồ 3.4 Hoạt động của khu vực đầu tư nước ngoài

Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ giải ngân FDI theo ngành trong giai đoạn 1988 – 2007

Trang 11

THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

1 ASEAN Association of Southeast Asia Nations - Hiệp hội các

quốc gia Đông Nam Á

2 BOT Built-Operation-Transfer - Hợp đồng xây dựng-chuyển

giao-kinh doanh

3 ĐTNN Đầu tư nước ngoài

4 FDI Foreign Direct Investment - Vốn đầu tư trực tiếp từ nước

ngoài

5 GCNĐT Giấy chứng nhận đầu tư

6 GDP Gross Domestic Product - Giá trị của tất cả sản phẩm và

dịch vụ được sản xuất trong một quốc gia trong một năm

7 SPSS Statistical Package for the Social Sciences - Phần mềm

phục vụ công tác thống kê

8 ODA

Official Development Assistant - Nguồn vốn hỗ trợ chính thức từ bên ngoài bao gồm các khoản viện trợ và cho vay với điều kiện ưu đãi

9 UNCTAD United Nation Conference on Trade and Development -Hội

nghị của Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển

10 UBND Ủy ban nhân dân

11 WTO World Trade Organization - Tổ chức thương mại thế giới

Trang 12

CHƯƠNG I GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Chương này sẽ giới thiệu một cách tổng quan về luận văn, bao gồm cơ

sở hình thành, mục tiêu, ý nghĩa, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

1.1 Cơ sở hình thành đề tài

Từ thực tiễn thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (ĐTNN) hơn 20 năm qua, đến nay có thể nói trong điều kiện của thế giới và khu vực hiện nay, ĐTNN thực sự trở thành hình thức hợp tác kinh tế quốc tế rất hiệu quả đối với các nước đang phát triển Cùng với việc thu hút các dự án đầu tư mới, nhiều dự án sau khi hoạt động có hiệu quả đã mở rộng quy mô sản xuất-kinh doanh, tăng thêm vốn đầu tư, nhất là từ năm 2001 trở lại đây

Qua 20 năm thu hút, ĐTNN đã trải rộng khắp cả nước, không còn địa phương “trắng” ĐTNN nhưng tập trung chủ yếu tại các địa bàn trọng điểm, có lợi thế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương, làm cho các vùng này thực sự là vùng kinh tế động lực, lôi kéo phát triển kinh tế-xã hội chung và các vùng phụ cận

Tuy Nhà nước đã có chính sách ưu đãi đặc biệt cho những vùng có điều kiện địa lý-kinh tế khó khăn nhưng việc thu hút ĐTNN phục vụ phát triển kinh

tế tại các địa bàn này còn rất thấp

Gần đây, xuất hiện nhiều dự án với vốn đăng ký hàng tỷ USD, nhưng lại đang trong tình trạng “nằm chờ” sau những tuyên bố về khả năng bị rút giấy phép trước sự chậm trễ của chủ đầu tư Nếu không nói đến những phức tạp của việc loại bỏ các dự án này thì ngay cả việc các chủ đầu tư “thổi” giá trị dự án quá cao cũng đã tạo ra hiệu ứng không tốt đối với việc phát triển kinh tế của địa phương

Việt Nam vẫn được coi là điểm đến của các nhà đầu tư nước ngoài,

Trang 13

nhưng dự án thì nhiều, hiệu quả đóng góp vào nền kinh tế quốc dân chưa tương xứng, có khá nhiều doanh nghiệp FDI lại báo “lỗ”

Trong những năm qua đặc biệt trong năm 2009 tình hình kinh tế thế giới

có nhiều diễn biến xấu do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, những yếu tố mới về tình hình kinh tế thế giới và trong nước có tính chất phức tạp hơn Nền kinh tế thế giới và Việt Nam không còn duy trì được sự tăng trưởng mạnh mẽ nữa mà thay vào đó là sự sụt giảm đáng

kể về sản lượng hay chỉ đạt được tốc độ tăng trưởng rất chậm và thấp Một trong những nguyên nhân chính của nền kinh tế Việt Nam là sự suy giảm đáng

kể nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng như sự thất bại của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Hiện các dự án đầu tư vào Việt Nam chủ yếu có qui mô nhỏ, trình độ kỹ thuật của đa số các dự án còn ở mức trung bình khá, chưa có dự án qui mô tầm cỡ có tác động làm động lực cho sự phát triển đột phá, tăng tốc và bền vững của Việt Nam

Bên cạnh các dự án được tiến hành thành công, tạo tâm lý an tâm, tin tưởng nơi nhà đầu tư nước ngoài khiến họ mở rộng, tăng quy mô của dự án, cam kết làm ăn lâu dài tại Việt nam thì cũng có nhiều dự án khi thực hiện đã gặp phải thất bại, bị thu hồi giấy phép đầu tư hay giải thể trước thời hạn do các nguyên nhân chủ quan cũng như khách quan khác nhau trong đó nguyên nhân chính vẫn là do môi trường đầu tư vẫn chưa thực sự hấp dẫn, chính sách thu hút của từng địa phương chưa được chú trọng, việc lựa chọn địa điểm đầu tư, hình thức đầu tư cũng tính toán quy mô đầu tư chưa hợp lý của các nhà đầu tư nước ngoài đã gây ảnh hưởng xấu tới môi trường đầu tư cũng như lãng phí thời gian, công sức của nhà đầu tư cũng như các nguồn lực của đất nước Từ đó, việc nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến sự thất bại của dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam mang một ý nghĩa hết sức cần thiết và cấp bách Đây là cơ sở hình thành đề tài “ Nghiên cứu những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự thất bại của dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 1988-2009 “

Trang 14

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Với các phân tích và trình bày ở trên ta thấy rằng việc nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến sự thất bại của các dự án FDI là hết sức cần thiết và cấp bách đối với Việt Nam trong việc khôi phục niềm tin của các nhà đầu tư

Việc nghiên cứu có thể thực hiện trên cơ sở vận dụng các mô hình, thang đo đã được nghiên cứu và kiểm định Trên cơ sở nghiên cứu sự thất bại của các dự án đầu tư tại Việt Nam giai đoạn 1988-2009

Như vậy các mục tiêu nghiên cứu sau đây được đặt ra:

- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự thất bại của các dự án FDI tại Việt Nam

- Xây dựng và kiểm định mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến

sự thất bại của dự án FDI tại Việt Nam

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

1.3.1 Đối tượng:

- Các dự án FDI đang còn hiệu lực và những dự án FDI bị thu hồi giấy phép đầu tư tại Việt Nam giai đoạn 1988-2009

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các dự án FDI đang hoạt động và những

dự án FDI bị thu hồi giấy phép đầu tư tại Việt Nam giai đoạn 1988-2009 Phạm

vi nghiên cứu thông qua các nguồn thông tin thứ cấp là các nguồn báo cáo từ các Sở Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh thành, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục thống kê

1.4 Ý nghĩa của đề tài

Đề tài này khi thực hiện có một số ý nghĩa cụ thể như sau:

Thứ nhất: đo lường được các nhân tố ảnh hưởng đến sự thất bại của các

Trang 15

dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam

Thứ hai: thông qua kết quả nghiên cứu không những phát hiện ra những nhân tố ảnh hưởng đến sự thất bại của dự án mà còn giúp các nhà hoạch định chính sách, các địa phương có thể nhìn nhận toàn diện về các dự án bị thất bại

để từ đó có những định hướng điều chỉnh cho phù hợp trong thời gian tới

1.5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài gồm 5 chương như sau:

 Chương I: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu

Chương II: Cơ sở lý thuyết & Phương pháp nghiên cứu

Chương III: Thực trạng thu hút cũng như thất bại của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam giai đoạm 1988-2009

Chương IV: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự thất bại của dự án

Chương V: Kết luận và kiến nghị

Ngoài ra, Luận văn còn có phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục

Do lần đầu tiên áp dụng lý thuyết thất bại của dự án đầu tư tực tiếp nước ngoài tại Việt Nam để đánh giá chung các nhân tố ảnh hưởng đến sự thất bại của dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài Bên cạnh đó, do trình độ và thời gian nghiên cứu có hạn nên Luận văn chắc chắn còn có những thiếu sót nhất định Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp bổ sung, những chỉ dẫn xây dựng nhằm giúp Luận văn hoàn thiện hơn

Trang 16

CHƯƠNG II

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Các khái niệm

2.1.1 Khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài:

- Đầu tư nước ngoài có thể hiểu một cách tổng quát, đó là các hình thức

mà người nước ngoài trực tiếp hoặc gián tiếp bỏ vốn thông qua các loại hình khác nhau đầu tư vào sản xuất kinh doanh ở một nước khác nhằm thu lợi nhuận thông qua việc tận dụng các lợi thế sẵn có của nước tiếp nhận đầu tư như nguồn nguyên liệu, nhân công, thị trường tiêu thụ,… hoạt động trong khuôn khổ pháp luật nước sở tại và thông lệ quốc tế

Theo Luật Đầu tư 59/2005/QH11 ban hành 12/12/2005 thì: đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam

- Đầu tư nước ngoài thường có 02 dạng chủ yếu:

+ Đầu tư trực tiếp: là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vào một lĩnh vực sản xuất kinh doanh hay dịch vụ nào đó và tham gia quản lý hoạt động đầu tư Cũng có một hình thức khác được xem là đầu tư trực tiếp khi nhà đầu tư nước ngoài mua lại toàn bộ hoặc từng phần một doanh nghiệp của nước

sở tại để kinh doanh hoặc hợp tác kinh doanh

+ Đầu tư gián tiếp: là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, các loại giấy tờ có giá khác và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư

Nếu loại hình đầu tư trực tiếp mà nhà đầu tư thu lợi nhuận trực tiếp từ hoạt động sản xuất kinh doanh thì đầu tư gián tiếp thu lợi nhuận qua cổ tức, trái

Trang 17

tức và mức lợi nhuận vốn của chứng khoán

2.1.2 Đặc trưng về đầu tư trực tiếp nước ngoài:

So với các hình thức đầu tư nước ngoài khác, xét về bản chất thì FDI có những đặc trưng chủ yếu sau:

- FDI là hình thức chủ yếu trong đầu tư nước ngoài Nếu ODA và các hình thức đầu tư nước ngoài khác có những hạn chế nhất định, thì FDI lại tỏ ra

là hình thức đầu tư có triển khai, tạo ra sự chuyển biến về chất trong nền kinh

tế, gắn liền với hình thức sản xuất trực tiếp, tham gia vào sự phân công lao động quốc tế theo chiều sâu

- FDI không chỉ đưa vốn vào nước tiếp nhận đầu tư, mà thông qua FDI các doanh nghiệp nước ngoài sẽ chuyển giao kỹ thuật công nghệ cho nước nhận đầu tư Nhờ đó mà nước nhận đầu tư tiếp cận được các kỹ thuật tiên tiến, kinh nghiệm quản lý và năng lực tiếp thị, đội ngũ lao động được đào tạo và bồi dưỡng về nhiều mặt Việc tiếp nhận FDI không làm tăng nợ cho nước tiếp nhận đầu tư, trái lại FDI còn tạo điều kiện để khai thác và sử dụng có triển khai các nguồn lực trong nước Chủ thể của FDI chủ yếu là các công ty đa quốc gia Hiện nay, các công ty đa quốc gia nắm giữ khoảng 90% lượng FDI trên thế giới Với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế thì FDI sẽ tăng mạnh trên toàn cầu

2.1.3 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài:

FDI thường tồn tại dưới 3 hình thức chủ yếu:

- Hình thức công ty 100% vốn nước ngoài: là hình thức công ty hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của tổ chức, cá nhân nước ngoài và do bên nước ngoài tự thành lập, tự quản lý và hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh; cho ra đời một pháp nhân mới ở nước nhận đầu tư và hoạt động dưới sự chi phối của pháp luật của nước nhận đầu tư

- Hình thức công ty liên doanh: là hình thức công ty được hình thành

Trang 18

với sự tham gia của một hoặc nhiều bên của nước nhận đầu tư và nước đầu tư; cho ra đời một pháp nhân mới ở nước nhận đầu tư và hoạt động dưới sự chi phối của pháp luật của nước nhận đầu tư

- Hình thức hợp đồng, hợp tác kinh doanh: là hình thức đầu tư được ký giữa một hoặc nhiều nhà đầu tư nước ngoài với một hoặc nhiều doanh nghiệp Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế, nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân

Bên cạnh đó hiện nay Nhà nước Việt Nam cũng đang khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện hình thức đầu tư theo Hợp đồng BOT là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam

2.2 Điều kiện cơ bản thu hút vốn FDI:

2.2.1 Yếu tố Chính trị - xã hội:

Sự ổn định Chính trị - Xã hội tạo ra môi trường thuận lợi đối với hoạt động kinh doanh, tác động lớn đến việc thu hút đầu tư và tạo ra lợi nhuận Trong môi trường đó, các nhà kinh doanh được đảm bảo an toàn về đầu tư, quyền sở hữu lâu dài và hợp pháp tài sản của họ Từ đó làm an lòng nhà đầu tư,

để họ có thể yên tâm tập trung cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và khai thác dự án đầu tư một cách có triển khai nhất

Mức độ an tâm của các nhà kinh doanh được cũng cố thông qua sự đánh giá về rủi ro chính trị Các nhà kinh doanh thường đánh giá mức độ rủi ro chính trị theo 4 dạng chủ yếu sau: sự mất ổn định trong nước; sự xung đột với nước ngoài; xu thế chính trị và xu hướng kinh tế Tình trạng bất ổn về chính trị bằng việc thay đổi Chính phủ cũng có thể cản trở đầu tư, nếu nó dẫn đến một

hệ thống chính sách và biện pháp khuyến khích không ổn định Đặc biệt rất dễ

có một tác động bất lợi đối với đầu tư, nếu sự thay đổi Chính phủ bao gồm cả

Trang 19

việc thay đổi các luật cơ bản như: Luật đầu tư, quyền sở hữu tài sản, Luật thuế

và nhất là nếu sự thay đổi chính trị đó làm tăng các rủi ro tài sản bị tịch thu bổ sung vào công quỹ

Bảo đảm ổn định xã hội thực chất là tạo ra môi trường văn hóa – xã hội thuận lợi cho họat động của các nhà đầu tư, đó là một bộ phận cấu thành hệ thống hạ tầng xã hội Có nghĩa là, Nhà nước giải quyết những vấn đề xã hội theo hướng tích cực, tạo điều kiện cho các tổ chức kinh tế hoạt động có triển khai Những vấn đề xã hội mà Nhà nước cần quan tâm như vấn đề dân số, việc làm, xóa đói giảm nghèo, công bằng xã hội, xóa bỏ những tệ nạn xã hội, thái

độ lao động, đạo đức kinh doanh và bảo vệ môi trường, y tế, giáo dục

Một hệ thống Chính trị - xã hội ổn định sẽ thu hút mạnh mẽ nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Một chính phủ ổn định thì có khả năng hơn trong việc liên tục bảo đảm ảnh hưởng của họ đến vấn đề thương mại Một hệ thống

ổn định cho phép các công ty lập các kế hoạch làm ăn của họ với những cấp độ chắc chắn Một hệ thống chính trị rủi ro hay thay đổi là nguyên nhân chính cho việc chuyển hướng trong thương mại (Bradley, 1999)

2.2.2 Yếu tố qui mô nền kinh tế

Qui mô thị trường và tỉ lệ tăng trưởng của một đất nước là yếu tố quan trọng nhất để thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài (Lunn,1980)

Mức độ của GDP (thước đo qui mô của nền kinh tế) là một động cơ cơ bản để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Cũng có thể kết luận rằng qui mô thị trường là một quyết định quan trọng cho dòng chảy FDI vào tất cả vùng lãnh thổ và nền kinh tế lớn

2.2.3 Yếu tố chính sách

Các quốc gia thường dùng nhiều công cụ khác nhau để tác động đến tổng mức đầu tư, đến sự phân phối đầu tư giữa các khu vực, các loại tài sản và theo thời gian bằng cách tác động đến tỷ suất sinh lợi của vốn Để cho các nhà đầu tư có khả năng đáp ứng được những yêu cầu hoạt động đã đề ra, phần lớn

Trang 20

các nước nhận đầu tư đều có những biện pháp tích cực như khuyến khích thuế, cho độc quyền ở thị trường nội địa,…

Sự cho phép độc quyền đối với thị trường nội địa dành cho các nhà đầu

tư nước ngoài đã làm tăng khuyến khích đầu tư Từ lâu nó đã được nhiều nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu ở các nước kém phát triển quan tâm tìm kiếm Nhưng thế độc quyền lại không gây được sức ép buộc các công ty đa quốc gia phải hạ thấp giá cả và nâng cao chất lượng Hơn nữa, vì độc quyền làm giá cả trong nước và lợi nhuận tăng lên, do

đó tạo nên sự chuyển dịch trực tiếp lợi ích từ người tiêu dùng của các nước kém phát triển đến các nhà đầu tư

Các trường hợp ưu đãi bằng thuế là biện pháp khuyến khích thường gặp nhất Chúng được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau: thuế suất ưu đãi cho một số loại đầu tư nào đó, miễn và giảm thuế có thời hạn, cho phép khấu hao nhanh, hoàn thuế,…

Trên thực tế, ở các nước đang phát triển, những biện pháp khuyến khích đầu tư có triển khai rất hạn chế do sự hạn chế của hệ thống quản lý thuế và còn do những biến dạng thị trường như việc phân phối tín dụng hay sự can thiệp của hệ thống quản lý hành chính vào việc phân bổ ngoại tệ Các biện pháp ưu đãi bằng thuế có thể ảnh hưởng đến sự phân bổ các khoản lợi ích đặc biệt nhờ độc quyền hơn là ảnh hưởng đến quyết định đầu tư, do đó thường có triển khai thấp

Mặt khác, thật khó xác định và đo lường được mức chênh lệch giữa suất sinh lợi của đầu tư cá biệt và suất sinh lợi của đầu tư xã hội để lý giải cho những ưu đãi bằng thuế Do vậy, việc thực hiện bất kỳ biện pháp khuyến khích bằng thuế nào cũng gây ra những gánh nặng rất lớn cho hệ thống quản lý thuế Các biện pháp ưu đãi bằng thuế sẽ khiến cho những đối tượng có thể hưởng lợi

sẽ ra sức vận động hành lang để có lợi cho mình Sự thất thu thuế tiềm ẩn trong các biện pháp khuyến khích có một chi phí cơ hội rõ ràng Những nổ lực nhằm hoàn chỉnh hệ thống thuế nhằm hướng dẫn sự phân bổ các nguồn lực có thể dẫn đến những biến dạng lớn mang tính hệ thống

Trang 21

Do đó, tính ổn định và có thể dự báo được của chế độ thuế là điều kiện tiên quyết cho tính triển khai của biện pháp khuyến khích đầu tư

2.2.4 Yếu tố cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng là tổng thể các cơ sở vật chất kỹ thuật, các công trình và các phương tiện tồn tại trên một lãnh thổ nhất định được dùng làm điều kiện sản xuất và điều kiện sinh hoạt Nó đảm bảo cho sự vận hành liên tục, thông suốt các luồng của cải vật chất, các luồng thông tin và dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu có tính phổ biến của sản xuất và đời sống

Để thúc đẩy thu hút FDI cần tạo ra một cơ chế chính sách và định chế

có tính chất hỗ trợ, bao gồm: các thành phần của sự ổn định CT - XH, ổn định chính sách kinh tế vĩ mô, tạo ra môi trường hoạt động sản xuất kinh doanh với chi phí thấp, môi trường thể chế ổn định để đảm bảo sự đồng tâm nhất trí của

xã hội và một bảo đảm cơ sở hạ tầng cho đầu tư và tăng trưởng kinh tế

Chất lượng cơ sở hạ tầng và mức độ công nghiệp hóa có tác động rất lớn đến việc thu hút vốn FDI Một hệ thống cơ sở hạ tầng tốt (gồm hệ thống đường bộ, đường sắt, đường không, hệ thống cấp nước, điện và các yếu tố thiết thực khác…) và một môi trường vận hành mới và tiến bộ là những điều kiện cơ bản để thu hút nguồn vốn FDI của một đất nước

Những cơ chế hiện tại và cơ sở hạ tầng kinh tế có một ý nghĩa nhất định trong môi trường đầu tư Trong lĩnh vực này không chỉ bao gồm cơ cấu tổ chức như ngân hàng, tiếp thị, bảo hiểm và những dịch vụ hỗ trợ khác mà còn có cơ

sở hạ tầng hiện tại gồm hệ thống giao thông và mạng lưới giao tiếp (Knall, Bruno,1977)

2.2.5 Yếu tố nguồn lực

2.2.5.1 Nguồn lực con người

Khi quyết định mở một công ty con ở một quốc gia đang phát triển, các nhà đầu tư thường khai thác nguồn lao động trẻ và có kỹ năng của địa phương

Trang 22

Và cũng giống như trên một nhóm lực lượng lao động bao gồm các lĩnh vực quản lý và kỹ thuật luôn là một động cơ để các nhà đầu tư chú ý khi tìm kiếm cơ hội đầu tư ở các nước đang phát triển Động cơ đầu tư cũng dựa trên tính sẵn có của lực lượng lao động địa phương bao gồm công nhân chưa có kỹ năng, công nhân có kỹ năng, người quản lý cũng như là thái độ hiện tại hướng đến công việc (Knall, Bruno, 1977)

2.2.5.2 Nguồn lực tự nhiên

Các nhà đầu tư nước ngòai tìm nguồn cung cấp xăng dầu, khí tự nhiên, cao su, dầu cọ và gỗ của các nước bản địa là những nhân tố chiến lược trong việc so sánh những thuận lợi trong quá trình sản xuất

Theo Madura (1997), giảm chi phí vận chuyển, một sự cố gắng hợp tác để tránh xuất khẩu nguyên vật liệu thô ra khỏi đất nước có nguyên liệu, và đặc biệt là sản phẩm thành phẩm được xuất trở lại nước đầu tư Và với tình huống này, nhiều giải pháp khả thi hơn có thể được đưa ra để phát triển sản phẩm tại đất nước có nguồn nguyên vật liệu thô

2.3 FDI đối với sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia:

FDI có vị trí quan trọng góp phần tăng trưởng và phát triển kinh tế không chỉ riêng đối với nước tiếp nhận đầu tư mà còn đối với nước xuất khẩu

tư bản Ngày nay trong xu thế toàn cầu hóa, hợp tác và phân công lao động quốc tế, hội nhập và cùng phát triển là vấn đề tất yếu Lợi ích của việc xuất khẩu tư bản và tiếp nhận đầu tư đều có ý nghĩa như nhau Tuy nhiên lợi ích sẽ không thể chia đều, nó chỉ có thể được tận dụng một khi đôi bên đều biết phát huy tốt nhất những lợi thế, hạn chế tối đa những mặt trái và khiếm khuyết Trên tinh thần đó, để hiểu rõ vai trò và vị trí của FDI nên xem xét tác dụng của

Trang 23

nhận vốn đầu tư cơ cấu lại nền kinh tế, thực hiện các mục tiêu KT - XH, phát triển sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế

- FDI mang vào nước tiếp nhận đầu tư các kỹ thuật, KH - CN mới cũng như mô hình tổ chức quản lý của các chuyên gia,…

- FDI là phương thức quan trọng làm tăng kim ngạch xuất khẩu do góp phần vào việc khai thác các lợi thế về tài nguyên, nhân lực nhằm tạo ra những sản phẩm xuất khẩu và thay thế hàng nhập khẩu có giá trị, nâng cao khả năng cạnh tranh và hội nhập của nền kinh tế trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay Nhờ

có công nghệ hiện đại, các doanh nghiệp có vốn FDI tạo ra nhiều sản phẩm đa dạng, chất lượng tốt, giá cả hợp lý, thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của các tầng lớp nhân dân

- FDI góp phần vào việc tăng quy mô hoạt động các doanh nghiệp mới lập, các ngành kinh doanh mới, phát triển sản xuất, thu hút thêm lao động, làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động ở các nước nhận đầu tư Đây là điều kiện và môi trường tốt nhất để giải quyết tình trạng lao động dư thừa ở các nước chậm phát triển, đồng thời cũng là cơ hội để những người lao động ở nước nhận đầu tư có điều kiện tiếp nhận KH - CN, rèn luyện kỹ năng lao động và năng lực tổ chức quản lý ở một trình độ cao

- FDI còn mang lại lợi ích khác cho nước tiếp nhận đầu tư như: góp phần làm tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước từ các khoản thuế và thu lợi nhuận; chuyển đổi cơ cấu kinh tế; mở thêm một số ngành dịch vụ phục vụ cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

- FDI tạo ra một lượng hàng xuất khẩu, tăng nguồn ngoại tệ góp phần hỗ trợ cán cân thanh toán, sẽ giúp ổn định kinh tế vĩ mô và đẩy nhanh quá trình hội nhập, hợp tác giữa nước tiếp nhận đầu tư với các nước khác trên thế giới Nguồn lực quan trọng này chính là nhân tố bảo đảm cho các nước chậm và đang phát triển có điều kiện thu ngắn cách biệt, nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Thực tiễn cho thấy, không ở đâu có điều kiện nâng cao khả

Trang 24

năng tiếp cận công nghệ hiện đại và phương thức quản lý có triển khai bằng các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

- FDI tạo nên sức ép cạnh tranh trên thị trường ở 2 mặt: doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài làm cho đối thủ cạnh tranh suy yếu hơn có nguy cơ

bị thu hẹp thị phần, làm giảm sản xuất, thậm chí rút lui khỏi thị trường Chính

sự cạnh tranh lại kích thích các đối thủ đầu tư đổi mới vươn lên đứng vững trên thị trường, từ đó năng lực sản xuất được cải thiện

- FDI giúp chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sang doanh nghiệp trong nước; giúp liên kết từ doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước để sản xuất sản phẩm mới; giúp lưu chuyển lao động từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sang các doanh nghiệp trong nước

Như vậy, từ sự phân tích trên cho thấy rằng việc tiếp nhận FDI là lợi thế

rõ nét giúp các nước phát triển sau có điều kiện tiếp cận với nền kinh tế phát triển Tuy nhiên, nguồn vốn này dù quan trọng đến đâu cũng không thể đóng vai trò quyết định đến sự phát triển của một quốc gia Mặt khác, FDI cũng có những mặt trái, hạn chế nhất định Đây là vấn đề cần được xem xét đầy đủ trong quá trình thu hút FDI Nếu không, lợi ích thu được sẽ không bù lại được những thiệt hại mà nó gây ra

2.3.1.2 Các mặt hạn chế:

- Nguồn vốn FDI chủ yếu do các công ty đa quốc gia chi phối Vì vậy các nước tiếp nhận phải phụ thuộc vào vốn, công nghệ, thị trường và hệ thống mạng lưới tiêu thụ của các nước xuất khẩu tư bản Nếu các nước tiếp nhận đầu

tư chỉ biết dựa vào nguồn vốn FDI mà không chú trọng đúng mức đến việc khai thác các nguồn vốn đầu tư khác từ nội lực của nền kinh tế thì nguy cơ lệ thuộc và mất độc lập về kinh tế là khó tránh khỏi Các công ty đa quốc gia có thể dùng quyền lực kinh tế của mình gây ảnh hưởng bất lợi đến tình hình KT -

XH của nước chủ nhà

Trang 25

- Mục tiêu của bất kỳ nhà đầu tư nào cũng đều muốn thu hồi vốn nhanh

và có được lợi nhuận nhiều Do đó việc chuyển giao công nghệ cũng cơ bản nhằm hai mục đích này Có hai khuynh hướng thường xảy ra:

+ Đưa các thiết bị công nghệ hiện đại vào nhằm thu hồi vốn và lợi nhuận nhanh mà không tính đến chất lượng và số lượng lao động hiện có của nước sở tại Kết quả là mặc dù tăng vốn đầu tư, mở rộng sản xuất, có thêm nhiều ngành nghề mới nhưng người lao động vẫn thiếu việc làm, số lao động

dư thừa vẫn không được giải quyết

+ Tận dụng các công nghệ đã cũ, lạc hậu chuyển giao cho các nước nhận đầu tư Do máy móc thiết bị lạc hậu nên chi phí sản xuất lớn, giá thành sản phẩm cao, khả năng cạnh tranh thấp, nhóm các nước thuộc dạng này khó

có thể đuổi kịp các nước phát triển Đó là chưa tính đến các tác hại khác như ô nhiễm môi trường, không có điều kiện tiếp nhận KH - CN và đào tạo nguồn nhân lực hiện đại

Bên cạnh đó, do ưu thế về vốn, công nghệ hiện đại, thị trường, trình độ

tổ chức quản lý, mạng lưới tiêu thụ sản phẩm,… các nước xuất khẩu tư bản hoàn toàn có đủ điều kiện để giành thế chủ động trong sản xuất kinh doanh ngay tại nước tiếp nhận đầu tư Do đó bằng con đường cạnh tranh hợp quy luật, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoàn toàn có thể thôn tính các công ty nội địa là một thực tế Dĩ nhiên đó là một thực tế với điều kiện các công ty nội địa tự đánh mất chính mình

Ngoài ra, ảnh hưởng của FDI đối với cán cân thanh toán là một vấn đề rất được chú trọng Thông thường Nhà nước sở tại rất khó kiểm soát được giao dịch ngoại thương của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, bởi vì hầu hết các giao dịch này là giao dịch nội bộ công ty của các tập đoàn tư bản đa quốc gia Nhờ giao dịch trong nội bộ, các công ty này có thể định giá các sản phẩm do mình sản xuất ra hoặc các nguồn đầu tư theo mức giá có lợi nhất cho họ nhằm để trốn thuế hoặc né tránh sự kiểm soát của Nhà nước sở tại Đặc điểm này đã khiến các nước tiếp nhận đầu tư khó có khả năng kiểm soát nguồn ngoại tệ để duy trì và làm chủ

Trang 26

cán cân thanh toán, gây trở ngại cho việc thu hút vốn FDI, giảm tác động tích cực của FDI lên cán cân thanh toán của nước chủ nhà

Như vậy đối với các nước tiếp nhận đầu tư, tác dụng của FDI phải được nhìn nhận thấu đáo trên cả hai mặt biểu hiện của nó Những mặt trái của FDI hoàn toàn không có nghĩa là phủ nhận những lợi thế cơ bản của nó mà chỉ lưu

ý rằng không nên hy vọng quá nhiều vào FDI và cần phải có những chính sách hợp lý, những biện pháp quản lý hữu hiệu để phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của FDI Bởi vì mức độ thiệt hại mà FDI gây ra cho nước chủ nhà nhiều hay ít phụ thuộc rất nhiều vào chính sách, năng lực, trình độ quản lý, trình độ chuyên môn của nước nhận đầu tư

2.3.2 Đối với nước xuất khẩu tư bản (các nước đầu tư):

- Nhờ xuất khẩu tư bản, các công ty đa quốc gia có điều kiện nâng cao triển khai sử dụng vốn bằng cách khai thác tối đa những lợi thế về nhân lực, tài nguyên ở các nước tiếp nhận đầu tư để giảm giá thành, tìm kiếm lợi nhuận cao

- Đầu tư vốn ra nước ngoài giúp các công ty đa quốc gia mở rộng sản xuất sang nhiều nước, nhằm tránh những bất lợi về kinh tế và chính trị trong nước mình (phân tán vốn để tránh những rủi ro), đồng thời tận dụng lợi thế của nước khác để phân công lại lao động theo hướng có lợi nhất cho các công ty trong hệ thống tập đoàn tư bản đa quốc gia Tạo môi trường mới để cạnh tranh, thúc đẩy và mở rộng sản xuất

- Tận dụng cơ chế hoạt động đầu tư của mỗi quốc gia khác nhau để thực hiện việc chuyển giá, tránh mức thuế cao nhằm tối ưu hóa lợi nhuận

- Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, ổn định và duy trì sản xuất ở một trình độ cao, trong đó đáng chú ý là khai thác được nguyên liệu giá rẻ từ các nước tiếp nhận đầu tư Mở rộng phạm vi ảnh hưởng sang nhiều quốc gia nhằm khẳng định sức mạnh về kinh tế và nâng cao uy tín về chính trị trên trường quốc tế

Trang 27

Tuy nhiên, xuất khẩu tư bản cũng có những rủi ro nhất định, trước hết là khả năng kiểm soát và quản lý nguồn vốn trước những biến động CT - XH ở các nước tiếp nhận đầu tư Mặt khác, các nước xuất khẩu tư bản cũng phải đối phó với những hạn chế về năng lực quản lý, hệ thống chính sách và pháp luật chưa cụ thể, thiếu đồng bộ, đội ngũ công nhân trình độ thấp, quy hoạch dàn trải thiếu khoa học của nước sở tại Tất cả những biểu hiện trên đều tạo ra những trở ngại nhất định cho các nhà đầu tư

2.4 Lý thuyết về sự thất bại của dự án đầu tư

Mặc dù hầu hết các tập đoàn xuyên quốc gia chủ yếu tìm kiếm địa điểm với thị trường lớn và chi phí sản xuất hợp lý, nhưng một điều rõ ràng rằng các quyết định đầu tư của họ thường liên quan đến chi phí giao dịch của việc kinh doanh tại các nước tiềm năng (Tejinder và Newhouse, 1995).Trong đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), chi phí giao dịch chủ yếu liên quan đến việc đàm phán

và tuân thủ hợp đồng, cũng như chi phí liên kết các hoạt động từng ngày của doanh nghiệp

Phương pháp tính gần đúng của chi phí giao dịch thường liên quan đến phân tích vốn đầu tư nước ngoài (FDI) ở các nước đang phát triển và các quốc gia mới nổi, bởi vì môi trường đầu tư tại đây nói chung là không ổn định như ở các nước đã phát triển Theo North (1990), thị trường hiệu quả phụ thuộc vào các tổ chức hổ trợ vì họ có thể cung cấp các quy tắc chính thức và không chính thức trong các cách thức cạnh tranh của một nền kinh tế thị trường Nếu tổ chức này không ổn định hoặc không chuyên nghiệp, các nhà đầu tư nước ngoài phải đối mặt với nhiều rủi ro và các chi phí cao hơn trong đàm phán và thực thi hợp đồng Cụ thể hơn, trong trường hợp các nhà đầu tư thiếu thông tin về đối tác địa phương, các tổ chức này thường phải đối mặt với các nhà đại diện thiếu kinh nghiệm về việc đàm phán kinh doanh, và họ còn gặp các khuôn khổ quy định không rõ ràng, quan liêu phức tạp và tham nhũng (Meyer, 2001) Do đó, các quốc gia với các tổ chức kinh tế làm việc không hiệu quả thường thu hút FDI khó khăn hơn các nước khác Tuy nhiên, mặc dù có những trở ngại trong việc thể hiện sự hiệu quả của doanh nghiệp nhưng các chính sách và điều kiện hiện hành không phải là yếu tố tiên quyết ngăn chặn việc thu hút FDI của

Trang 28

doanh nghiệp đó Hơn nữa, lợi thế vốn có của nước sở tại, ví dụ thị trường trong nước lớn hoặc tiền lương nhân công thấp, có thể vẫn được đánh giá cao

và cân nhắc mặc cho chi phí giao dịch tại nước đó cao Đánh giá của nhà đầu

tư về cơ hội của lợi nhuận mong đợi sẽ được phản ánh trực tiếp qua tỉ lệ ứng dụng và cấp phép của dự án Sau khi bắt đầu, các rủi ro không mong đợi trước đây có thể cản trở và ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện các dự án đầu tư Tiếp theo, những chi phí giao dịch không được dự báo trước sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ thất bại của dự án Qua nghiên cứu của tác giả Kokko, Kotoglou và Karlsson (2003) đã đưa ra một số giả thuyết như sau:

- Thâm nhập sớm vào một thị trường mới nổi thường được xem như một yếu tố thành công vì nó có thể bắt đầu xây dựng một thương hiệu, lựa chọn các đối tác tốt nhất và ngăn chặn sự xâm nhập của các đối thủ cạnh tranh Tuy nhiên, thực tế rằng Việt Nam đã hoàn toàn đóng cửa đối với các nhà đầu tư nước ngoài, kể từ khi Luật đầu tư nước ngoài ra đời thì do nguồn thông tin bị hạn chế, môi trường kinh doanh chưa được minh bạch do đó các nhà đầu tư nước ngoài phải mất chi phí cao hơn khi tìm kiếm thông tin để thực hiện dự án Càng sau này những chi phí giao dịch đã được giảm theo thời gian

vì nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã học hỏi kinh nghiệm của những nhà đầu tư trước đó Số lượng thông tin được cung cấp bởi các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam về điều kiện kinh doanh tại Việt Nam cũng tăng lên theo thời gian Hơn nữa Luật Đầu tư nước ngoài được chỉnh sửa, bổ sung đã phần nào làm giảm mức độ quan liêu tham gia trong phê duyệt và thực hiện các dự án trong những năm sau đó Tất cả những yếu tố này sẽ góp phần giảm chi phí giao dịch theo thời gian Do đó, giả thuyết được cho rằng các dự án càng gần đây nhất thì tỷ lệ thất bại càng thấp

- Một số chi phí giao dịch có thể sẽ phụ thuộc vào kích thước của một dự án đầu tư.Một số chi phí cố định liên quan đến cấp giấy phép đầu tư và tìm kiếm các thông tin pháp luật về môi trường đầu tư và các điều kiện khác có thể phát sinh và không phụ thuộc và kích thước của đầu tư Những chi phí giao dịch cố định này có ý nghĩa hơn cho các dự

án nhỏ hơn Hơn nữa, các dự án lớn hơn thường được thực hiện bởi các công ty lớn hơn với nhiều nguồn lực hơn Các dự án này do đó có thể

Trang 29

được đi trước bằng cách đánh giá toàn diện hơn và thu thập thông tin, và cũng có thể được cấp hỗ trợ tài chính từ công ty mẹ nước ngoài nếu cần thiết.Ngoài ra, có bằng chứng rằng các dự án lớn hơn được hưởng ưu đãi trong quá trình cấp phép.Nhìn chung, giả thuyết đưa ra các dự án có quy mô lớn thì chi phí giao dịch thấp hơn và nguy cơ thất bại của dự án

sẽ thấp hơn

- Các chi phí giao dịch liên quan đến dự án đầu tư thường phụ thuộc vào cơ cấu sở hữu vốn của dự án.Tuy nhiên, mối quan hệ chính xác giữa các hình thức đầu tư và chi phí giao dịch này là không rõ ràng.Một mặt nhà cung cấp và khách hàng ít tốn kém cho các liên doanh hơn so với doanh nghiệp 100% vốn chủ sở hữu, bởi vì các đối tác Việt Nam có thể sử dụng mạng lưới hiện có của doanh nghiệp với các cơ quan hành chính và doanh nghiệp liên doanh.Mặt khác, doanh nghiệp liên doanh phải chịu thêm các chi phí giao dịch cho việc phối hợp hoạt động giữa các nhà đầu tư nước ngoài và đối tác Việt Nam Trong trường hợp của Việt Nam, nhiều nhà đầu tư đã phàn nàn về những khó khăn liên quan đến việc hợp tác với các đối tác Việt Nam Một lý giải về vấn đề này là hầu hết các doanh nghiệp liên doanh với nhà nước thường không được sử dụng để hoạt động trong nền kinh tế thị trường và thường không hiệu quả hoặc không cạnh tranh theo đúng tiêu chuẩn quốc

tế Tóm lại, giả thuyết được đưa ra rằng các doanh nghiệp có vốn 100% vốn nước ngoài thì khả năng dự án thành công cao hơn so với các dự án liên doanh

- Vị trí đầu tư ở nước sở tại có khả năng ảnh hưởng đến cả việc sản xuất và chi phí giao dịch đối với dự án đầu tư Đối với các dự án nằm ở vùng

có điều kiện kinh tế, cơ sở hạ tầng… khó khăn thì dự án đó thường phải đối mặt với chi phí giao dịch cao hơn Giả thuyết được đưa ra là các dự án được đầu tư tại vùng nghèo thì xác suất dự án đó thất bại càng cao

- Do đặc điểm lịch sử của Việt Nam thì các dự án được đầu tư tại Miền Bắc và Miền Nam có thể ảnh hưởng đến chi phí giao dịch kinh doanh

Do Miền Bắc bị ảnh hưởng nặng nề bởi Hoa Kỳ và các nước phương Tây cho đến những năm 1970 Theo số liệu FDI được cấp phép thì Miền Nam dường như là vị trí có các nhà đầu tư nước ngoài phổ biến hơn.Điều này có thể là do

Trang 30

chi phí giao dịch liên quan đến việc thực hiện dự án ở Miền Nam thấp hơn chi phí giao dịch so với các dự án được đầu tư ở Miền Bắc và giả thuyết đã được đưa ra rằng FDI trong các khu vực Miền Bắc có nhiều khả năng thất bại hơn

so với Miền Nam

- Các đặc điểm về tình hình kinh tế, chính trị cũng như nền văn hóa nước sở tại có khả năng ảnh hưởng đến chi phí giao dịch của dự án đầu

tư.Ngoài ra, văn hóa tổ chức có thể là tương tự giữa các công ty xuất phát từ cùng một khu vực địa lý, làm cho hợp tác dễ dàng hơn và do đó làm giảm chi phí giao dịch Giả thuyết đưa ra rằng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến từ các nước Châu Á thì tỷ lệ dự án thành công thường cao hơn

- Lĩnh vực, ngành nghề dự án đầu tư khác nhau thì chi phí giao dịch sẽ khác do đó người ta không có thể xác định bất kỳ một giả thuyết mạnh mẽ về cách suy luận cho mối quan hệ giữa lĩnh vực, ngành nghề dự án được đầu tư

và thất bại đầu tư và vấn đề này đã bị bỏ lại để phân tích thực nghiệm

2.5 Các đặc điểm của dự án FDI không thành công

Qua nghiên cứu của tác giả Kokko, Kotoglou và Karlsson (2003) đã đưa

ra một số đặc điểm như sau:

- Tỷ lệ dự án thất bại tại Miền Trung, Miền Bắc và ở các địa phương nghèo cao hơn so với các dự án được đầu tư tại Miền Nam và các vùng có điều kiện kinh tế tương đối phát triển Điều này có thể chỉ hỗ trợ cho giả thuyết rằng đầu tư tại các khu vực nghèo thường ít thành công, bởi vì các tỉnh Miền Nam

có mức thu nhập trung bình cao hơn Tuy nhiên, không có sơ sở dữ liệu nào hổ trợ cho giả thuyết rằng các khu vực nông thôn có tỉ lệ thất bại cao Một cách giải thích có thể là các nhà đầu tư đã nhận thức được chi phí giao dịch cao hơn

ở nông thôn và do đó họ cân nhắc hơn khi lập kế hoạch dự án của họ

- Không có sự khác biệt lớn về nguồn gốc của các quốc gia đầu tư đối với sự thất bại của dự án Theo giả thuyết, các dự án được thực hiện bởi các nhà đầu tư từ các nền kinh tế Châu Á thường có tỷ lệ thất bại thấp hơn Tùy theo số liệu nghiên cứu, thực trạng đầu tư từng thời kỳ cụ thể để có những kiểm nghiệm cho phù hợp với thực tế

Trang 31

- Các dự có quy mô càng lớn và thời gian hoạt động của dự án càng dài thì tỷ lệ dự án thành công cao hơn so với các dự án còn lại Điều này được cho rằng do các dự án lớn thường được đầu tư bởi các nhà đầu tư nước ngoài có tiềm lực tài chính mạnh cũng như thời gian hoạt động của dự án càng dài thì dự

án sẽ có thời gian thích ứng và đối phó với điều kiện kinh tế cũng như chính sách thay đổi từ đó các dự án này có xác suất thành công cao hơn

- Đối với các dự án được cấp phép vào những năm đầu kể từ khi Luật đầu tư nước ngoài được ban hành thì các dự án này có tỷ lệ thất bại rất cao Đối với các dự án được cấp phép càng về sau này tỷ lệ thất bại ngày càng giảm Điều này hết sức dễ hiểu do các dự án được cấp phép vào thời gian đầu do phải tiếp xúc với các chi phí giao dịch cao liên quan đến việc triển khai dự án cùng với những rủi ro do môi trường kinh doanh chưa được hoàn thiện dẫn đến nguy

cơ dự án thất bại rất cao

- Không có bằng chứng nào cho thấy ngành nghề, lĩnh vực án được đầu

tư liên quan đến sự thất bại của dự án Yếu tố này dường như chỉ có thể giải thích rõ hơn sự thất bại của dự án liên quan đến các yếu tố trên

2.6 Phương pháp nghiên cứu và quy trình thực hiện

2.6.1 Quy trình thực hiện

Dựa trên cơ sở lý thuyết về sự thất bại của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài sau đó thu thập số liệu từ nguồn dữ liệu thứ cấp Tiến hành đưa ra các giả thuyết cũng như kiểm định thông tin thu thập được từ đó tiến hành xử lý số liệu thông quan phần mềm thống kê SPSS, đánh giá được những nhân tố ảnh hưởng đến dự thất bại của dự án để từ đó có thể rút ra được những kết luận

Trang 33

2.6.2 Phương pháp thực hiện

Kokko và các cộng sự đã thực hiện Nghiên cứu về các nhân tố dẫn đến

sự thất bại của các dự án đầu tư tư tại Việt Nam giai đoạn 1988-1998.Luận văn này tiếp tục mở rộng kết quả phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến sự thất bại của dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 1988-2009 Thông tin phục vụ phân tích được thu thập chủ yếu từ nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập thông qua việc tìm kiếm dữ liệu chuỗi giai đoạn 1988-2009 từ các Sở Kế hoạch và Đầu tư các Tỉnh, Thành, Bộ kế hoạch và Đầu tư cũng như Tổng Cục Thống Kê Việt Nam

Dựa trên các nguồn dữ liệu thu thập được kết hợp các công cụ lý thuyết phù hợp để đánh giá tổng quát về thực trạng thất bại của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Căn cứ trên kết quả phân tích để nêu ra một số kết luận và kiến nghị chính sách thu hút FDI trong thời gian tới

2.6.3 Mô hình nghiên cứu

Phần trên chúng ta đã nghiên cứu lý thuyết về sự thất bại của dự án FDI cũng như nghiên cứu sự thất bại của các dự án FDI tại Việt Nam Với mục tiêu

và phạm vi đã xác định mô hình nghiên cứu đề nghị như sau:

Trang 34

(CITY) Dự án đầu tư nằm ở Thành Phố 

(ERP) Ngành nghề, lĩnh vực đầu tư của dự

(SOUTH) Các

dự án được đầu

tư tại Miền Nam 

(OWN) Phần trăm vốn góp của các nhà đầu

tư nước ngoài

Trang 35

Dựa trên các nghiên cứu đã phân tích ở trên, mô hình nghiên cứu sau được đề nghị :

FAIL = a0+a1*AGE+a2*SIZE+a3*DUR+a4*OWN+a5*CITY+a6*POOR+a7* SOUTH+a8*ASIA+a9*ERP

Các biến số sử dụng trong mô hình

AGE Thời gian dự án được cấp giấy

SIZE

Quy mô của dự án đầu tư dựa trên tổng nguồn vốn dự án được đăng ký

-

CITY

là một biến giả định bằng 1 nếu dự án nằm ở Thành phố

Hồ Chí Minh, Đồng Nai-Hải Phòng hoặc khu vực Hà Nội

và 0 nếu không

-

POOR

Các dự án nằm tại các Tỉnh, địa Phương nghèo của nước Việt Nam (dựa theo Nguồn World Bank để xác định tiêu chí này)

+

SOUTH

là một biến giả định bằng 1 nếu dự án nằm ở Miền Nam của Việt Nam và 0 nếu nó nằm ở Miền Bắc

-

ASIA

Biến giả =1 nếu các nhà đầu

tư đến từ Châu Á, bằng 0 là đến từ các nước khác Châu Á

-

ERP Các ngành, lĩnh vực mà dự án

Trang 36

2.6.4 Các giả thuyết

- H1: (AGE) Dự án được cấp phép trước đây sẽ có nguy cơ thất bại cao hơn so với các dự án được cấp phép sau này

Dự án đầu tư được cấp phép trong thời gian đầu mới ban hành Luật đầu

tư nước ngoài thì thường tiếp cận được ít thông tin, môi trường kinh doanh cũng như chính sách thu hút chưa được minh bạch, rõ ràng do đó các dự án được cấp phép vào những năm đầu tiên thì nguy cơ thất bại cao hơn so với các

dự án được cấp phép sau đó

- H2: (SIZE) Quy mô dự án đầu tư (vốn điều lệ đăng ký) càng lớn thì xác suất dự án thất bại càng ít

Thông thường dự án đầu tư có số vốn lớn thường được đầu tư bởi các công

ty lớn và có tiềm lực mạnh về tài chính Bên cạnh đó các dự án lớn thường được hưởng một số ưu đãi đặc biệt Dó đó đưa ra giả thuyết dự kiến quy mô của dự án

dự án sẽ không ảnh hưởng lắm đến sự thất bại của một dự án

- H3: (DUR) Dự án có vòng đời dự án càng dài thì khả năng dự án thành công càng cao

- H4: (OWN) Đối với các dự án tỉ lệ vốn góp càng lớn thì dự án đó sẽ có khả năng ít thất bại hơn so với các sự án có tỉ lệ vốn góp ít hơn

(OWN) đo lường vốn góp của các nhà đầu tư nước ngoài trong một dự

án Đối với dự án 100% vốn nước ngoài thì lỉ lệ này là 100% (Tỉ lệ vốn góp của các nhà đầu tư nước ngoài >70%)

- H5: (CITY) Dự án thực hiện ở những thành phố lớn thì khả năng thất bại ít hơn so với các nơi khác

(CITY) là một biến giả định bằng 1 nếu dự án nằm ở Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Hải Phòng hoặc khu vực Hà Nội và 0 nếu không

Trang 37

- H6: (POOR) Dự án đầu tư tại các địa phương càng nghèo thì nguy cơ

dự án thất bại càng cao

Đầu tư tại các địa phương nghèo của nước Việt Nam như Sơn La, Lào Cai… thì khả năng thất bại của các dự án này là lớn hơn so với các dự án đầu

tư tại các thành phố lớn như: Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Hà Nội…Do

đó FDI nằm ở các khu vực nghèo hơn có nhiều khả năng thất bại hơn

- H7: (SOUTH) Nếu dự án được đầu tư tại Miền Nam thì khả năng dự

án bị thất bại sẽ thấp hơn so với các dự án ở Miền Bắc

SOUTH là một biến giả định bằng 1 nếu dự án nằm ở Miền Nam của Việt Nam và 0 nếu nó nằm ở Miền Bắc

- H8: (ASIA) Các nhà đầu tư đến từ các nước Châu Á dự kiến sẽ có tác động làm giảm xác suất thất bại của dự án

Các nhà đầu tư đến từ Châu Á do có cùng những nét tương đồng về văn hóa, vị trí địa lý cũng như con người nên các nhà đầu tư đến từ Châu Á sẽ có tác động làm giảm xác suất thất bại của dự án

ERP Đây là biến xác định ngành nghề, lĩnh vực dự án được đầu tư Biến này có

ý nghĩa giải thích rõ thêm sự tác động của các nhân tố đối với sự thất bại của

dự án đầu tư

2.6.5 Cách sử dụng thang đo, thiết kế mẫu và phương pháp phân tích 2.6.5.1 Thang đo sử dụng

- Thang đo chỉ danh: Các nhà đầu tư đến từ Châu Á (ASIA), dự án đầu

tư nằm tại thành phố (CITY), dự án đầu tư nằm ở Miền Nam (SOUTH) và ngành nghề lĩnh vực của dự án đầu tư (ERP)

- Thang đo khoảng: quy mô dự án (SIZE), phần trăm vốn góp của dự án (OWN) và mức độ nghèo của vùng mà dự án được đầu tư (POOR)

Trang 38

- Thang đo thứ bậc: Thời điểm dự án được phép (AGE), thời gian dự án được hoạt động (DUR)

2.6.5.2 Thiết kế mẫu

- Đối tượng nghiên cứu lấy mẫu: các dự án đang hoạt động và các dự án thất bại đã bị thu hồi để đảm bảo các mẫu được nghiên cứu phản ánh tương đối

về tình trạng của các dự án đầu tư

- Cỡ mẫu: Theo Bollen (1989), cho rằng kích thước mẫu tối thiểu là 05 mẫu cho một ước lượng (tỷ lệ 5:1), mô hình nghiên cứu 09 biến vì vậy kích thước mẫu tối thiểu là 9 x 5 = 45 cho mỗi nhóm dự án

Để có cỡ mẫu cần thiết phục vụ cho công tác nghiên cứu, tác giả khảo sát 650 mẫu dự án bao gồm cả dự án thất bại và dự án đang còn hoạt động

- Phương pháp lấy mẫu: Lấy mẫu xác suất theo từng vùng miền trong cả nước từ năm 1988-2009 Cụ thể như sau:

Trang 39

Bảng 2.1: Số lượng mẫu khảo sát

án

Vốn đăng ký

(Triệu đô la Mỹ) (*) Trung du và miền núi

- Nhóm dữ liệu thứ nhất: 285 dự án bị thu hồi giấy phép đầu tư (dự án

thất bại) (theo báo cáo mẫu số 1.4B do Sở KH và ĐT các Tỉnh Thành báo cáo

cho Bộ KH&ĐT)

- Nhóm dữ liệu thứ hai: 385 dự án đã được cấp phép vẫn đang còn hoạt

động (theo báo cáo tổng kết của các Sở KH và ĐT các Tỉnh gửi cho Bộ KH và ĐT)

2.6.5.3 Phương pháp phân tích hồi quy Binary Logistic

Hồi quy Binary Logistic sử dụng biến phụ thuộc dạng nhị phân để ước

Trang 40

lượng xác suất một sự kiện sẽ xảy ra với những thông tin độc lập có được

Mô hình hàm Binary Logistic như sau: (Trọng & Ngọc 2008)

Với Pi: xác xuất xảy ra sự kiện

Y: biến phụ thuộc

Xi: Biến độc lập thứ i

z = βo + β1Xi + …+ βnXni

Khi xác suất sự kiện xảy ra Y=1

Độ phù hợp của mô hình: được dựa trên chỉ tiêu -2LL (-2 log likelihood),

hệ số này càng nhỏ càng thể hiện độ phù hợp cao, hay chúng ta cũng có thể đánh giá được mô hình dự đoán qua bảng phân loại (Classification table) do SPSS đưa

ra (Trọng & Ngọc 2008)

Kiểm định độ phù hợp tổng quát: Ở hồi quy Binary Logistic, tổ hợp liên hệ tuyến tính của toàn bộ các hệ số trong mô hình ngoại trừ hằng số cũng được kiểm định xem thực sự có ý nghĩa trong việc giải thích cho biến phụ thuộc hay không Căn cứ vào mức ý nghĩa quan sát mà SPSS đưa ra trong bảng Omnibus Tests of Model Coefficients để đưa ra quyết định chấp nhận hay bác bỏ Ho

Ngày đăng: 01/02/2021, 23:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo năng lực cạnh tranh Việt Nam 2009-2010 của Học viện cạnh tranh Châu Á (ACI) Khác
2. Bộ Kế hoạch & Đầu tư (2001). Một số giải pháp ngăn ngừa và hạn chế rủi ro trong triển khai thực hiện các dự án FDI tại Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và dự báo, Hà Nội Khác
3. Cục đầu tư nước ngoài , Bộ KH và ĐT. Báo cáo tổng kết 20 năm thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Khác
4. Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc(2008). Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS Khác
5. Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài sửa đổi bổ sung, Năm 2000 Khác
6. Nguyễn Văn Tuấn, (2005). Đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển kinh tế ở Việt Nam, Nhà xuất bản Tư Pháp, Hà Nội Khác
7. Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23 tháng 01 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ) V/v ban hành hệ thống ngành Kinh tế của Việt Nam Khác
8. Võ Thanh Thu, Ngô Thị Ngọc Huyền, Nguyễn Cương, (2004). Kỹ thuật đầu tư trực tiếp nước ngoài, NXB Thống Kê, Hà Nội Khác
9. Vũ Chí Lộc (1997). Giáo trình đầu tư nước ngoài, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.II- Tiếng Anh Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w