trấn là một trong ba vấn đề cơ bản và bức xúc cần tập trung giải quyết, trong đó yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực tổ chức vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
VƯƠNG HỒNG THÁI
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
NGHỆ AN - 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
VƯƠNG HỒNG THÁI
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60.31.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN VĂN TRUNG
NGHỆ AN - 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau hơn 2 năm học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Vinh, tôi đã được các thầy cô giáo trang bị cho những kiến thức cơ bản về Chính trị, cùng với sự giúp đỡ của bạn bè, gia đình và đồng nghiệp, đến nay tôiđã hoàn thành chương trình đào tạo Cao học ngành Chính trị học Với những kiến thức được trang bị tại trường và những kinh nghiệm trong quá trình công tác của bản
thân, tôi đã tiến hành nghiên cứu và hoàn thành đề tài "Nâng cao chất lượng
đội ngũ CBCC cấp xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay”
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã được gia đình, cơ quan nơi tôi công tác tạo điều kiện thuận lợi để tôi có thời gian tham gia học tập và nghiên cứu Đặc biệt, là sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình, trách nhiệm của thầy giáo TS Nguyễn Văn Trung - Người hướng dẫn khoa học; sự giúp đỡ tạo điều kiện của
cơ quan Huyện ủy, UBND huyện, Ban Tuyên giáo, Ban tổ chức, Văn phòng Huyện ủy, Phòng Nội vụ, Phòng Thống kê và một số Phòng ban khác của huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Bằng tình cảm chân thành và sự kính trọng của mình,
tôi xin trân trọng cảm ơn thầy giáo TS Nguyễn Văn Trung, các ban, phòng,
ngành liên quan đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ,tạo điệu kiện và động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài của mình
Tuy có nhiều cố gắng, nhưng cũng không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót nhất định khi thực hiện đề tài Kính mong các thầy cô giáo, Hội đồngkhoa học quan tâm, giúp đỡ, chỉ bảo để tôi hoàn thiện và phát triển đề tài củamình đi vào cuôc sống
Tôi xin trân trọng cảm ơn
Vinh, tháng 8 năm 2017
Tác giả luận văn
Vương Hồng Thái
Trang 4MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CẢM ƠN 1
MỤC LỤC 2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC HÌNH, BẢNG 4
A MỞ ĐẦU 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ, THỊ TRẤN 13
1.1.Một số khái niệm liên quan đến đề tài 13
1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác cán bộ và chất lượng công tác cán bộ 17
1.3 Những tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã, thị trấn 20
1.4 Sự cần thiết nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, thị trấn 28
Kết luận chương 1 33
Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN 35
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An 35
2.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An 45
2.3 Thực trạng công tác nâng cao chất lượng cho đội ngũ các bộ chủ chốt cấp xã, thị trấn, trên địa bàn huyện Nam trong thời gian qua 53
Kết luận chương 2 75
Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT XÃ, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN TRONG THỜI GIAN TỚI 76
3.1 Quan điểm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An 76
3.2 Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An trong thời gian tới 80 Kết luận chương 3 105
C KẾT LUẬN 106
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
3 CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 6Nam Đàn năm 2016 52 Bảng 2.5 Trình độ lý luận chính trị của CBCC cấp xã, thị trấn trên địa bàn
huyện Nam Đàn năm 2016 52
Trang 7A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá VIII) về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và của chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng” [19, tr.66] Cán bộ là khâu then chốt, trọng yếu của công tác xây dựng Đảng Vị trí của công tác cán bộ gắn liền với quyền hạn, chức trách nhất định ở mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị trong hệ thống chính trị Vai trò của đội ngũ cán bộ được Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo Đảng ta nhấn mạnh: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” Thấm nhuần tư tưởng của Người, trong suốt hơn 86 năm xây dựng và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi cán bộ và công tác cán bộ là những nhân tố quyết định sự thành, bại của cách mạng Mỗi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều đánh dấu những bước trưởng thành, tiến bộ của đội ngũ cán bộ của Đảng ta Vì thế, Đảng ta luôn chú trọng tới yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ đồng bộ, toàn diện, đặc biệt tập trung xây dựng đội ngũ CBCC, coi đây là vấn đề mấu chốt, quyết định toàn bộ sự
nghiệp cách mạng
Xã, phường, thị trấn là nơi tuyệt đại bộ phận nhân dân cư trú, sinh sống CBCC của HTCT cấp cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư Chính vì vậy, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về đổi mới và nâng cao chất lượng HTCT ở cơ sở xã, phường, thị trấn đã xác định: “Xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở xã, phường, thị
Trang 8trấn là một trong ba vấn đề cơ bản và bức xúc cần tập trung giải quyết, trong đó yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực tổ chức vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân, trẻ hóa đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở”
Trong những năm gần đây, đội ngũ cán bộ cấp xã, thị trấn, đã có bước phát triển về chất lượng Tuy nhiên, đội ngũ này vẫn còn những yếu kém, bất cập về kiến thức, năng lực, trình độ, chưa đáp ứng được với những yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ mới, cho nên một số cán bộ cơ sở gặp khó khăn, lúng túng trong thực thi nhiệm vụ Bên cạnh đó, trước tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, một bộ phận CBCC cấp cơ sở có biểu hiện suy thoái về phẩm chất đạo đức, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, vi phạm dân chủ, tham nhũng, lãng phí…
bị kỷ luật, thậm chí bị truy cứu trách nhiệm hình sự Những điều đó đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín và hiệu quả lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; đồng thời đặt ra đòi hỏi bức thiết cần phải đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ CBCC cấp xã, thị trấn
Nam Đàn tự hào là quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong những năm qua Đảng bộ và nhân dân Nam Đàn luôn nổ lực phấn đấu để xây dựng Nam Đàn thành "huyện kiểu mẫu" của cả nước Song để đạt được nhiệm vụ trên và nhất là từ khi Trung ương chọn Nam Đàn là một trong năm huyện điểm của cả nước trong xây dựng Nông thôn mới đã đặt ra thách thức không nhỏ, đòi hỏi toàn thể các cấp chính quyền và nhân dân trong toan huyện phải đoàn kết, thống nhấtphát huy mạnh mẽ nội lực, đồng thời khai thác tốt ngoại lực Một trong những yếu tố hết sức quan trọng và có tính quyết định để đạt được nhiệm vụ này
là phát huy vai trò của đội ngũ CBCC cấp cơ sở
Trang 9Trong giai đoạn hiện nay xác định rõ vai trò của công tác cán bộ, nhất là CBCCcấp cơ sở, tại Nghị quyết số 20-NQ/HU ngày 21 tháng 11 năm 2011 của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện đã xác định: “Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ nhiệm kỳ qua có nhiều chuyển biến tích cực, chất lượng đội ngũ cán bộ được nâng lên cả về trình độ văn hóa, chuyên môn, lý luận chính trị và kinh nghiệm thực tiễn Tuy vậy, so với yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì vẫn còn nhiều hạn chế, cần có giải pháp khắc phục trong thời gian tới Để tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả chiến lược công tác cán bộ, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện ban hành Nghị quyết số 20- NQ/HU về “ công tácquy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ giai đoạn 2011 - 2015 và 2015 - 2020”[3, tr.1]
Trước thực tế nêu trên, việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng, chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nam Đàn cần được thực hiện nghiêm túc để đưa đến những thông tin xác thực và đầy đủ hơn, là căn cứ giúp Ban Thường vụ Huyện ủy có cơ sở xây dựng quy hoạch, đào tạo, sử dụng, đề bạt, bổ nhiệm và quản lý hiệu quả đội ngũ cán bộ Với các lý do trên tác giả
chọn đề tài “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An giai đoạn hiện nay” làm Luận
văn Thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học
Nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCcấp cơ sở có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả hoạt động của bộ máy, hiệu lực và hiệu quả thực thi các chủ trương, chính sách của Đảng, Pháp luật của nhà nước Chính vì vậy, Chính phủ và các
bộ ngành cũng đã tiến hành một số nghiên cứu đánh giá chất lượng đội ngũ cán
bộ, công chức trong đó có cán bộ, công chức cấp xã Quyết định TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ năng lực đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm
Trang 10770/2008/QĐ-vụ, chương trình xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính Nhà nước giai đoạn 2008 - 2010
Vấn đề cán bộ nói chung, CBCC nói riêng là nội dung được nhiều nhà lãnh đạo, các cấp ủy Đảng và các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Tựu trung
có thể chia thành các nhóm công trình sau:
Nhóm các sách chuyên khảo và đề tài cấp nhà nước của các tác giả tiêu biểu, nghiên cứu về những yêu cầu đối với cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ:
Đỗ Minh Cường, (2009), Quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội
Trần Xuân Sầm - Chủ biên, (1994), Cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo
chủ chốt trong hệ thống chính trị đổi mới”, Đề tài KX.05.11, Hà Nội
Bùi Đình Phong, (2002), Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác
cán bộ, Nxb Lao động, Hà Nội
Trần Đình Hoan - Chủ biên, (2009), Đánh giá, quy hoạch, luân chuyển
cán bộ, lãnh đạo, quản lý thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb
chính trị Quốc gia, Hà Nội
Nguyễn Phú Trọng - Chủ biên,(2001), Luận cứ khoa học cho việc nâng
cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội
Qua các công trình trên, các tác giả đã tập trung nghiên cứu, nêu rõ những luận cứ khoa học, đồng thời đặt ra những yêu cầu, tiêu chuẩn đối với cán bộ và việc xây dựng đội ngũ cán bộ nhằm đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Nhóm các công trình luận văn, luận án và các bài viết của một số tác giả nghiên cứu về nội dung, phương pháp, cách thức xây dựng đội ngũ cán bộ, tiêu biểu như:
Trang 11Luận văn Thạc sĩ Khoa học Chính trị của Phan Thị Thúy Vân, “Xây dựng
đội ngũ CBCC cấp phường ở thành phố Cần Thơ hiện nay - Thực trạng và giải pháp” năm 2005
Hồ Thức Tài, "Phân định chức năng lãnh đạo của Đảng và quản lý của
nhà nước ở cấp tỉnh Nghệ An", Luận văn Thạc sỹ khoa học Chính trị, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2008
Nguyễn Thị Hà, “Năng lực lãnh đạo của đội ngũ CBCC cấp cơ sở ở tỉnh
Thanh Hoá hiện nay”, Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, năm 2013
Nguyễn Thành Trung, "Văn hóa chính trị của đội ngũ CBCC cấp cơ sở
khu vực biên giới”, Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2014
Nguyễn Việt Dũng, “Nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã, thị trấn
huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ
khoa học chính trị, Đại học Vinh, năm 2015
Trương Thiết Hùng, “Nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC trong hệ thống
chính trị cấp cơ sở ở tỉnh Nghệ An hiện nay” Luận văn thạc sĩ khoa học chính
trị, Đại học Vinh, năm 2015
Trần Nhật Duật, (2016), ”Nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý của CBCC
cấp xã trong xây dựng nông thôn mới ở Tây Bắc”, Tạp chí Lý luận Chính trị, số
12 năm 2016
Phạm Thanh Tùng (2017), ”Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng ở
xã, phường, thị trấn”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 3 năm 2017
Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có luận văn, luận án nào nghiên cứu về chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nam Đàn giai đoạn hiện nay, để qua đó, có thể đề xuất những giải pháp thiết thực, khả thi nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ này, đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao của công cuộc đổi mới tại địa phương Vì vậy, tác giả chọn nghiên cứu đề tài này trên cơ
Trang 12sở kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu trên, hệ thống lại những kiến thức đã học và góp phần nhỏ bé, đáp ứng đòi hỏi thực tiễn của sự nghiệp xây dựng và phát triển huyện Nam Đàn nói riêng và tỉnh Nghệ An nói chung
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận và phân tích thực trạng những vấn đề đặt
ra trong công tác xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nam Đàn, bên cạnh đó luận văn còn đề xuất những quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã, thị trấn trên địa bàn huyện Nam Đàn
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã, thị trấn
- Nghiên cứu thực trạng nhằm đánh giá sát đúng những kết quả đạt được, những hạn chế còn tồn tại, chỉ rõ những nguyên nhân của những kết quả và những tồn tại hạn chế, rút ra bài học kinh nghiệm trong quá trình xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã, thị trấn của huyện Nam Đàn giai đoạn
2010 - 2015
- Đề xuất những quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã, thị trấn của huyện Nam Đàn trong những năm tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, thị trấn thuộc diện Ban Thường vụ Huyện ủy Nam Đàn, tỉnh Nghệ An quản lý, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của huyện
3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Về thời gian: Nghiên cứu từ năm 2010 đến 2016
Trang 13+ Về không gian: huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
+ Về nội dung: Nghiên cứu chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã, thị trấn, bao gồm các chức danh: Bí thư, Phó Bí thư, Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND, Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND trên các mặt như: trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị, kỹ năng hành chính, công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng, sử dụng, kiểm tra, đánh giá cán bộ, và một số vấn đề liên quan để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cán bộ chủ chốt cấp xã, thị trấn thuộc huyện Nam Đàn trong những năm tới
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
4.1 Cơ sở lý luận
Luận văn nghiên cứu vấn đề chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã, thị trấntrên địa bàn huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An dưới góc độ Chính trị học Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đối với cán bộ cấp chủ
chốt cấp xã, thị trấn
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng; phương pháp lịch sử và
lô gíc; phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh; điều tra, tổng kết thực tiễn… để giải quyết những nhiệm vụ mà đề tài đặt ra
5 Đóng góp về khoa học của luận văn
- Đóng góp về mặt lý luận: Trình bày tương đối có hệ thống quan điểm về xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước ta; đặt ra yêu cầu của sự cần thiết nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp cơ sở hiện nay
- Đóng góp về mặt thực tiễn: làm rõ kết quả đạt được, hạn chế trong quá trình xây dựng đội ngũ CBCC, bước đầu rút ra một số giải pháp từ thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC tại xã, thị trấn của huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
Trang 14Kết quả nghiên cứu dùng làm tài liệu tham khảo và góp phần tổng kết thực tiễn công tác lãnh đạo nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC trên địa bàn huyện Nam Đàn và những địa phương khác
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm 3 chương
Trang 15vụ" [54, tr.109]
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra định nghĩa về cán bộ hết sức khái quát, giản dị và dễ hiểu Theo Người: "Cán bộ là người đem chính sách của Đảng, Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng" [34, tr.33]
Tại Khoản 3, Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức năm 2008, có hiệu lực
từ ngày 01/01/2010: “Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã)
là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”[41, tr.6]
Từ những định nghĩa nêu trên, có thể hiểu "cán bộ" là những người được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong
cơ quan nhà nước (cơ quan dân cử, cơ quan hành chính) và thuộc biên chế của một cơ quan, đơn vị và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước.Như vậy, có nhiều quan niệm về cán bộ, nhưng tựu trung lại, có hai cách hiểu cơ bản:
Trang 16Một là, cán bộ bao gồm những người trong biên chế nhà nước, làm việc
trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể chính trị xã hội, các doanh nghiệp nhà nước và các lực lượng vũ trang nhân dân từ Trung ương đến địa phương và
cơ sở
Hai là, cán bộ là những người giữ chức vụ trong một cơ quan hay một tổ
chức để phân biệt với người không có chức vụ
Như vậy, người cán bộ cấp xã, thị trấn có những đặc trưng sau:
+ Là những người được Đảng, Nhà nước và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị cấp xã, cho phép lấy danh nghĩa của tổ chức đó để hoạt động
+ Là những người giữ một chức vụ, một trọng trách nào đó trong một tổ chức của một hệ thống chính trị cấp xã
+ Thông qua tuyển chọn hay phân công công tác sau khi hoàn thành các chương trình đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị được đề bạt, bổ nhiệm hoặc bầu cử
+ Được hưởng lương và chính sách đãi ngộ căn cứ vào nội dung chất lượng hoạt động và thời gian công tác của họ
Qua đó, hiểu theo nghĩa chung nhất, Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm
kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội
Trang 17tiễn ở cơ sở, là người chủ trì hoạch định chiến lược phát triển, xác định mục tiêu, phương hướng tổ chức thực hiện tất cả các nhiệm vụ đề ra và nhiệm vụ cấp trên giao; kiểm tra, giám sát, kịp thời sửa chữa những hiện tượng lệch lạc, bổ sung, điều chỉnh những chủ trương, giải pháp nếu thấy cần thiết, tổng kết, đúc rút kinh nghiệm để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ đề ra
Hiểu theo nghĩa chung nhất "CBCC" là người có chức vụ, nắm giữ các vị trí quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của tổ chức bộ máy, làm nòng cốt trong các tổ chức thuộc hệ thống bộ máy của một cấp nhất định; người được giao đảm đương các nhiệm vụ quan trọng để lãnh đạo, quản lý, điều hành bộ máy, có vai trò tham gia định hướng lớn, điều khiển hoạt động của bộ máy thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; chịu trách nhiệm trước cấp trên và cấp mình về lĩnh vực công tác được giao
Từ những phân tích trên có thể hiểu đội ngũ CBCC cấp xã, thị trấn là những người đứng đầu quan trọng nhất trong hệ thống của tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội ở cấp xã, thị trấn bao gồm Bí thư, Phó bí thư, Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐND, Chủ tịch, Phó chủ tịch UBND; có tác động chi phối việc chấp hành chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thông qua việc lãnh đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội trên địa bàn nông thôn mà họ phụ trách
1.1.3 Khái niệm “chất lượng”
Theo Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Đà Nẵng, từ “chất lượng” nghĩa là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc [54, tr.144]
Bởi vậy, khi đánh giá chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã, thị trấn một vấn
đề đặt ra là hiểu cho đúng thế nào là chất lượng của đội ngũ cán bộ, mà chất lượng của đội ngũ cán bộ được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau:
Trang 18Một là, chất lượng của đội ngũ cán bộ được thể hiện thông qua hoạt động
của bộ máy chính quyền cấp xã, thị trấn ở việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã thị trấn
Hai là, chất lượng của đội ngũ cán bộ được đánh giá dưới góc độ phẩm
chất đạo đức, trình độ năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao cũng như hiệu quả công tác của họ
Ba là, chất lượng của đội ngũ cán bộ còn được đánh giá dưới góc độ khả
năng thích ứng, xử lý các tình huống phát sinh của người cán bộ đối với chức trách, nhiệm vụ được giao
Có thể khẳng định, chất lượng của đội ngũ cán bộ là tiêu chí tổng hợp chất lượng của từng cán bộ Đối với đội ngũ CBCC cấp xã, thị trấn muốn xác định chất lượng cao hay thấp ngoài việc đánh giá phẩm chất đạo đức phải có hàng loạt tiêu chí đánh giá trình độ năng lực và sự tín nhiệm của nhân dân địa phương đối với người cán bộ đó Chẳng hạn, các lớp đào tạo huấn luyện đã qua; bằng cấp về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng, năng lực quản lý nhà nước, pháp luật; độ tuổi; thâm niên công tác
Quaphân tíchcác vấn đề nêu trên, chúng ta có thể hiểu khái niệm chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã, thị trấn như sau:
- Là tiêu chí tổng hợp đánh giá phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực, khả năng thích ứng và mức độ hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao
- Là những người có vị trí quan trọng, giữ vai trò quyết định trong việc xác định phương hướng, mục tiêu, phương pháp công tác; đề ra các quyết định
và tổ chức thực hiện tốt các quyết định của cấp mình hoặc cấp trên giao Kiểm tra, giám sát, kịp thời chấn chỉnh, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc; bổ sung kịp thời những giải pháp mới khi cần thiết; đúc rút kinh nghiệm, tổng kết thực tiễn
để bổ sung hoàn chỉnh lý luận Đồng thời CBCC cấp xã, thị trấn còn là người giữ vai trò đoàn kết, tập hợp, phát huy sức mạnh của quần chúng thực hiện nhiệm vụ chính trị của xã và xây dựng nội bộ vững mạnh
Trang 19- Là những người đại diện một tổ chức, một tập thể chủ yếu do bổ nhiệm hoặc bầu cử, giữ một chức vụ trọng yếu trong cơ quan Đảng, chính quyền cấp
xã, thị trấn (cấp trưởng, cấp phó); trưởng các đoàn thể cấp xã, thị trấn và là những người chịu trách nhiệm trước cấp trên và cấp mình về mọi hoạt động của địa phương, đơn vị hoặc lĩnh vực công tác được đảm nhận
1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác cán bộ và chất lượng công tác cán bộ
1.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đội ngũ cán bộ nói chung và cán bộ lãnh đạo quản lý nói riêng, trong đó có đánh giá, quy hoạch và luân chuyển cán bộ là sự vận dụng và phát triển sáng tạo những nguyên lý xây dựng Đảng của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh Việt Nam Đó là những lý luận rất quan trọng, di sản tư tưởng vô giá đã trở thành cơ sở lý luận giúp cho sự nghiệp cách
mạng do Đảng lãnh đạo thành công trên cơ sở làm tốt công tác cán bộ
Theo Người, cán bộ là những người có trách nhiệm phục vụ nhân dân, phục vụ Đảng, Nhà nước chứ không phải là người đứng trên hoặc đứng ngoài nhân dân Họ có trách nhiệm đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân, để nhân dân hiểu rõ và tổ chức, vận động nhân dân thi hành Đồng thời, cán bộ cũng là người có trọng trách phải gần gũi nhân dân, nắm được tâm tư, nguyện vọng, những bức xúc của quần chúng nhân dân phản ánh với Đảng, Nhà nước để Đảng, Nhà nước đề ra chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật cho đúng, phù hợp với quy luật vận động, phát triển của xã hội và đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của quần chúng nhân dân
Xuất phát từ lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về cán bộ, Hồ Chí Minh xác định việc xem xét vị trí, vai trò của cán bộ phải đặt trong tổng hoà các mối quan hệ đa chiều Từ thực tiễn hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã khẳng định cán bộ là nhân tố quyết định sự thành hay bại của cách mạng, gắn liền với
Trang 20vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng, Người khẳng định: “Muốn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [35, tr.240], nghĩa là khi đã có chính sách đúng thì sự thành công hay thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và nơi kiểm tra…cả ba điều ấy đều rất quan trọng và quyết định ở người cán bộ
Hồ Chí Minh cho rằng “cán bộ là gốc của mọi công việc” [35, tr.269] nên người cán bộ không phải là “ông quan cách mạng”, càng không phải là người có
“quyền sinh, quyền sát” như Vua, Chúa thời phong kiến, mà chỉ là người đầy tớ của nhân dân, người đại diện, đại biểu cho lợi ích, nguyện vọng của nhân dân,
có trách nhiệm thi hành nhiệm vụ mà nhân dân giao phó Người cán bộ không được cho mình đứng ở vị trí lãnh đạo, chỉ tay năm ngón điều hành công việc mà phải sâu sát cơ sở, bám sát quần chúng nhân dân, xây dựng mối quan hệ gắn bó mật thiệt với quần chúng nhân dân
Đối với Hồ Chí Minh, cán bộ các cấp đều có vị trí quan trọng và có liên
hệ chặt chẽ với nhau trong tổ chức của Đảng Nếu cán bộ lãnh đạo ở cấp Trung ương là những cán bộ cấp chiến lược có trách nhiệm hoạch định, hoặc gắn với việc hoạch định chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, thì cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở lại có trách nhiệm lãnh đạo xây dựng tổ chức đảng và hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, trực tiếp lãnh đạo các tầng lớp nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Họ là những người hội tụ đầy đủ các yếu tố: gần dân nhất, trực tiếp nhất, công việc nhiều nhất nên sự nghiệp cách mạng
có thành công hay không phụ thuộc vào đội ngũ cán bộ này Người khẳng định
“Cấp xã là người gần gũi nhân dân nhất, là nền tảng của hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi” [35, tr.371]
Như vậy, có thể thấy việc xem xét vị trí, vai trò của người cán bộ theo quan điểm của Hồ Chí Minh phải được xác định trong mối quan hệ biện chứng,
đa chiều giữa chủ thể và đối tượng, đặt người cán bộ trong mối quan hệ với
Trang 21quần chúng nhân dân, trong sự tương quan về nhiệm vụ Trong đó, người cán
bộ vừa là chủ thể lãnh đạo, điều hành, vừa là đối tượng và là lực lượng tổ chức thực hiện
Song song với khẳng định vị trí, vai trò của cán bộ, Hồ Chí Minh cũng đồng thời khẳng định tầm quan trọng của công tác cán bộ Theo Ngườicông tác cán bộ là một bộ phận trong công tác xây dựng Đảng, là công tác Đảng liên quan chặt chẽ với việc xác định đường lối, chủ trương, chính sách và nhiệm vụ chính trị, với việc sắp xếp tổ chức, bộ máy, cơ chế và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong cả hệ thống chính trị Công tác cán bộ là hoạt động của chủ thể có đủ thẩm quyền và trách nhiệm pháp lý, nhằm tạo ra một đội ngũ cán bộ
đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, có lập trường chính trị vững vàng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của đất nước Hồ Chí Minh yêu cầu giai cấp vô sản
và chính đảng của mình muốn giành được quyền lãnh đạo, giữ vững được chính quyền thì phải đào tạo được một đội ngũ cán bộ trung thành, đáp ứng được nhiệm vụ cách mạng Đội ngũ cán bộ lãnh đạo đó phải thực sự chuyên nghiệp, tận tâm với nước, tận hiếu với dân, phải là lực lượng rường cột của đất nước, có phẩm chất, trí tuệ, có đạo đức cách mạng trong sáng, có năng lực tổ chức thực hiện Không chỉ yêu cầu, Hồ Chí Minh còn là người tổ chức thực hiện Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người luôn quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Ngay từ những năm 1925, sau khi tiếp nhận học thuyết của chủ nghĩa Mác - Lênin và tìm ra con đường đấu tranh giải phóng dân tộc Người đã trực tiếp mở các lớp đào tạo, huấn luyện cán bộ cho cách mạng
Và sau này khi đã trở thành Chủ tịch nước, vấn đề cán bộ và công tác cán bộ lại được Hồ Chí Minh quan tâm hơn bao giờ hết Đào tạo cán bộ như thế nào, sử dụng cán bộ ra sao, cán bộ cần có những tiêu chuẩn gì? là những nội dung được Hồ Chí Minh đưa ra trong rất nhiều bài nói, bài viết của mình ở các lớp chỉnh huấn, với các cấp, các ngành, các lĩnh vực và đã trở thành cơ sở lý luận chính trị quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng, Nhà nước
Trang 221.2.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác cán bộ và chất lượng công tác cán bộ
Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta thấy rõ được vai trò vị trí của đội ngũ cán bộ nói chung và đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý nói riêng, Vì vậy, Đảng rất coi trọng và luôn đề cao vai trò, vị trí của đội ngũ cán bộ; nhất là cán bộ lãnh đạo quản lý Công tác quản lý cán bộ của Đảng là hoạt động thường xuyên của
cơ quan quản lý cán bộ tác động có định hướng vào đội ngũ cán bộ và từng người, nhằm bồi dưỡng, rèn luyện phát huy khả năng của cả đội ngũ và từng cán
bộ làm cho tổ chức ngày càng vững mạnh, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao trong điều kiện thực tiễn hiện nay của nước ta
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 (khoá VIII) về chiến lược cán bộ thời kỳ CNH, HĐH đất nước đã xác định: “Trong công tác cán bộ phải thể chế hoá thành các quy chế, quy trình, nhằm bảo đảm thống nhất nhận thức và cách tiến hành các hoạt động công tác cán bộ trong phạm vi toàn quốc” [19, tr.12]
Văn kiện Đại hội IX nhấn mạnh và cụ thể hơn: “Sau khi có đường lối đúng, phẩm chất và năng lực của cán bộ là vấn đề có ý nghĩa quyết định, không những quyết định việc tổ chức thực hiện thành công mà còn quyết định cả mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân”, đồng thời, còn nêu nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực và “hoàn thiện chế độ công
vụ, quy chế cán bộ, coi trọng cả năng lực và đạo đức”[22, tr.26]
1.3 Những tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp
xã, thị trấn
1.3.1 Về phẩm chất đạo đức
Người CBCC cấp cơ sở muốn khẳng định được uy tín của mình trước nhân dân, trước hết đó phải là người cán bộ có phẩm chất đạo đức tốt Xây dựng các tiêu chuẩn đạo đức của người cán bộ, công chức và hình thành ở họ các phẩm chất đạo đức tương ứng với vị trí, vai trò, chức năng nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ là việc làm cần thiết và cấp bách, nhất là trong sự nghiệp công nghiệp
Trang 23hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường đang
có sự chuyển biến nhanh chóng và xã hội xuất hiện nhiều vấn đề hết sức phức tạp, trong đó phải kể đến trình độ dân trí và những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội đối với đội ngũ cán bộ cũng ngày một cao hơn Thêm vào đó công tác quản lý
xã hội cũng đòi hỏi người cán bộ phải tạo lập cho mình một uy tín nhất định đối với nhân dân, đặc biệt là những CBCC cấp xã, thị trấn
Việc nâng cao phẩm chất, đạo đức ở người cán bộ, công chức đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm từ rất sớm, nhất là sau khi cách mạng thành công, ngoài việc lãnh đạo, quản lý đất nước, trước những khó khăn phải chống thù trong, giặc ngoài, Người vẫn chăm lo việc giáo dục đạo đức cho người cán
bộ trong các cơ quan chính quyền nhà nước còn non trẻ Người đã xác định:
“Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy” [37, tr.269], khi nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa ngày 20/2/1947, Người nhấn mạnh: “Cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ, của đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán
bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được” [34, tr.54] Người cán
bộ tốt ở đây phải là người có đủ cả năng lực trình độ lẫn đạo đức cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: “Một người cán bộ tốt phải có đạo đức cách mạng” Theo Bác Hồ, muốn có đạo đức cách mạng, mỗi người cán bộ phải hội
tụ được các phẩm chất “trí”, “tín”, “nhân”, “dũng”, “liêm” Khi điều kiện và tình hình cách mạng thay đổi, trong khi nói chuyện với anh, chị em công chức ở Thủ
đô, Bác Hồ đã nhắc nhở: “Chúng ta phải cố gắng thực hiện cần, kiệm,
liêm,chính” Cần, kiệm, liêm, chính là nội dung cốt lõi của đạo đức cách mạng
của mọi người, đặc biệt đối với cán bộ, đảng viên Những đức tính cần có ấy của con người giống như bốn mùa của trời, bốn phương của đất; nếu thiếu một trong những đức tính đó con người không thể trở thành người theo nghĩa tốt đẹp của
từ này
Trang 24Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên
hủ bại, biến thành sâu mọt của dân” [37, tr.392] Ngay từ những ngày đầu xây dựng chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Mình có quyền dùng người thì phải dùng những người có tài năng, làm được việc Chớ vì bà con bầu bạn,
mà kéo vào chức nọ, chức kia Chớ vì sợ mất địa vị mà dìm những kẻ có tài năng hơn mình” [35, tr.105]
Ngày nay, trước yêu cầu của sự phát triển của đất nước, đội ngũ CBCC cấp xã, thị trấn phải được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ và lý luận chính trị, phải am hiểu công việc, lĩnh vực do mình phụ trách, phải có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn Đồng thời, phải có sự ham mê, yêu nghề, chịu khó học hỏi, tích lũy kinh nghiệm; phải có khả năng thu thập thông tin, chọn lọc thông tin, khả năng quyết định đúng đắn, kịp thời
Người CBCC là người đứng đầu, người đứng mũi chịu sào trước mỗi thành bại của đơn vị, chịu trách nhiệm trước mọi quyết định đúng, sai hậu quả tốt xấu Chủ tịch Hồ Chí Minh từng cho rằng “cán bộ nào, phong trào đó”, do
Trang 25vậy là người cán bộ lãnh đạo phải có trình độ, năng lực nhất định, phải trình độ học vấn, lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức quản lý Nhà nước đạt chuẩn mới có khả năng nhìn xa trông rộng, khả năng tiên đoán và phân tích các tình huống để điều hành địa phương, đơn vị theo đúng hướng, tuân thủ pháp luật và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao
Trình độ học vấn: Học vấn không phải là yếu tố duy nhất quyết định chất lượng và hiệu quả hoạt động của cán bộ cấp xã, thị trấnnhưng đây là tiêu chí quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả hoạt động quản lý của đội ngũ này Nó là tiền đề, là nền tảng cho việc nhận thức tiếp thu và đưa đường lối của đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống Hạn chế về trình độ học vấn sẽ dẫn đến hạn chế về khả năng nhận thức và năng lực tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, các quy định của pháp luật, cản trở việc thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao Vì vậy, trình độ học vấn là tiêu chí quan trọng
để đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã, thị trấn
Trình độ lý luận chính trị: Trình độ lý luận chính trị là cơ sở xác định quan điểm lập trường giai cấp công nhân của cán bộ nói chung và cán bộ cấp xã, thị trấn nói riêng Thực tế cho thấy nếu cán bộ có lập trường chính trị vững vàng, hoạt động vì mục tiêu, lý tưởng cách mạng thì sẽ được nhân dân kính trọng, tin yêu và họ sẽ có sức thuyết phục nhân dân trong quá trình tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các chủ trương của đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Khi được nhân dân kính trọng tin yêu, thì họ là những hạt nhân tích cực góp phần lớn vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ hội nhập
và phát triển
Ngược lại, nếu cán bộ nào lập trường chính trị không vững vàng, lý luận chính trị non yếu, hoặc hoạt động vì lợi ích cá nhân, thoái hoá biến chất sẽ làm mất lòng tin ở nhân dân, thì bản thân cán bộ đó khi triển khai tổ chức, thực hiện các công việc sẽ không đạt hiệu quả như mong đợi, thậm chí còn gây hại cho nước cho dân Chính vì thế, để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã, thị
Trang 26trấn cần phải nâng cao trình độ lý luận cho họ
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Trình độ chuyên môn nghiệp vụ được hiểu là những kiến thức chuyên sâu về một lĩnh vực nhất định được biểu hiện qua những cấp độ: sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học, sau đại học Đây là những kiến thức mà cán bộ cấp xã, thị trấn phải có ở một trình độ nhất định để giải quyết công việc theo chức năng, nhiệm vụ được giao Nếu thiếu kiến thức này thì cán bộ sẽ lúng túng và chắc chắn sẽ khó hoàn thành nhiệm vụ
Trình độ quản lý Nhà nước: Quản lý Nhà nước là hệ thống tri thức khoa học về quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhà nước, đó là những kiến thức đòi hỏi các nhà quản lý phải có để giải quyết các vụ việc cụ thể đặt ra trong quá trình quản lý điều hành Quản lý vừa là hoạt động khoa học, vừa là hoạt động nghệ thuật, tức là hoạt động quản lý vừa phải tuân theo các quy luật khách quan dưới ánh sáng của các khoa học trên cơ sở pháp luật của Nhà nước đồng thời vừa phải linh hoạt, uyển chuyển, hợp lý hợp tình người để đạt được các mục tiêu
đã đề ra với hiệu quả cao nhất, mang lại lợi ích cao nhất cho nước cho dân trong điều kiện nguồn lực có hạn Như vậy, yêu cầu cán bộ cấp xã phải am hiểu sâu sắc về kiến thức quản lý và phải vận dụng linh hoạt các kiến thức đó vào giải quyết những vụ việc cụ thể, đó là yêu cầu cơ bản và rất bức thiết Thực tiễn cho thấy, trong quá trình quản lý nếu chỉ dựa vào kinh nghiệm thôi chưa đủ mà còn phải được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng quản lý nhà nước để qua đó nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã, thị trấn Hiện nay, hạn chế lớn nhất của đội ngũ cán bộ cấp xã, thị trấn là kỷ năng quản lý nhà nước Để nâng cao năng lực quản lý Nhà nước thì cần phải có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng kiến thức về quản lý Nhà nước cho cán bộ cấp xã, thị trấn một cách bài bản, tích cực, hiệu quả và kịp thời
Về năng lực đội ngũ cán bộ, được đánh giá trên các tiêu chí như:
Kỹ năng quản lý nhà nước: Nếu kỹ năng quản lý nhà nước trong đội ngũ
CBCC cấp xã, thị trấn không tốt thì giải quyết công việc mất rất nhiều thời gian
Trang 27và hiệu quả quản lý nhà nước thấp; nếu kỹ năng quản lý nhà nước của đội ngũCBCC cấp xã, thị trấn tốt, thì họ sẽ giải quyết công việc nhanh chóng và hiệu quả cao hơn
Phương pháp quản lý nhà nước: Phương pháp quản lý nhà nước của cán
bộ, công công chức cấp cơ sở là cách thức mà cán bộ cấp cơ sở sử dụng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước trên các lĩnh vực ở cơ sở có hiệu quả cao Nếu cán bộ cấp cơ sở có phương pháp quản lý nhà nước tốt thì công việc được giải quyết nhanh chóng, được nhân dân đồng tình ủng hộ, hiệu quả quản lý nhà nước cao; ngược lại nếu cán bộ cấp cơ sở không có phương pháp quản lý nhà nước tốt thì công việc bị ứ đọng, làm phát sinh mâu thuẫn trong nhân dân
1.3.3 Về khả năng hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao
Đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã, thị trấn của nước ta hiện nay đông nhưng không mạnh, nguyên nhân là do những hạn chế về trình độ học vấn, trình độ nghiệp vụ quản lý nhà nước, quản lý kinh tế đã dẫn tới hạn chế trong năng lực quản lý điều hành công việc, lúng túng trong việc lập kế hoạch, trong việc xử lý tình huống khi kế hoạch đưa ra không phù hợp thực tiễn Xây dựng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã, thị trấn vừa phù hợp với công cuộc đổi mới của đất nước, vừa thuận theo ý Đảng, lòng dân; trẻ hóa đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã, thị trấn là nhu cầu, là đòi hỏi khách quan của sự nghiệp xây dựng đất nước trong thời kỳ đổi mới, làm cho đội ngũ cán bộ phát huy được tính năng động, sang tạo, nhạy bén của tuổi trẻ Đội ngũ cán bộ không được trẻ hóa thì thiếu sức sang tạo, bảo thủ, trì trệ Nơi nào mà các cán bộ cấp trên biết lựa chọn và dìu dắt, có nhiều cán bộ mới thì ở đó công việc tiến triển tốt Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: “ cán bộ mới, vì công tác chưa lâu, kinh nghiệm còn ít, có nhiều khuyết điểm, nhưng họ lại có những ưu điểm hơn cán
bộ cũ đó là họ nhanh nhẹn hơn, thường giàu sáng kiến hơn” Đội ngũ cán bộ không được tri thức hóa và chuyên môn hóa thì không thể hoàn thành nhiệm
Trang 28vụ Cán bộ có tư cách, tác phong tốt, phải toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân, dám nói thật, dám bảo vệ cái đúng, đấu tranh chống những tiêu cực, quan liêu, tham nhũng trong đội ngũ cán bộ Có mối quan hệ tốt với các đồng nghiệp và quần chúng nhân dân
Con người ta không phải là thánh hiền, không ai có thể nói mình không có sai lầm, nhưng cần tránh định kiến sẵn Dùng một cán bộ lão thành, cũng có thể
có những ý kiến nhưng nhìn chung về cơ bản vẫn tương đối dễ dàng thông qua; nhưng đề bạt một cán bộ trung niên hay thanh niên thì thường hay có những cái nhìn khắt khe hơn, việc thông qua khó khăn hơn và nhất là thường cho rằng cán
bộ trẻ chưa có đóng góp nhiều cho đất nước.Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói đến vấn đề cán bộ cũ và cán bộ mới Đảng càng phát triển thì cần đến cán bộ mới càng nhiều Theo quy luật tự nhiên, khi cán bộ cũ già đi, “nếu không có cán bộ mới thế vào, thì ai gánh vác công việc của Đảng”
Khi nói về phẩm chất, năng lực của người cán bộ Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nói: Người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, người có tài
mà không có đức thì vô dụng Nhưng chữ “đức” ở đây phải được hiểu cho đúng Không thể coi những người gọi dạ, bảo vâng, đúng cũng gật, sai cũng gật không
có chính kiến gì là những người có chữ “đức” Trong khi đó lại coi những người có chính kiến rõ ràng, dám đấu tranh phê bình, dám chống lại những sai trái như quan liêu, tham nhũng lại bị coi là kiêu căng tự mãn, là thiếu “đức” Nói
về tiêu chuẩn cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng cả đức và tài, trong
đó đức là gốc Bác viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn” Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức; không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [35, tr.252-253]
Yêu cầu đặt ra hiện nay là xây dựng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã, thị trấn đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp
Trang 29quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Họ phải có tinh thần yêu nước sâu sắc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, tận tụy phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, xây dựng được lòng tin trong nhân dân, cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô
tư, có ý thức tổ chức kỷ luật, trung thực, không cơ hội, không tham nhũng quan liêu và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng Có sự hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước Có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực và sức khỏe để làm việc, đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ mà tổ chức và nhân dân giao phó Đặc biệt là đối với các cán bộ giữ cương vị chủ chốt trong chính quyền cấp xã, thị trấn
Cán bộ muốn làm được việc, thì phải được dân tin, dân phục, dân yêu và Người cũng chỉ rõ: “Muốn được dân tin, dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng Nếu không thực hành bốn điều đó, mà muốn được lòng dân, thì cũng như bắc dây leo lên trời” [35, tr.208]
Để đào tạo được đội ngũ CBCC cấp xã, thị trấn vừa có chuyên môn nghiệp vụ, vừa có phẩm chất đạo đức, phẩm chất chính trị, phải xây dựng được những tiêu chuẩn khi lựa chọn cán bộ để sắp xếp, định biên cán bộ cấp xã, thị trấn theo Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã CBCC cấp xã, thị trấn phải được giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng bằng nhiều hình thức khác nhau như: Tự học, tự đào tạo, đưa đi đào tạo tập trung, tại chức cán bộ phải gần gũi với nhân dân, phải am hiểu được tâm tư nguyện vọng của nhân dân
Trang 301.4 Sự cần thiết nângcao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
xã, thị trấn
1.4.1 Các yếu tố chủ yếu trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ chủ chốt cấp xã, thị trấn
1.4.1.1.Công tác đào tạo, bồi dưỡng
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là một khâu quan trọng trong công tác cán bộ Trên cơ sở qui hoạch cán bộ, cần xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
kể cả đào tạo lại cán bộ theo tiêu chuẩn các chức danh cán bộ; chú ý đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nguồn và cán bộ dự bị kế cận các chức danh lãnh đạo Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải chú ý cả hai mặt, học tập ở trường lớp và rèn luyện qua thực tiễn công tác để nâng cao kiến thức, năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực lãnh đạo quản lý, kỹ năng xử lý tình huống Phải quan tâm đào tạo, bồi dưỡng cả chuyên môn nghiệp vụ và lý luận chính trị Khuyến khích phong trào tự học tập, tự rèn luyện để nâng cao trình độ của cán bộ
Khi xem xét vấn đề này, cần chú ý đánh giá Đảng ủy xã, thị trấn, có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBCC HTCT cấp xã, thị trấn hàng năm không; việc
cử cán bộ đi học có căn cứ vào quy hoạch cán bộ không; kế hoạch, thời gian, nội dung, chương trình bồi dưỡng CBCC HTCT cấp xã, thị trấn của Trung tâm Đào tạo bồi dưỡng chính trị cấp huyện có đảm bảo yêu cầu đổi mới, phù hợp với yêu cầu thực tiễn đặt ra đối với xã, thị trấn không; kết quả các lớp bồi dưỡng, tập huấn đó như thế nào; xem xét việc phối hợp giữa đảng ủy xã, thị trấn với cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ để quản lý cán bộ trong thời gian học tập tại trường; chế độ chính sách cho cán bộ đi học
1.4.1.2 Công tác quy hoạch và sử dụng cán bộ
Quy hoạch và sử dụng cán bộ là hai khâu quan trọng của công tác cán bộ nhằm đạt mục đích chung, nó vừa là những điều kiện cần thiết vừa là yêu cầu của khoa học quản lý con người Bởi, nói đến công tác quy hoạch và sử dụng cán bộ tức là nói đến cách thức, phương pháp để lựa chọn dự nguồn và bố trí cán
Trang 31bộ cho đúng người, đúng việc nhằm phát huy năng lực và sở trường của họ để đạt kết quả cao trong công tác Tính khoa học thể hiện ở chỗ nó phải dựa vào cơ
sở lý luận và thực tiễn của quy luật phát triển xã hội, đường lối, nguyên tắc, phương pháp và những yếu tố tâm lý học để đánh giá con người trước khi đưa vào quy hoạch hoặc bố trí sử dụng Nếu làm tốt công tác quy hoạch, sử dụng cán
bộ chúng ta sẽ khắc phục được tình trạng thiếu hụt cán bộ, đồng thời trên cơ sở các đối tượng đã được quy hoạch, chúng ta sẽ lựa chọn được những người có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ năng lực và xếp họ vào đúng chỗ, đúng việc Việc sắp xếp đúng chỗ, đúng việc sẽ tạo điều kiện phát huy tinh thần hăng say làm việc, khuyến khích tinh thần học tập và rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn Chính vì vậy công tác quy hoạch và sử dụng cán bộ có ảnh hưởng rất lớn đối với chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và đội ngũ CBCC cấp xã, thị trấn nói riêng
Vì thế, cần phải nhận thức đầy đủ, thấu đáo các chính sách của Đảng về công tác cán bộ, phải quán triệt sâu sắc các quan điểm về xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã cho các ngành, các cấp, các đơn vị, cũng như cho cán bộ công chức Phải chú trọng công tác quy hoach, sử dụng cán bộ, phải có các phương án
bố trí, sử dụng cán bộ đúng năng lực, sở trường; việc tuyển chọn, việc quy hoạch phải đảm bảo dân chủ, công khai, phải đảm bảo những yêu cầu cụ thể của mỗi chức danh, có như vậy mới xây dựng được đội ngũ cán bộ có chất lượng
cao đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay
1.4.1.3 Chế độ, chính sách
Chính sách cán bộ là một hệ thống qui định thống nhất, đồng bộ trên tất
cả các mặt của công tác cán bộ, bao gồm chính sách đào tạo, bồi dưỡng; chính sách sử dụng, quản lý; chính sách đảm bảo lợi ích vật chất và tinh thần, đảm bảo sự công bằng đối với đóng góp của từng chức danh trong đội ngũ CBCC ở cơ sở; trong đó chính sách đào tạo, bồi dưỡng và chính sách đãi ngộ
Trang 32về vật chất và tinh thần đối với cán bộ là động lực rất quan trọng, khuyến khích tính tích cực và tự học tập, tự rèn luyện của mỗi cán bộ Chính sách cán
bộ tốt phải đảm bảo sự đồng bộ, kết hợp hài hòa lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân; là đòn bẩy nâng cao chất lượng cán bộ và góp phần chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí tại cơ sở
Thực hiện tốt chính sách, chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ CBCC HTCT cấp xã, thị trấn, huyện Nam Đàn là yếu tố quan trọng tạo ra sự yên tâm, tính tích cực, hăng hái trong công tác của cán bộ cơ sở, đồng thời là điều kiện để thu hút cán bộ ở nơi khác về công tác tại xã, thị trấn
Cần xem xét việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, chính sách đãi ngộ, động viên về vật chất và tinh thần của các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể từ tỉnh, huyện và khả năng thực tế của các xã, thị trấn trong huyện
1.4.1.4 Công tác quản lý, kiểm tra, giám sát
Công tác quản lý, kiểm tra, giám sát đội ngũ cán bộ cấp xã, thị trấn là một trong những công việc rất quan trọng, có tác dụng lớn, thúc đẩy việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã, thị trấn Thông qua công tác này mới có thể phát hiện được những tiêu cực, bất cập nảy sinh từ cán bộ và công tác cán bộ Qua đó kịp thời khen thưởng những nhân tố tích cực, ngăn chặn những dấu hiệu
vi phạm, đồng thời xử lý nghiêm minh những sai phạm, có như vậy mới tạo được niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, đồng thời nắm bắt được thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã, thị trấn từ đó có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ cho những cán bộ chưa đạt chuẩn, luân chuyển, thay thế những cán bộ yếu kém, bổ sung, tăng cường những cán bộ có chất lượng tốt cho những địa phương thiếu ổn định, mất đoàn kết nội bộ để
nhanh chóng ổn định tình hình chính trị, tập trung phát triển kinh tế - xã hội
Trang 331.4.2 Tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, thị trấn hiện nay
1.4.2.1 Xuất phát từ yêu cầu phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế
Trong giai đoạn hiện nay, xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế là tất yếu khách quan, các quốc gia trong đó có Việt Nam dù muốn hay không cũng đều chịu tác động của quá trình toàn cầu hóa Để tồn tại, phát triển, Đảng và Nhà nước ta đã và đang từng bước chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng thị trường, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tiếp thu khoa học công nghệ tiên tiến để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội…
Đây cũng là một thách thức lớn đối với Việt Nam do phần đông cán bộ của ta còn bị hạn chế về kinh nghiệm điều hành nền kinh tế mở, có sự tham gia của yếu tố nước ngoài Đòi hỏi cán bộ, trong đó có cán bộ cấp xã, thị trấn phải nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc nhằm nâng cao sức đề kháng, chống lại sự tha hóa, biến chất, lối sống hưởng thụ… nếu không sẽ là thách thức, khó khăn rất khó khắc phục
1.4.2.2 Xuất phát từ yêu cầu đổi mới hệ thống chính trị ở địa phương đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình biến đổi căn bản, toàn diện các hoạt động kinh tế, xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, tạo ra năng suất lao động cao, nhằm đẩy mạnh nhịp độ phát triển đồng thời hướng vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội đề ra Trước xu thế tất yếu của quá trình phát triển và hội nhập quốc tế, nhận
rõ cơ hội và thách thức, Đảng ta xác định mục tiêu tổng quát của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 là đẩy mạnh CNH, HĐH
Từ yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà Nghị quyết Đại hội Đảng nhiều nhiệm kỳ đã đề ra, đòi hỏi Đảng phải xây dựng được đội ngũ cán bộ có bản lĩnh
Trang 34chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực, trình độ, nhất là đối với đội ngũ CBCC cấp xã Trong khi đó, trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, kiến thức về khoa học, công nghệ của đội ngũ cán bộ cấp xã hiện nay nhìn chung còn thấp, chưa thường xuyên được đào tạo, bồi dưỡng là thách thức lớn đặt ra đối với công tác cán bộ của Đảng Vì vậy, Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương (khóa IX) đã ra nghị quyết về “Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn” Đây là một nghị quyết rất cơ bản và toàn diện nhằm xây dựng, củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ ở cơ sở và được xác định là một trong những vấn đề cơ bản và bức xúc cần tập trung giải quyết, là một yêu cầu tất yếu khách quan, nhiệm vụ cấp bách trong giai đoạn hiện nay
1.4.2.3 Xuất phát từ sự phát triển của khoa học, công nghệ, dân trí, văn hóa
Sự phát triển không ngừng của những tiến bộ trong lĩnh vực khoa học - kỹ thuật đã tác động mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt
là việc ứng dụng khoa học vào lĩnh vực lãnh đạo, quản lý Các phương pháp và phương tiện lãnh đạo, quản lý truyền thống đã dần lạc hậu, không còn phù hợp với tình hình mới Trong công tác lãnh đạo, quản lý ngày nay, xu hướng ứng dụng công nghệ để xử lý thông tin ngày càng phổ biến, triển khai rộng rãi, đòi hỏi người cán bộ phải có trình độ, có khả năng giải quyết, xử lý thông chính xác, kịp thời, có thể ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định đó đạt hiệu quả, chất lượng
Cùng với sự phát triển của kinh tế, khoa học - kỹ thuật, thì trình độ văn hóa, trình độ dân trí ngày càng phát triển, cùng với các phương tiện thông tin hiện đại đã giúp người dân nâng cao kiến thức, hiểu biết về kinh tế, văn hóa, xã hội, hiểu rõ hơn về chủ trương, đường lối của của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Trang 35Do vậy, đòi hỏi cán bộ, nhất là đội ngũ CBCC cấp xã, thị trấn cũng phải nâng cao trình độ về chuyên môn, lý luận chính trị, kiến thức hiểu biết, nắm chắc và hiểu sâu các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để lãnh đạo, triển khai thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả, đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời có đủ khả năng để đối thoại, trả lời, giải thích, vận động nhân dân thực hiện phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương
1.4.2.4 Xuất phát từ vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, thị trấn
Đội ngũ CBCC cấp xã, thị trấn có vị trí, vai trò rất quan trọng trong việc giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở; hình ảnh và uy tín của họ là niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, tuy nhiên, trong thực tế hiện nay một số CBCC cấp xã, thị trấn do trình độ, năng lực còn hạn chế, chưa làm tròn bổn phận của mình, còn quan liêu hách dịch, cửa quyền, lên mặt làm “quan cách mạng” của nhân dân; chưa kịp thời giải quyết và phản ánh những yêu cầu chính đáng, cấp thiết của nhân dân, bản thân và gia đình chưa đi đầu gương mẫu trong việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; hiểu biết đường lối, chính sách chưa có hệ thống, chưa sâu sắc, tự trao cho mình những đặc quyền, đặc lợi làm mất dân chủ ở cơ sở, dẫn đến hiệu lực quản lý nhà nước chưa đảm bảo, hiệu quả chưa cao, ảnh hưởng đến sự ổn định của cả hệ thống chính trị
Các thế lực thù địch lợi dụng tình hình để thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình” làm cho lòng tin của nhân dân bị giảm sút… do vậy, để khắc phục hạn chế, tồn tại trên việc chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng, năng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã, thị trấn là cần thiết
Kết luận chương 1
Cán bộ cấp cơ sở có vị trí, vai trò rất quan trọng, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là người gần dân, sát dân, trực tiếp nắm bắt tâm tư,
Trang 36nguyện vọng của dân, là người trực tiếp vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, là người trực tiếp giải quyết những yêu cầu, thắc mắc về lợi ích chính đáng của nhân dân, là người trực tiếp tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy tính tự quản của cộng đồng dân cư Trong những năm qua, phát huy vị trí và vai trò của mình, cấp cơ
sở đã có những đóng góp lớn vào giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh - quốc phòng, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Trước yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thực trạng năng lực của cán bộ cấp cơ sở là chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước, xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, chinh vì vậy vấn đề cấp thiết đặt ra là phải nâng cao năng lực của cán bộ cấp cơ sở nhất là đội ngũ CBCC cấp xã, thị trấn
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NAM ĐÀN,
trong đó có 5 xã miền núi thấp
Hình 1.1 Biểu đồ vị trí huyện Nam Đàn
Trang 38Huyện Nam Đàn nằm giữa hai dãy núi: Đại Huệ ở phía Bắc và Thiên Nhẫn ở phía Tây Nam, bị chia cắt bởi con sông Lam tạo ra hai vùng tả ngạn và hữu ngạn, bên cạnh đó còn có sông Đào chảy từ Ba ra (Thị trấn) xuống Bến Thuỷ cho nên đồng bằng bị chia cắt bởi sông Lam và sông Đào Vùng đồi núi gần sườn Nam dãy Đại Huệ và sườn Đông Bắc dãy Thiên Nhẫn có cao trình trên 200m, độ dốc trên 18
Thời tiết và khí hậu của huyện Nam Đàn tương đối khắc nghiệt, nằm trong vùng khí hậu chuyển tiếp, vừa mang đặc tính mùa Đông lạnh của khí hậu miền Bắc, vừa mang đặc tính nắng nóng của khí hậu miền Nam, được chia thành hai mùa rõ rệt: Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 9, mùa lạnh từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Tổng số giờ nắng trung bình trong năm là 1.637 giờ Độ ẩm không khí bình quân năm 86%, tháng có độ ẩm cao nhất vào tháng 1, 2, đạt trên 90%, tháng có độ ẩm không khí thấp nhất vào tháng 7, chỉ đạt 74%
Tổng dân số toàn huyện, tính đến năm 2015 là 157.626 người, trong đó:
nữ chiếm 50,58% Tổng số hộ gia đình 40.029 hộ, trong đó hộ nông nghiệp là 27.889 hộ, phân bố tương đối đồng đều giữa các vùng Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2015 là 1,1‰ Tổng số lao động trong độ tuổi là 83.247 người chiếm 54,73% dân số, trong đó lao động nữ chiếm 52,4%; lao động nông nghiệp 65,8%; lao động thiếu việc làm thời vụ là 10.700 người chiếm 12,85% tổng số lao động, trong đó nữ chiếm 39,2% Tổng số lao động đang làm việc là 73.679 người tương đương 88,5% tổng số, trong đó ngành nông nghiệp có 62.110 người chiếm 84,3%, ngành công nghiệp - xây dựng cơ bản có 3619 người chiếm 4,9%, ngành dịch vụ có 7742 người chiếm 9,96%, ngành khác có
208 người chiếm 0,28%
Trang 39Bảng 2.1 Đơn vị hành chính huyện Nam Đàn, năm 2015
Trang 40Nguồn nhân lực lao động huyện Nam Đàn khá dồi dào Hàng năm, có khoảng 2.000 người bước vào độ tuổi lao động có nhu cầu tìm kiếm việc làm, chủ yếu là học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông
Lực lượng lao động của huyện khá dồi dào và có nhiều kinh nghiệm trong lao động sản xuất Tuy nhiên, lao động chủ yếu thuần nông nên trình độ tay nghề còn thấp, trình độ chuyên môn kỹ thuật cao còn ít
Huyện Nam Đàn, với vị trí gần trung tâm Thành phố Vinh, có 2 tuyến quốc lộ 15A và quốc lộ 46 chạy qua, kết nối với tỉnh Hà Tĩnh, huyện Đô Lương, Nghi Lộc, huyện Thanh Chương lên của khẩu Thanh Thủy sang nước bạn Lào, Đường du lịch ven sông Lam kết nối Cửa Hội và thị xã Cửa Lò; đất đai tương đối màu mỡ, nguồn nhân lực dồi dào, nhân dân cần cù là những tác động thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống thu nhập và giao thương trao đổi hàng hóa
2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
2.1.2.1 Tình hình kinh tế
Kinh tế tiếp tục tăng trưởng, giai đoạn 2010 - 2015 kinh tế huyện Nam Đàn tăng bình quân 10,05%/năm Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt
30 triệu đồng Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng các ngành năm
2015 là: ngành nông - lâm - thuỷ sản 35,12%; ngành công nghiệp - xây dựng 36,21%; ngành dịch vụ 28,67% Giá trị sản xuất ngành nông lâm thủy sản năm
2015 đạt 1.764,5 tỷ đồng, tăng 4,15% so năm 2014; Giá trị sản xuất ngành công nghiệp - xây dựng 2.440,1 tỷ đồng tăng 122,68% so năm 2014; Giá trị
sản xuất ngành dịch vụ 1.084 tỷ đồng tăng 7,03% so năm 2014 [52, tr.1]
Sản xuất nông nghiệp phát triển khá toàn diện,khai thác tốt mặt bằng đất đai, thực hiện có hiệu quả việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, tích cực áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nhất là các loại giống có hiệu quả kinh tế cao Giá trị sản xuất đất nông nghiệp tăng cao, năm 2010 bình quân đạt