1. Trang chủ
  2. » Vật lí lớp 12

Phân biệt đối xử về quyền văn hóa: Một số vấn đề lý luận, thực tiễn

17 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 484,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh việc quy định các Quốc gia thành viên có nghĩa vụ đảm bảo các quyền được ghi nhận trong điều 15, đoạn 1(a) ICESCR được thực thi mà không có bất kỳ sự phân biệt nào, ghi[r]

Trang 1

PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỀ QUYỀN VĂN HOÁ:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN

ThS NCS Lê Thuý Hương – PGS.TS Vũ Công Giao

“Không phân biệt đối xử” (non-discrimination) là một trong những nguyên

tắc cốt lõi trong luật nhân quyền quốc tế và là một trong những yêu cầu cơ bản trong thực hành các quyền con người, bao gồm quyền văn hóa Bài viết này phân tích các quy định của pháp luật quốc tế về vấn đề chống “phân biệt đối xử” trong quyền văn hóa, khái quát quy định của một số quốc gia trong vấn đề này và đưa ra một số gợi mở trong thực hành chống phân biệt đối xử về quyền văn hóa

1 Các khái niệm cơ bản

“Phân biệt đối xử”

Thuật ngữ “phân biệt đối xử” (discrimination) trong tiếng Anh phái sinh từ thuật ngữ “discrimire” trong tiếng Latinh, có nghĩa là “tách biệt, phân biệt, tạo sự phân

biệt” Kể từ sau Nội chiến ở Hoa Kỳ, thuật ngữ này được sử dụng trong tiếng Anh-Mỹ theo cách hiểu là sự đối xử mang tính định kiến đối với một cá nhân hoàn toàn dựa trên chủng tộc của họ, sau đó được khái quát hóa là thành viên trong một nhóm nhất định không được mong muốn về mặt xã hội hoặc trong một thang bậc xã hội.384

Ở các quốc gia nói chung, việc phân biệt đối xử tồn tại dưới nhiều hình thức trong nhiều lĩnh vực như: tập quán truyền thống, chính sách, pháp luật, ý kiến, thực

tế hành xử… Đó có thể là sự phân biệt đối xử khi nhìn xuống coi thường nói chung hoặc khi sử dụng những nỗ lực gây tranh cãi như áp đặt quota để làm lợi cho những

người bị coi đã và đang là nạn nhân của việc phân biệt đối xử (phân biệt đối xử

ngược) Phân biệt đối xử thể hiện qua những hành xử hoặc việc xem xét, hoặc tạo

sự phân biệt đối với một cá nhân dựa trên nhóm, tầng lớp, hoặc thể loại mà cá nhân

đó bị xem là thành viên Từ điển Cambridge định nghĩa phân biệt đối xử là việc ứng

xử với một cá nhân hay một nhóm dựa trên tư cách thành viên thực tế hoặc giả định của họ trong một nhóm hoặc một giai tầng xã hội nhất định “theo cách tệ hơn so với cách thức mà mọi người thường bị đối xử.”385 Điều này bao gồm phản ứng ban đầu

và tương tác tiếp diễn của một nhóm đối với lãnh đạo nhóm hoặc với nhóm, hạn chế thành viên của một nhóm khỏi những cơ hội hoặc những đặc quyền vốn sẵn có cho nhóm khác, dẫn đến việc loại trừ cá nhân hoặc các thực thể dựa trên việc ra quyết định một cách phi logic hoặc phi lý trí.386

Quan điểm của Liên Hợp Quốc về vấn đề phân biệt đối xử thể hiện qua

384 Giới thiệu về xã hội học Tái bản lần thứ 7 New York: W W Norton & Company Inc, 2009 tr.324

385 Từ điển Cambridge Online Cambridge University

386 Giới thiệu về xã hội học Tái bản lần thứ 7 New York: W W Norton & Company Inc, 2009 tr.334

Trang 2

những tuyên bố như: “Các hành xử mang tính phân biệt đối xử diễn ra dưới nhiều

hình thức, nhưng tất cả các hình thức đó đều dưới dạng loại trừ (exclusion) hoặc từ chối (rejection)387 Các cơ quan của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc đã và đang nỗ lực hoạt động để giúp chấm dứt việc phân biệt đối xử trên toàn thế giới

“Không phân biệt đối xử”

Theo Ủy ban về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa của Liên Hợp Quốc, nguyên tắc không-phân-biệt-đối-xử nhằm “đảm bảo rằng các quyền con người được thực hiện mà không có bất cứ sự khác biệt nào dựa trên sắc tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay các ý kiến khác, dân tộc, xuất thân xã hội, tài sản, nguồn gốc hoặc các tình trạng khác, chẳng hạn như khuyết tật, tuổi tác, tình trạng hôn nhân và gia đình, xu hướng tính dục và bản dạng giới, tình trạng sức khỏe, nơi cư trú, tình trạng kinh tế và xã hội.”388

Các quyền văn hóa

Tất cả mọi người đều là chủ thể của các quyền về văn hóa, quyền về khoa học, quyền bảo vệ các lợi ích về quyền tác giả Các quyền này đảm bảo quyền được tham gia và thụ hưởng các lợi ích của văn hóa và khoa học, liên quan với việc theo đuổi tri thức, hiểu biết và sáng tạo của con người Các quyền này là một phần quan trọng của việc hài hòa xã hội và có quan hệ chặt chẽ với các quyền về giáo dục, tự

do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo Tuy nhiên, các quyền văn hóa không thể được sử dụng để biện minh cho những thực tiễn hành xử phân biệt đối xử với các nhóm nhất định và vi phạm các quyền con người khác.389

Văn hóa, theo định nghĩa của UNESCO, là “tập hợp của những đặc thù độc đáo về tinh thần, vật chất, trí tuệ và cảm xúc của một nhóm xã hội, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, cùng với nghệ thuật, văn học, lối sống, cách thức cùng chung sống, các hệ thống giá trị, các truyền thống và đức tin.” 390 Theo Liên Hợp Quốc, quyền văn hóa là một phần trong tổng thể quyền con người và như các quyền khác, là quyền chung, không thể tách rời, có tính tương hỗ với các quyền khác Việc thúc đẩy và tôn trọng quyền văn hóa rất quan trọng trong việc đảm bảo nhân phẩm

và các yếu tố xã hội tích cực giữa cá nhân và cộng đồng trong một thế giới đa dạng

và đa văn hóa.391

387 Rubin, M.; Hewstone, M.; và các cộng sự (2004) "Social identity, system justification, and social

dominance: Commentary on Reicher, Jost et al., and Sidanius et al" (Bản dạng xã hội, đánh giá hệ thống

và sự thống trị xã hội: Bình luận về tác phẩm của Reicher, Jost và các cộng sự, và Sidanius và các cộng sự) Tâm lý học chính trị 25 (6): 823–844 doi:10.1111/j.1467-9221.2004.00400.x

388 Ủy ban về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, Bình luận chung số 20, Không phân biệt đối xử trong các

quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, 2009

389 https://www.escr-net.org/rights/cultural

390 Tuyên bố về Đa dạng văn hóa của UNESCO

http://www.unesco.org/new/fileadmin/MULTIMEDIA/HQ/CLT/pdf/5_Cultural_Diversity_EN.pdf

391 Bình luận chung số 21, đoạn 1

Trang 3

Quyền văn hóa trước hết là quyền tham gia vào đời sống văn hóa Quyền này

có những yếu tố cá nhân và tập thể; các quyền này có thể được thực hành bởi một

cá nhân, trong sự liên kết với những người khác, và trong một cộng đồng hoặc một nhóm Vì thế, nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử đòi hỏi các quốc gia

có nghĩa vụ phải đặc biệt chú ý đến các quyền văn hóa của các nhóm thiểu số và các nhóm dân tộc bản địa, cũng như các nhóm yếu thế khác, trao cơ hội cho họ để bảo tồn nền văn hóa của họ cũng như định hình sự phát triển về văn hóa và xã hội, bao gồm cả sự liên quan đến ngôn ngữ, đất đai và các nguồn lực tự nhiên

Quyền của tất cả mọi người trong việc tham gia vào đời sống văn hóa liên quan chặt chẽ đến các quyền văn hóa khác được ghi nhận trong ICESCR, cụ thể như: Quyền hưởng lợi từ những thành tựu khoa học và ứng dụng khoa học (Điều

15, đoạn 1(b)); Quyền của tất cả mọi người được hưởng lợi từ việc bảo vệ các thành tựu tinh thần và vật chất qua việc sử dụng bất kỳ một sản phẩm khoa học, văn học hoặc nghệ thuật nào mà họ là tác giả (Điều 15, đoạn 1(c)); quyền tự do đối với các hoạt động nghiên cứu khoa học hoặc hoạt động sáng tạo (Điều 15, đoạn 3); quyền được giáo dục (các Điều 13 và 14) theo đó các cá nhân và cộng đồng đều có quyền được giáo dục, vượt qua các giá trị, tôn giáo, truyền thống, ngôn ngữ và các yếu tố văn hóa khác, để tăng cường một không gian hiểu biết lẫn nhau và tôn trọng các giá trị văn hóa; quyền tự quyết của các dân tộc (Điều 1) và quyền có những tiêu chuẩn sống thích đáng (Điều 11).392

Việc công nhận đầy đủ quyền của tất cả mọi người trong việc tham dự vào đời sống văn hóa đòi hỏi việc thực hiện những bước cần thiết để bảo tồn, phát triển

và phát huy khoa học và văn hóa, cũng như đảm bảo sự tôn trọng quyền tự do không thể tách rời đối với các hoạt động nghiên cứu khoa học và sáng tạo, lần lượt phù hợp với đoạn 2 và 3 điều 15 ICESCR.393

2 Quy định của luật nhân quyền quốc tế về chống phân biệt đối xử về quyền văn hóa

2.1 Bình đẳng và tự do không bị phân biệt đối xử được xem là những quyền con người cơ bản

Theo Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới (UDHR), “Tất cả mọi người sinh ra

tự do và bình đẳng về nhân phẩm và các quyền.” Đây chính là cơ sở nền tảng cho

các quy định luật nhân quyền quốc tế Nguyên tắc không-phân-biệt-đối-xử đi liền với nguyên tắc bình đẳng Mặc dù Tuyên ngôn không có giá trị bắt buộc, song các quốc gia đã cam kết thực hiện các quyền này thông qua việc ký kết các công ước nhân quyền quốc tế Những công ước quốc tế liên quan đến luật chống phân biệt đối

xử có thể kể đến như: Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR),

392 Bình luận chung số 21, đoạn 2

393 Bình luận chung chung số 13 (1999) đoạn 46, số 14 (2000) đoạn 33, số 17 (2005) đoạn 28, số 18 (2005) đoạn 22

Trang 4

Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR), Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW), Công ước quốc

tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (ICERD), v.v… Theo đó, khung pháp lý quốc tế về nhân quyền bao gồm các văn kiện quốc tế đấu tranh chống những dạng thức phân biệt đối xử cụ thể, bao gồm phân biệt đối xử chống lại các dân tộc bản địa, người nhập cư, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, phụ nữ, chống phân biệt đối xử về chủng tộc, tôn giáo, hoặc dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới

Nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử còn là nền tảng cho pháp quyền Tuyên bố của Hội nghị cấp cao về Pháp quyền ghi nhận: “tất cả mọi người, mọi thể chế và tổ chức, khối công lập và tư nhân, kể cả bản thân Nhà nước, chịu trách nhiệm về các luật công bằng và bình đẳng, và có quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng không có bất cứ sự phân biệt đối xử nào” (đoạn 2) Các quốc gia cũng tôn trọng các quyền bình đẳng của tất cả mọi người mà không có sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, giới, ngôn ngữ hoặc tôn giáo (đoạn 3).394

Lời mở đầu, Điều 1 (3) và Điều 55 của Hiến chương Liên hợp quốc và Điều 2(1) Tuyên ngôn nhân quyền thế giới cấm phân biệt đối xử trong việc thụ hưởng các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa Các Công ước quốc tế quy định về xóa bỏ sự phân biệt chủng tộc, phân biệt đối xử với phụ nữ, và quyền của người tỵ nạn, người không quốc tịch, trẻ em, người lao động di cư và các thành viên gia đình họ, người khuyết tật, bao gồm việc thực hiện các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, xóa bỏ phân biệt đối xử trên một số lĩnh vực cụ thể như việc làm và giáo dục Ngoài quy định chung về bình đẳng và không phân biệt đối xử trong cả hai Công ước ICCPR và ICESCR, Điều 26 ICCPR còn bao gồm sự đảm bảo độc lập về bảo vệ hiệu quả và bình đẳng trước và theo pháp luật của tất cả mọi người.395

Về hệ lụy của việc phân biệt đối xử, Bình luận chung số 20 (về không phân biệt đối xử về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, Khoản 2 Điều 2, E/C.12/GC/20, 02/7/2009) của Ủy ban về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đã nêu rõ: “Phân biệt đối xử hạn chế việc hưởng thụ các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của một số lượng lớn dân cư trên thế giới Sự tăng trưởng kinh tế bản thân nó không đưa đến sự phát triển bền vững, do vậy, một số nhóm và cá nhân vẫn đang phải đối mặt với sự bất bình đẳng về kinh tế - xã hội mà thường xuất phát từ những hình thức phân biệt đối xử cố hữu, mang tính lịch sử và hiện tại.”396

Toàn bộ Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR) ghi

nhận các nguyên tắc không phân biệt đối xử và bình đẳng Lời mở đầu của Công

394 https://www.un.org/ruleoflaw/thematic-areas/human-rights/equality-and-non-discrimination/

395 Bình luận chung số 20, đoạn 5

396 Bình luận chung số 20, đoạn 1

Trang 5

ước nhấn mạnh “quyền bình đẳng và không thể tách rời của tất cả mọi người” Công ước ghi nhận quyền của “mọi người” với các quyền khác nhau trong Công ước, ví dụ như, cùng với các quyền khác, là quyền làm việc, quyền được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi, tự do công đoàn, an sinh xã hội,

quyền có tiêu chuẩn sống thích đáng, quyền về y tế và giáo dục, quyền tham gia vào

đời sống văn hóa.397

Không phân biệt đối xử và bình đẳng là những yếu tố cơ bản của luật nhân quyền quốc tế và là yếu tố thiết yếu để thực thi và thụ hưởng các quyền kinh tế, xã hội

và văn hóa Điều 2(2) Công ước đòi hỏi các quốc gia thành viên “đảm bảo rằng các quyền trong Công ước sẽ được thực thi mà không có bất cứ sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị và quan điểm khác, dân tộc, nguồn gốc xã hội, tài sản, dòng dõi và các địa vị khác”.398 Công ước cũng quy định các nguyên tắc về không phân biệt đối xử và bình đẳng đối với các quyền cá nhân Điều 3 yêu cầu các quốc gia đảm bảo quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong việc hưởng thụ các quyền theo Công ước.399 Nghĩa vụ của các quốc gia thành viên theo Điều 3 ICESCR được giải thích trong Bình luận chung số 16 của Uỷ ban về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, Bình luận chung số 5 và số 6 của Uỷ ban về các quyền kinh

tế, xã hội và văn hóa về quyền của người khuyết tật và của người cao tuổi

Bình luận chung số 20 của Uỷ ban về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa làm rõ cách hiểu của Uỷ ban về Điều 2(2) ICESCR, bao gồm phạm vi trách nhiệm quốc gia thành viên (Phần II), những cơ sở phân biệt đối xử bị cấm (Phần III) và việc thực thi tại quốc gia (Phần IV)

2.2 Về những yếu tố là cơ sở cho sự phân biệt đối xử bị cấm

Điều 2(2) ICESCR liệt kê những căn cứ là nền tảng cho sự phân biệt đối xử

bị cấm, đó là: chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hay nguồn gốc xã hội, tài sản, nguồn gốc xuất thân, hoặc “các tình trạng khác”, bao gồm tình trạng khuyết tật, tuổi tác, quốc tịch, tình trạng hôn nhân và gia đình, xu hướng tình dục và bản dạng giới, tình trạng sức khỏe, nơi ở, tình trạng kinh tế và xã hội

Sự phân biệt đối xử bao gồm mọi hình thức phân biệt, loại trừ, hạn chế hoặc

ưu đãi hoặc các biện pháp đối xử khác biệt mà trực tiếp hoặc gián tiếp dựa trên nền tảng phân biệt đối xử và có sự cố ý hoặc gây ra hậu quả vô hiệu hoá hoặc suy yếu

sự ghi nhận và thụ hưởng hoặc thực hiện các quyền của Công ước một cách bình đẳng.400 Phân biệt đối xử cũng bao gồm sự khuyến khích phân biệt và quấy rối.401

397 Bình luận chung số 20, đoạn 3

398 Bình luận chung số 20, đoạn 2

399 Bình luận chung số 20, đoạn 4

400 Định nghĩa tương tự xem ở Điều 1 ICERD, Điều 1 CEDAW và Điều 2 CRPD, và Bình luận chung số 18, các đoạn 6 và 7 của Uỷ ban Nhân quyền

401 Bình luận chung số 20, đoạn 7

Trang 6

2.3 Về phạm vi trách nhiệm của Nhà nước

Điều 2(2) ICESCR yêu cầu các quốc gia thành viên đảm bảo không có sự phân biệt đối xử trong khi thực hiện các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa thể hiện trong Công ước Để “đảm bảo” các quyền trong Công ước sẽ được thực thi không

có bất cứ sự phân biệt đối xử nào, các quốc gia thành viên cần xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử, kể cả chính thống hay trọng yếu402, bao gồm phân biệt đối xử hình

thức (formal discrimination), tức là hiến pháp, luật và các văn bản chính sách của

quốc gia không được phân biệt đối xử dựa trên các yếu tố nền tảng bị cấm; và phân

biệt đối xử thực tế (substantive discrimination), tức là phải chú trọng đầy đủ tới các

nhóm cá nhân đang phải chịu những kỳ thị thường trực hoặc có tính lịch sử thay vì chỉ thuần túy so sánh sự đối xử hình thức với các cá nhân đó trong những hoàn cảnh tương tự; cần áp dụng ngay lập tức những biện pháp cần thiết để ngăn ngừa, giảm bớt và xóa bỏ các điều kiện và thái độ gây ra hoặc duy trì việc phân biệt đối xử hình thức hoặc phân biệt đối xử trên thực tế.403

Bên cạnh việc quy định các Quốc gia thành viên có nghĩa vụ đảm bảo các quyền được ghi nhận trong điều 15, đoạn 1(a) ICESCR được thực thi mà không có bất kỳ sự phân biệt nào, ghi nhận các hoạt động văn hóa và không can thiệp vào việc hưởng thụ và phát triển văn hóa, Công ước còn ghi nhận “tăng dần” các quyền nêu trong những điều khoản và ghi nhận rằng những vấn đề về nguồn lực bị hạn chế ngày càng nghiêm trọng, nghĩa là Công ước yêu cầu các Quốc gia thành viên phải

có nghĩa vụ liên tục trong việc tiến hành các biện pháp phù hợp nhằm đảm bảo đầy

đủ quyền của mọi người tham dự vào đời sống văn hóa.404

Các biện pháp tiêu cực ảnh hưởng đến quyền của tất cả mọi người tham dự vào đời sống văn hóa đã bị nghiêm cấm Do vậy, bất kỳ một biện pháp tương tự nào được

áp dụng thì sau đó, Quốc gia thành viên phải chứng minh được rằng nó được sử dụng sau khi đã có sự cân nhắc kĩ càng về việc sử dụng các biện pháp thay thế khác và biện pháp đó là chính đáng, trên cơ sở đảm bảo các quyền ghi nhận trong Công ước.405

Những biện pháp đó là hợp pháp nếu hợp lý, khách quan và cân xứng, nhằm xóa bỏ sự phân biệt đối xử thực tế và cần được chấm dứt khi sự bình đẳng cơ bản đã được thiết lập bền vững Tuy nhiên, những biện pháp tích cực đó có thể cần được duy trì thường xuyên một cách ngoại lệ, ví dụ như dịch vụ dịch ngôn ngữ các dân tộc thiểu số và việc tiếp cận dịch vụ và điều kiện y tế thuận lợi cho những người bị khiếm khuyết về các giác quan.406

402 Xem Bình luận chung số 16

403 Bình luận chung số 20, đoạn 8

404 Bình luận chung số 3 (1990), đoạn 9, Số 13 (1999), đoạn 44, số 14 (2000), đoạn 31, Số 17 (2005), đoạn

26, số 18 (2005) đoạn 20 Xem nguyên tắc Limburg về việc thực thi các Công ước quốc tế về quyền Kinh

tế, văn hóa và xã hội, đoạn 21

405 Xem Bình luận chung số 3 (1990), đoạn 9, số 13 (1999), đoạn 45, số 14 (2000), đoạn 32, số 17 (2005), đoạn 27 và số 18 (2005), đoạn 21

406 Bình luận chung số 20, đoạn 9

Trang 7

Bình luận chung số 20 giải thích các hình thức phân biệt đối xử có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp (đoạn 10), xảy ra trong lĩnh vực tư nhân (đoạn 11), có tính chất

hệ thống (đoạn 12), là thành viên của một nhóm (đoạn 16), bị phân biệt đối xử đa tầng (đoạn 17) Trường hợp cho phép đối xử khác biệt là khi các biện pháp đối xử khác biệt có những giải trình hợp lý và khách quan về sự khác biệt đó Điều này bao gồm cả việc đánh giá mục tiêu và hậu quả của những biện pháp này xem có hợp pháp không, có phù hợp với bản chất của các quyền trong Công ước và có nhằm mục đích duy nhất là thúc đẩy phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ hay không; phải có mối quan hệ tương xứng, hợp lý và rõ ràng giữa những mục tiêu và biện pháp được thực hiện và ảnh hưởng của việc thực hiện các biện pháp đó Việc loại

bỏ những biện pháp khác biệt trên cơ sở thiếu nguồn lực cần thiết sẽ không được chấp thuận là hợp lý và khách quan trừ khi quốc gia thành viên đã thực hiện mọi nỗ lực với việc sử dụng tất cả các nguồn lực hiện có nhằm xử lý và xóa bỏ sự phân biệt đối xử, với tư cách là một vấn đề ưu tiên (đoạn 13)

Theo luật quốc tế, việc quốc gia hành động một cách thiếu thiện ý trong việc tuân thủ nghĩa vụ theo Điều 2 (2) nhằm đảm bảo các quyền trong Công ước được thực hiện mà không có sự phân biệt đối xử bị coi là hành vi vi phạm Các quyền trong Công ước bị vi phạm qua hành vi trực tiếp hoặc thiếu sót của quốc gia thành viên, bao gồm cả thông qua hành vi của các cơ quan hoặc đơn vị ở cấp quốc gia và địa phương Các quốc gia thành viên cũng cần đảm bảo rằng họ không có hành động phân biệt đối xử trong hợp tác và hỗ trợ quốc tế, và có những nỗ lực đóng góp vào việc này.407

2.4 Về việc thực thi nguyên tắc không phân biệt đối xử ở cấp quốc gia

ICESCR yêu cầu các quốc gia thành viên hạn chế các hành động phân biệt đối xử; tiến hành những biện pháp cụ thể, có cân nhắc và có mục tiêu để đảm bảo xóa bỏ sự phân biệt đối xử trong việc thực hiện các quyền trong Công ước; đảm bảo quyền tham gia của các cá nhân, các nhóm có thể bị phân biệt đối xử vào các quá trình ra quyết định về việc lựa chọn các biện pháp chống phân biệt đối xử; thường xuyên đánh giá hiệu quả thực tế của các biện pháp được lựa chọn.408

Các hành động của quốc gia sẽ bao gồm việc ban hành, thực thi và sửa đổi các quy định pháp luật để giải quyết vấn đề phân biệt đối xử409; các chiến lược, chính sách và kế hoạch hành động nhằm giải quyết sự phân biệt đối xử cả chính thống và trọng yếu ở cả khu vực công và khu vực tư nhân, áp dụng với tất cả các nhóm, liên quan đến các yếu tố phân biệt đối xử bị cấm; thực hiện các biện pháp đặc biệt tạm thời để thúc đẩy bình đẳng; áp dụng những biện pháp phòng ngừa thích

407 Bình luận chung số 20, đoạn 14

408 Bình luận chung số 20, đoạn 36

409 Bình luận chung số 20, đoạn 37

Trang 8

hợp để tránh việc xuất hiện thêm những nhóm mới bị đẩy ra ngoài lề xã hội410; áp dụng cách tiếp cận chủ động, toàn diện, nhằm xóa bỏ sự phân biệt đối xử có tính hệ thống và sự phân biệt trên thực tế411; đưa ra những cơ chế và thiết chế để thực hiện các biện pháp điều chỉnh và tính chịu trách nhiệm nhằm giải quyết hiệu quả tác động tiêu cực của sự phân biệt đối xử riêng lẻ và hệ thống trong các lĩnh vực kinh

tế, xã hội và văn hóa.412; thực hiện nghĩa vụ giám sát hiệu quả việc thực hiện các biện pháp xóa bỏ phân biệt đối xử, sử dụng các chỉ số và mốc chuẩn phù hợp, khu biệt các yếu tố phân biệt đối xử bị cấm.413

Thực thi nguyên tắc không phân biệt đối xử ở cấp quốc gia được áp dụng xuyên suốt thống nhất khi quốc gia thực hiện các nghĩa vụ pháp lý chuyên biệt Quyền của tất cả mọi người tham dự vào đời sống văn hóa, cũng như các quyền khác được ghi nhận trong Công ước, quy định ba loại hoặc mức độ nghĩa vụ của các Quốc gia thành viên:

(a) nghĩa vụ tôn trọng: yêu cầu quốc gia thành viên không được can dự trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc thực hiện quyền tham dự vào đời sống văn hóa;

(b) nghĩa vụ bảo vệ: yêu cầu quốc gia thành viên có những biện pháp ngăn không cho bên thứ 3 can dự vào quyền tham dự vào đời sống văn hóa;

(c) nghĩa vụ thực hiện: yêu cầu các Quốc gia thành viên có những biện pháp pháp lý, hành chính, tư pháp phù hợp và các biện pháp thúc đẩy khác nhằm mục tiêu đảm bảo đầy đủ các quyền ghi trong điều 15, đoạn 1(a) của Công ước.414

2.5 Về việc thực thi nguyên tắc cấm phân biệt đối xử về quyền văn hóa

Bình luận số 21 đoạn 3 nêu rõ: Quyền của tất cả mọi người được tham gia vào đời sống văn hóa cũng được ghi nhận trong Điều 27 đoạn 1 Tuyên ngôn nhân quyền thế giới (“tất cả mọi người có quyền tự do tham gia vào đời sống văn hóa của cộng đồng”); quyền bình đẳng trong việc tham gia vào các hoạt động văn hóa - Điều 5 (e) (vi) Công ước quốc tế về việc loại bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; quyền tham gia đầy đủ vào đời sống văn hóa nghệ thuật - Điều 31, đoạn 2 Công ước Quyền Trẻ em; quyền tiếp cận và tham gia vào đời sống văn hóa - Điều 43, đoạn 1 (g) Công ước quốc tế về bảo vệ các quyền của người lao động di trú và các thành viên gia đình họ; và quyền tham gia bình đẳng với những người khác vào đời sống văn hóa - Điều 30, đoạn 1 Công ước về quyền của người khuyết tật Công ước quốc

410 Bình luận chung số 20, đoạn 38

411 Bình luận chung số 20, đoạn 39

412 Xem các Bình luận chung số 3 và 9 Xem thêm đánh giá của Uỷ ban đối với báo cáo của các quốc gia thành viên Công ước

413 Xem các Bình luận chung của Uỷ ban về giáo dục (số 13), sức khoẻ (số 14), nước (số 15), quyền tác giả (số 17), an sinh xã hội (số19) và các hướng dẫn báo cáo của Uỷ ban (E/C.12/2008/2)

414 Bình luận chung số 13 (1999), đoạn 46 và 47, số 14 (2000), đoạn 33, số 17 (2005), đoạn 28 và số 18 (2005), đoạn 22 Xem nguyên tắc Limburg về việc thực thi các Công ước quốc tế về quyền Kinh tế, văn hóa và xã hội, đoạn 6

Trang 9

tế về các quyền dân sự và chính trị, các Điều 17,18, 19, 21 và 22 ghi nhận quyền của người thuộc dân tộc thiểu số được có đời sống văn hóa riêng, được biểu đạt và thực hiện tín ngưỡng riêng và sử dụng ngôn ngữ riêng của họ trong công việc riêng

và với cộng đồng (Điều 27 ICCPR), được tham gia hiệu quả vào đời sống văn hóa415, về quyền của người bản xứ đối với các cơ sở văn hóa, đất đai thừa kế, nguồn tài nguyên thiên nhiên và kiến thức dân gian bản địa416 và về quyền phát triển417

Thực thi nguyên tắc cấm phân biệt đối xử về quyền văn hóa tức là áp dụng thường xuyên, liên tục nguyên tắc này trong thực thi các nghĩa vụ của quốc gia thành viên trong việc đảm bảo các quyền văn hóa, đòi hỏi bên Nhà nước có sự kiềm chế (không can thiệp vào việc thực hành văn hóa và tiếp cận với hàng hóa và dịch

vụ về văn hóa) và hành động tích cực (đảm bảo các điều kiện tiền đề cho sự tham gia, tạo điều kiện và thúc đẩy đời sống văn hóa, tiếp cận và bảo tồn hàng hóa văn hóa) nhằm thực hiện các nghĩa vụ của Nhà nước phải tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền này

Quyền tham gia vào đời sống văn hóa (Điều 15, đoạn 1(a) ICESCR) có thể xem như một quyền tự do.418 Quyết định mang tính cá nhân hay tập thể của một người về việc thực hiện quyền tham gia vào đời sống văn hóa là một lựa chọn văn hóa và, do đó, cần được công nhận, tôn trọng và bảo vệ trên cơ sở bình đẳng Điều này đặc biệt quan trọng đối với tất cả các dân tộc bản địa, những người có quyền thụ hưởng đầy đủ, với tư cách là một tập thể hoặc cá nhân, tất cả các quyền con người và các quyền tự do cơ bản được công nhận trong Hiến chương Liên Hợp Quốc, Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới và luật nhân quyền quốc tế, cũng như Tuyên bố của Liên hợp quốc về quyền của người bản địa.419 Quyền tham gia ở đây được hiểu theo ba khía cạnh không thể tách rời là (a) sự tham gia vào, (b) tiếp cận,

và (c) đóng góp vào đời sống văn hóa.420 Do đó, quyền này không thể bị cản trở vì nguyên nhân phân biệt đối xử

Đảm bảo thực thi nguyên tắc cấm phân biệt đối xử về quyền văn hóa còn có nghĩa là đảm bảo các điều kiện cần thiết cho việc nhận định quyền của tất cả mọi người tham dự vào đời sống văn hóa trên cơ sở bình đẳng và không phân biệt, bao gồm:

415 Điều 15 - Tuyên ngôn về quyền của người thuộc dân tộc thiểu số về dòng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ, Điều

2, đoạn 1 và Tuyên bố khung về việc bảo vệ các dân tộc thiểu số (Hội đồng châu Âu, ETS số 158)

416 Tuyên ngôn của Liên Hợp Quốc về các quyền của các dân tộc bản địa, đặc biệt là các Điều 5,8 và 10-13 Công ước của ILO số 169 liên quan đến người bản địa, tộc người và các quốc gia độc lập, đặc biệt là các Điều 2, 5, 7, 8, and 13–15

417 Tuyên ngôn về quyền phát triển (Nghị quyết 41/128 của Đại hội đồng), Điều 1 Trong Bình luận chung số

4, đoạn 9, Ủy ban đã công nhận rằng quyền đó không thể được xem xét tách biệt khỏi các quyền con người khác được ghi nhận trong hai công ước quốc tế về nhân quyền năm 1966 và những văn bản pháp lý quốc tế khác về nhân quyền

418 Bình luận chung số 21, đoạn 6

419 Bình luận chung số 21, đoạn 7

420 Bình luận chung số 21, đoạn 15

Trang 10

a) Khả năng sẵn có của các sản phẩm và dịch vụ văn hóa được cung cấp cho

tất cả mọi người thụ hưởng; những lợi thế về thiên nhiên; những yếu tố khác cho phép dân tộc tạo nên những đặc tính và sự đa dạng sinh học riêng, những sản phẩm văn hóa phi vật thể tạo nên tính riêng biệt và đóng góp vào sự đa dạng văn hóa của cá nhân và cộng đồng; mối quan hệ tương hỗ văn hóa phát sinh khi những nhóm, những dân tộc thiểu số và cộng đồng khác nhau có thể tự do chia sẻ trên một lãnh thổ chung;

b) Khả năng tiếp cận: Tiếp cận văn hóa bao gồm bốn yếu tố chính: không

phân biệt đối xử, khả năng tiếp cận vật lý, khả năng tiếp cận kinh tế và khả năng tiếp cận thông tin Các quốc gia phải đảm bảo rằng mọi người đều có cơ hội cụ thể, hiệu quả và giá cả phải chăng để thưởng thức văn hóa mà không bị phân biệt đối xử Việc tiếp cận như vậy phải mở rộng ra khu vực nông thôn và thành thị, tập trung vào người khuyết tật, người già và người nghèo Các quốc gia phải đảm bảo rằng mọi người đều có quyền tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin về văn hóa bằng ngôn ngữ họ chọn

c) Khả năng chấp nhận Liên quan đến các biện pháp để hiện thực hóa các

quyền văn hóa, các quốc gia cần tổ chức tham vấn với các cá nhân và cộng đồng liên quan để đảm bảo rằng hành động bảo vệ đa dạng văn hóa được họ chấp nhận

d) Khả năng thích ứng Các quốc gia cần áp dụng cách tiếp cận linh hoạt đối với

các quyền văn hóa và tôn trọng sự đa dạng văn hóa của các cá nhân và các cộng đồng

e) Tính phù hợp Việc hiện thực hóa các quyền văn hóa phải phù hợp trong

bối cảnh liên quan, đặc biệt Nhà nước cần chú ý đến các giá trị văn hóa có liên quan như lương thực và tiêu thụ thực phẩm, sử dụng nước, cung cấp dịch vụ y tế và giáo dục, thiết kế và xây dựng nhà ở, cũng như các yếu tố khác

Nguyên tắc cấm phân biệt đối xử về quyền văn hóa cần được tuân thủ triệt để

khi áp dụng các giới hạn quyền văn hóa Về nguyên tắc, không ai có thể viện dẫn

sự đa dạng văn hóa để xâm phạm vào các quyền con người được đảm bảo với luật pháp quốc tế, cũng như hạn chế các quyền đó.421 Việc áp dụng giới hạn đối với quyền của tất cả mọi người tham dự vào đời sống văn hóa có thể cần thiết trong một

số trường hợp, đặc biệt là trong các hoạt động tiêu cực, bao gồm những hoạt động được coi là truyền thống, nhưng xâm phạm đến quyền con người Việc giới hạn đó phải có mục đích chính đáng, phù hợp với bản chất các quyền và đặc biệt cần thiết cho việc thúc đẩy lợi ích chung của xã hội dân chủ, phù hợp với điều 4 của Công ước ICESCR Do đó, bất kỳ một giới hạn nào cũng phải tương thích, nghĩa là những biện pháp hạn chế tối thiểu cần phải được áp dụng khi các loại giới hạn được ấn định Cần có những tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế về giới hạn có thể hoặc không thể áp dụng một cách không chính đáng lên các quyền liên quan trực tiếp đến quyền

421 Điều 4 Tuyên ngôn quốc tế về Đa dạng văn hóa

Ngày đăng: 01/02/2021, 20:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w