- “mỗi tác phẩm phải là một phát minh về hình thức” – khẳng định mỗi tác phẩm văn học phải là một công trình nghệ thuật duy nhất có phong cách nghệ thuật riêng, có những tìm tòi, phát hi[r]
Trang 1UBND HUYỆN YÊN LẠC
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐỀ THI CHỌN HSG LỚP 9 CẤP HUYỆN
NĂM HỌC 2017-2018 MÔN THI: NGỮ VĂN
(Thời gian làm bài 150 phút, không kể thời gian giao đề)
Câu 1 ( 2,0 điểm)
Cảm nhận của em về hai đoạn thơ sau:
“ Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”
……
“ Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.”
Câu 2 ( 2,0 điểm)
Trình bày suy nghĩ của em về câu nói sau:
“ Các em có thể trở thành những người lao động chân chính, những nhà kĩ thuật
có chuyên môn giỏi, những người nghiên cứu thành công, những doanh nghiệp tầm
cỡ, những nhà lãnh đạo xuất sắc, những chính khách uyên bác…, nhưng trước hết phải là những người tử tế…”
(PGS Văn Như Cương)
Câu 3 ( 6,0 điểm)
Nhà văn Nga Lêônit Lêônôp có viết: “Mỗi tác phẩm phải là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung ”
Qua “ Chuyện Người con gái Nam Xương”, em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên
……… Hết ………
(Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm)
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
Trang 2HƯỚNG DẪN CHẤM THI HSG NGỮ VĂN 9
điểm Câu 1:
( 2 đ)
*Yêu cầu : Kĩ năng: HS viết đoạn văn cảm thụ văn học, có cảm xúc,
không mắc các lỗi diễn đạt Biết cảm nhận, chỉ ra được điểm chung,
riêng của hai đoạn thơ
Nội dung cần có các ý cơ bản sau:
- Hai đoạn trích là những câu thơ tuyệt bútmiêu tả thiên nhiên trong
“truyện Kiều”của Nguyễn Du Cả hai đoạn trích đều mở ra trước mắt
người đọc một bức tranh phong cảnh rộng mênh mông trải từ mặt đất
tới chân mây Ở đó đều ngập tràn màu sắc và nhuốm màu tâm trạng
con người.Tuy nhiên, ở mỗi đoạn trích lại hiện lên một cảnh với vẻ
đẹp, phong thái riêng
+ “Cỏ non xanh tận chân trời…” Gợi bức tranh thiên nhiên mênh
mông một màu xanh non mơn mởn của cỏ mùa xuân trải dài tới tận
chân trời Trên nền cỏ xanh ấy , điểm xuyết màu trắng tinh khôi của
một vài bông hoa lê Với bút pháp nghệ thuật miêu tả bằng vài nét
chấm phá, điểm xuyết, lấy tĩnh tả động, đặc biệt dùng chữ “điểm”
như một “ nhãn tự” , câu thơ gợi được cả không khí, thần thái của
bức tranh cảnh ngày xuân tươi đẹp, trong sáng, tinh khôi, tràn trề sức
sống của thiên nhiên Bức tranh được cảm qua cái nhìn tâm trạng của
người thiếu nữ sống trong cảnh “êm đềm” cùng cha mẹ nên có cái
háo hức, phấn khởi của ngày xuân, mùa lễ hội
+ “ Buồn trông nội cỏ rầu rầu…” Bức tranh thiên nhiên được gợi
lên với không gian mênh mông rộng lớn, cỏ cũng trải dài chân mây
mặt đất nhưng không phải cỏ non mơn mởn mà là một màu xanh héo
úa, rầu rầu Cụm từ láy “rầu rầu” thể hiện sự héo úa của cảnh, cũng
là sự buồn rầu, cô đơn, lo sợ trong tâm trạng của nhân vật trữ tình,
khi Kiều không còn được tự do nữa mà đã bị hoàn cảnh đẩy đưa, bị
bán vào lầu Ngưng Bích, sống kiếp người phôi pha Nghệ thuật tả
cảnh ngụ tình, từ ngữ giàu sức gợi hình, gợi cảm trong hai câu thơ,
có tác dụng không chỉ đơn thuần là gợi tả một bức tranh thiên nhiên
mà nó còn là một bức tranh tâm trạng Tâm trạng con người nhuốm
lên cảnh vật và ngược lại, cảnh vật thể hiện tâm trạng con người
=>Hai đoạn thơ khẳng định tài năng của Nguyễn Du trong sử dụng
nghệ thuật tả cảnh, tả cảnh ngụ tình.Cùng miêu tả một bức tranh
thiên nhiên của cỏ nhưng qua hoàn cảnh khác nhau, qua cảm nhận,
tâm trạng khác nhau cảnh vật hiện lên khác nhau.Có thể nói, chỉ qua
bốn câu thơ được trích trong hai trích đoạn khác nhau của “truyện
Kiều”, tác giả Nguyễn Du đã làm cho người đọc cảm nhận được
nghệ thuật tinh tế của ông cũng như đặc tả được tâm trạng của Thúy
Kiều qua từng giai đoạn, biến cố của cuộc đời Người đọc cũng như
được dõi theo từng bước đi, trải nghiệm cùng những thăng trầm cuộc
đời của giai nhân
0,5
0,5
0,5
0,5
Trang 3Câu 2:
( 2 đ).
* Yêu cầu:
- Về kĩ năng: Biết cách làm bài văn nghị luận xã hội Bố cục và hệ
thống ý sáng rõ Biết vận dụng phối hợp nhiều thao tác nghị luận Hành
văn trôi chảy Lập luận chặt chẽ Dẫn chứng chọn lọc, thuyết phục
Không mắc các lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả
- Về kiến thức: Học sinh có thể trình bày theo các cách khác nhau
nhưng phải đảm bảo được những nội dung cơ bản sau:
MB:
- Dẫn dắt nêu vấn đề:
+ Mỗi con người trong cuộc sống không ngừng học hỏi để trở thành
những người có ích
+ Dẫn lời : “Các em có thế trở thành những người lao động chân
chính, những nhà kĩ thuật có chuyên môn giỏi,…”
0,25
TB:
1 Giải thích:
+ “những người lao động chân chính”: những con
người sống lương thiện bằng chính đôi tay và khối óc –
bằng sức lao động của mình và có trách nhiệm với
cộng đồng “ những nhà kĩ thuật có chuyên môn giỏi, những
người nghiên cứu thành công, những doanh nghiệp tầm cỡ, những
nhà lãnh đạo xuất sắc, những chính khách uyên bác ” đây là
mong muốn, mục đích hướng tới trong học tậpcủa tất
cả chúng ta để trở thành những con người có tài năng, thành
công trong mọi lĩnh vực
+ “người tử tế”: Về ngữ nghĩa, “tử tế” là tốt
bụng.“Người tử tế” là người biết làm việc tốt, sống
đúng, sống đẹp, sống có ý nghĩa, sống phù hợp với
đạo đức, chuẩn mực của xã hội
=>Câu nói của PGS.Văn Như Cương là lời nhắc nhở,
khẳng định trước khi học kiến thức để trở thành những
con người tài năng, thành đạt thì các em học sinh trước
hết phải học cách là người tử tế, rèn luyện và xây dựng
cho mình những phẩm chất tốt, có phong cách, lối
sống đẹp ở đời
0,25
2 Phân tích, bàn luận, mở rộng vấn đề:
*Người tử tế là người như thế nào?
- Làm người tử tế trước hết là người sống trung thực,
ngay thẳng, biết yêu ghét đúng đắn biết phân biệt
đúng sai, phải trái, sống thật với bản thân mình và
những giá trị của chính mình, có thái độ đúng đắn
trước
-Làm người tử tế là người biết vượt qua hoàn cảnh để
sống có ích, có ý nghĩa Sống tử tế còn là biết cống
hiến cho đời những giá trị tốt đẹp Dù ở hoàn cảnh, vị
1,0
Trang 4trí nào cũng không được phép gục ngã, phải có nghị
lực sống vững vàng, vượt qua mọi hoàn cảnh khó khăn
- Và trên hết làm người tử tế là người phải biết sống yêu
thương, sẻ chia, đồng cảm với những người xung
quanh,trong gia đình, cộng đồng và xã hội Phải biết
mở rộng trái tim để đón lấy và trao đi những yêu
thương Yêu những gì gần gũi, gắn bó, yêu làng xóm,
quê hương, đất nước
* Vì sao phải là người tử tế?
+ Ông cha ta xưa có câu “tiên học lễ hậu học văn”, ngụ ý muốn răn
dạy con cháu cần chú trọng trong việc rèn luyện đạo đức nhân cách,
lễ là nhân cách, văn là nhận thức hiểu biết Sống tử tế luôn được mọi
người kính trọng, yêu quý và tin tưởng, làm việc gì cũng đến nơi đến
chốn và thành công, cuộc sống luôn ngập tràn hạnh phúc hơn
+ Sống cho tử tế là chúng ta đã sống có ích, tạo ra được giá trị tốt
đẹp cho bản thân, gia đình, cho cộng đồng xã hội Xã hội có nhiều
nhiều người tử tế sẽ phát triển văn minh, tiến bộ hơn Con người sẽ
yêu thương, trân trọng, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ và sống tốt đẹp
hơn
( dẫn chứng minh họa trong cuộc sống, văn học )
* Phê phán những con người không tử tế:
Xã hội hiện nay bên cạnh những con người tử tế thì còn những ngời
sống không tử tế Đó là những con người vô cảm, vô văn hoá , sống
chỉ chạy theo lợi ích vật chất cho bản thân ,không muốn vươn lên,
chỉ biết phụ thuộc, thích dựa dẫm vào người khác, sống ích kỉ, gian
dối, làm việc trái với đạo lí, pháp luật Những con người có lối sống
đó sớm muộn cũng sẽ không có kết quả tốt đẹp, bị cả xã hội lên án
( dẫn chứng minh họa trong cuộc sống, văn học )
3 Bài học nhận thức, hành động về thái độ sống:
- Sống tử tế hãy bắt đầu bằng những nhận thức và
hành động đơn giản nhất: không gây hại cho người
khác, chân thành, trung thực, biết vươn lên hoàn cảnh,
biết yêu thương, đồng cảm, sẻ chia, biết lên án cái
xấu, có trách nhiệm, biết cống hiến hi sinh …
- Cần ý thức rèn luyện những năng lực, tu dưỡng
những giá trị chuẩn mực về phẩm chất, đạo đức tốt
đẹp để trở thành “người tử tế” những “con người lao
động chân chính” , có đức, có tài
- Liên hệ bản thân
0,25
KB: Khẳng định ý nghĩa của câu nói và thái độ của bản thân 0,25 Câu 3:
(6đ)
A Yêu cầu chung:
* Về Kĩ năng: Biết viết văn nghị luận về một vấn đề trong tác
phẩm văn học có yếu tố lí luận.Bài viết có bố cục, cân đối, chặt chẽ
Diễn đạt mạch lạc, đúng chính tả, đúng ngữ pháp; trình bày sạch đẹp,
Trang 5rõ ràng, có cảm xúc Không mắc các lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp,
chính tả
* Về nội dung: B Yêu cầu cụ thể:
HS phải phân tích, chứng minh được sự khám phá trong nội
dung và phát minh nghệ thuật của truyện so với câu chuyện cổ Có
thể viết bằng nhiều cách khác nhau nhưng phải đảm bảo nắm được
và làm toát lên những nội dung cơ bản sau:
MB: - Dẫn dắt, nêu ý kiến: Đặc trưng của văn học là sáng tạo Sự
sáng tạo ấy chính là yếu tố quyết định đem lại sự thành công cho tác
phẩm, cho người sáng tác Chính vì thế, nhà văn Nga Lêônit Lêônôp
có viết:“Mỗi tác phẩm phải là một phát minh về hình thức và một
khám phá về nội dung ”
0,25
TB:
a Giải thích vấn đề
- “mỗi tác phẩm phải là một phát minh về hình thức” – khẳng định
mỗi tác phẩm văn học phải là một công trình nghệ thuật duy nhất có
phong cách nghệ thuật riêng, có những tìm tòi, phát hiện sáng tạo
riêng về nghệ thuật; “khám phá về nội dung" – nghĩa là tác phẩm ấy
phải thể hiện được những nội dung, tư tưởng, quan niệm, cách nhìn ,
cách cảm mới mẻ của nhà văn về cuộc sống, con người và xã hội
Câu nói này nhằm nhấn mạnh, khẳng định mỗi một tác phẩm nghệ
thuật phải có sự phát hiện, sáng tạo của nhà văn trong cả nội dung và
nghệ thuật
- Trong “ Chuyện người con gái Nam Xương”, sự “ khám phá” về
nội dung chính là nhà văn đã phản ánh và tố cáo bức tranh hiện thực
về chế độ xã hội phong kiến xưa; thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc
của Nguyễn Dữ qua cuộc đời, số phận nhân vật Vũ Nương Đồng
thời thể hiện sự sáng tạo nghệ thuật trong việc tạo tình huống, sắp
xếp tình tiết, xây dựng tính cách nhân vật, đưa các yếu tố kì ảo…làm
cho truyện trở lên đặc sắc hơn
0,5
b Chứng minh nhận định:
- Khái quát hoàn cảnh lịch sử và tác phẩm.“Truyền kì mạn lục” –
Nguyễn Dữ được mệnh danh là áng “ thiên cổ kì bút” ( áng văn hay
của nghìn đời) “ Chuyện người con gái Nam Xương là truyện thứ 16
trong tác phẩm “Truyền kì mạn lục”, kể lại câu chuyện cổ “ Vợ
chàng Trương”…Trong câu chuyện cổ chủ yếu kể về nỗi oan khuất
của nàng Vũ Nương, song ở tác phẩm này Nguyễn Dữ đã sáng tạo
thêm làm cho truyện trở nên chân thực hơn, phản ánh được cả những
vấn đề lớn lao của thời đại
*Sự “khám phá về nội dung” trong truyện trước hết là nhà văn đã
phản ánh, tố cáo hiện thực của xã hội phong kiến xưa qua cuộc
1,5
Trang 6đời nhân vật Vũ Nương.
+ Phản ánh số phận đầy bi kịch, khổ đau của người phụ nữ trong xã
hội phong kiến: bi kịch về hôn nhân gả bán, ép buộc (Trương Sinh
con nhà hào phú, ít học đem trăm lạng vàng lấy Vũ Nương về làm
vợ) ; họ phải chịu những nỗi oan khuất, số phận cay đắng, oan
nghiệt, bị chà đạp, bị tước hết quyền sống, quyền làm người ( Vũ
Nương xinh đẹp, đảm đang, thủy chung nhưng vẫn phải chịu nỗi oan
thất tiết mà phải tự vẫn, mất đi quyền được sống, được làm vợ làm
mẹ.)
+ Không chỉ phản ánh bi kịch cuộc đời người phụ nữ trong xã hội
xưa qua nhân vật Vũ Nương, nhà văn còn tố cáo những thế lực bất
công trong xã hội chà đạp người phụ nữ, đẩy họ vào bi kịch.( Chiến
tranh phong kiến liên miên là nguyên nhân gây ra cảnh li tán mẹ xa
con, vợ xa chồng và dẫn đến nỗi oan khuất và cái chết của nhân vật
Nũ Nương Trương Sinh bị bắt lính mẹ già vì nhớ, vì lo cho con ốm
mà chết, Vũ Nương phải gánh vác mọi việc gia đình, một lòng chờ
chồng Ngày chồng về vì sự đa nghi, hồ đồ mà ruồng rẫy đuổi vợ,
đẩy vợ vào nỗi oan phải tự vẫn Chế độ nam quyền trọng nam, khinh
nữ, cùng sự độc đoán gia trưởng và sự ghen tuông mù quáng của
nhân vật Trương Sinh đã đẩy Vũ Nương phải chết oan nghiệt Dù
cho vợ giải thích, làng xóm minh oan.) (D/C + PT)
**Sự “khám phá về nội dung” trong truyện còn là tiếng nói
thể hiện tư tưởng, tấm lòng nhân đạo của nhà văn đối với con
người.
+ Nguyễn Dữ là nhà văn đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam
chỉ ra và ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ qua nhân vật Vũ Nương
Nàng không chỉ đẹp về nhan sắc, tâm hồn “ thùy mị, nết na, tư dung
tốt đẹp”mà còn có những phẩm chất cao quí Vũ Nương là người vợ
khôn khéo, hiểu lễ nghĩa, đảm đang tháo vát, thủy chung, luôn coi
trọng, giữ gìn hạnh phúc gia đình: khi chồng đa nghi vẫn luôn giữ
gia đình không rơi vào cảnh thất hòa Khi tiễn dặn chồng, khi chồng
đi lính , mỗi lời dặn dò, mỗi chi tiết ước lệ miêu tả tâm trạng của
nàng đều thể hiện một lòng thương nhớ, thủy chung với chồng.(D/C
+ PT) Vũ Nương còn là người con dâu hiếu thảo, người mẹ hiền Lời
từ biệt của bà mẹ chồng lúc lâm chung là minh chứng cho lòng hiếu
thảo vô cùng của nàng với mẹ chồng( nó khác biệt hẳn với quan
niệm khắc nghiệt về mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu trong xã hội
xưa)( Sau này trời xét lòng lành con đã chẳng phụ mẹ).(D/C + PT)
+ Nhà văn không chỉ ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ mà còn đồng
cảm, sẻ chia với nỗi khổ đau của họ Nỗi xót xa của Vũ Nương khi
phải tiễn biệt chồng, nỗi đau khổ, tuyệt vọng khi phải chịu nỗi oan
thất tiết Nỗi đau khổ khi bị tước đi quyền được sống, được làm vợ,
làm mẹ của nàng tất cả đều được nhà văn khắc sâu trong từng lời
thoại, trong từng hình ảnh ước lệ Những lời nói của nhân vật được
đưa thêm vào truyện so với truyện cổ như một sự đồng cảm thấu hiểu
1,5
Trang 7sẻ chia của nhà văn với nhân vật, với người phụ nữ
(D/C + PT)
+Nguyễn Dữ còn đồng tình với những ước mơ, khát vọng của người
phụ nữ Ước mơ, khát vọng về hạnh phúc trong cuộc sống gia đình,
hạnh phúc trong hôn nhân, về sự công bằng, khát vọng được minh
oan, được sống, được làm người, làm vợ, làm mẹ Lời giãi bày của
Vũ Nương, yếu tố hoang đường kì ảo được đưa vào trong truyện để
minh oan cho Vũ Nương, để thể hiện ước mơ về sự công bằng, khát
vọng được sống, được làm vợ, làm mẹ của người phụ nữ (D/C + PT)
*Truyện còn là sự sáng tạo “ phát minh” trong nghệ thuật của
Nguyễn Dữ Nhà văn đã sáng tạo thêm những chi tiết nghệ thuật: sắp
xếp, tô đậm một số tình tiết, xây dựng tính cách nhân vật hoàn chỉnh
hơn Trương Sinh đem trăm lạng vàng cưới Vũ Nương- cuộc hôn
nhân mua bán ép buộc; lời trăng trối của mẹ Trương Sinh- khẳng
đinh nhân cách tốt đẹp của Vũ Nương; lời thoại của Vũ Nương khi
bị oan, chi tiết chiếc bóng tạo sự thắt nút, mở nút đầy kịch tính cho
câu chuyện; yếu tố kì ảo được đưa vào làm cho câu chuyện vừa hư
vừa thực, tăng độ tin cậy vừa phản ánh được bức tranh hiện thực phũ
phàng của xã hội phong kiến xưa, vừa góp phần thể hiện được giá trị
nhân đạo của tác phẩm (D/C + PT)
1,5
3/ Đánh giá chung:
- Từ cốt truyện dân gian nhà văn nguyễn Dữ đã kể lại một cách sáng
tạo để gửi gắm tất cả tâm tư, tình cảm, nhận thức và khát vọng của
mình về những vấn đề thời đại, về con người Nhà văn không chỉ đơn
thuần kể về cuộc đời người phụ nữ mà ông còn chỉ ra bức tranh hiện
thực nghiệt ngã trong xã hội phong kiến xưa Ông gửi gắm vào đó
giá trị tinh thần nhân đạo sâu sắc, và tài năng nghệ thuật của một nhà
văn Vì thế,dù trải qua thời gian, lịch sử hàng ngàn năm truyện vẫn
để lại trong lòng người đọc những trăn trở, những nỗi niềm về cuộc
đời, về con người Truyện xứng danh là một áng “thiên cổ kì bút.”
-Khẳng định vai trò, nhiệm vụ của nhà văn, của tác phẩm trong đời
sống văn chương
0,5
KB: Khẳng định vấn đề, bày tỏ cảm nghĩ 0,25
hiện năng khiếu văn của học sinh.