Về nội dung: Thông qua miêu tả cuộc đời của hai nhân vật chính là Mị và A Phủ, tác phẩm đã phơi bày thân phận nô lệ và cuộc sống tủi cực của người dân lao động miền núi Tây Bắc dưới ác[r]
Trang 1TÓM TẮT KIẾN THỨC TÁC PHẨM NGỮ VĂN LỚP 12 (Hỗ trợ học sinh 12 ôn tập trong khi phòng chống dịch Covid-19)
TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP – HỒ CHÍ MINH
Kiến
thức về
tác giả
Hồ Chí Minh – Lãnh tụ vĩ đại của Cách mạng Việt Nam đồng thời là nhà thơ,
nhà văn lớn của dân tộc Người xem văn học là vũ khí chiến đấu phụng sự cho sự
nghiệp cách mạng: Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến
sĩ trên mặt trận ấy Với văn học, Người đặc biệt chú ý tính chân thật và dân tộc –
lấy nó làm thước đo giá trị của một tác phẩm văn học Đồng thời Người cũng
dành sự quan tâm đặc biệt đến đối tượng tiếp nhận (Viết cho ai?) – mục đích viết (Viết làm gì?) – nội dung (Viết cái gì?) và hình thức (Viết như thế nào?) Văn
chương không phải là sự nghiệp chính của Người, tuy nhiên Người đã để lại một
di sản văn học lớn có tầm vóc và giá trị về mặt tư tưởng, phong phú thể loại và đa dạng phong cách nghệ thuật Phong cách nghệ thuật của người đa dạng nhưng thống nhất: ngắn gọn, xúc tích, giàu sức thuyết phục
Kiến
thức về
tác
phẩm
Ngày 19/8/1945, Cách mạng tháng tám thành công ở Hà Nội, chính quyền về tay nhân dân Ngày 26 – 8 – 1945, chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu cách mạng Việt Bắc về tới Hà Nội và ngay đêm hôm đó, tại căn nhà số 48, phố Hàng Ngang,
Người soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập Ngày 2 – 9 – 1945, tại quảng trường
Ba Đình, Hà Nội, trước hàng vạn đồng bào, Người thay mặt Chính phủ lâm thời
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước
Việt Nam mới
Đặc sắc
về nội
dung và
nghệ
thuật
Về nội dung: Bố cục bài Tuyên ngôn độc lập chia thành ba phần: Cơ sở pháp lý,
cơ sở thực tiễn và lời tuyên bố độc lập Ba phần này gắn liền với nhau, bổ trợ lẫn nhau tạo nên sức thuyết phục của bản tuyên ngôn Mỗi phần có một nhiệm vụ riêng:
+ Phần cơ sở pháp lý, Hồ Chủ tịch trích dẫn hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mỹ
là hai bản tuyên ngôn của kẻ thù, đồng thời hai bản tuyên ngôn này đều nhấn mạnh những quyền cơ bản của con người; những quyền được thế giới công nhận
và xem đó là chân lý, không ai có quyền xâm phạm Đồng thời việc trích dẫn hai bản tuyên ngôn của kẻ thù nhằm mục đích lấy “lấy gậy ông đập lưng ông”, đặt
ngang hàng ba nền độc lập với nhau Với phần Suy rộng ra người đã có một đóng
góp lớn về tư tưởng cho nhân loại Đó là không chỉ con người mà còn các dân tộc trên thế giới đều phải được hưởng những quyền cơ bản đó, không riêng gì Việt Nam và các nước thuộc địa Phần cơ sở pháp lý đóng vai trò là tiền đề, là bàn đạp
là cơ sở để tố cáo tội ác kẻ thù ở phần cơ sở thực tiễn
+ Phần cơ sở thực tiễn, người đã đưa ra các bằng chứng thực tế và hết sức thuyết phục để tố cáo tội ác của kẻ thù trên các phương diện kinh tế, văn hóa, giáo dục và ngoại giao Đây cũng là phần đấu tranh bằng lí lẽ bác bỏ luận điệu tuyên truyền
mà thực dân Pháp đưa ra khi chúng quay trở lại xâm lược nước ta
+ Từ cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn, người đi đến tuyên bố thoát li hẳn quan hệ với pháp, khẳng định quá trình giải phóng dân tộc đầy gian khổ, thuyết phục các
Trang 2nước đồng minh công nhận nền độc lập và thể hiện quyết tâm giữ vừng nền độc lập đó
Điểm đặc sắc về mặt nghệ thuật đó:
Hệ thống luận đề, lí lẽ (luận cứ), dẫn chứng rõ ràng, xác thực; lập luận chặt chẽ, đanh thép, giàu sức thuyết phục; ngôn ngữ hùng hồn, giàu cảm xúc
TÂY TIẾN – QUANG DŨNG
Kiến
thức về
tác giả
Quang Dũng (1921 – 1988) - là một nghệ sĩ đa tài, làm thơ, vẽ tranh, soạn
nhạc… nhưng nổi bật nhất trong lĩnh vực thơ ca Hồn thơ Quang Dũng hồn hậu, lãng mạn, phóng khoáng, hào hoa, đặc biệt là khi ông viết về đoàn quân Tây Tiến
và quê hương xứ Đoài mây trắng của mình
Kiến
thức về
tác phẩm
Tây Tiến là một bài thơ tiêu biểu của thơ ca thời kì kháng chiến chống Pháp, là
bài thơ khẳng định phong cách và tên tuổi của Quang Dũng Bài thơ được viết vào năm 1948, tại Phù Lưu Chanh Lúc đó, Quang Dũng rời xa đơn vị cũ – Tây Tiến chưa được bao lâu, ông nhớ đồng đội, nhớ mảnh đất miền tây một thời gắn bó nên viết bài thơ này
Bài thơ ban đầu có tên là Nhớ Tây Tiến, nhưng sau đổi thành Tây Tiến vì bao trùm bài thơ đã là nỗi nhớ Bài thơ được in trong tập thơ Mây đầu ô (1986).
Về cái tên Tây Tiến: Tây Tiến không phải là địa danh mà là tên đơn vị đội thành lập đầu năm 1948 với nhiệm vụ phối hợp với lực lượng yêu nước Lào lập chính quyền ở Sầm Nưa (Thanh Hóa) giữ vững địa bàn miền Tây Thành phần quân đội
của đơn vị Tây Tiến chủ yếu là học sinh, sinh viên, trí thức đến từ Hà Nội Họ
phải sống và chiến đấu trong hoàn cảnh cực kì khó khăn: Thời kì đầu kháng chiến chống Pháp; đối diện với thiên nhiên Tây Bắc khắc nghiệt (địa hình hiểm trở, thời tiết khắc nghiệt, thú dữ,…); thiếu thốn vật chất, tình cảm quê hương; đối diện với căn bệnh sốt rét quái ác Nhưng họ vẫn chiến đấu với tinh thần dung cảm vô song
“Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”
Đặc sắc
về nội
dung và
nghệ
thuật
Về nội dung, bài thơ Tây Tiến được khơi gợi từ nỗi nhớ, do vậy toàn bài thơ là những hồi ức đẹp đẽ về đồng đội thiên nhiên miền tây vừa hùng vĩ dữ dội vừa thơ mộng trữ tình
Trong bài thơ nổi bật lên hai hình tượng nghệ thuật trung tâm mang vẻ đẹp thẩm
mĩ độc đáo:
+ Thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, dữ dội với sương mù, dốc núi, vực sâu, thú dữ, thác gầm, đối diện với hi sinh; thiên nhiên sông nước miền Tây thơ mộng, trữ tình bởi mái nhà trong mưa, bởi chiều sương sông nước huyền ảo với hồn lau ven bờ, với dáng người trên con thuyền độc mộc khỏe khoắn
+ Hình tượng người lính Tây Tiến bi tráng với chân dung khác lạ Họ có tâm hồn lãng mạn, hào hoa, giàu rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên và vẻ đẹp của con người;dù hoàn cảnh thiên nhiên khắc nghiệt, đối diện với căn bệnh sốt rét rừng và hiểm nguy rình rập nhưng họ vẫn giữ được tinh thần dung cảm, tâm hồn hào hoa của người tri thức Hà thành và lí tưởng cao đẹp của một chiến sĩ cách mạng
Trang 3 Đặc sắc về nghệ thuật bài thơ có vài điểm nổi bật, đó là cảm hứng lãng mạn và
tinh thần bi tráng; vận dụng ngôn từ giàu tính nhạc họa, xây dựng thành công
hình tượng thiên nhiên và người lính Tây Tiến
VIỆT BẮC (Trích) – TỐ HỮU
Kiến
thức về
tác giả
Tố Hữu (1921 – 1988) là lá cờ đâu của thơ ca cách mạng Việt Nam, cả cuộc đời
và sự nghiệp thơ ca của ông gắn liền với sự nghiệp cách mạng của Đảng Có thể khẳng định ông là một nhà cách mạng lớn, một nhà thơ lớn của Việt Nam Đến với thơ ca của ông, người ta ấn tượng bởi phong cách thơ trữ tình – chính trị, bởi nghệ thuật thơ ca đậm đà tính dân tộc và một giọng điệu vừa ngọt ngào vừa tha thiết
Kiến
thức về
tác phẩm
Bài thơ Việt Bắc, một khúc ca hùng tráng, thiết tha về cuộc kháng chiến chống
Pháp và con người kháng chiến, đồng thời cũng là một bản tình ca ngợi ca nghĩa tình sâu đậm của nhân dân với kháng chiến
Bài thơ Việt Bắc được sáng tác năm 1954, nhân một sự kiện lịch sử - chính trị
trọng đại của dân tộc: Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, TW Đảng, Chính phủ rời Việt Bắc trở về Hà Nội Sự kiện lịch sử trọng đại này là nguồn cảm hứng để
Tố Hữu viết bài thơ này Bao trùm bài thơ là nỗi nhớ, là kỉ niệm về tình quân dân
và những năm tháng kháng chiến đầy gian khổ nhưng cũng hào hùng Đoạn trích
trong SGK thuộc phần 1 của bài thơ Việt Bắc.
Đặc sắc
về nội
dung và
nghệ
thuật
Về nội dung: Bài thơ mở ra khung cảnh chia tay đầy lưu luyến, bịn rịn giữa những người chiến sĩ về xuôi và người dân Việt Nam sau mười lăm năm gắn bó; tiếp đó là những kỉ niệm đẹp đẽ về con người và thiên với bao kỉ niệm, ân tình và kết thúc bài thơ là bản hùng ca về Việt Bắc
+ Đoạn thơ đầu là khung cảnh cuộc chia tay đầy lưu luyến giữa nhân dân với cán
bộ kháng chiến khắc sâu nghĩa tình sâu đậm của nhân dân
+ Đoạn thơ tiếp theo là những kỉ niệm đầy nhớ thương về thiên nhiên và con người Việt Bắc trong nỗi nhớ của người cán bộ kháng chiến về xuôi Thiên nhiên hiện lên với vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng gắn bó với con người trong cuộc kháng chiến Hình ảnh con ngườitrong đoạn thơ tuy có cuộc sống gian khó nhưng thủy chung, ơn nghĩa chia ngọt sẻ bùi với kháng chiến
+ Đoạn thơ cuối (trong phần trích SGK) là hình ảnh Việt Bắc ra trận với hình ảnh
kì vĩ, nhịp điệu dồn dập, hào hùng thể hiện sức mạnh vĩ đại của cuộc kháng chiến
và niềm tin chiến thắng của dân tộc
Về nghệ thuật bài thơ cần chú ý nghệ thuật biểu hiện đậm đà tính dân tộc; vận dụng sáng tạo lối đối đáp mình ta trong ca dao tình yêu đôi lứa để nói về tình quân dân Ngoài ra người học cũng cần lưu ý những biểu hiện phong cách thơ trữ tình – chính trị của Tố Hữu trong bài thơ này
ĐẤT NƯỚC (Trích) – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
Kiến
thức về
Nguyễn Khoa Điềm sinh năm 1943, tại Huế, là một trong những gương mặt tiêu
biểu của thế hệ thơ trẻ thời chống Mỹ Thơ Nguyễn Khoa Điềm hấp dẫn bởi sự
Trang 4tác giả kết hợp giữa chất chính luận và chất trữ tình, giữa cảm xúc nồng nàn và suy tư sâu
lắng của người trí thức về đất nước và con người Việt Nam PGS Phan Huy Dũng từng nhận xét: Thơ Nguyễn Khoa Điềm thu hút, hấp dẫn người đọc bởi sự đan kết giữa cảm xúc nồng nàn và suy tư sâu lắng
Kiến
thức về
tác phẩm
Bản trường ca Mặt đường khát vọng được Nguyễn Khoa Điềm viết vào những
năm kháng chiến chống Mĩ ác liệt ở chiến khu Trị - Thiên Nội dung đoạn trích viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ thành thị vùng bị tạm chiếm ở miền Nam trước
1975 ý thức về non sông đất nước, về sứ mệnh của thế hệ mình, xuống đường đấu
tranh hòa cùng cuộc chiến đấu của nhân dân Đoạn trích Đất Nước thuộc phần
đầu, chương V
Đoạn trích Đất Nước trích trong trường ca Mặt đường khát vọng là sự cảm nhận
của Nguyễn Khoa Điềm về vai trò và những sự hi sinh to lớn của nhân dân trong công cuộc dựng nước, và giữ nước lâu dài của dân tộc Cũng như những nhà thơ trẻ tiêu biểu của thời chống Mĩ, Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện những suy ngẫm của mình về nhân dân thông qua những trải nghiệm của chính bản thân mình Tư tưởng “Đất Nước của nhân dân”, “Đất Nước của ca dao thần thoại” là tư tưởng chủ đạo chi phối cả nội dung và hình thức chương V của bản trường ca này (GS Trần Đăng Suyền)
Đặc sắc
về nội
dung và
nghệ
thuật
Về nội dung: Đoạn trích chia thành hai phần:
+ Mở đầu bài thơ (Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi/ …/ Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ), Nguyễn Khoa Điềm lý giải cội nguồn hình thành của Đất Nước –
Đất Nước được hình thành từ những điều bình dị, gần gũi với đời sống của mỗi con người: không gian gia đình, không gian đôi lứa và từ không gian lịch sử, truyền thống lâu đời của dân tộc Đây là một khám phá mới mẻ của ông về Đất
Nước Phần tiếp theo của đoạn 1 (Trong anh và em hôm nay/…./ Làm nên Đất Nước muôn đời) khái quát nhận thức về đất nước rằng: đất nước không chỉ ở
quanh ta mà còn ở trong ta, trong mỗi con người đều có một phần đất nước Từ đó
nhắc nhở thế hệ trẻ về ý thức trách nhiệm với quê hương, đất nước bằng giọng thơ
tâm tình, thủ thỉ
+ Cảm nhận Đất Nước từ phương diện địa lý, lịch sử, văn hóa – làm bật lên tư tưởng “Đất Nước là của Nhân dân”
Về nghệ thuật bài thơ cần chú ý: Nguyễn Khoa Điềm đã sử dụng chất liệu văn học dân gian sáng tạo; sự kết hợp giữa chất trữ tình và chính luận; thể thơ tự do, nhịp điệu biến đổi linh hoạt
SÓNG – XUÂN QUỲNH
Kiến
thức về
tác giả
Xuân Quỳnh (1942 – 1988) là nhà thơ trẻ tiêu biểu thời kì kháng chiến chống
Mỹ Thơ Xuân Quỳnh là tiếng nói tâm hồn của một người phụ nữ giàu trắc ẩn, vừa hồn nhiên tươi tắn, vừa chân thành đằm thắm và luôn luôn da diết trong khát vọng về một hạnh phúc đời thường
Kiến Sóng là một trong những bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Xuân Quỳnh, được nữ thi
Trang 5thức về
tác phẩm
sĩ viết nhân chuyến đi thực tế tại bãi biển Diêm Điền (Thái Bình) năm 12 – 1967
Bài thơ được in trong tập Hoa dọc chiến hào “Nổi bật trong bài thơ là tâm trạng
của người con gái Việt Nam, người con gái phương Đông khi yêu: dịu dàng, thủ thỉ, đằm thắm mà không kém phần sôi nổi, mãnh liệt” (TS Nguyễn Xuân Lạc)
Đặc sắc
về nội
dung và
nghệ
thuật
Về nội dung: Bài thơ có thể được xem là lời giải bày của một tâm hồn phụ nữ khi yêu với nhiều suy tư, trăn trở, nhiều cung bậc cảm xúc như những con sóng ngoài biển khơi, không lúc nào ngơi nghỉ
+ Mở đầu bài thơ là những khám phá của nữ thi sĩ về sự tương đồng của con sóng
và tâm hồn người phụ nữ khi yêu với những trạng thái đối lập nhưng cũng đầy
chủ động trên con đường tìm kiếm hạnh phúc: Dữ dội và dịu êm/ Ồn ào và lặng lẽ/ Sông không hiểu nổi mình/ Sóng tìm ra tận bể Đồng thời nữ thi sĩ đã mượn sóng để khám phá quy luật tình yêu: Ôi con sóng ngày xưa/…/ Từ nơi nào sóng lên ?.
+ Sóng và em phân tách để bộc bạch tâm tình: Nỗi nhớ choán đầy không gian,
thời gian và tiềm thức (Con sóng dưới lòng sâu/…/Cả trong mơ còn thức); khẳng định lòng chung thủy, son sắt (Dẫu xuôi về phương bắc/…/ Hướng về anh – một phương; thể hiện niềm tin mãnh liệt vào tình yêu (Ở ngoài kia đại dương/…/ Dù muôn vời cách trở).
+ Những lo âu trăn trở trước sự hữu hạn của tình yêu, đời người (Cuộc đời tuy dài thế/…/Mây vẫn bay về xa) của một người phụ nữ đã trải qua đổ vỡ trong tình yêu;
nhưng cũng vượt qua để khát khao hạnh phúc mãnh liệt bất tử hóa tình yêu, hạnh
phúc (Làm sao được tan ra/…/ Để ngàn năm còn vỗ).
Về điểm đặc sắc nhất của bài thơ: Xuân Quỳnh đã vận dụng thành công hình tượng sóng và em, nhất là hình tượng sóng để bày tỏ nỗi lòng, tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu
NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ (Trích) – NGUYỄN TUÂN
Kiến
thức về
tác giả
Nguyễn Tuân (1910 - 1987) là nghệ sĩ có phong cách nghệ thuật tài hoa, uyên
bác; là nhà văn suốt đời đi tìm cái đẹp và là một trong những bậc thầy của thể loại
kí, tùy bút hiện đại
- Ông cũng là con người nặng lòng với cái đẹp của quê hương đất nước và con người Việt Nam Nếu trước Cách mạng tháng Tám văn của Nguyễn Tuân có nét khinh bạc, chơi ngông bằng văn chương, thì sau Cách mạng, phong cách nghệ thuật của ông có sự biến đổi, gắn bó với cuộc sống và khám phá vẻ đẹp ở những con người lao động bình thường mà tài hoa, trí dũng
Kiến
thức về
tác phẩm
Người lái đò sông Đà in trong tập tùy bút Sông Đà được sáng tác 1960 nhân
chuyến đi thực tế đến vùng Tây Bắc để tìm chất vàng mười của thiên nhiên cùng
“thứ vàng mười đã qua thử lửa” ở tâm hồn của con người lao động mới nơi đây
Người lái đò sông Đà – một trích đoạn ngắn nhưng tiêu biểu cho phong cách nghệ
thuật của nhà văn Nguyễn Tuân sau Cách mạng tháng Tám
Đặc sắc
về nội
– Về nội dung
+ Hình tượng sông Đà: Con sông Đà sừng sững ngoài thiên nhiên vào những
Trang 6dung và
nghệ
thuật
trang ký tài hoa của Nguyễn Tuân biến thành một sinh thể sống động với hai nét tính cách – vừa hung bạo vừa trữ tình
++ Ở nét tính cách hung bạo, Nguyễn Tuân tập trung ở những điểm sau: Đá bờ sông dựng vách thành, cảnh mặt ghềnh Hát Loóng, cái hút nước và quảng tà Mường Vát, âm thanh tiếng thác réo gầm, thạch trận mưu mô, hung ác
++ Ở nét tính cách trữ tình, Nguyễn Tuân tập trung ở những điểm sau: Sông
Hương mang vẻ đẹp như tiên giáng trần (tuôn dài như một áng tóc trữ tình…),
màu nước sông biến đổi theo mùa (xuân – xanh, thu – đỏ, và chưa từng có màu
đen…), có khi như một cố nhân, cảnh ven bờ thấm đẫm chất thơ (màu nắng tháng
ba Đường thi), cảnh dòng sông trầm mặc nét đẹp cổ thi (gọi về đời Lý – Trần đời Lê) nhưng cũng tràn đầy sức sống với cảnh hoa cỏ ven bờ
++ Khi phân tích, học sinh cần chú ý làm rõ Nguyễn Tuân đã vận dụng các kiến thức phong phú về lịch sử, địa lí, võ thuật, điện ảnh, hội hoạ, điêu khắc và cả cách miêu tả thông qua việc vận dụng lối so sánh, liên tưởng, nhân hóa độc đáo và đầy táo bạo trong quá trình ghi chép, miêu tả lại con sông Đà Cách miêu tả, ghi chép như thế, Nguyễn Tuân đã biến con sông thiên nhiên thành một hình tượng nghệ thuật với nét tính cách vừa hung bạo vừa trữ tình Đây cũng là đặc trưng của thể kí cũng như phong cách viết kí (tùy bút) của Nguyễn Tuân
+ Hình tượng người lái đò sông Đà: Học sinh cần lưu ý: Nguyễn Tuân chọn cách tiếp cận con người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ Vì thế mà một người lái đò – một người lao động bình thường, vô danh trên miền sông nước, qua ngòi bút của
Nguyễn Tuân mà trở thành một người nghệ sĩ, một tay lái ra hoa
++ Để thấy được vẻ đẹp tài hoa, nghệ sĩ của nhân vật người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân đã đặt nhân vật vào tình huống thử thách: cuộc chiến không cân sức giữa một ông lão có tuổi với thiên nhiên sông nước hung bạo qua ba vòng vậy thạch trận Học sinh phân tích trận chiến cam go và đầy quyết liệt giữa ông lão lái
đò trong ba vòng vây thạch trận Ở điểm này, học sinh càng làm nổi bật được sự
ma mãnh, xảo quyệt của thạch trận càng làm nổi bật được tài năng của ông lão lái
đò – “chất vàng mười đã qua thử lửa” của người lao động bình dị, vô danh vùng sông nước miền tây, mà cụ thể là trên sông Đà Đồng thời sự chiến thắng vẻ vang của người lái đò còn phản ánh quá trình lao động và chinh phục thiên của người lao động trong thời kì xây dựng xã hội mới ở miền Bắc
++ Và so với những nhân vật trước Cách mạng tháng Tám – 1945, nhất là trong
Vang bóng một thời, Nguyễn Tuân chủ yếu đi tìm vẻ đẹp tài hoa một thời còn
vang bóng, họ là những người tri thức, chữ nghĩa như Huấn Cao Nhưng với
Người lái đò sông Đà, để hòa chung vào không khí xây dựng xã hội mới, Nguyễn
Tuân hướng ngòi bút mình đến những con người lao động bình dị, vô danh nhưng lại toát lên vẻ đẹp phi thường của người nghệ sĩ tài hoa Đây là một khám phá mới
mẻ, độc đáo nhưng lại mang hơi thở lịch sử, thời đại
– Về nghệ thuật: Nguyễn Tuân đã vận dụng kiến thức bách khoa về văn hóa, thể
thao điện ảnh,… những biện pháp nghệ thuật độc đáo, nhất là so sánh và nhân hóa trong quá trình ghi chép, tái hiện con sông Đà và xây dựng hình tượng người lái
Trang 7đò
AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG? (Trích) – HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
Kiến
thức về
tác giả
Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhà văn có sở trường thể văn bút kí, tùy bút Kí của ông
có nét đặc sắc riêng bởi sự kết hợp nhuần nhị giữa chất trí tuệ và tính trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với tư duy đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú với lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa
Kiến
thức về
tác phẩm
Ai đã đặt tên cho dòng sông? là một bài bút kí được ông viết vào 4 – 1 – 1981 ở
Huế và in trong tập sách cùng tên Bài bút kí có ba phần, đoạn trích trong SGK thuộc phần đầu
Đặc sắc
về nội
dung và
nghệ
thuật
Về nội dung
+ Hành trình Sông Hương: Trong hành trình của Hương giang, “Dù ở điểm nhìn nào thì trong con mắt của Hoàng Phủ Ngọc Tường dòng sông Hương cũng hiện lên như một cô gái đẹp – không phải cái đẹp chung chung, mà vẻ đẹp của cô gái Huế, với cái duyên dáng và mang tâm hồn riêng của Huế.” (GS Nguyễn Đăng Mạnh)
++ Ở ngoại thượng nguồn, sông Hương mang vẻ đẹp phóng khoáng và man dại
như cô gái Di-gan, có khi vẻ đẹp trí tuệ như người mẹ phù sa của một vùng văn hóa sử sở.
++ Ở ngoại vi thành phố Huế, sông Hương mang vẻ đẹp tràn đầy sức sống, biến
ảo linh hoạt về cả màu sắc lẫn chuyển động như một người con gái đẹp với hành
trình tìm kiếm có ý thức người tình đích thực nhuốm màu cổ tích với những đường
cong đầy quyến rũ qua các địa danh Nhưng cũng có khi dòng sông khoác lên mình một vẻ đẹp cổ điển, rất Huế
++ Trong lòng thành phố Huế - bắt gặp người tình đích thực, Ngọc Tường cảm
nhận dòng sông Hương như điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế với những
tình cảm đặc biệt Đây là một phát hiện rất nữ tính, rất có hồn
++ Khi rời xa thành phố Huế, dòng sông mang tính cách của một người tình tuy
có chút lẳng lơ kín đáo nhưng lại rất dịu dàng và chung thủy với tình cảm lưu
luyến, chẳng muốn rời xa người tình của mình (Huế)
++ Đặc trưng của thể kí thể hiện như thế nào trong chặng hành trình của sông Hương ? Qua hành trình của sông Hương từ thượng nguồn về đến thành phố Huế rồi đổ ra biển, tác giả vẫn cung cấp những kiến thức khoa học, địa lý,… về sông Hương rất xác thực Tuy nhiên, bằng trí tưởng tượng, liên tưởng độc đáo,… Hoàng Phủ Ngọc Tường đã biến hành trình của sông Hương thành một cô gái đẹp với hành trình đi tìm kiếm người tình đích thực của mình
+ Sông Hương ở các góc độ : lịch sử, văn hóa, thi ca và đời thường: Ở góc độ lịch
sử, sông Hương chứng kiến và ghi dấu bao chiến công oanh liệt của cha anh từ thuở hồng hoang đến thời chống Pháp, chống Mỹ; ở góc độ văn hóa, sông Hương gắn liền với nền âm nhạc cổ điển Huế; ở góc độ thi ca, sông Hương trở thành nguồn cảm hứng thi ca bất tận của các nghệ sĩ; ở góc độ đời thường, sông Hương như một người con gái dịu dàng của đất nước với nét văn hóa rất riêng của Huế
Trang 8– Đặc sắc về nghệ thuật: Hoàng Phủ Ngọc Tường đã vận dụng kiến thức phong
phú về văn hóa, địa lí, lịch sử, thơ ca, nhạc họa,… để miêu tả, ghi chép con sông Hương và biến nó thành một hình tượng nghệ thuật Qua việc cảm nhận sông Hương thông qua các phương diện: lịch sử, văn hóa, thi ca và cả đời thường, ta thấy Hoàng Phủ Ngọc Tưởng đã thể hiện một “cái tôi” vừa uyên bác, tài hoa vừa yêu quê hương, đất nước tha thiết Đây cũng là một trong những đặc trưng tiêu biểu của thể loại này
VỢ CHỒNG A PHỦ – TÔ HOÀI
Kiến
thức về
tác giả
Tô Hoài (1920 – 2014), một nhà văn lớn, của nền văn học hiện đại Việt Nam Ông có vốn hiểu biết phong phú về văn hóa, phong tục tập quán và con người của nhiều vùng miền khác nhau trên đất nước Văn ông luôn hấp dẫn người đọc bởi lối trần thuật hóm hỉnh, sinh động của người từng trải, vốn tự vựng giàu có
Kiến
thức về
tác phẩm
Vợ chồng A Phủ (1952) là một truyện ngắn đặc sắc nhất trong tập Truyện Tây Bắc
– tác phẩm khẳng định bước phát triển mới của phong cách sáng tạo Tô Hoài Tập truyện này được ông viết sau chuyến đi thực tế dài tám tháng cùng bộ đội giải phóng Tây Bắc và được trao tặng Giải nhất, Giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam,
năm 1954 – 1955 Vợ chồng A Phủ có hai phần, phần đầu chính là trích đoạn
trong Ngữ văn 12 (tập một), kể về cuộc đời Mị và A Phủ ở Hồng Ngài, phần sau sau kể về cuộc đời vợ chồng Mị - A Phủ ở Phiềng Sa sau khi tham gia cách mạng
Đặc sắc
về nội
dung và
nghệ
thuật
Về nội dung: Thông qua miêu tả cuộc đời của hai nhân vật chính là Mị và A Phủ, tác phẩm đã phơi bày thân phận nô lệ và cuộc sống tủi cực của người dân lao động miền núi Tây Bắc dưới ách thống trị của phong kiến thực, dân đồng thời thể hiện vẻ đẹp cao quý trong tâm hồn họ
- Theo dòng trần thuật, nhân vật Mị được tái hiện thông qua sự so sánh tương phản giữa quá khứ với hiện tại: có khi là Tô Hoài kể (ngôi thứ ba), có khi thông qua hồi ức, lời độc thoại nội tâm của nhân vật:
+ Mị xuất hiện trong phần đầu của tác phẩm không phải qua ngôn ngữ tả mà qua
ngôn ngữ kể của nhà văn: “Ai ở xa về có việc vào nhà thống lí Pá Tra ….lúc nào cũng cúi mặt, buồn rười rượi” Qua đó Mị hiện lên với thân phận nô lệ, phải làm
việc quần quật, sống cô đơn lẻ loi trong không khí tập nập, giàu sang nhà thống lí
Từ đó thu hút sự chú ý của người đọc theo dõi số phận của Mị
+ Mị vốn là cô gái trẻ, xinh đẹp, tài năng, có lòng tự trọng, hiếu thảo, nhưng vì món nợ truyền kiếp mà bị gã cho nhà Thống Lý – tên địa chủ phong kiến miền núi Kể từ đây cuộc đời Mị bắt đầu chuỗi dài cuộc sống thống khổ, bị đày đọa cả thể xác và tinh thần Mị phải làm việc quần quất từ sáng sớm đến đêm khuya, đánh đập dã man, nhưng nỗi khổ lớn nhất của Mị là cuộc sống không có tình yêu, hạnh phúc (chi tiết về căn buồng con của Mị) Cuộc sống địa ngục đã hủy hoại tâm hồn Mị, biến Mị thành một cái xác không hồn vô tri, vô giác, suốt ngày lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa: “Bây giờ Mị nghĩ mình cũng là con trâu, con ngựa…”
+ Với tấm lòng nhân đạo của Tô Hoài, tiếng sáo đêm tình mùa xuân đã khơi dậy ý
Trang 9thức sống, ý thức hạnh phúc của Mị để rồi đến đêm đông giải cứu A Phủ, sức phản kháng ấy bùng phát mãnh liệt: Mị đã cứu người và cứu mình Đó là quá trình thức tỉnh, quá trình đấu tranh tự phát như một quy luật tất yếu Với ngòi bút miêu tả tâm lý sắc sảo, Tô Hoài đã phân tích những diễn biến tâm lý hết sức phức tạp nhưng cũng đầy tự nhiên của Mị trong đêm tình mùa xuân và đêm đông giải cứu A Phủ Khác với vẻ ngoài gan góc, mạnh mẽ, bộc trực của A Phủ, nhân vật
Mị tuy vẻ ngoài trầm lắng nhưng đời sống nội tâm lại sôi nổi, phức tạp Nhưng cũng vì thế mà Tô Hoài đã tái hiện lại những nỗi đau, sự đè nén của nhân dân lao động miền núi và khát vọng sống mạnh mẽ của họ thông qua nhân vật này Đó là một phương diện rất thành công của truyện
Đặc sắc về nghệ thuật: Nghệ thuật trần thuật; cách miêu tả phong tục tập quán của người miền núi; nghệ thuật xây dựng và khai thác tâm lí nhân vật…
VỢ NHẶT – KIM LÂN
Kiến
thức về
tác giả
Kim Lân (1920 – 2007) là nhà văn chuyên viết truyện ngắn Thế giới nghệ
thuật của ông chủ yếu tập trung ở khung cảnh làng quê với cuộc sống, thân phận người nông dân Ông có những trang viết đặc sắc về phong tục và đời sống làng quê, được mệnh danh là nhà văn “một long đi về với đất, với người, với thuần hậu nguyên thủy của cuộc sống nông thôn” Ông viết chân thật, xúc động về cuộc sống và người dân quê mà ông hiểu sâu sắc cảnh ngộ và tâm lí của họ Dù viết về phong tục hay con người, tong tác phẩm của Kim Lân ta vẫn thấy tháp thoáng cuộc sống và con người của làng quê Việt Nam nghèo khổ, thiếu thốn mà vẫn yêu đời ; thật thà, chất phác mà thông minh, hóm hỉnh, tài hoa
Kiến
thức về
tác phẩm
Vợ nhặt là một truyện ngắn xuất sắc của nhà văn Kim Lân in trong tập Con chó xấu xí (1962) Tiền thân của truyện ngắn là tiểu thuyết Xóm ngụ cư, được viết
sau Cách mạng tháng tám nhưng dang dở và thất lạc bản thảo Sau khi hòa bình lặp lại (1954), ông dựa vào một phần truyện cũ để viết lại truyện ngắn này
“Tôi định viết một số truyện ngắn những ý khác là khi đói người ta không nghĩ đến con đường chết mà chỉ nghĩ đến con đường sống Dù ở trong tình huống
bi thảm đến đâu, dù kề bên cái chết vẫn khát khao hạnh phúc, vẫn hướng về ánh sáng, vẫn tin vào sự sống và vẫn hi vọng ở tương lai, vẫn muốn sống, sống cho ra người Lúc đói người ta phải kiếm sống, thậm chí nhặt rác rưởi, nhặt ốc, nhặt chuột, ăn uống một cách thê thảm nhưng đến tối họ vẫn có một gia đình, gia đình nào về gia đình ấy, vẫn hi vọng một điều gì Họ vẫn trò chuyện về đồng áng, giỗ chạp, những chuyện hướng về một cái gì là sự sống, đói nhưng không làm cho con người ta đen tối, mất hi vọng dù phải cướp cám mà ăn.” (Lời nhà văn Kim
Lân kể về Vợ nhặt, Hà Minh Đức ghi)
Đặc sắc
về nội
dung và
nghệ
thuật
Về nội dung:
- Thành công của tác giả trong việc xây dựng tình huống độc đáo (tính chất bất thường), giàu ý nghĩa nhân bản (thể hiện khát vọng bình thường của con người) Tình huống truyện: Tràng - một nông dân ngụ cư nghèo khổ, ngờ nghệch, xấu xí, đang ế vợ bỗng nhiên “nhặt” được vợ giữa nạn đói khủng khiếp Tính chất bất
Trang 10thường: giữa nạn đói kinh hoàng, khi người ta chỉ nghĩ đến chuyện sống - chết thì Tràng lại lấy vợ; một người tưởng như không thể lấy được vợ lại “nhặt” được vợ một cách dễ dàng; Tràng “nhờ” nạn đói mới có được vợ còn người đàn bà vì đói khát mà theo không một người đàn ông xa lạ; việc Tràng có vợ khiến cho mọi người ngạc nhiên, không biết nên buồn hay vui, nên mừng hay lo; Khát vọng được sống (người đàn bà đói khát theo không về làm vợ Tràng); khát vọng yêu thương, khát vọng về mái ấm gia đình (suy nghĩ và hành động của các nhân vật đều hướng tới vun đắp hạnh phúc gia đình); khát vọng về tương lai tươi sáng (bà
cụ Tứ động viên con, người vợ nhặt nhắc đến chuyện phá kho thóc, Tràng nghĩ đến lá cờ đỏ sao vàng, ); Với tình huống truyện bất thường, khát vọng bình thường mà chính đáng của con người được gửi gắm
- Truyện xây dựng thành công các nhân vật Tràng, người đàn bà không tên và bà
cụ Tứ Thông qua những nhân vật này nhà văn thể hiện sâu sắc chủ đề của tác phẩm: Trong hoàn cảnh khốc liệt của đói khát, chết chóc những con người nghèo khổ vẫn yêu thương đùm bọc lẫn nhau, hướng về gia đình, khát khao hạnh phúc
và giữ vững niềm tin vào tương lai
+ Tràng là người đàn ông nghèo khổ, xấu xí, thô kệch Nạn đói vô tình lại tạo cơ hội cho Tràng có được hạnh phúc Trong một lần đi xe thóc liên đoàn,Tràng tình
cờ quen biết một người đàn bà khốn khổ bị cái đói đẩy đến bước đường cùng, sau hai lần gặp gỡ và vài câu nói bông đùa, người đàn bà không tên đã nhận lời theo Tràng về làm vợ Lúc đầu Tràng cũng rất lo lắng nhưng sau đó khát vọng hạnh phúc đã chiến thắng nỗi sợ hãi cái chết, Tràng quyết định cưu mang người phụ nữ
ấy để xây dựng tổ ấm gia đình ngay trong nạ đói Hành động đó cho thấy Tràng là người có tấm lòng nhân hậu, sẵn sàng cưu mang người khác, khát khao hạnh phúc
+ Người vợ nhặt là nạn nhân của nạn đói, bị dồn đẩy đến bước đường cùng trở nên liều lĩnh sẵn sàng đánh đổi cả danh dự và lòng tự trọng để có được cái ăn, chấp nhận theo không Tràng về làm vợ Nhưng đó không phải là bản chất của chị, trong sâu thẳm tâm hồn chị vẫn ẩn chứa nhiều phẩm chất tốt đẹp, từ khi nhận lời theo Tràng, có được chốn nương thân, những phẩm chất ấy dần được bộc lộ Chị trở lại là người phụ nữ hiền hậu, nết na, biết chăm lo vun vén cho gia đình, khát khao hạnh phúc…
+ Bà cụ Tứ tiêu biểu cho tấm lòng nhân hậu, giàu yêu thương của người mẹ Việt Nam nghèo Trước tình huống con trai đưa một người đàn bà xa lạ về làm vợ giữa lúc nạn đói đang diễn ra khốc liệt nhất, bà đã có cách ứng xử đầy nhân văn Bà không chì chiết con trai, con dâu mà sẵn lòng cưu mang người đàn bà xa lạ, chấp nhận chị là dâu con trong nhà, mừng mừng tủi tủi trước hạnh phúc của các con
Bà dậy sớm tham gia quét dọn nhà cửa, sân vườn, bà tíu tít với những dự định cho tương lai, nói toàn những chuyện vui vẻ sung sướng về sau để động viên các con Chi tiết về nồi chè cám của bà rất cảm động, nó cho thấy quyết tâm của người nghèo vượt qua nạn đói…
Đặc sắc về nghệ thuật: Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện; miêu tả tâm lí,