Quá trình hình thành và phát triển của công ty Công ty Dệt vải Công nghiệp Hà Nội hiện nay là một doanh nghiệp sở hữu 100% vốn nhà nước thuộc Tổng công ty Dệt-May Việt Nam Bộ công nghiệ
Trang 1THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TSCĐ Ở CÔNG TY
DỆT VẢI CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI 2.1 Đặc điểm tình hình sản xuất kinh doanh ở công ty dệt vải công nghiệp
Hà Nội.
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty Dệt vải Công nghiệp Hà Nội hiện nay là một doanh nghiệp sở hữu 100% vốn nhà nước thuộc Tổng công ty Dệt-May Việt Nam (Bộ công nghiệp) đang trong tiến trình cổ phần hoá và theo đó nhà nước giữ cổ phần chi phối 51% Tên giao dịch quốc tế: HAICATEX (Hanoi Industrical Canvas Textile Company), trụ sở chính của công ty đặt tại 93 đường Lĩnh Nam-phường Mai Động-quận Hoàng Mai-Hà Nội
Trang 2Công ty được thành lập tháng 04/1967 trong hoàn cảnh chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ Tiền thân từ một xí nghiệp thành viên của nhà máy liên hiệp dệt Nam Định, được lệnh tháo dỡ máy móc sơ tán lên Hà Nội với tên gọi ban đầu là Nhà máy dệt chăn, địa điểm tại xã Vĩnh Tuy-Thanh Trì-Hà Nội Trong thời gian mới thành lập công ty đã gặp rất nhiều khó khăn cả về cơ sở vật chất lẫn trình độ sản xuất Sản phẩm của xí nghiệp là chăn chiên được sản xuất
từ phế liệu bông đay và sợi rối của nhà máy dệt Nam Định Sau khi sơ tán lên
Hà Nội xí nghhiệp đã phải mua phế liệu của các nhà máy khác tại đây như Dệt 8/3, dệt kim Đông Xuân để tiếp tục sản xuất Nhưng do công nghệ thủ công và máy móc thiết bị lạc hậu, nguyên liệu để sản xuất thì tạp nham, nhiều nguồn cung cấp lại không đều đặn nên sản phẩm đạt chất lượng thấp và giá thành cao Chính vì vậy, trong suốt thời gian đầu mới thành lập xí nghiệp bị thua lỗ liên miên và nhà nước phải bù lỗ
Năm 1970 xí nghiệp lắp đặt dây chuyền sản xuất vải mành từ sợi bông
do Trung Quốc giúp xây dựng để cung cấp nguyên liệu cho Nhà máy Cao su Sao Vàng làm lốp xe đạp
Năm 1973 xí nghiệp đã trả lại dây chuyền dệt chăn cho Nhà máy dệt Nam Định và nhận nhiệm vụ lắp đặt dây chuyền sản xuất vải bạt song song với dây chuyền sản xuất vải mành, từ đó sản xuất kinh doanh dần đi vào thế ổn định Đến tháng 10/1973 nhà máy đổi tên thành Nhà máy Dệt vải Công nghiệp Hà Nội với các nhiệm vụ chủ yếu là dệt các loại vải dùng trong công nghiệp như vải mành, vải bạt, sợi xe-là nguyên liệu cho các ngành sản xuất trong nền kinh tế quốc dân
cụ thể: vải mành dùng để sản xuất lốp xe đạp, xe máy, ôtô, vải bạt dùng để làm giầy, băng tải sợi xe dùng làm chỉ may công nghiệp
Trang 3Từ năm 1974 đến năm 1986 trong cơ chế bao cấp, sản xuất theo định mức
kế hoạch của Nhà Nước, công ty luôn hoàn thành vượt mức kế hoạch và có xu thế năm sau cao hơn năm trước
Năm 1986 Đảng và Nhà nước đã thực hiện kế hoạch chuyển nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự định hướng và quản
lý vĩ mô của Nhà nước tiến lên chủ nghĩa xã hội Năm 1987 quyết định 217/HĐBT ra đời nhằm xoá cơ chế quản lý bao cấp, cởi trói cho các xí nghiệp đi vào cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, nhưng mãi đến năm 1989 quyết định này mới thực sự đi vào các doanh nghiệp Từ năm 1989 chuyển sang
cơ chế sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường công ty mất độc quyền buộc phải đương đầu với sự cạnh tranh gay gắt của thị trường trong nước và nước ngoài Chính cơ chế thị trường đã buộc công ty phải tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm để có thể đứng vững trong cạnh tranh Sự thay đổi cơ bản của cơ chế quản lý đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có quyền tự chủ về nhiều mặt như tự chọn người cung cấp nguồn nguyên liệu đầu vào, mở rộng phát triển thị trường theo định hướng cạnh tranh, phát triển và bảo toàn vốn Nhà nước giao
Trang 4Để thuận tiện cho việc giao dịch nước ngoài trong nền kinh tế mở cửa của nước ta và mở rộng chức năng kinh doanh của tổ chức ngành kinh tế kỹ thuật, ngày 22/3/1993 Bộ Công nghiệp quyết định đổi liên hiệp xí nghiệp dệt thành Tổng công ty dệt may Việt Nam Nhằm thực hiện quyết định 91/TTG ngày 7/3/1994 về việc thành lập tập đoàn kinh doanh, nghày 23/8/1994 Thủ tướng chính phủ ra quyết định thành lập Tổng công ty Dệt May Việt Nam (Vinatex) Trong tổng công ty bao gồm các thành viên là các doanh nghiệp hạch toán độc lập, doanh nghiệp hoạch toán phụ thuộc và các đơn vị sự nghiệp Công ty Dệt vải Công nghiệp Hà Nội là một thành viên của Tổng công ty và được Bộ công nghiệp cấp giấy phép thành lập số 100151 từ ngày 23/8/1994.
Qua 39 năm xây dựng và trưởng thành công ty đã phát triển lớn mạnh cả về
cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ sản xuất cũng như trình độ quản lý Tuy nhiên, đến cuối năm 2004 thì xí nghiệp vải bạt đã thu hẹp qui mô sản xuất và đến đầu năm 2005 đã giải thể
Công ty đã từng bước đi lên, từ khi chuyển sang sản xuất kinh doanh theo
cơ chế thị trường không cần sự hỗ trợ của Nhà nước như trong cơ chế quản lý bao cấp Chất lượng sản phẩm được đánh giá bằng các huy chương vàng, bạc tại các hội chợ, triễn lãm công nghiệp như:
- Vải màng cotton được cấp giấy chứng nhận chất lượng số 1 trên toàn quốc
- Vải bạt 3x3, 3x4 được tặng huy chương vàng trong hội chợ triễn lãm thành tựu kinh tế, kỹ thuật Việt Nam
Nhìn chung hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong những năm qua có xu hướng đi lên Công ty đã duy trì tốc độ phát triển tạo đủ công ăn việc làm cho cán bộ công nhân viên trong công ty, phát huy tối đa công suất máy móc thiết bị
Trang 5Một số chỉ tiêu tổng quát phản ánh tình hình công ty trong 3 năm gần đây, qua bảng sau đây:
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu tổng hợp Đơn vị tính: Triệu đồng
Trang 62.1.2 Đặc điểm tổ chức sản xuất:
Hiện nay, công ty có 3 xí nghiệp thành viên : xí nghiệp vải Mành, xí nghiệp May, xí nghiệp Vải không dệt Mỗi xí nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất khác nhau, nên việc sản xuất sản phẩm khác nhau Các sản phẩm chính của Công ty gồm
- Vải mành: được dùng làm nguyên liệu trong sản xuất lốp ôtô, xe máy,
xe đạp, dây đai thang, khách hàng chủ yếu là các công ty cao su như Công ty Cao
Su Miền Nam Cao Su Hải Phòng, Cao Su Sao Vàng, Cao Su Đà Nẵng, Cao Su Biên Hoà
- Vải không dệt: Đây là sản phẩm mới, được sản xuất trên dây chuyền sản xuất hiện đại của nước ngoài Nhờ sẵn có kinh nghiệm trong ngành dệt may
và yêu cầu từ thị trường trong nước, công ty Dệt vải công nghiệp Hà Nội đã đầu
tư và lắp đặt dây chuyền này vào tháng 04 năm 2002 Vải không dệt được dùng
để sản xuất Vải địa kỹ thuật, lót giày, thảm trải nhà
- Sản phẩm may: Chủ yếu may gia công cho nước ngoài như thị trường
EU, ngoài ra còn may xuất khẩu, bán trong nước
Ngoài ra Công ty còn được phép kinh doanh một số loại vật tư cho nghành dệt như nhập bông từ nước ngoài và bán cho các nhà máy sợi như: Dệt 8/3, Dệt Vĩnh Phú
Đặc điểm qui trình công nghệ sản xuất sản phẩm theo sơ đồ:
Sơ đồ 2.1: Quy trình công nghệ sản xuất vải Mành
Máy đậu Máy xe lần 1
Máy xe lần 2 212
Sợi dọc
Trang 7Sợi đơn cotton Máy suốt Sợi ngang Máy dệt Nhập kho Nhúng keo
Đóng gói
Sơ đồ 2.2: Quy trình công nghệ sản xuất ở Xí nghiệp Vải không dệt
Xơ PP,PE Máy xé Máy xếp lớp Máy xuyên kim 1 Đóng gói vải mộc Máy cuộn, cắt Máy xuyên kim 2 Máy kéo dãn Máy cán nhiệt định hình Đóng gói vải th nh ph à ẩm
Trang 8Kiểm vải Nhập kho
May( may cổ, tay thân, ghép, ho n th nh sp) à à Cắt (trải vải, giác mẫu,đính số, cắt) Nguyên liệu (vải, chỉ, kéo, khoá) Kiểm tra chất lượng
L , à đóng gói ,đóng kiện
Nhập kho
Trang 9Sơ đồ 2.3: Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm may
2.1.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của công ty Dệt vải công nghiệp Hà Nội
Công ty Dệt vải Công nghiệp Hà Nội là một đơn vị trực thuộc tổng công
ty Dệt may Việt Nam, nhưng công ty được phép hạch toán độc lập, được quyền quyết định tổ chức bộ máy quản lý trong doanh nghiệp mình cho phù hợp với điều kiện cụ thể của công ty Công ty tổ chức bộ máy quản lý theo kiểu: Tham mưu trực tuyến chức năng Các phòng ban tham mưu cho giám đốc theo từng chức năng nhiệm vụ của mình, giúp ban giám đốc có các quyết định có lợi cho công ty
Sơ đồ 2.4 tổ chức bộ máy quản lý công ty
P kỹ thuật đầu tư
Xí nghiệp vải m nh à GIÁM ĐỐC
Trang 10Kỹ thuật Phó giám đốc Sản xuất P.Sản xuất kinh doanh XNK
Trang 11Bộ máy quản lý của công ty bao gồm:
- Ban giám đốc công ty gồm:
Giám đốc công ty: là người chịu trách nhiệm trước nhà nước về hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty và là người chỉ đạo cao nhất, điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, đảm bảo việc làm và thu nhập cho cán bộ công nhân viên toàn công ty theo luật lao động của Nhà nước ban hành Ngoài ra giám đốc còn trực tiếp quản lý phòng tài chính kế toán, phòng sản xuất kinh doanh, phòng hành chính tổng hợp
Phó giám đốc công ty: là người giúp giám đốc quản lý các mặt hoạt động được phân công và uỷ quyền ra quyết định Có 2 phó giám đốc:
Phó giám đốc phụ trách nghiên cứu kỹ thuật, trực tiếp phụ trách phòng kỹ thuật và đầu tư, xí nghiệp vải mành, xí nghiệp vải không dệt
Phó giám đốc phụ trách điều động sản xuất, phụ trách các mặt công tác
- Các phòng chức năng gồm:
+ Phòng tài chính kế toán: Tổ chức mọi công việc hạch toán kế toán bao
gồm cả công tác hạch toán kế toán, quản lý tài chính, thực hiện mọi công tác báo cáo theo chế độ nhà nước ban hành; kiểm tra kiểm soát mọi hoạt động có liên quan đến tình hình sản xuất kinh doanh của công ty; hướng dẫn việc ghi chép ban đầu phục vụ cho việc điều hành quản lý trong hoạt động của công ty; tham mưu cho giám đốc những vấn đề có liên quan nhằm đem lại lợi nhuận cao nhất
Trang 12+ Phòng sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu: điều hành các hoạt động
sản xuất kinh doanh, hoạt động xuất nhập khẩu của công ty, tổ chức thực hiện tiêu thụ sản phẩm, quản lý cung ứng vật tư, bảo quản dự trữ vật tư; tổng hợp xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch xuất nhập khẩu cân đối toàn công ty để đảm bảo tiến độ yêu cầu của khách hàng; thực hiện kiểm tra, kiểm soát xác nhận mức hoàn thành kế hoạch, quyết toán vật tư, tổ chức sử dụng phương tiện vận tải có hiệu quả cao nhất
+ Phòng tổ chức hành chính: Nghiên cứu xây dựng hoàn thiện mô hình tổ
chức công ty, đào tạo sắp xếp cán bộ công nhân viên; xây dựng quỹ tiền lương định mức lao động, giải quyết các chế độ lao động theo quy định của nhà nước; thực hiện nhiệm vụ văn thư; thư ký giám đốc
+ Phòng kỹ thuật đầu tư: xây dựng chiến lược sản phẩm của công ty, tiếp
nhận, phân tích các thông tin khoa học công nghệ mới, xây dựng quản lý các quy trình quy phạm tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng sản phẩm định mức tiêu chuẩn kỹ thuật, tiến hành nghiên cứu chế thử sản phẩm mới, đánh giá các sáng kiến cải tiến kỹ thuật công ty, xây dựng các biện pháp khoa học kỹ thuật, tổ chức kiểm tra, sát hạch để xác định trình độ tay nghề cho công nhân, quản lý hồ
sơ kỹ thuật của công ty
+ Phòng dịch vụ đời sống: tổ chức các bữa ăn ca, bồi dưỡng độc hại cho người
lao động, phục vụ cơm khách hội nghị khi có yêu cầu, khám chữa bệnh cho người lao động, theo dõi bệnh nghề nghiệp, chỉ đạo công tác vệ sinh môi trường
2.1.4 Tổ chức công tác kế toán của công ty Dệt vải Công nghiệp Hà Nội
Trang 13Bộ máy kế toán của công ty Dệt vải Công nghiệp Hà Nội được tổ chức theo hình thức tập trung Toàn bộ công tác kế toán của công ty được thực hiện ở phòng kế toán, còn ở các xí nghiệp thành viên chỉ bố trí các kế toán phân xưởng làm nhiệm vụ thống kê, ghi chép ban đầu để gửi về phòng Tài chính- Kế toán
2.1.4.1 Bộ máy kế toán của công ty.
Niên độ kế toán- tài chính từ 01/01 đến 31/12 Đơn vị tiền tệ ghi sổ: CTSD VNĐ làm đơn vị tiền tệ
Phòng Tài chính- Kế toán gồm có 7 người: Đứng đầu là kế toán trưởng, một phó phòng kiêm kế toán tổng hợp, 1 thủ quỹ và các nhân viên kế toán Nhiệm vụ chủ yếu của phòng kế toán là:
- Tổ chức mọi công việc hạch toán kế toán bao gồm cả công tác hạch toán tài chính, thực hiện mọi báo cáo theo chế độ Nhà nước ban hành
- Kiểm tra kiểm soát mọi hoạt động có liên quan đến tình hình sản xuất kinh doanh của công ty
- Hướng dẫn việc ghi chép ban đầu phục vụ cho việc điều hành quản lý trong hoạt động của công ty
- Tham mưu cho giám đốc những vấn đề có liên quan nhằm đem lại lợi nhuận tối ưu
- Tham gia kiểm kê, tổ chức bảo quản, lưu trữ hồ sơ tài liệu kế toán
Để thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ của kế toán, căn cứ vào yêu cầu, trình
độ quản lý và trình độ hạch toán, bộ máy kế toán được tổ chức như sau:
Trang 14- Kế toán trưởng: Là người trực tiếp phụ trách phòng kế toán, chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý tài chính cấp trên và giám đốc công ty về các vấn
đề có liên quan đến tình hình tài chính và công tác kế toán của công ty,có nhiệm
vụ quản lý và điều hành toàn bộ phòng kế toán theo chức năng và chuyên môn, kiểm tra chỉ đạo công tác quản lý, sử dụng vật tư theo đúng chế độ tài chính mà Nhà nước ban hành
- Phó phòng kế toán: Có nhiệm vụ hàng tháng căn cứ vào NKCT, bảng kê, bảng phân bổ do các kế toán thành phẩm cung cấp để vào sổ tổng hợp cân đối theo dõi các tài khoản, sau đó lập bảng cân đối kế toán, các báo cáo tài chính,
và báo cáo với kế toán trưởng về việc thanh, quyết toán của công ty
- Kế toán thanh toán và TSCĐ : Có nhiệm vụ theo dõi tình hình thu chi,
sử dụng quỹ tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền vay và mở sổ theo dõi chi tiết tài sản cố định cho từng đơn vị của công ty
- Kế toán tiền lương và tiêu thụ thành phẩm: Có nhiệm vụ căn cứ vào bảng tổng hợp thanh toán lương và các khoản phụ cấp do các nhân viên kinh tế
ở các xí nghiệp thành viên gửi lên làm căn cứ để lập bảng tổng hợp thanh toán lương cho từng xí nghiệp, lập bảng phân bổ lương và bảo hiểm xã hội, bảo hiểm
y tế, kinh phí công đoàn Ngoài ra theo dõi nhập xuất kho thành phẩm, tình hình tiêu thụ sản phẩm và công nợ với các khách hàng Mở sổ theo dõi nhập xuất, tồn hàng hoá thành phẩm Theo dõi sổ chi tiết bán hàng cho từng loại hàng, đến cuối quý lập báo cáo kết quả kinh doanh
Trang 15- Kế toán nguyên vật liệu: Hàng ngày căn cứ vào các phiếu nhập xuất kho về nguyên vật liệu, dụng cụ để ghi vào sổ chi tiết vật tư, cuối tháng lập bảng tổng hợp xuất nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ Đồng thời ghi các hoá đơn GTGT, phiếu xuất kho của bên bán để vào sổ chi tiết thanh toán với người bán.
- Kế toán tổng hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm: Căn cứ vào các bảng phân bổ, bảng tổng hợp vật liệu xuất dùng, các bảng kê và NKCT có liên quan để tổng hợp vào sổ chi tiết sản xuất, phân bổ chi phí sản xuất và tính giá thành cho từng sản phẩm, mặt hàng, từng mã hàng cụ thể
- Thủ quỹ: Là người chịu trách nhiệm trong việc quản lý bảo quản toàn
bộ lượng tiền mặt của công ty
Kế toán trưởng
Phó phòng kế toán (kế toán tổng hợp)
Kế toán vật tư
Kế toán tiền lương & tiêu thụ th nh ph à ẩm
Kế toán tập hơp CP & tính GT SP
Kế toán thanh toán Thủ quỹ Nhân viên kinh tế ở các xí nghiệp th nh viên à
Trang 16Sơ đồ 2.5: Tổ Chức bộ máy kế toán tại công ty Dệt vải Công nghiệp Hà Nội
2.1.4.2 Hình thức kế toán
a) Hệ thống chứng từ kế toán sử dụng trong công ty.
Theo điều lệ tổ chức kế toán do Nhà nước ban hành thì mọi nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, kế toán phải lập chứng từ theo đúng quy định trong chế độ chứng từ kế toán và phải ghi chép đầy đủ, kịp thời đúng với tình hình thực tế phát sinh Danh mục chứng từ kế toán tại công ty Dệt vải Công nghiệp Hà Nội bao gồm:
• Lao động tiền lương: Bảng chấm công, bảng thanh toán tiền lương, phiếu nghỉ, bảo hiểm xã hội, phiếu xác nhận hoàn thành công việc, phiếu báo làm thêm
Trang 17• Hàng tồn kho: Phiếu nhập kho, phiếu xuất kho, thẻ kho, biên bản kiểm
kê vật tư, sản phẩm hàng hoá
• Bán hàng: Hoá đơn kiêm phiếu xuất kho, nhập kho
• Tiền tệ: Phiếu thu, phiếu chi, giấy đề nghị tạm ứng, giấy báo có, báo nợ của ngân hàng, giấy thanh toán theo dõi tiền tạm ứng
• TSCĐ: Biên bản giao nhận TSCĐ, thẻ TSCĐ, biên bản thanh lý TSCĐ
b) Hệ thống sổ sách và báo cáo tài chính:
* Hệ thống sổ sách bao gồm các sổ phù hợp với hình thức NKCT với các
sổ kế toán như: Sổ chi tiết, nhật ký chứng từ, sổ tổng hợp, sổ cái theo loại sổ ngang
- Nhật ký chứng từ bao gồm: nhật ký chứng từ số 1,2,4,5,7,8,9,10
• Nhật ký chứng từ số 1: Theo dõi phần chi của doanh nghiệp về tiền mặt
• Nhật ký chứng từ số 2: Theo dõi phần chi của doanh nghiệp về tiền gửi ngân hàng
• Nhật ký chứng từ số 4: Theo dõi phần vay và nợ
• Nhật ký chứng từ số 5: Theo dõi phần chi đối với người bán
• Nhật ký chứng từ số 7: Tập hợp chi phí sản xuất kinh doanh toàn doanh nghiệp
• Nhật ký chứng từ số 8: để xác định kết quả kinh doanh
• Nhật ký chứng từ số 9: Theo dõi cho các TSCĐ
• Nhật ký chứng từ số 10: Theo dõi phần nguồn vốn
Trang 18* Hệ thống báo cáo tài chính áp dụng của công ty Dệt vải Công nghiệp Hà Nội là:
Căn cứ vào hệ thống Báo cáo tài chính Nhà nước đã ban hành theo Quyết định 1141/TC-QĐ-CĐkế toán ngày 01/11/1995 của Bộ Tài chính, hệ thống báo cáo tài chính của công ty bao gồm:
- Bảng cân đối kế toán (Mẫu B01-DN )
- Báo cáo kết quả kinh doanh (Mẫu B02- DN )
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Theo phương pháp trực tiếp )
- Thuyết minh báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính được lập vào cuối mỗi quý kể từ ngày bắt đầu niên độ
kế toán (từ 01/01 đến 31/12 hàng năm )
Báo cáo phục vụ cho việc quản trị doanh nghiệp gồm:
- Báo cáo công nợ (thường xuyên)
- Báo cáo phân tích tình hình tài chính (hàng tháng)
Trang 19Báo cáo t i chính à
Sổ cái
Trang 20- Hàng ngày căn cứ vào chứng từ gốc được kiểm tra lấy số liệu ghi trực tiếp vào các chứng từ hoặc bảng kê có liên quan Nếu hàng ngày ghi vào bảng kê thì cuối tháng phải chuyển số liệu tổng hơp vào bảng kê và nhật ký chứng từ.
- Đối với các loại chi phí phát sinh nhiều lần mang tính chất phân bổ sâu đó lấy kết quả của bảng phân bổ ghi vào bảng kê nhật ký chứng từ có liên quan
- Cuối tháng khoá sổ các nhật ký chứng từ kiểm tra đối chiếu số liệu trên nhật ký chứng từ, lấy số liệu tổng cộng của các nhật ký chứng từ ghi trực tiếp vào sổ cái một lần
- Riêng đối với các tài khoản phải mở các sổ hoặc thể kế toán chi tiết thì chứng từ gốc sau khi vào nhật ký chứng từ hoặc bảng kê được chuyển sang bộ phận kế toán chi tiết để ghi vào các sổ hoặc các thẻ kế toán chi tiết và căn cứ vào
đó lập các bảng tổng hợp chi tiết theo từng tài khoả để đối chiếu với sổ cái
Trang 21- Số liệu tổng cộng ở sổ cái và một sổ chỉ tiêu chi tiết trong nhật ký chứng
từ, bảng kê và các bảng tổng hợp chi tiết dùng để lập bảng cân đối kế toán với các vấn đề có liên quan
2.1.3 Chính sách kế toán
Chế độ kế toán áp dụng tại công ty
- Niên độ kế toán áp dụng bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 của năm báo cáo và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 năm báo cáo
Đơn vị tiền tệ sử dụng là: VNĐ, công ty có tài khoản tiền gửi ngân hàng tại Ngân hàng công thương khu vực II- Hai Bà Trưng- Hà Nội
STK: 102 020 000 001
Mã số thuế: 0100100985-1
Công ty sử dụng phần mềm kế toán FAST 2004- đây là một trong phần mềm kế toán tiên tiến nhất và được ưu chuộng hiện nay Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, kế toán chỉ việc nhập số liệu vào máy và chương trình sẽ tự động định khoản, vào sổ, theo qui định và theo chế độ hiện hành tại công ty đã được cài đặt
Một số phương pháp hạch toán:
* Phương pháp hạch toán hàng tồn kho
Đối với công ty Dệt vải Công nghiệp Hà Nội để hạch toán hàng tồn kho thì công ty sử dụng phương pháp kê khai thường xuyên Phương pháp định giá trị hàng tồn kho cuối kỳ theo phương pháp bình quân gia quyền
* Phương pháp hạch toán thuế GTGT
Công ty hạch toán thuế VAT theo phương pháp khấu trừ nên:
Trang 22- Để hạch toán thuế GTGT đầu vào cuối tháng căn cứ vào các hóa đơn GTGT khi mua hàng, dịch vụ kế toán lập bảng kê hoá đơn, chứng từ hàng hoá mua vào.
- Thuế GTGT đầu ra được kế toán phản ánh trên sổ tiêu thụ đến cuối tháng lập bảng kê hoá đơn chứng từ hàng hoá bán ra, các bảng kê này được mở cho từng tháng, ghi theo trình tự, thời gian và theo mức thuế suất
- Sau khi lập bảng kê, kế toán lập tờ khai thuế GTGT Tờ khai nầy phản ánh tổng hợp số thuế GTGT đầu ra, thuế GTGT đầu vào, hoá đơn chứng từ hàng hoá bán ra và tờ khai thuế tháng trước
Thuế VAT
phải nộp =
Thuế VAT đầu ra -
Thuế VAT đầu vào
Trang 232.2 Thực trạng tổ chức công tác kế toán TSCĐ ở công ty Dệt vải công nghiệp
Hà Nội
2.2.1 Công tác quản lý TSCĐ
2.2.1.1 Đặc điểm của TSCĐ ở công ty
TSCĐ ở công ty Dệt vải công nghiệp Hà Nội hiện nay chủ yếu là các máy móc, thiết bị công tác, các máy may, dệt…phục vụ trực tiếp cho qúa trình sản xuất tạo ra các sản phẩm Nhìn chùng so với các công ty trong cùng ngành thì lực lượng TSCĐ tương đối lớn, đa dạng và phong phú Tính đến hết ngày
31/12/2005 tổng giá trị TSCĐ là: 89.346.842.747 đồng Không nằm ngoài qui
định của Bộ Tài chính, TSCĐ của công ty có giá trị từ 10.000.000 đồng trở lên
và có giá trị sử dụng trên 1 năm Nền kinh tê phát triển, kéo theo sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường, để dễ đứng vững, duy trì và mở rộng thị phần đòi hỏi nhà sản xuất phải luôn đổi mới đầu tư đúng hướng Do đặc điểm sản xuất- kinh doanh của công ty bao gồm nhiều loại chủ yếu là của Việt Nam và nhập từ Trung Quốc và Ba Lan TSCĐ được đầu tư đổi mới chủ yếu là do các nguồn vốn khác như vốn vay, vốn NSNN cấp, còn nguồn vốn tự bổ sung là không đáng kể Và cho đến nay công ty đã có một số lượng TSCĐ phong phú và đồ sộ
Về cơ cấu, do đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty, là công ty sản xuất nên chủ yếu là máy móc thiết bị, nhà cửa vật kiến trúc, còn phương tiện vận tải, thiết bị quản lý thì chiếm tỷ trọng nhỏ
2.2.1.2 Phân loại TSCĐ
Trang 24Trong các doanh nghiệp sản xuất, nhìn chung thì TSCĐ rất đa dạng cả về
số lượng, chất lượng và chủng loại Để quản lý chặt chẽ và có hiệu quả TSCĐ, cũng như các công ty khác, công ty đã tiến hành phân loại TSCĐ Hiện nay, TSCĐ trong công ty được phân loại theo các cách chủ yếu sau:
a) Phân loại theo nguồn hình thành:
Hiện nay, TSCĐ của công ty Dệt vải công nghiệp Hà Nội được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau:
- TSCĐ được hình thành từ nguồn ngân sách cấp:16.313.057.467,đ
- TSCĐ được hình thành từ nguồn vốn tự bổ sung: 248.061.509,đ
- TSCĐ được hình thành từ các nguồn khác (vay tín dụng)
72.185.723.770,đ
Việc phân loại TSCĐ theo nguồn hình thành sẽ giúp công ty có biện pháp
mở rộng, khai thác các nguồn vốn, mặt khác có thể kiểm tra, theo dõi tình hình thanh toán, chi trả cho đúng hạn các khoản vay
b) Phân loại theo đặc trưng kỹ thuật
Theo cách phân loại này, TSCĐ ở công ty Dệt vải công nghiệp Hà Nội được chia làm 4 nhóm chính (số liệu lấy 31/12/2005)
- Nhóm 1: Nhà cửa, vật kiến trúc 18.394.580.922, đ
- Nhóm 2: Máy móc, thiết bị công tác 69.195.586.366, đ
- Nhóm 3: Phương tiện vận tải truyền dẫn 1.222.345.671, đ
- Nhóm 4: Thiết bị dụng cụ quản lý 218.195.096, đ
- Nhóm 5: TSCĐ hữu hình khác 31.761.311, đ
- Nhóm 6: TSCĐ vô hình: 284.373.379, đ
Trang 25Theo cách phân loại này, cho ta biết được kết cấu TSCĐ ở công ty theo 4 nhóm đặc trưng và tỷ trọng của từng nhóm trong tổng số TSCĐ hiện có của công
ty, tuy nhiên qua cách phân loại này ta cũng có thể thấy tình hình trạng thiết bị dụng cụ quản lý là chưa cao Cùng với sự phát triển đất nước, công ty cần phải trang bị tốt hơn để phục vụ cho công tác quản lý, tránh tình trạng bị tụt hậu so với các doanh nghiệp khác
c) Phân loại TSCĐ theo bộ phận và nhóm:
- Cửa hàng xăng dầu: 605.764.471, đ
Và ở công ty Dệt vải công nghiệp Hà Nội hầu hết mọi TSCĐ đều được
sử dụng, không có tài sản thừa
2.2.1.3 Đánh giá TSCĐ
Để hạch toán và tính khấu hao TSCĐ và phân tích hiệu quả sử dụng TSCĐ, cần tiến hành đánh giá và giá trị còn lại
a) Đánh giá theo Nguyên giá
Nguyên giá của TSCĐ ở công ty được xác định theo công thức:
Nguyên giá TSCĐ = Giá mua + Các chi phí có liên quan
Trích dẫn số liệu: Ngày 20/7/2005, công ty mua một máy Biến tần Simen và
BOP , với giá mua chưa có thuế là 57.251.000, đ, thuế GTGT 5%, tổng giá thanh toán 60.413.550, đ
Trang 26b) Đánh giá theo giá trị còn lại
Giá trị còn lại của công ty được xác định theo công thức chung:
Trang 27Trích dẫn số liệu: Nghiệp vụ kế toán ngày 01/01/2003, công ty có mua 1
Máy nối sợi Nguyên giá 238.555.100 đồng Số đăng ký khấu hao là 10 năm
= = 10
100 555 238
Giá trị còn lại của = 238.555.100- (1.987.967,5*26)=186.767.935, đ
2.2.2 Thực trạng tổ chức kế toán chi tiết TSCĐ
Xuất phát từ yêu cầu quản lý ngày càng cao, công tác tổ chức hạch toán tại công ty Dệt vải công nghiệp Hà Nội luôn được hoàn thiện nhằm đáp ứng những thông tin chính xác nhât, kịp thời nhất cho những nhà quản lý, góp phần tăng doanh thu của công ty
2.2.2.1 Thủ tục tăng, giảm TSCĐ.
Kế toán TSCĐ cũng như bất kỳ một nghiệp vụ kinh tế phát sinh nào của công ty cũng dựa trên cơ sở những chứng từ gốc để ghi sổ báo cáo và lập báo cáo kế toán Ở công ty Dệt vải công nghiệp Hà Nội việc tổ chức chứng từ kế toán đã đảm bảo tính đầy đủ, hợp pháp và hợp lệ, giúp các nhà quản lý kiểm tra Việc quản lý quá trình tăng, giảm TSCĐ được thực hiện theo một thủ tục chặt chẽ, khoa học theo dõi thường xuyên đảm bảo chính xác, thận trọng và đầy đủ
Trang 28Để quản lý tốt quá trình tăng, giảm TSCĐ và để ghi sổ kế toán, kế toán căn cứ vào: Hợp đồng kinh tế, Hoá đơn mua hàng, hoá đơn bán hàng (GTGT), hoá đơn vận chuyển, các khế ước vay nợ, kế toán căn cứ vào biên bản bàn giao
để ghi tăng, giảm TSCĐ dưới đây là thủ tục tăng, giảm TSCĐ ở công ty:
a) Thủ tục tăng TSCĐ :
Xuất phát từ nhu cầu của các bộ phận trong công ty, căn cứ vào các kế hoạch đầu tư trong công ty, công ty tiến hành lên kế hoạch mua sắm hoặc xây mới cho mỗi loại TSCĐ cho mỗi năm Khi kế hoạch được Giám đốc phê duyệt, công ty tiến hành ký kết hợp đồng với những nhà cung cấp, căn cứ hợp đồng kinh tế, kế toán làm thủ tục cho cán bộ vật tư đi mua Trong quá trình mua bán, mọi chi phí phát sinh đều được tập hợp theo dõi với đầy đủ số hoá đơn kèm theo Khi hợp đồng mua bán hoàn thành, hai bên sẽ thanh lý hợp đồng, quyết toán, thanh toán tiền đồng thời làm thủ tục ghi tăng TSCĐ Riêng đối với những TSCĐ có giá trị nhỏ thì không cần ký kết hợp đồng mà chỉ cần thanh toán theo hoá đơn của Bộ Tài chính Thông thường TSCĐ sau khi được mua sắm nhập kho qua bộ phận tiến hành chạy thử, rồi mới xuất kho sang bộ phận sử dụng, sau khi đáp ứng các tiêu chuẩn
Trích dẫn số liệu:
a) Tăng do mua mới
Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ điều hành sản xuất kinh doanh của công ty, sau khi thực hiện những thủ tục ban đầu (theo quy định của công ty và Tổng công ty dệt may Việt Nam), công ty đã ký hợp đồng mua một máy biến tần Simen và BOP của công ty tự động hoá cơ khí Hà Nội với giá mua chưa có thuế là 57.251.000, đ thuế suất 5%, công ty đã ký hợp đồng mua máy như sau:
Trang 29
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
HỢP ĐỒNG MUA BÁN
Căn cứ vào pháp lệnh Nhà nước ban hành ngày 25/09/1989
Căn cứ vào nghi định số 17/HĐBT của hội đồng bộ trưởng ban hành ngày 16/01/1990 qui định chỉ tiêu về việc thực hiện pháp lệnh hợp đồng kinh tế.
Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ yêu cầu của hai bên.
Hôm nay 10/7/2005, chúng tôi gồm:
Bên A: Công ty Tự động hoá- Cơ khí Hà Nội (bên bán)
Địa chỉ: Số 2 Lô A- Thanh Nhàn- Hà Nội
Điện thoại: 04 5385827 Fax: 04 53805842
Ngân hàng công thương- Hà Nội - STK: 710A 00065
Đại diện là ông: Trần Trung Thành Chức vụ: Giám đốc
Bên B: Công ty Dệt vải công nghiệp Hà Nội (bên mua)
Địa chỉ: 93- Lĩnh Nam-Hai Bà Trưng- Hà Nội
Điện thoại: 04 5290321
Đại diện là ông: Phạm Hoà Bình- Chức vụ: giám đốc công ty
Ngân hàng công thương khu vực II- Hai Bà Trưng- Hà Nội
Trang 30STK: 102 020 000 001
Mã số thuế: 0100100985-1
Sau khi bàn bạc thống nhất hai bên cùng nhất trí thoả thuận ký kết hợp đồng kinh tế với các điều khoản sau:
Điều 1: Bên A đồng ý bán cho bên B, bên B đồng ý mua hàng hoá với các
nôi dung sau:
STT Tên hàng hóa ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
Điều 2: 1 Thời gian thanh toán
Bên mua thanh toán cho bên bán 100% tổng giá trị hợp đồng sau khi ký hợp đồng va sau khi nhận máy
2 Đồng tiền thanh toán:
Bên mua thanh toán cho bên bán bằng đồng tiền Việt Nam, tiền chuyển khoản được qui đổi theo giá bán ra đô la Mỹ của ngân hàng Ngoại thương TW tại thời điểm thanh toán
Người hưởng lợi: công ty Dệt vải công nghiệp Hà Nội