Đề tài Đánh giá việc đảm bảo các nhu cầu cơ bản của Việt Nam thời gian qua ( từ 1993 đến nay ) theo các chí HDI qua đó đánh giá trình độ phát triển con người Việt Nam hiện nay
Trang 1Thảo luận nhóm Kinh tế phát triển
Đề tài : ĐÁNH GIÁ VIỆC ĐẢM BẢO CÁC NHU CẦU CƠ BẢN CỦA VIỆT NAM THỜI GIAN QUA (TỪ 1993 ĐẾN NAY) THEO CÁC TIÊU CHÍ HDI, QUA ĐÓ ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VIỆT NAM
HIỆN NAY
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện :
TS Ngô Thắng Lợi
Chu Hoàng Ngọc Bích Nguyễn Thọ Chung Nguyễn Hồng Dương Nguyễn Mai Hiền
Vũ Tùng Lâm Trần Đức Trung Tiến Nguyễn Anh Tuấn
Trang 2Đề tài nhóm 3: Đánh giá việc bảo đảm các nhu cầu cơ bản của Việt Nam thời gian qua (từ 1993 đến nay) theo các tiêu chí HDI, qua đó đánh giá trình độ phát triển con
người của Việt Nam hiện nay.
Lời mở đầu:
1 Mục tiêu nghiên cứu
Tài sản thực sự của một quốc gia là con người và mục đích của phát triển là tạo môitrường cho phép người dân được hưởng thụ một cuộc sống trường thọ, mạnh khỏe vàsáng tạo Phát triển con người vừa là phương tiện, vừa là mục tiêu của phát triển kinh tê.Các quôc gia đều đặt trọng tâm vào phát triển con người
Chỉ số phát triển con người (HDI) là khái niệm do UNDP (chương trình phát triển củaLiên hiệp quốc) đưa ra, với một hệ thống cơ sở lý luận và phương pháp tính nhằm đánhgiá và so sánh mức độ phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia và vùng lãnh thổ trênphạm vi thế giới Từ khi xuất hiện khái niệm HDI thì đây được xem là chỉ số để xếp hạngcác nước theo trình độ phát triển kinh tế xã hội thay thế chỉ số GNP bình quân đầu người
mà trước đó người ta vẫn thường coi là thành công hay thất bại của sự điều hành nền kinh
tế
HDI quan niệm, phát triển con người chính là và phải là sự phát triển mang tính nhânvăn Ðó là sự phát triển vì con người, của con người và do con người Quan điểm pháttriển con người nhằm mục tiêu mở rộng cơ hội lựa chọn cho người dân và tạo điều kiện
để họ thực hiện sự lựa chọn đó (có nghĩa là sự tự do) Những lựa chọn quan trọng nhất làđược sống lâu và khỏe mạnh, được học hành và có được một cuộc sống ấm no Năm đặctrưng của quan điểm phát triển con người là: Con người là trung tâm của sự phát triển;người dân vừa là phương tiện vừa là mục tiêu của phát triển; việc nâng cao vị thế củangười dân (bao hàm cả sự hưởng thụ và cống hiến); chú trọng việc tạo lập sự bình đẳngcho mọi người dân về mọi mặt: tôn giáo, dân tộc, giới tính, quốc tịch ; tạo cơ hội lựachọn tốt nhất cho người dân về: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa
Thực tế trên cho thấy, HDI của nước ta đang ở tình trạng có các chỉ số thành phần vậnđộng không đều: Chỉ số tuổi thọ và chỉ số kinh tế có tăng lên, song trong giai đoạn 2001-
2005, chỉ số giáo dục giảm đi bằng 3/5 mức tăng của chỉ số kinh tế Lấy giá trị HDI mà tađang đạt năm 2005, đem so sánh với một số nước gần ta chothấy: Malaysia đạt giá trị nàytrước ta 17 năm, Philippines trước 17 năm, Thái Lan trước 14 năm, Trung Quốc trước 6
Trang 3năm Điều này cho thấy, trong khi ta cố gắng vươn lên thì các quốc gia khác cũng vươnlên với tốc độ không những không kém, mà còn có xu hướng nhanh hơn ta.
Với tầm quan trọng như vậy của phát triển con người, chúng ta phải nghiên cứu vấn đềnày nhằm hiểu thêm và nắm rõ được các yếu tố phát triển con người cũng như tìm ra cácgiải pháp nâng cao chỉ số HDI, nâng cao trình độ phát triển con người ở Việt Nam
2 Giới hạn nghiên cứu
Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi sẽ đề cập đến việc bảo đảm các nhu cầu cơ bảncủa Việt Nam thời gian qua (từ 1993 đến nay) theo các tiêu chí HDI, qua đó đánh giátrình độ phát triển con người của nước ta hiện nay Đánh giá các chỉ số phát triển conngười là một việc làm hết sức cần thiết cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá củamột quốc gia văn hóa có những nét đặc thù độc đáo như Việt Nam Trong nghiên cứucũng như trong giải quyết những vấn đề thực tiễn, việc so sánh chỉ số phát triển conngười của Việt Nam với các Quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới, từ đó tìm ranhững thế mạnh cần phát huy và những điểm yếu cần khắc phục, từng bước cải thiện chỉ
số phát triển con người… luôn là một công việc có ý nghĩa quan trọng
3 Kết cấu nội dung nghiên cứu
Đáp ứng mục tiêu, nội dung nghiên cứu đã đặt ra, kết quả nghiên cứu của đề tài đượctrình bày trong 3 phần:
Phần 1: Lý luận chung về phát triển con người
Phần 2 Thực trạng và đánh giá các tiêu chí phát triển con người tại Việt Nam
từ năm 1993 đến nay
Phần 3: Kết luận về trình độ phát triển con người tại Việt Nam hiện nay và những kiến nghị
Trang 4Phần 1: Lý luận chung về phát triển con người
1.1 Định nghĩa phát triển con người
Con người luôn được đặt vào vị trí trung tâm của phát triển xã hội Theo nghĩa rộng, kháiniệm phát triển con người bao trùm tất cả các khía cạnh trong cuộc sống của mọi cánhân, từ tình trạng sức khỏe tới sự tự do về kinh tế và chính trị Báo cáo Phát triển conngười năm 1990 của Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) đã nhấn mạnh
"Phát triển con người là mục đích cuối cùng, tăng trưởng kinh tế là phương tiện"; đồngthời chỉ rõ “Mục tiêu căn bản của phát triển là tạo ra một môi truờng khuyến khích conngười được hưởng cuộc sống lâu dài, khỏe mạnh và sáng tạo” và định nghĩa phát triểncon người như là “một quá trình mở rộng phạm vi lựa chọn của người dân”
Phát triển con người nhằm mục tiêu mở rộng cơ hội lựa chọn cho người dân và tạo điềukiện để họ thực hiện sự lựa chọn đó (có nghĩa là sự tự do) Những lựa chọn quan trọngnhất là được sống lâu và khỏe mạnh, được học hành và có được một cuộc sống ấm no.Năm đặc trưng của phát triển con người là:
i Con người là trung tâm của sự phát triển
ii Người dân vừa là phương tiện vừa là mục tiêu của phát triển
iii Việc nâng cao vị thế của người dân (bao hàm cả sự hưởng thụ và cống hiến)
iv Chú trọng việc tạo lập sự bình đẳng cho mọi người dân về mọi mặt: tôn giáo, dântộc, giới tính, quốc tịch
v Tạo cơ hội lựa chọn tốt nhất cho người dân về: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa
1.2 Thước đo phát triển con người HDI
1.2.1 Các chỉ số thước đo:
Sự phát triển con người có thể được thể hiện qua nhiều khía cạnh trong xã hội như lànhững yếu tố rời rạc hay bằng các chỉ số tổng hợp Tuổi thọ trung bình, thu nhập bìnhquân đầu người, tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ nhập học các cấp giáo dục là nhữngphương diện thể hiện sự phát triển con người của mỗi quốc gia và cũng là những chỉ sốthước đo
Trang 5Công thức tính các chỉ số thước đo
Để tính các chỉ số trên cần có các giá trị tối thiểu và tối đa (các giá trị biên) được chọn vàquy định cho từng chỉ số Mỗi chỉ số thước đo tính được cho một giá trị nằm trongkhoảng từ 0 đến 1 khi áp dụng công thức tính chung sau:
Chỉ số thước đo = Giá trị lớn nhất – giá trị nhỏ nhấtGiá trị thực – giá trị nhỏ nhất
Các giá trị biên để tính chỉ số thước đo
Giới hạn trên Giới hạn dưới
Chỉ số thu nhập đầu người = log(GDP/người) – log(100)log(40000) – log(100)
- Chỉ số tuổi thọChỉ số tuổi thọ bình quân đo thành tựu tương đối về tuổi thọ bình quân tính từ lúc sinhcủa một quốc gia, giúp phản ánh cuộc sống lâu dài và khỏe mạnh
Công thức tính:
Chỉ số tuổi thọ trung bình = Tuổi thọ trung bình – 2585 – 25
Trang 6- Chỉ số giáo dụcChỉ số giáo dục đo thành tựu tương đối của một quốc gia trên cả hai thước đo về tỷ lệngười lớn biết chữ và tỷ lệ nhập học các cấp giáo dục: tiểu học, trung học và đại học.
Công thức tính:
Chỉ số giáo dục = 2/3 tỉ lệ số người lớn biết chữ + 1/3 tỉ lệ nhập học cấp giáo dục
1.2.2 HDI – Chỉ số tổng hợp đánh giá phát triển con người
Chỉ số phát triển con người (Human Development Index – HDI) là thước đo tổng hợp
về sự phát triển của con người phản ánh các thành tựu chung của một quốc gia theo
3 ba phương diện của sự phát triển con người:
- Một cuộc sống dài lâu và khoẻ mạnh, được đo bằng tuổi thọ trung bình tính từ lúcsinh
- Kiến thức, được đo bằng tỷ lệ người lớn biết chữ (với quyền số 2/3) và tỷ lệ nhậphọc các cấp giáo dục tiểu học, trung học và đại học (với quyền số 1/3)
- Một mức sống hợp lý, được đo bằng GDP thực tế đầu người (PPP$)
Trang 7Để tính được chỉ số HDI, cần phải tính từng chỉ số cho ba phương diện trên Chỉ số HDItính được là giá trị trung bình của các chỉ số thước đo:
HDI =
3
IN E
HDI từ 0,8 – 1 được coi là cao, từ 0,5 – 0,8 được coi là trung bình và từ 0 – 0,5 được coi
là thấp
Trang 8Phần 2 Thực trạng và đánh giá các tiêu chí phát triển con người tại Việt Nam từ năm 1993 đến
2008 là 7,56%/năm Tốc độ tăngkinh tế cao, trong khi tốc độ tăngdân số được kìm hãm, đã dẫn đếnmức thu nhập GDP bình quân trênđầu người mỗi năm một tăng Nếunăm 1990, GDP trên đầu người của
VN chỉ khoảng trên 100 USD, thìđến năm 2007, GDP/người đã đạt
835 USD, tăng trên 8 lần Năm
2008, GDP trên đầu người đạt1.024 USD/người, với mức thunhập này, VN lần đầu tiên thoát rakhỏi nhóm nước nghèo (nhóm nước
có thu nhập thấp nhất: GDP/ngườidưới 935 USD) GDP trên đầungười năm 2009 đạt 1.060 USD,Việt Nam phấn đấu GDP trên đầungười năm 2010 đạt 1.200 USD
Năm GDP bình quânđầu người
(PPP USD)
GDP bình quânđầu người thực tế (USD)
Trang 9-Những vấn đề còn tồn tại
Mặc dù, năm 2008 là năm đánh dấu Việt Nam thoát ra khỏi nhóm nước nghèo nhưngtheo xếp hạng của Ngân hàng thế giới tháng 10/2008 thì Việt Nam đứng hạng 170 về thunhập bình quân đầu người tính theo tỷ giá VNĐ/USD, và đứng thứ 156 về thu nhập bìnhquân tính đầu người theo phương pháp sức mua tương đương (PPP) trong tổng số 207nước, vùng lãnh thổ Quy mô GDP, qui mô xuất khẩu chiếm tỷ trọng tương ứng là 0,34%
và 0,3% so với tổng giá trị nền kinh tế và xuất khẩu của toàn thế giới Các chỉ số xếphạng về môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh, tham nhũng và chỉ số phát triểngiáo dục của Việt Nam đều có vị trí xếp hạng thấp trong các nền kinh tế thế giới Bêncạnh đó, do bị ảnh hưởng bởi lạm phát nên GDP trên đầu người tính theo sức mua tươngđương ở Việt Nam còn cao hơn nhiều so với thực tế Lạm phát đã làm giảm sức mua củangười nghèo và làm tăng bất bình đẳng về thu nhập
Số liệu về mức chêch lệch năm 1993 phản ánh phân bố thu nhập theo vùng là di sản từnhiều năm nay Tính lịch sử này có lẽ do phân bố tài nguyên thiên nhiên phục vụ nôngnghiệp không đồng đều, và do nông nghiệp vẫn là nguồn thu nhập chính của các vùngcho đến nay Hiện tượng đô thị hóa gia tăng, đặc biệt với thành phố Hồ Chí Minh và HàNội, Hải Phòng và Đà Nẵng cũng rất đáng lưu tâm
Trang 10CHÊNH LỆCH THU NHẬP GIỮA CÁC VÙNG:
Phân bố thu nhập đầu người theo vùng – 1993
Vùng Thu nhập đầu người
(1000 đồng)
Số dân thành thị (100000 người)
Số dân nông thôn (100000 người)
Tỉ số thu nhập đầu người nông thôn so với thành thị
Vùng 6 : Đông Nam bộ (gồm TP Hồ chí Minh, Gia Định, Biên Hòa, Vũng Tàu )
Vùng 7 : Đồng bằng sông Cửu Long
CHÊNH LỆCH THU NHẬP GIỮA THÀNH THỊ - NÔNG THÔN
Sự chêch lệch thu nhập thành thị và nông thôn cũng là một sự kiện thường thấy ở nhữngnước nông nghiệp Từ những thập niên vừa qua, giá quốc tế những mặt hàng nhóm một(nông, lâm sản, nguyên liệu thô, sơ chế) giảm đi so với giá những mặt hàng công nghiệp
Trang 11Vì công nghiệp thường có địa bàn hoạt động trong thành thị và vùng lân cận, mức thunhập của dân thành thị tăng lên so với dân ở nông thôn Ngoài ra, những tiến bộ kỹ thuậttrong nông nghiệp và công nghiệp chế biến khiến mức cầu lao động nông nghiệp giảm,lượng cung lao động vượt cầu, gây thêm tác động tiêu cực trên mức thu nhập của ngườidân ở nông thôn Ngày nay, với sự phát triển của khâu dịch vụ cũng chủ yếu là ở thànhthị, sự chêch lệch thu nhập này lại càng tăng thêm.
Thu nhập ở thành thị và nông thôn của các vùng - 1993
(tỉ đồng)
Thu nhập đầu người nông thôn
(nghìn đồng)
Tổng thu nhập nông thôn (tỉ đồng)
Thu nhập đầu người thành thị
(nghìn đồng)
Tổng thu nhập thành thị
kể Cụ thể là: năm 1993, chi cho tiêu dùng bình quân đầu người của gia đình giàu nhấtcao gấp 5 lần so với gia đình nghèo nhất thì tỷ lệ này tăng lên 6,3 lần vào năm 2004 Dovậy, tỷ lệ chi tiêu bình quân đầu người của nhóm giàu nhất trong tổng chi tiêu dùng xãhội tăng từ 41,8% lên 44,7%, trong khi đó nhóm nghèo nhất lại giảm từ 8,4% xuống còn7,1% ở cùng thời kỳ Mặc dù đời sống của người dân được cải thiện, tỷ lệ nghèo giảm,nhưng chỉ số bất bình đẳng về thu nhập (Gini) ở Việt Nam còn cao, và tăng qua các năm(năm 2004 Gini là 0,423, năm 2006 hệ số này là 0,425) Hệ số Gini cao thể hiện phân hóathu nhập, phân hóa giàu nghèo cao giữa các tầng lớp dân cư
-Kết luận:
Trang 12Khi thu nhập tăng, mức sống của dân cư được đảm bảo các mặt về thể lực, trí lực và tinhthần được quan tâm tích cực và ngược lại, khi thu nhập giảm mức độ chi tiêu của dân cư
sẽ giảm tác động tiêu cực đến chất lượng dân số Sự bất bình đẳng trong thu nhập và phânphối thu nhập đang có xu hướng gia tăng, người giàu càng giàu thêm, các khu đô thịthành phố càng ngày càng phát triển trong khi người nghèo càng ngày càng khó thoátnghèo, và những vùng sâu vùng sa và những vùng đặc biệt khó khăn vẫn chưa có khảnăng phát triển, do thiếu vốn, thiếu lao động do đó chất lượng dân số vẫn ở mức thấp.Thu nhập tăng và phân phối thu nhập tiến đến sự hợp lí luôn luôn là cái hướng đến củatoàn xã hội
Chúng ta có thể thấy được rằng là thu nhập bình quân đầu người ở nước ta ngày càng giatăng, điều này được thể hiện ở thu nhập bình quân đầu người cũng như tốc độ tăng trưởngGDP, tỷ lệ hộ nghèo trên cả nước giảm dần theo các năm và mức sống của đại bộ phậndân cư được cải thiện rõ rệt Để đạt được những thành quả đó thì chúng ta phải kể đếncác chính sách của Nhà nước, trong quá trình phát triển kinh tế có sự hài hòa giữa cácvùng, giữa các nền kinh tế được chú trọng phát triển cũng như là các chính sách hỗ trợngười nghèo phát triển sản xuất, cải thiện cuộc sống
Bên cạnh đó, Việt Nam cần phải chú trọng đến các chính sách phát triển toàn diện đểtránh rơi vào những cái “bẫy” thu nhập trung bình như các nước Đông Nam Á khác
2.1.2 Tiêu chí tuổi thọ
- Mức tuổi thọ
Có cuộc sống trường thọ, mạnh khỏe là một tiêu chí để đánh giá về sự phát triển của conngười Và chỉ số tuổi thọ đã được chọn làm thước đo cho tiêu chí này Chỉ số tuổi thọđược tính như sau:
Chỉ số tuổi thọ trung bình T =
(Với quy ước: 85 là giá trị cực đại và 25 là giá trị cực tiểu của tuổi thọ)
Trang 13Gần 20 năm nay từ 1990, UNDP (chương trình phát triển của Liên hiệp quốc) đều đặncông bố các Báo cáo phát triển con người HDR (Human Development Report) Các báocáo HDR từ năm 1990 đến năm 2007 đã thống kê rằng:
Tuổi thọ bình quân trung bình của Việt Nam : Năm 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 Tuổi
- Việt Nam trong so sánh với một số nước ASEAN và châu Á
Ở bảng này, Việt Nam hơn được Trung Quốc,Thái Lan, Philippin, Inđônêxia, Ấn Độ,Mianma
- Những thành tựu đạt được :
Trong các chỉ số phát triển cấu tạo nên HDI,Việt Nam có chỉ số tuổi thọ tương đối có sựlạc quan Tính ra trong 13 năm, từ năm 1993đến năm 2005, ta đã nâng tuổi thọ bình quânlên 11 tuổi Việt Nam cũng có thứ hạng cao vềtuổi thọ trên thế giới (T = 0,812, tuổi thọ bìnhquân 73,7, xếp thứ 56/177 nước) Theo số liệumới mà chương trình phát triển Liên Hợp Quốc(UNDP) đưa ra trong báo cáo toàn cầu sángngày 5/10/2009 tại Bangkok, Thái Lan thì tuổithọ trung bình của người dân Việt Nam đã là74,3 đứng thứ 54 thế giới
Đạt được thành tựu như vậy là do nước ta đã làm tốt công tác chăm sóc bà mẹ và trẻ sơsinh Cuộc khảo sát năm 2002 cho thấy: Cứ 1000 ca sinh ra ở Việt Nam chỉ có 39 trẻ bị
tử vong (nhóm dân nghèo), có 14 trẻ bị tử vong (nhóm dân giàu) Chết dưới 5 tuổi thìtrong số 1000 trẻ có 53 trẻ chết (nhóm dân nghèo) và 16 trẻ chết (nhóm dân giàu) Các
Trang 14con số tương ứng ở Inđonexia là: (78, 23, 109, 29) Đạt đến thành tựu này còn có sự tácđộng gián tiếp của kinh tế và giáo dục Trình độ học vấn của bố mẹ tăng lên và điều kiệnsinh hoạt vật chất được cải thiện cũng làm giảm tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh và trẻ dưới
5 tuổi
- Những vấn đề còn tồn tại :
Tuy đã đạt được một số thành tựu nhưng hệ thống y tế nước ta vẫn có rất nhiều bất cập.Mạng lưới chăm sóc y tế ở nông thôn yếu kém Các bệnh nhân ở khắp nơi đổ dồn về cácthành phố lớn, dẫn đến tình trạng quá tải Thủ tục khám chữa bệnh còn rườm rà, nhất làđối với những người sử dụng Bảo hiểm y tế, họ phải đến bệnh viện nhiều ngày mới hoàntất một quy trình khám chữa bệnh Bên cạnh đó, vệ sinh an toàn thực phẩm vẫn đang làvấn đề nhức nhối trong thời gian qua Về ngân sách cho ngành y tế, Việt Nam chúng tahiện nay mới có 8 USD cho một người dân chăm sóc sức khỏe trong khi đó Singapore là1.950 USD, Nhật là 2000 USD Ngoài ra, sự quản lý của nước ta đối với mặt hàng thuốccòn lỏng lẻo Các phòng khám chữa bệnh tư nhân cũng cần được kiểm soát nghiêm ngặthơn Tất cả những vấn đề trên cần sớm được hoàn thiện và giải quyết trong thời gian tới
- Kết luận về chỉ tiêu tuổi thọ:
Chỉ số tuổi thọ đo lường thành tựu tương đối về tuổi thọ ở một nước Chỉ số này của ViệtNam là đáng lạc quan Ta có thể thấy, Việt Nam chỉ có GDP tính theo đầu người xếp thứ
123 và HDI xếp thứ 105 trên thế giới nhưng lại có thứ hạng về tuổi thọ khá cao Tuổi thọtrung bình năm 2005 của nước ta là 73,7 xếp hạng 56 và nay là 74,3 xếp hạng 54 trên thếgiới Chỉ số tuổi thọ T = 0,812 và nó đã có phần giúp cải thiện chỉ số và thứ hạng 105/177của HDI Đạt được những thành tựu như vậy là do nước ta đã làm tốt công tác chăm sóc
y tế ban đầu, tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh thấp và tỷ lệ tử vong ở bà mẹ sau khi sinh nở cũngthấp Trong thời gian tới, nước ta cần tiếp tục phát huy những điểm mạnh này, đồng thờikhắc phục những bất cập còn đang tồn tại
2.1.3 Tiêu chí giáo dục
- Các chỉ tiêu giáo dục :
Giáo dục và chỉ số giáo dục là thành phần cơ bản trong HDI
Chỉ số giáo dục được tính từ hai nhân tố :
Nhấn tố a biểu thị cho số biết chữ của người lớn ( 15+ tuổi )