Lí do chọn đề tài Nghị quyết Trung ương số 29 - NQ/TW ngày 04/11/2013 về “Đổi mới cănbản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đạihóa trong điều kiện kinh
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÃ THỊ THU SEN
DẠY HỌC MỘT SỐ CHỦ ĐỀ TRONG MÔN TOÁN LỚP
10 THEO ĐỊNH HƯỚNG GIÁO DỤC STEM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÃ THỊ THU SEN
DẠY HỌC MỘT SỐ CHỦ ĐỀ TRONG MÔN TOÁN LỚP
10 THEO ĐỊNH HƯỚNG GIÁO DỤC STEM
Ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Toán
Mã số: 8.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Cán bộ hướng dẫn khoa học:TS Bùi Thị Hạnh Lâm
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài do chính tôi thực hiện Các số liệu và kếtquả thực nghiệm trong luận văn là trung thực, khách quan, nghiêm túc và chưatừng được tác giả khác công bố trong bất cứ đề tài nghiên cứu nào
Tác giả luận văn
Lã thị Thu Sen
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu trườngĐại học Sư Phạm Thái Nguyên, Bộ phận Sau Đại học - Phòng Đào tạo, KhoaToán, Quý thày cô đã tận tình giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi để họcviên học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa học
Tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:
- TS Bùi Thị Hạnh Lâm đã dành nhiều thời gian hướng dẫn tận tình, giúp
đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành luận văn
- Giáo viên và học sinh một số trường THPT trong tỉnh Nam Định đã hợp tác giúp đỡ nhiều trong quá trình thực nghiệm sư phạm
Cuối cùng tác giả xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè vàđồng nghiệp đã luôn ủng hộ, động viên và giúp đỡ để tác giả hoàn thành tốt đềtài nghiên cứu
Thái Nguyên, ngày 28 tháng 6 năm 2019
Học viên
Lã Thị Thu Sen
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU v
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3.Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
5.Giả thuyết khoa học của đề tài 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Cấu trúc của luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1 Nhu cầu và định hướng đổi mới phương pháp giảng dạy ở trường phổ thông.5 1.2.Tư tưởng chủ đạo của môn Toán trong chương trình giáo dục phổ thông mới.9 1.2.1 Đặc điểm môn học 9
1.2.2.Quan điểm xây dựng chương trình 10
1.2.3 Mục tiêu môn Toán ở cấp trung học phổ thông 12
1.3 Dạy học tích hợp 14
1.4 STEM và giáo dục STEM 14
1.4.1 Khái niệm về STEM 14
1.4.2.Giáo dục STEM 16
1.4.3 Dạy học theo định hướng giáo dục STEM 19
1.4.4 Mối quan hệ giữa dạy học theo định hướng giáo dục STEM với dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh 23
1.4.5 Vai trò của môn Toán trong dạy học STEM 24
Trang 61.5 Thực trạng dạy học môn Toán lớp 10 ở trường THPT theo định hướng
giáo dục STEM 26
1.5.1 Mục đích khảo sát 26
1.5.2 Nội dung khảo sát 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32
Chương 2: THIẾT KẾ MỘT SỐ CHỦ ĐỀ DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 10 THEO ĐỊNH HƯỚNG GIÁO DỤC STEM 33
2.1 Mục tiêu của chương trình môn Toán lớp 10 hiện hành 33
2.1.1.Về kiến thức cơ bản 33
2.1.2 Về kĩ năng cơ bản 33
2.1.3 Về phẩm chất tư duy và thái độ 34
2.2 Một số chủ đề môn Toán lớp 10 có thể thực hiện dạy học theo định hướng giáo dục STEM 34
2.3 Thiết kế dạy một số chủ đề môn Toán lớp 10 theo định hướng giáo dục STEM 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 57
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 59
3.1 Mục đích 59
3.2 Đối tượng thực nghiệm 59
3.3 Nội dung thực nghiệm 59
3.4 Cách thức tổ chức thực nghiệm 60
3.4.1 Bước 1: Chuẩn bị thực nghiệm 60
3.4.2.Bước 2: Tổ chức thực nghiệm 61
3.5 Cách đánh giá thực nghiệm 61
3.5.1.Bước 1: Kiểm tra và khảo sát lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 61
3.5.2.Bước 2: Xử lý kết quả thực nghiệm 61
3.6 Kết quả rút ra từ thực nghiệm 62
3.6.1.Kết quả bài kiểm tra 62
Trang 73.6.2 Nhận xét 64
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 65
KẾT LUẬN CHUNG 65
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
PHỤ LỤC
Trang 8: Hoạt động: Học sinh: Phương pháp dạy học: Sản phẩm
: Trung học phổ thông: Thực nghiệm
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1 Số lượng GV Toán tham gia điều tra thực trạng 27
Bảng 1.2 Mức độ nhận thức của GV về giáo dục STEM 27
Bảng 1.3 Mức độ nhận thức của GV về ý nghĩa của giáo dục STEM 28
Bảng 1.4 Mức độ đánh giá của GV về sự cần thiết của giáo dục STEM 28
Bảng 1.5 Mức độ nhận thức của GV về vai trò của môn Toán trong
giáo dục STEM 28
Bảng 1.6 Những khó khăn khi tổ chức dạy học chủ đề môn Toán theo
định hướng giáo dục STEM 29
Bảng 1.7 Mức độ mong muốn của HS được học môn Toán theo định
hướng giáo dục STEM 30
Bảng 1.8 Mức độ hứng thú của HS khi được học theo định hướng giáo dục
Bảng 1.9 Mức độ HS được học các môn theo định hướng giáo dục STEM
31Bảng 1.10 Mức độ HS được học môn Toán lớp 10 theo định hướng giáo
dục STEM 31
Bảng 3.1 Bảng điểm bài kiểm tra 62
Bảng 3.2 Bảng phân phối tần số, tần suất, tần suất lũy tích bài kiểm tra 63
Bảng 3.3 Tổng hợp kết quả bài kiểm tra 64
Biểu đồ 3.1 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 64
Biểu đồ 3.2 Biểu đồ kết quả của bài kiểm tra 64
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nghị quyết Trung ương số 29 - NQ/TW ngày 04/11/2013 về “Đổi mới cănbản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đạihóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhậpquốc tế” đã định hướng rõ “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo làđổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đếnmục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thựchiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lí của Nhà nước đến hoạt độngquản trị của các cơ sở giáo dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộngđồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học”.Nghị quyết cũng định hướng “phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí,đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài; chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủyếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất ngườihọc; học đi đôi với hành; lí luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợpvới giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” Một trong những giải pháp, nhiệm
vụ mà nghị quyết đã đề cập, đó là “tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy
và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vậndụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt mộtchiều, ghi nhớ máy móc; tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tựhọc, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triểnnăng lực; chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đadạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học”;…
Chỉ thị số 16/CT - TTg ngày 04/05/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc
“Tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư” mà nhiệm
vụ của Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Thúc đẩy triển khai giáo dục về khoa học, côngnghệ, kỹ thuật và toán học (STEM) trong chương trình giáo dục phổ thông; tổchứcthí điểm tại một số trường phổ thông ngay từ năm học 2017 - 2018”
Trang 11Giáo dục STEM trang bị cho người học những kiến thức và kỹ năng cầnthiết liên quan đến các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học Cáckiến thức, kỹ năng này phải được tích hợp, lồng ghép và bổ trợ cho nhau giúphọc sinh không chỉ hiểu được nguyên lý mà còn có thể áp dụng để thực hành vàtạo ra những sản phẩm trong cuộc sống hàng ngày Giáo dục STEM có ảnhhưởng tích cực đến khả năng lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai đối với họcsinh ở trường phổ thông.
Mặc dù những năm vừa qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai nhiềuhoạt động giáo dục để hướng đến đổi mới chương trình giáo dục phổ thông (từnăm 2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Hội đồng Anh triển khaichương trình thí điểm giáo dục STEM cho một số trường trung học các tỉnh,thành phố) Học sinh được tổ chức vận dụng kiến thức của các môn học khácnhau đề giải quyết các tình huống thực tiễn, tăng cường khả năng vận dụngtổng hợp, khả năng tự học, tự nghiên cứu, thúc đẩy sự tham gia của gia đình,cộng đồng vào công tác giáo dục Tuy nhiên, thực tế giáo dục STEM hiện vẫn
là khái niệm còn khá mơ hồ, chưa có nhiều điều kiện triển khai ở các trườngTHPT Hơn thế, việc kiểm tra, đánh giá hiện nay của các trường THPT, cụ thể
là kỳ thi THPT Quốc gia, được tổ chức bằng hình thức thi trắc nghiệm kiểm trakiến thức, kỹ năng, trong khi đánh giá theo mô hình STEM là đánh giá thôngqua sản phẩm.Do đó, giáo dục STEM chưa thực sự được hưởng ứng tích cực ởcác trường phổ thông Gần đầy, STEM được quan tâm, triển khai chủ yếu ở cácthành phố lớn nhưng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên nói chungvềSTEM còn hạn chế Phần lớn các cơ sở giáo dục tập trung vào việc thiết kế và
tổ chức các hoạt động trải nghiệm theo định hướng giáo dục STEM Việc dạyhọc các tiết học trên lớp theo định hướng giáo dục STEM chưa được chú trọng
Từ những lí do đó, đề tài được lựa chọn là “Dạy học một số chủ đề trongmôn Toán lớp 10 theo định hướng giáo dục STEM”
Trang 122 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu về dạy học tích hợp, về giáo dục STEM, thiết kế và
tổ chức dạy học một số chủ đề trong dạy học môn Toán lớp 10 theo hướng giáodục STEM
3.Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận về dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tự lực,sáng tạo của học sinh, về dạy học tích hợp, về giáo dục STEM
Nghiên cứu thực trạng dạy học tích hợp và thực trạng dạy học môn Toánlớp 10theo định hướng giáo dục STEM
Thiết kế và tổ chức dạy học một số chủ đề dạy học môn Toán lớp 10 theođịnh hướng giáo dục STEM
Thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm tính hiệu quả và khả thi của một sốchủ đề đã thiết kế
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: quá trình dạy học môn Toán ở trường THPT
- Đối tượng nghiên cứu: thiết kế và tổ chức dạy học một số chủ đề dạy học môn Toán lớp 10 theo định hướng giáo dục STEM
5.Giả thuyết khoa học của đề tài
Nếu thiết kế và tổ chức thực hiện được một số chủ đề dạy học môn Toánlớp 10 theo định hướng STEM tốt thì sẽ góp phần phát triển năng lực giải quyếtvấn đề, năng lực vận dụng toán học vào thực tiễn cho học sinh lớp 10 THPT
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các sách, báo, các công trình về về dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, dạy học tích hợp, dạy học theo hướng STEM
- Phương pháp điều tra, quan sát thực tiễn
Quan sát, điều tra - khảo sát bằng phiếu hỏi để tìm hiểu thực trạng dạy họctích hợp và thực trạng dạy học theo định hướng giáo dục STEM trong dạy họcmôn Toán lớp 10 ở trường THPT
Trang 13- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành dạy thực nghiệm ở trường THPT nhằm kiểm nghiệm tính hiệu quả và khả thi của một số chủ đề đã thiết kế
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận chung, luận văn gồm ba chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2 Thiết kế một số chủ đề dạy học môn Toán lớp 10 theo định hướng giáo dục STEM
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 14Cuộc cách mạng công nghệ 4.0 và xu hướng hội nhập toàn cầu đòi hỏi nềngiáo dục của các quốc gia phải thực sự thay đổi, tập trung vào phát triển nguồnnhân lực có trình độ cao, có năng lực giải quyết vấn đề, tập trung phát triển triểntrí tuệ nhân tạo,… Để đạt được mục tiêu đó đòi hỏi giáo dục của Việt Nam phảithực sự đổi mới về mọi phương diện, trong đó có phương pháp dạy học Điều 28,chương II, Luật Giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định:
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.” (Luật Giáo dục 2005, chương II, điều 28).
Quy định này đã trở thành định hướng cho việc đổi mới phương pháp dạy
học ở nước ta hiện nay, có thể gọi tắt là định hướng hoạt động mà tinh thần cơ bản là: PPDH cần tạo cơ hội cho người học học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo, từ bỏ thói quen học tập thụ động, ghi nhớ máy móc Cụ thể là:
- Đổi mới tính chất và nội dung hoạt động của giáo viên và học sinh, chuyển từ dạy học truyền thụ một chiều, học tập thụ động, chủ yếu là ghi nhớ kiến thức để đối
Trang 15phó với thi cử sang học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, chú trọng hình thành năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực vận dụng.
- Đổi mới các hình thức tương tác xã hội trong dạy học, chuyển từ dạy họcđồng loạt cả lớp đối diện với giáo viên, học tập đơn phương sang tổ chức dạy học theo các hình thức tương tác: học cá nhân, học theo nhóm, dự án học tập
- Đổi mới các hình thức tổ chức dạy học:
+ Đa dạng hoá các hình thức tổ chức dạy học, làm cho việc học sinh chủđộng, lí thú, tránh nhàm chán, đơn điệu, từ đó có thể khắc phục điểm yếu, phát huy điểm mạnh của các hình thức tổ chức dạy học khác nhau
+ Làm cho việc học gắn với môi trường thực tế, gắn với kinh nghiệm sốngcủa cá nhân học sinh, tạo điều kiện tổ chức học tập với hình thức điều tra, nghiêncứu, vận dụng trong thực tiễn cuộc sống,
Trong phần mục tiêu tổng quát, các chỉ tiêu quan trọng và nhiệm vụ trọngtâm trong 5 năm 2016-2020, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã đưa ra mộttrong những nhiệm vụ trọng tâm đó là: “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục,đào tạo (GD-ĐT); phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượngcao”[3]
Việc xác định đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT và phát triển nguồn nhânlực được coi là ưu tiên hàng đầu đối với giáo dục trong giai đoạn hiện nay Trước
đó, trong Nghị quyết 29-NQ/TW khóa XI chỉ rõ yêu cầu cấp thiết và nhiệm vụ cầnđổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT Việc Bộ GD-ĐT công bố dự thảo Chươngtrình giáo dục phổ thông tổng thể để tranh thủ sự đóng góp của các nhà khoa học,nhà giáo và các tầng lớp nhân dân đã cho thấy quyết tâm không chỉ của ngànhgiáo dục, mà còn của toàn Đảng, toàn dân chung tay xây dựng và đổi mới nền giáodục theo hướng tiếp cận năng lực, phù hợp với xu thế phát triển chương trình giáodục của thế giới và bắt kịp nền giáo dục của các nước tiên tiến
Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phùng Xuân Nhạ từng nhấn mạnh, “Tri thức đã trởthành yếu tố hàng đầu để phát triển kinh tế, tất cả các nền kinh tế lớn trên thếgiới, các quốc gia đều ý thức rõ về vai trò của giáo dục trong việc xây dựng
Trang 16nguồn nhân lực chất lượng cao tạo đòn bẩy quan trọng để thúc đẩy lao động sảnxuất, tạo động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế-xã hội một cách bền vững”.Khi mà hệ thống tri thức có những thay đổi thì sớm hoặc muộn, nhanh hoặcchậm, năng lực tư duy và hoạt động lao động sản xuất của con người cũng phảithay đổi Chính vì thế, việc đổi mới tư duy giáo dục trong thời đại tri thứcnhằm đáp ứng sự thay đổi của cuộc sống phát triển không ngừng là một tất yếu.Việc đổi mới phương pháp dạy học trước hết là đáp ứng yêu cầu cần đạt vềphẩm chất, năng lực người học và cuối cùng là vì mục tiêu đáp ứng bối cảnhcủa thời đại, nhu cầu phát triển đất nước Đây cũng là một điều kiện tiên quyết,nhằm quán triệt và thực hiện tốt Nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc hộikhóa 13: "Tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáodục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; gópphần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục pháttriển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa trí, đức, thể, mỹ và pháthuy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh".
Theo Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết, Tổng chủ biên Chương trình giáo dụcphổ thông mới thì dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã thể hiệnquan điểm trong các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chính phủ về xây dựngnền giáo dục thực học, thực nghiệp và dân chủ Điều đó đã được thể hiện rõ trêncác bình diện mục tiêu: Hình thành, phát triển năng lực thực tiễn cho người học,quán triệt yêu cầu hướng nghiệp để thực hiện phân luồng mạnh sau trung học cơ
sở và bảo đảm tiếp cận nghề nghiệp ở trung học phổ thông; trao quyền và tráchnhiệm tổ chức kế hoạch dạy học cho cơ sở giáo dục phù hợp với yêu cầu của địaphương, tạo điều kiện cho người học được lựa chọn môn học và hoạt động giáodục phù hợp sở trường và nguyện vọng; phát huy tính năng động, tư duy độc lập
và sáng tạo của người học Trong đó, yếu tố được cho là quyết định chính là sựtương tác đồng bộ của các thành tố trong các phương pháp dạy học tích cực(người dạy, người học, học liệu, môi trường…) Việc kết hợp hài hòa giữa dạykiến thức công cụ với kiến thức phương pháp, đặc biệt chú trọng dạy cách học,
Trang 17phương pháp tự học để người học có thể học tập suốt đời cũng là yếu tố quantrọng trong chương trình giáo dục phổ thông mới.
Từ ưu thế của các phương pháp giáo dục, hình thức tổ chức dạy học mới đãtriển khai trong những năm gần đây như: Phương pháp bàn tay nặn bột, giáo dụctrải nghiệm sáng tạo, giáo dục STEM Việc đổi mới phương pháp dạy học cần
được thực hiện trên cơ sở phân hóa đối tượng, các căn cứ về điều kiện, loạihình năng lực và phẩm chất cần phát triển ở người học Cũng chính từ đó đểlựa chọn các hình thức tổ chức dạy học phù hợp, tăng cường các hoạt động trảinghiệm sáng tạo và ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông trong tổ chứcdạy học thông qua việc sử dụng các mô hình học tập kết hợp giữa lớp họctruyền thống với các lớp học trực tuyến
Cùng với việc tổ chức cho người học thực hiện các nhiệm vụ học tập ởtrên lớp, cần coi trọng giao nhiệm vụ và hướng dẫn việc học tập ở nhà, ở ngoàinhà trường Chú trọng đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học để nâng caochất lượng dạy học theo chiều sâu Tăng cường xây dựng các mô hình học tậpgắn với thực tiễn; xây dựng và sử dụng tủ sách lớp học, phát triển văn hóa đọcgắn với hoạt động của các câu lạc bộ khoa học trong nhà trường Cùng với đócần tăng cường hơn nữa các hoạt động giao lưu, hợp tác nhằm thúc đẩy hứngthú học tập, rèn luyện kỹ năng sống, nâng cao hiểu biết về các giá trị văn hóatruyền thống dân tộc và tinh hoa văn hóa thế giới…
Giáo viên tổ chức, hướng dẫn hoạt động học tập cần tạo ra môi trường họctập thân thiện và những tình huống có vấn đề nhằm khuyến khích người họctích cực tham gia các hoạt động học tập Chính người thầy giáo phải khơi gợi,khuyến khích học sinh tự khẳng định năng lực và nguyện vọng của bản thân,đồng thời rèn cho các em thói quen và khả năng tự học, phát huy tiềm năng vàvận dụng hiệu quả những kiến thức, kỹ năng đã tích lũy Từ đây tạo tiền đề đểphát triển con người toàn diện trong bối cảnh phát triển của cách mạng côngnghiệp 4.0, hướng tới một nền giáo dục Việt Nam hiện đại và hội nhập quốc tế
Trang 181.2.Tư tưởng chủ đạo của môn Toán trong chương trình giáo dục phổ thông mới
1.2.1 Đặc điểm môn học
Toán học ngày càng có nhiều ứng dụng trong cuộc sống, những kiến thức và
kĩ năng toán học cơ bản đã giúp con người giải quyết các vấn đề trong thực tếcuộc sống một cách có hệ thống và chính xác, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển.Môn Toán ở trường phổ thông góp phần hình thành và phát triển phẩm chất,nhân cách học sinh; phát triển kiến thức, kĩ năng then chốt và tạo cơ hội để họcsinh được trải nghiệm, áp dụng toán học vào đời sống thực tiễn; tạo dựng sự kếtnối giữa các ý tưởng toán học, giữa Toán học với thực tiễn, giữa Toán học với cácmôn học khác, đặc biệt với các môn học thuộc lĩnh vực giáo dục STEM
Nội dung môn Toán thường mang tính trừu tượng, khái quát Do đó, để hiểu
và học được Toán, chương trình Toán ở trường phổ thông cần bảo đảm sự cân đốigiữa “học” kiến thức và “áp dụng” kiến thức vào giải quyết vấn đề cụ thể
Trong quá trình học và áp dụng toán học, học sinh luôn có cơ hội sử dụngcác phương tiện công nghệ, thiết bị dạy học hiện đại, đặc biệt là máy tính điện
tử và máy tính cầm tay hỗ trợ quá trình biểu diễn, tìm tòi, khám phá kiến thức,giải quyết vấn đề toán học
Trong chương trình giáo dục phổ thông, môn Toán là môn học bắt buộc vàđược phân chia theo hai giai đoạn
- Giai đoạn giáo dục cơ bản:
Môn Toán giúp học sinh nắm được một cách có hệ thống các khái niệm,nguyên lí, quy tắc toán học cần thiết nhất cho tất cả mọi người, làm nền tảngcho việc học tập tiếp theo hoặc có thể sử dụng trong cuộc sống hằng ngày
- Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp:
Môn Toán giúp học sinh có cái nhìn tương đối tổng quát về Toán học, hiểuđược vai trò và những ứng dụng của Toán học trong đời sống thực tế, nhữngngành nghề có liên quan đến toán học để học sinh có cơ sở định hướng nghề
Trang 19nghiệp, cũng như có đủ năng lực tối thiểu để tự tìm hiểu những vấn đề có liênquan đến toán học trong cuộc đời.
Bên cạnh nội dung giáo dục cốt lõi, trong mỗi năm, những học sinh cóđịnh hướng khoa học tự nhiên và công nghệ được chọn học một số chuyên đề.Các chuyên đề này nhằm tăng cường kiến thức về Toán học, kĩ năng vận dụngkiến thức vào thực tiễn, đáp ứng sở thích, nhu cầu và định hướng nghề nghiệpcủa học sinh
Chương trình môn Toán trong cả hai giai đoạn giáo dục có cấu trúc tuyếntính kết hợp với “đồng tâm xoáy ốc” (đồng tâm, mở rộng và nâng cao dần),xoay quanh và tích hợp ba mạch kiến thức: Số và Đại số; Hình học và Đolường; Thống kê và Xác suất
Như vậy, với các đặc điểm đó của môn Toán ở trường phổ thông thì việcdạy học Toán ở trường phổ thông sẽ có nhiều cơ hội và điều kiện để có thể thựchiện dạy học theo định hướng giáo dục STEM
1.2.2.Quan điểm xây dựng chương trình
Chương trình môn Toán quán triệt các quan điểm, mục tiêu, yêu cầu cầnđạt, kế hoạch giáo dục và các định hướng về nội dung giáo dục, phương phápgiáo dục và đánh giá kết quả giáo dục được nêu trong Chương trình giáo dụcphổ thông tổng thể, đồng thời xuất phát từ đặc thù của môn học, nhấn mạnhnhững quan điểm sau:
1.2.2.1 Bảo đảm tính tinh giản, thiết thực, hiện đại
Nội dung chương trình môn Toán bảo đảm tính tinh giản, thiết thực, hiệnđại, phản ánh những giá trị cốt lõi, nền tảng của văn hoá toán học, những nộidung nhất thiết phải được đề cập trong nhà trường phổ thông, đáp ứng nhu cầuhiểu biết thế giới cũng như hứng thú, sở thích của người học Chương trìnhquán triệt tinh thần “toán học cho mọi người”, ai cũng được học Toán nhưngmỗi người có thể học Toán theo cách phù hợp với sở thích và năng lực cá nhân
Trang 20Nội dung chương trình môn Toán chú trọng tính ứng dụng thiết thực, gắnkết với đời sống thực tế hay các môn học khác, (đặc biệt với các môn học thuộclĩnh vực giáo dục STEM), gắn với xu hướng phát triển hiện đại của kinh tế,khoa học, đời sống xã hội và những vấn đề cấp thiết có tính toàn cầu (như biếnđổi khí hậu, phát triển bền vững, giáo dục tài chính, ).
Các hoạt động thực hành và trải nghiệm trong giáo dục toán học với nhiềuhình thức, như: thực hiện các đề tài, dự án học tập về Toán, đặc biệt là các đềtài và các dự án về ứng dụng toán học trong thực tiễn; tổ chức các trò chơi toánhọc, câu lạc bộ toán học, diễn đàn, hội thảo, cuộc thi về Toán, tạo cơ hội giúphọc sinh vận dụng kiến thức, kĩ năng và kinh nghiệm của bản thân vào thực tiễncuộc sống một cách sáng tạo
1.2.2.2 Bảo đảm tính chỉnh thể, sự nhất quán và phát triển liên tục
Chương trình môn Toán phải bảo đảm tính chỉnh thể thống nhất, từ lớp 1 đếnlớp 12, trong đó quan hệ (ngang và dọc) giữa các đơn vị kiến thức cần được làmsáng tỏ Chương trình môn Toán được thiết kế theo mô hình gồm hai nhánh songsong, một nhánh mô tả sự phát triển của các mạch nội dung kiến thức cốt lõi vàmột nhánh mô tả sự phát triển của năng lực, phẩm chất của học sinh Hai nhánh đóliên kết chặt chẽ với nhau, cho phép nhìn xuyên suốt từ lớp 1 đến lớp
12 cũng như nhìn nhận rõ ràng chương trình của từng lớp học Bên cạnh đó,chương trình môn Toán cần chú ý tiếp nối với chương trình giáo dục mầm non,cũng như tạo nền tảng cho giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học
1.2.2.3 Bảo đảm tính tích hợp và phân hoá
Chương trình môn Toán thực hiện tích hợp nội môn xoay quanh ba mạchkiến thức: Số và Đại số; Hình học và Đo lường; Thống kê và Xác suất
Chương trình môn Toán thực hiện tích hợp liên môn thông qua các nội dung,chủ đề liên quan hoặc các kiến thức toán học được khai thác, sử dụng trong cácmôn học khác như Vật lí, Hoá học, Sinh học, Địa lí, Tin học, Công nghệ, Khaithác tốt những yếu tố liên môn nêu trên vừa mang lại hiệu quả với các bộ môn,
Trang 21vừa góp phần củng cố kiến thức môn Toán, cũng như góp phần rèn luyện cho học sinh năng lực vận dụng toán học vào thực tiễn.
Chương trình môn Toán còn thực hiện tích hợp nội môn và liên môn thôngqua các hoạt động thực hành và trải nghiệm trong giáo dục toán học
Mặt khác, chương trình môn Toán phải bảo đảm yêu cầu phân hoá, cụ thể:
- Đối với tất cả các cấp học: Tăng cường dạy học theo hướng cá thể hoángười học trên cơ sở bảo đảm đa số học sinh (trên tất cả các vùng miền của cảnước) đáp ứng được yêu cầu cần đạt của chương trình; đồng thời chú ý tới cácđối tượng có nhu cầu đặc biệt (học sinh năng khiếu, học sinh khuyết tật, );
- Đối với cấp trung học phổ thông: Thiết kế hệ thống chuyên đề học tậpchuyên sâu và các nội dung học tập giúp học sinh nâng cao kiến thức, kĩ năng thựchành, vận dụng giải quyết các vấn đề gắn với thực tiễn của địa phương
1.2.2.4 Bảo đảm tính mềm dẻo, linh hoạt
Chương trình môn Toán bảo đảm tính thống nhất về những nội dung giáodục cốt lõi, bắt buộc của Chương trình quốc gia; đồng thời dành quyền chủđộng cho địa phương và nhà trường lựa chọn một số nội dung và triển khai kếhoạch giáo dục môn Toán phù hợp với điều kiện của từng vùng miền và cơ sởgiáo dục; dành không gian sáng tạo cho tác giả sách giáo khoa và giáo viênnhằm thực hiện hiệu quả chủ trương “một chương trình, nhiều sách giáo khoa”.Trong quá trình thực hiện, Chương trình môn Toán sẽ được tiếp tục phát triển cho phù hợp với tiến bộ khoa học và những yêu cầu của thực tế
Nội dung chương trình môn Toán chú trọng tính ứng dụng thiết thực, gắnkết với đời sống thực tế hay các môn học khác nên GV có thể thuận lợi trong việcthiết kế và tổ chức việc dạy học Toán theo định hướng giáo dục STEM dưới hìnhthức trên lớp hoặc thông qua trải nghiệm, thực hành, ngoại khóa Toán học
1.2.3 Mục tiêu môn Toán ở cấp trung học phổ thông
Môn Toán cấp trung học phổ thông nhằm giúp học sinh đạt các mục tiêu chủ yếu sau:
Trang 22a) Góp phần hình thành và phát triển năng lực toán học với yêu cầu cần đạt:
sử dụng được các phương pháp lập luận, quy nạp và suy diễn để nhìn ra những cáchthức khác nhau nhằm giải quyết vấn đề; sử dụng được các mô hình toán học
để mô tả các tình huống, từ đó đưa ra các cách giải quyết vấn đề toán học đặt ratrong mô hình được thiết lập; thực hiện và trình bày được giải pháp giải quyếtvấn đề và đánh giá được giải pháp đã thực hiện, phản ánh được giá trị của giảipháp, khái quát hoá cho vấn đề tương tự; sử dụng thành thạo công cụ, phươngtiện học toán, biết đề xuất ý tưởng để thiết kế, tạo dựng phương tiện học liệumới phục vụ việc tìm tòi, khám phá và giải quyết vấn đề toán học
b) Có những kiến thức và kĩ năng toán học cơ bản, thiết yếu về:
- Số và Đại số: tính toán và sử dụng công cụ tính toán; ngôn ngữ và kíhiệu đại số; biến đổi biểu thức đại số và siêu việt (lượng giác, mũ, lôgarit),phương trình, hệ phương trình, bất phương trình; các hàm số sơ cấp cơ bản (lũythừa, mũ, lôgarit và lượng giác); khảo sát hàm số và vẽ đồ thị hàm số bằngcông cụ đạo hàm; sử dụng ngôn ngữ hàm số, đồ thị hàm số để mô tả và phântích một số quá trình và hiện tượng trong thế giới thực; sử dụng tích phân đểtính toán diện tích hình phẳng và thể tích vật thể trong không gian
- Thống kê và Xác suất: các phương pháp cơ bản của việc biểu diễn và phântích số liệu thống kê; các quy luật thống kê trong thực tiễn và các mô hình ngẫu nhiên;khái niệm cơ bản của xác suất và ý nghĩa của xác suất trong thực tiễn
- Hình học và Đo lường: ngôn ngữ hình học, kí hiệu hình học và việc mô tảcác đối tượng của thế giới xung quanh bằng ngôn ngữ hình học; vẽ hình (đồ hoạ),dựng hình, tính toán các yếu tố hình học; các tính chất của hình phẳng và của vật thểkhông gian (ở mức độ suy luận logic); các phương pháp đại số (vectơ, toạ độ) tronghình học; phát triển trí tưởng tượng không gian; vận dụng hình học để
giải quyết các vấn đề thực tiễn
c) Hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất chung vànhững phẩm chất đặc thù mà giáo dục toán học đem lại: tính kỉ luật, kiên trì,
Trang 23chủ động, linh hoạt; độc lập, hợp tác; thói quen tự học, hứng thú và niềm tin trong học toán.
d) Góp phần giúp học sinh có hiểu biết làm cơ sở cho định hướng nghề nghiệp sau Trung học phổ thông
Mục tiêu dạy học Toán ở trung học phổ thông là góp phần hình thành vàphát triển cho người học các phẩm chất và năng lực cần thiết để người học cóthể tiếp tục học tập ở các bậc học sau hoặc tham gia vào cuộc sống lao động
Do đó, dạy học theo giáo dục STEM là một trong những định hướng có tácdụng tích cực trong việc hình thành và phát triển năng lực GQVĐ, năng lực vậndụng Toán học, …
1.3 Dạy học tích hợp
- Dạy học tích hợp liên môn là dạy học những nội dung kiến thức liên quan
đến hai hay nhiều môn học “Tích hợp” là nói đến phương pháp và mục tiêucủa hoạt động dạy học còn “liên môn” là đề cập tới nội dung dạy học Chủ đềtích hợp liên môn là những chủ đề có nội dung kiến thức liên quan đến hai haynhiều môn học, thể hiện sự ứng dụng của chúng trong cùng một hiện tượng,quá trình tự nhiên hay xã hội Các chủ đề liên môn, tích hợp có tính thực tiễnnên sinh động, hấp dẫn, có ưu thế trong việc tạo ra động cơ, hứng thú học tậpcho học sinh [11]
- Dạy học tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục nhằm nâng caonăng lực người học Dạy học tích hợp là định hướng về nội dung và PPDH, trong
đó GV tổ chức, hướng dẫn để HS biết huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng thuộcnhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập; thông qua
đó hình thành kiến thức, kĩ năng mới; phát triển được những năng lực cần thiết,năng lực giải quyết vấn đề [8]
1.4 STEM và giáo dục STEM
1.4.1 Khái niệm về STEM
STEM là thuật ngữ viết tắt lấy chữ cái đầu tiên trong tiếng Anh của các từ:Science, Technology, Engineering, Maths [8]
Trang 24Science (Khoa học): gồm các kiến thức về Vật lí, Hóa học, Sinh học,Khoa học trái đất nhằm giúp học sinh hiểu về thế giới tự nhiên và vận dụngkiến thức đó để giải quyết các vấn đề khoa học trong cuộc sống hàng ngày.Technology (Công nghệ): phát triển khả năng sử dụng, quản lý, hiểu vàđánh giá công nghệ của học sinh, tạo cơ hội để học sinh hiểu về công nghệđược phát triển như thế nào, ảnh hưởng của công nghệ mới tới cuộc sống.
Engineering (Kỹ thuật): phát triển sự hiểu biết ở học sinh về cách côngnghệ đang phát triển thông qua quá trình thiết kế kỹ thuật, tạo cơ hội để tíchhợp kiến thức của nhiều môn học, giúp cho những khái niệm liên quan trở nên
dễ hiểu Kỹ thuật cũng cung cấp cho học sinh những kỹ năng để vận dụng sangtạo cơ sở Khoa học và Toán học trong quá trình thiết kế các đối tượng, các hệthống hay xây dựng các quy trình sản xuất
Maths (Toán học): là môn học nhằm phát triển ở học sinh khả năng phântích, biện luận và truyền đạt ý tưởng một cách hiệu quả thông qua việc tínhtoán, giải thích, các giải pháp giải quyết các vấn đề toán học trong các tìnhhuống đặt ra
Thuật ngữ STEM được dùng trong hai ngữ cảnh khác nhau, đó là ngữcảnh giáo dục và ngữ cảnh nghề nghiệp [8]
Trong ngữ cảnh giáo dục, STEM nhấn mạnh đến sự quan tâm của nềngiáo dục đối với các môn Khoa hoc, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học Quantâm đến việc tích hợp các môn trên gắn với thực tiễn để nâng cao năng lực chongười học Giáo dục STEM có thể được hiểu và diễn giải ở nhiều cấp độ như:chính sách STEM, chương trình STEM, nhà trường STEM, môn học STEM,bài học STEM hay hoạt động STEM
Trong ngữ cảnh nghề nghiệp, STEM được hiểu là nghề nghiệp thuộc cáclĩnh vực Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học
Tùy từng ngữ cảnh khác nhau mà STEM được hiểu như là các môn họchay các lĩnh vực
Trang 25Trong đề tài nghiên cứu này, STEM được đặt trong ngữ cảnh giáo dục, tácgiả quan niệm STEM theo cách quan tâm tới vai trò và sự tích hợp các môn họctrong chương trình gắn liền với thế giới thực, thông qua hoạt động dạy học tíchhợp giải quyết các vấn đề thực tiễn, từ đó nâng cao hứng thú, hình thành vàphát triển năng lực, phẩm chất cho HS.
1.4.2.Giáo dục STEM
1.4.2.1 Khái niệm giáo dục STEM
Với những cách tiếp cận khác nhau, giáo dục STEM sẽ được hiểu và triểnkhai theo những cách khác nhau Giáo dục STEM được nhận thức và hoạt độngtheo hai cách hiểu chính như sau [8]:
Một là, giáo dục STEM được hiểu theo nghĩa là quan tâm đến các mônKhoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học Đây cũng là quan niệm về giáodục STEM của Bộ giáo dục Mỹ “Giáo dục STEM là một chương trình nhằmcung cấp hỗ trợ, tăng cường, giáo dục Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toánhọc ở tiểu học và trung học cho đến bậc sau đại học” Đây là nghĩa rộng khi nói
về giáo dục STEM Đó chính là một chiến lược, định hướng giáo dục nhằmthúc đẩy giáo dục bốn lĩnh vực Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học vớimục tiêu đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của cácngành nghề có liên quan, nhờ đó nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế
Hai là, giáo dục STEM được hiểu theo nghĩa là tích hợp Hoặc là tích hợpđầy đủ cả bốn lĩnh vực Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học Giáo dụcSTEM là một phương pháp học tập tiếp cận liên ngành, ở đó những kiến thức hànlâm được kết hợp chặt chẽ với các bài học thực tế thông qua việc học sinh được ápdụng những kiến thức Khoa học Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học vào trongnhững bối cảnh cụ thể tạo nên một kết nối giữa nhà trường, cộng đồng và cácdoanh nghiệp cho phép người học phát triển những kĩ năng STEM và tăng khảnăng cạnh tranh trong nền kinh tế mới Hoặc là tích hợp khuyết, tức là tích hợp từhai lĩnh vực về Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học trở lên Giáo
Trang 26dục STEM là phương pháp tiếp cận, khám phá trong giảng dạy và học tập giữahai hay nhiều hơn các môn học STEM, hoặc giữa một chủ đề STEM và mộthoặc nhiều môn học khác trong nhà trường.
Như vậy, giáo dục STEM về bản chất được hiểu là trang bị cho người họcnhững kiến thức và kỹ năng cần thiết liên quan đến các lĩnh vực khoa học, côngnghệ, kỹ thuật và toán học Các kiến thức và kỹ năng này phải được tích hợp,lồng ghép và bổ trợ cho nhau, giúp học sinh không chỉ hiểu biết về nguyên lý
mà còn có thể thực hành và tạo ra được những sản phẩm trong cuộc sống hằngngày Giáo dục STEM kết nối giữa kiến thức học đường với thế giới thực, giảiquyết các vấn đề thực tiễn, tạo hứng thú cho học sinh, hình thành và phát triểnnăng lực, phẩm chất cho học sinh
1.4.2.2 Đặc trưng giáo dục STEM
Giáo dục STEM có các đặc trưng sau:
- Phát triển các năng lực đặc thù của các môn học thuộc về STEM cho HS:
Đó là những kiến thức, kĩ năng liên quan đến các môn học Khoa học, Côngnghệ, Kĩ thuật và Toán học Trong đó HS biết liên kết các kiến thức Khoa học,Toán học để giải quyết các vấn đề thực tiễn Biết sử dụng, quản lí và truy cậpCông nghệ HS biết về quy trình thiết kế và chế tạo ra các sản phẩm
- Phát triển các năng lực cốt lõi cho HS: Giáo dục STEM nhằm chuẩn bịcho HS những cơ hội cũng như thách thức trong nền kinh tế cạnh tranh toàncầu của thế kỉ 21 Bên cạnh những hiểu biết về các lĩnh vực Khoa học, Côngnghệ, Kĩ thuật, Toán học, HS sẽ được phát triển tư duy phê phán, khả năng hợptác để thành công…
- Định hướng nghề nghiệp cho HS: Giáo dục STEM sẽ tạo cho HS cónhững kiến thức, kĩ năng mang tính nền tảng cho việc học tập ở các bậc học caohơn cũng như cho nghề nghiệp trong tương lai của HS Từ đó, góp phần xây dựnglực lượng lao động có năng lực, phẩm chất tốt đặc biệt là lao động trong lĩnh vựcSTEM nhằm đáp ứng mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước
Trang 271.4.2.3.Các hình thức tổ chức giáo dục STEM
Theo [12], các hình thức tổ chức giáo dục STEM bao gồm:
1 Dạy học các môn học thuộc lĩnh vực STEM
Đây là hình thức tổ chức giáo dục STEM chủ yếu trong nhà trường Theocách này, các bài học, hoạt động giáo dục STEM được triển khai ngay trongquá trình dạy học các môn học STEM theo tiếp cận liên môn
Các chủ đề, bài học, hoạt động STEM bám sát chương trình của các mônhọc thành phần Hình thức giáo dục STEM này không làm phát sinh thêm thờigian học tập
2 Hoạt động trải nghiệm STEM
Trong hoạt động trải nghiệm STEM, học sinh được khám phá các thínghiệm, ứng dụng khoa học, kỹ thuật trong thực tiễn đời sống Qua đó, nhậnbiết được ý nghĩa của khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học đối với đờisống con người, nâng cao hứng thú học tập các môn học STEM Đây cũng làcách thức để thu hút sự quan tâm của xã hội tới giáo dục STEM
Để tổ chức thành công các hoạt động trải nghiệm STEM, cần có sự thamgia, hợp tác của các bên liên quan như trường phổ thông, cơ sở giáo dục nghềnghiệp, các trường đại học, doanh nghiệp
Trải nghiệm STEM còn có thể được thực hiện thông qua sự hợp tác giữatrường phổ thông với các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp Theocách này, sẽ kết hợp được thực tiễn phổ thông với ưu thế về cơ sở vật chất củagiáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp
Các trường phổ thông có thể triển khai giáo dục STEM thông qua hìnhthức câu lạc bộ Tham gia câu lạc bộ STEM, học sinh được học tập nâng caotrình độ, triển khai các dự án nghiên cứu, tìm hiểu các ngành nghề thuộc lĩnhvực STEM Đây là hoạt động theo sở thích, năng khiếu của học sinh, diễn rađịnh kỳ, trong cả năm học
Tổ chức tốt hoạt động câu lạc bộ STEM cũng là tiền đề triển khai các dự ánnghiên cứu trong khuôn khổ cuộc thi khoa học kỹ thuật dành cho học sinh trung
Trang 28học Bên cạnh đó, tham gia câu lạc bộ STEM còn là cơ hội để học sinh thấyđược sự phù hợp về năng lực, sở thích, giá trị của bản thân với nghề nghiệpthuộc các lĩnh vực STEM.
3 Hoạt động nghiên cứu khoa học
Giáo dục STEM có thể được triển khai thông qua hoạt động nghiên cứukhoa học và tổ chức các cuộc thi sáng tạo khoa học kỹ thuật với nhiều chủ đềkhác nhau thuộc các lĩnh vực robot, năng lượng tái tạo, môi trường, biến đổikhí hậu, nông nghiệp công nghệ cao…
Hoạt động này không mang tính đại trà mà dành cho những học sinh cónăng lực, sở thích và hứng thú với các hoạt động tìm tòi, khám phá khoa học,
kỹ thuật giải quyết các vấn đề thực tiễn
1.4.3 Dạy học theo định hướng giáo dục STEM
1.4.3.1.Một số tiêu chí của chủ đề giáo dục STEM
Khi xây dựng một chủ đề giáo dục STEM, một số câu hỏi có thể gặp phảivới các GV đó là liệu chủ đề được xây dựng có đúng theo tinh thần STEM haykhông hay là một chủ đề tích hợp khoa học đơn thuần Điều gì tạo nên sự phânbiệt một chủ đề giáo dục STEM với các chủ đề học tập khác Điều đầu tiên cầnphải khẳng định trước hết một chủ đề dạy học theo định hướng STEM phải làmột chủ đề mang tính tích hợp Khái niệm STEM hay giáo dục STEM là mộtkhái niệm rộng và nhiều tầng bậc, do vậy điều này cũng ảnh hưởng tới việc xácđịnh hay cách đánh giá về một chủ đề giáo dục STEM Trong nội dung trìnhbày dưới đây nghiên cứu đề xuất một số tiêu chí nhằm xác định về một chủ đềgiáo dục STEM [8]
1 Chủ đề STEM hướng tới giải quyết các vấn đề trong thế giới thực
Vận dụng kiến thức STEM để giải quyết các vấn đề thực tiễn chính là mụctiêu của dạy học theo quan điểm STEM Do vậy, bài học STEM không phải là
để giải quyết các vấn đề mang tính tưởng tượng và xa rời thực tế mà nó luônhướng đến giải quyết các vấn đề các tình huống trong xã hội, kinh tế, môitrường trong cộng đồng địa phương của họ cũng như toàn cầu
Trang 292 Chủ đề STEM phải hướng tới việc HS vận dụng các kiến thức trong lĩnh vực STEM để giải quyết
Tiêu chí này nhằm đảm bảo theo đúng tinh thần giáo dục STEM, qua đó mới phát triển được những năng lực chuyên môn liên quan
3 Chủ đề STEM định hướng thực hành
Định hướng hành động là một đặc điểm của quan điểm STEM Chỉ khichủ đề STEM định hướng thực hành mới đảm bảo hình thành và phát triểnnăng lực cho HS Điều này sẽ giúp HS có được kiến thức từ kinh nghiệm thựchành chứ không phải chỉ từ lí thuyết Bằng cách xây dựng các bài giảng theochủ đề và dựa trên thực hành, HS sẽ được hiểu sâu về lí thuyết, nguyên lí thôngqua các hoạt động thực tế Chính các hoạt động thực tế này sẽ giúp HS nhớkiến thức lâu hơn và sâu hơn HS sẽ được làm việc theo nhóm, tự thảo luận tìmtòi kiến thức, tự vận dụng kiến thức vào các hoạt động thực hành rồi sau đó cóthể truyền đạt lại kiến thức cho người khác Với cách học này, GV không còn
là người truyền đạt kiến thức nữa mà sẽ là người hướng dẫn để HS tự xây dựngkiến thức cho chính mình
4 Chủ đề STEM khuyến khích làm việc nhóm giữa các HS
Trên thực tế có những chủ đề STEM vẫn có thể triển khai cá nhân Tuynhiên, làm việc theo nhóm là hình thức làm việc phù hợp trong việc giải quyếtcác nhiệm vụ phức hợp gắn với thực tiễn Làm việc theo nhóm là một kĩ năngquan trọng trong thế kỉ 21 bên cạnh đó khi làm việc theo nhóm HS sẽ được đặtvào môi trường thúc đẩy các nhu cầu giao tiếp chia sẻ ý tưởng và cùng nhauphát triển giải pháp
1.4.3.2 Quy trình thiết kế các chủ đề dạy học theo định hướng giáo dục STEM
Dựa trên mục tiêu giáo dục STEM; các tiêu chí của một chủ đề STEM; các
hình thức tổ chức giáo dục STEM, quy trình thiết kế một chủ đề dạy học theođịnh hướng giáo dục STEM được thực hiện như sau [12]:
Trang 30Bước 1: Lựa chọn chủ đề bài học
Căn cứ vào nội dung kiến thức trong chương trình môn học và các hiệntượng, quá trình gắn với các kiến thức đó trong tự nhiên; quy trình hoặc thiết bịcông nghệ có sử dụng của kiến thức đó trong thực tiễn để lựa chọn chủ đề củabài học Những ứng dụng đó có thể là: Hiện tượng tán sắc ánh sáng - Tính chấtsóng của ánh sáng - Máy quang phổ lăng kính; Hiện tượng khúc xạ và phản xạánh sáng - Gương cầu và thấu kính - Ống nhòm, kính thiên văn; Sự chìm, nổi -lực đẩy Ác-si-mét - Thuyền/bè; Hiện tượng cảm ứng điện từ - Định luật Cảmứng điện từ và Định luật Lenxơ - Máy phát điện/động cơ điện; Vật liệu cơ khí;Các phương pháp gia công cơ khí; Các cơ cấu truyền và biến đổi chuyển động;Các mối ghép cơ khí; Mạch điện điều khiển cho ngôi nhà thông minh; Sữachua/dưa muối - Vi sinh vật - Quy trình làm sữa chua/muối dưa; Thuốc trừ sâu
- Phản ứng hoá học - Quy trình xử lý dư lượng thuốc trừ sâu; Hoá chất - Phảnứng hoá học - Quy trình xử lý chất thải; Sau an toàn - Hoá sinh - Quy trìnhtrồng rau an toàn
Bước 2: Xác định vấn đề cần giải quyết
Sau khi chọn chủ đề của bài học, cần xác định vấn đề cần giải quyết để giaocho học sinh thực hiện sao cho khi giải quyết vấn đề đó, học sinh phải học đượcnhững kiến thức, kỹ năng cần dạy trong chương trình môn học đã được lựa chọn(đối với STEM kiến tạo) hoặc vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã biết (đối vớiSTEM vận dung) để xây dựng bài học Theo những ví dụ nêu trên, nhiệm vụ giaocho học sinh thực hiện trong các bài học có thể là: Thiết kế, chế tạo một máyquang phổ đơn giản trong bài học về bản chất sóng của ánh sáng; Thiết kế, chế tạomột ống nhòm đơn giản khi học về hiện tượng phản xạ và khúc xạ ánh sáng; Chếtạo bè nổi/thuyền khi học về Định luật Ác - si - mét; Chế tạo máy phát điện/động
cơ điện khi học về cảm ứng điện từ; Thiết kế mạch lôgic khi học về dòng điệnkhông đổi; Thiết kế robot leo dốc, cầu bắc qua hai trụ, hệ thống tưới nước tự động,mạch điện cảnh báo và điều khiển cho ngôi nhà thông minh; Xây
Trang 31dựng quy trình làm sữa chua/muối dưa; Xây dựng quy trình xử lý dư lượngthuốc trừ sâu trong rau/quả; Xây dựng quy trình xử lý hoá chất ô nhiễm trongnước thải; Quy trình trồng rau an toàn…
Bước 3: Xây dựng tiêu chí của thiết bị/giải pháp giải quyết vấn đề
Sau khi đã xác định vấn đề cần giải quyết/sản phẩm cần chế tạo, cần xácđịnh rõ tiêu chí của giải pháp/sản phẩm Những tiêu chí này là căn cứ quantrọng để đề xuất giả thuyết khoa học/giải pháp giải quyết vấn đề/thiết kế mẫusản phẩm Đối với các ví dụ nêu trên, tiêu chí có thể là: Chế tạo máy quang phổ
sử dụng lăng kính, thấu kính hội tụ; tạo được các tia ánh sáng màu từ nguồnsáng trắng; Chế tạo ống nhòm/kính thiên văn từ thấu kính hội tụ, phân kì; quansát được vật ở xa với độ bội giác trong khoảng nào đó; Quy trình sản xuất sữachua/muối dưa với tiêu chí cụ thể của sản phẩm (độ ngọt, độ chua, dinhdưỡng ); Quy trình xử lý dư lượng thuốc trừ sâu với tiêu chí cụ thể (loại thuốctrừ sâu, độ "sạch" sau xử lý); Quy trình trồng rau sạch với tiêu chí cụ thể("sạch" cái gì so với rau trồng thông thường)
Bước 4: Thiết kế tiến trình tổ chức hoạt động dạy học.
Tiến trình tổ chức hoạt động dạy học được thiết kế theo các phương pháp
và kỹ thuật dạy học tích cực Mỗi hoạt động học được thiết kế rõ ràng về mụcđích, nội dung và sản phẩm học tập mà học sinh phải hoàn thành Các hoạtđộng học đó có thể được tổ chức cả ở trong và ngoài lớp học (ở trường, ở nhà
Trang 321.4.4 Mối quan hệ giữa dạy học theo định hướng giáo dục STEM với dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh
Giáo dục STEM đã xuất hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới Tuy nhiên vớinhững bối cảnh khác nhau thì những mục tiêu cho giáo dục STEM ở các quốcgia đó cũng khác nhau Ở tầm quốc gia, tại Anh, mục tiêu giáo dục STEM làtạo ra nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học chất lượng cao Còn tại Mỹ, ba mụctiêu cơ bản cho giáo dục STEM là: trang bị cho tất cả các công dân những kĩnăng về STEM, mở rộng lực lượng lao động trong lĩnh vực STEM bao gồm cảphụ nữ và dân tộc thiểu số nhằm khai thác tối đa tiềm năng con người của đấtnước, tăng cường số lượng HS sẽ theo đuổi và nghiên cứu chuyên sâu về cáclĩnh vực STEM Tại Úc, mục tiêu của giáo dục STEM là xây dựng kiến thứcnền tảng của quốc gia nhằm đáp ứng các thách thức đang nổi lên của việc pháttriển một nền kinh tế cho thế kỉ 21 Tuy các phát biểu về mục tiêu giáo dụcSTEM ở tầm quốc gia có khác nhau nhưng điểm chung cho các mục tiêu đóchính là sự tác động đến người học Có thể dễ nhận thấy giáo dục STEM như làmột giải pháp trong cải cách giáo dục của các quốc gia nhằm hướng tới pháttriển con người nhằm đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế, phát triển củaquốc gia trong thời đại toàn cầu hóa đầy cạnh tranh[9]
Vận dụng trong bối cảnh Việt Nam, việc đưa giáo dục STEM vào trườngphổ thông mang lại nhiều ý nghĩa, phù hợp với định hướng đổi mới giáo dụcphổ thông Đó là [12]:
- Đảm bảo giáo dục toàn diện: Triển khai giáo dục STEM ở nhà trường,bên cạnh các môn học đang được quan tâm như Toán, Khoa học, các lĩnh vựcCông nghệ, Kỹ thuật cũng sẽ được quan tâm, đầu tư trên tất cả các phương diện vềđội ngũ giáo viên, chương trình, cơ sở vật chất
- Nâng cao hứng thú học tập các môn học STEM: Các dự án học tập tronggiáo dục STEM hướng tới việc vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các vấn
đề thực tiễn, học sinh được hoạt động, trải nghiệm và thấy được ý nghĩa của trithức với cuộc sống, nhờ đó sẽ nâng cao hứng thú học tập của học sinh
Trang 33- Hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh: Khi triển khaicác dự án học tập STEM, học sinh hợp tác với nhau, chủ động và tự lực thực hiện cácnhiệm vụ học; được làm quen hoạt động có tính chất nghiên cứu khoa học Các hoạtđộng nêu trên góp phần tích cực vào hình thành và phát triển phẩm chất,
năng lực cho học sinh
- Kết nối trường học với cộng đồng: Để đảm bảo triển khai hiệu quả giáo dụcSTEM, cơ sở giáo dục phổ thông thường kết nối với các cơ sở giáo dục nghề
nghiệp, đại học tại địa phương nhằm khai thác nguồn lực về con người, cơ sởvật chất triển khai hoạt động giáo dục STEM Bên cạnh đó, giáo dục STEMphổ thông cũng hướng tới giải quyết các vấn đề có tính đặc thù của địa phương
- Hướng nghiệp, phân luồng: Tổ chức tốt giáo dục STEM ở trường phổthông, học sinh sẽ được trải nghiệm trong các lĩnh vực STEM, đánh giá được
sự phù hợp, năng khiếu, sở thích của bản thân với nghề nghiệp thuộc lĩnh vựcSTEM Thực hiện tốt giáo dục STEM ở trường phổ thông cũng là cách thức thuhút học sinh theo học, lựa chọn các ngành nghề thuộc lĩnh vực STEM, cácngành nghề có nhu cầu cao về nguồn nhân lực trong cuộc cách mạng côngnghiệp lần thứ tư
Để hình thành và phát triển năng lực cho HS cần tạo cơ hội để học sinhđược vận dụng kiến thức, kĩ năng được học để giải quyết các tình huống thựctiễn Như vậy, dạy học theo định hướng giáo dục STEM có vai trò và ý nghĩaquan trọng trong việc hình thành và phát triển các năng lực cần thiết cho HSthông qua dạy học Toán
1.4.5 Vai trò của môn Toán trong dạy học STEM
Trong chương trình giáo dục, môn Toán giữ một vai trò quan trọng MônToán được coi là môn học công cụ, cung cấp các tri thức, kĩ năng tư duy đểngười học có thể học tập các môn học khác
Trang 34Toán học có nguồn gốc thực tiễn và có tính phổ dụng Tính phổ dụng của
nó thể hiện ở sự ứng dụng rộng rãi của các kiến thức Toán học trong các mônhọc khác cũng như trong thực tiễn Do đó, trong dạy học môn Toán, người ta
cố gắng gợi động cơ cho HS từ những tình huống thực tiễn, tình huống liênmôn và sau khi HS đã có kiến thức, kĩ năng GV có thể cho HS vận dụng, củng
cố kiến thức, kĩ năng qua việc giải quyết các tình huống liên môn hoặc thựctiễn đó Như vậy, thông qua dạy tri thức toán học GV có thể củng cố cho HScác kiến thức liên môn, rèn luyện cho HS kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn
đề, rèn luyện tư duy và bồi dưỡng nhân cách
Với đặc điểm đó môn Toán có vai trò quan trọng trong mối quan hệ mậtthiết với các môn học như Vật lí, Hóa học, Sinh học, Tin học và Địa lí tronggiáo dục STEM Vì vậy, GV dạy Toán có thể lựa chọn các chủ đề Toán học,lựa chọn môn học, nội dung để thiết kế và tổ chức các chủ đề dạy học Toántheo định hướng giáo dục STEM Giáo dục STEM thông qua dạy học mônToán học thường được tiếp cận dưới góc độ khai thác các yếu tố thực tiễnthông qua dạy học một số chủ đề trong Toán học hay hoạt động trải nghiệmToán học Thông qua đó nhằm phát triển năng lực của HS để nhận biết về vaitrò của Toán học trong thế giới, biết dựa vào Toán học để đưa ra những suyđoán có nền tảng vững chắc vừa đáp ứng được các nhu cầu của đời sống cánhân Đó là năng lực phân tích, lập luận và truyền đạt ý tưởng (trao đổi thôngtin) một cách hiệu quả thông qua việc đặt ra, hình thành và giải quyết vấn đềToán học trong các tình huống và hoàn cảnh khác nhau
Như vậy, Toán học là lĩnh vực khoa học công cụ và năng lực Toán học của
HS có ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện giáo dục STEM, là điều kiện quantrọng để thực hiện giáo dục STEM thành công Ngược lại, giáo dục STEM
Trang 35cũng góp phần phát triển ở người học năng lực vận dụng Toán học, năng lực tưduy và giải quyết vấn đề.
1.5 Thực trạng dạy học môn Toán lớp 10 ở trường THPT theo định hướng giáo dục STEM
1.5.1 Mục đích khảo sát
- Tìm hiểu thực trạng dạy học môn Toán lớp 10 theo định hướng giáo dục STEM qua việc đánh giá các nội dung sau:
+ Nhận thức của GV về giáo dục STEM và ý nghĩa của giáo dục STEM
+Đánh giá của GV về sự cần thiết của giáo dục STEM.
+ Nhận thức của GV về vai trò của môn Toán trong giáo dục STEM
+ Những khó khăn khi tổ chức dạy học chủ đề môn Toán theo định hướng giáo dục STEM
- Tìm hiểu thực trạng học tập môn Toán của học sinh lớp 10 ở trường THPT
theo định hướng giáo dục STEM qua việc đánh giá các nội dung sau:
+ Sự mong muốn và hứng thú của HS khi được học môn Toán theo địnhhướng giáo dục STEM
+ Mức độ HS được học các môn học nói chung và môn Toán nói riêngtheo định hướng giáo dục STEM
1.5.2 Nội dung khảo sát
1.5.2.1 Thực trạng dạy môn Toán lớp 10 theo định hướng giáo dục STEM
Để tìm hiểu thực trạng dạy học môn Toán lớp 10 theo định hướng giáodục STEM, tác giả đã sử dụng phiếu khảo sát (phụ lục số 1) để tiến hành thăm
dò ý kiến của 87 GV môn Toán của một số trường THPT ở Nam Định:
Trang 36Bảng 1.1 Số lượng GV Toán tham gia điều tra thực trạng
Kết quả khảo sát như sau:
Với câu hỏi 1, kết quả thu được ở bảng sau
Bảng 1.2 Mức độ nhận thức của GV về giáo dục STEM
Với câu hỏi 2, 3 về ý nghĩa và sự cần thiết của giáo dục STEM, kếtquảthu được ở các bảng sau:
Trang 37Bảng 1.3 Mức độ nhận thức của GV về ý nghĩa của giáo dục STEM.
2 Nâng cao hứng thú học tập các môn học STEM 62 71,26
3 Hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất cho 72 82,76
học sinh
Bảng 1.4 Mức độ đánh giá của GV về sự cần thiết của giáo dục STEM
Mức độ Hoàn toàn Không cần Cần thiết Rất cần thiết
về xu hướng dạy học theo định hướng phát triển năng lực còn hạn chế
Với câu hỏi 4 về mức độ nhận thức của GV về vai trò của môn Toán tronggiáo dục STEM, kết quả thu được ở bảng sau:
Bảng 1.5 Mức độ nhận thức của GV về vai trò của môn Toán trong giáo
dục STEM
Trang 38Qua bảng trên cho thấy, có 70,11% GV hiểu được đúng vai trò của mônToán trong giáo dục STEM; 19,54% GVchưa hiểu được vai trò của môn Toántrong giáo dục STEM và 10,34% GV không hiểu rõ về vai trò của môn Toántrong giáo dục STEM.
Thăm dò những khó khăn khi tổ chức dạy học chủ đề môn Toán theo địnhhướng giáo dục STEM qua câu hỏi 5, thì kết quả thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1.6.Những khó khăn khi tổ chức dạy học chủ đề môn Toán theo định
hướng giáo dục STEM
STT Những khó khăn khi tổ chức dạy học chủ đề SL Tỷ lệ
1 Không có thời gian đầu tư thiết kế chủ đề 53 60,92
2 Khó chọn lọc chủ đề phù hợp với nội dung bài dạy 46 52,87
3 Không có nhiều nguồn tư liệu tham khảo 33 37,93
4 Nội dung kiến thức quá khó với học sinh 26 29,89
5 Dạy học theo định hướng giáo dục STEM không đem 45 51,72lại kết quả cao trong các kỳ thi khảo sát hiện nay
6 Trình độ, năng lực giáo viên còn hạn chế 28 32,18
7 Trình độ, năng lực học sinh không đồng đều 32 36,78
8 Thiếu thốn về cơ sở vật chất, không đảm bảo điều 45 51,72kiện để dạy học theo định hướng giáo dục STEM
9 Học sinh không hứng thú với việc học theo định 25 28,74hướng STEM
Trang 39Kết quả bảng 1.6 cho thấy những khó khăn thường gặp:
- Không có thời gian đầu tư thiết kế chủ đề(60,92%)
- Khó chọn lọc chủ đề phù hợp với nội dung bài dạy (52,87%)
- Dạy học theo định hướng giáo dục STEM không đem lại kết quả cao trong các kỳ thi khảo sát hiện nay (51,72%)
- Thiếu thốn về cơ sở vật chất, không đảm bảo điều kiện để dạy học theođịnh hướng giáo dục STEM (51,72%)
Như vậy, qua kết quả tìm hiểu thăm dò ý kiến GV bằng phiếu khảo sát thểhiện bằng các bảng nói trên cho thấy nhiều GV đã hiểu đúng về GD STEM, ýnghĩa và sự cần thiết của GD STEM, hiểu được vai trò quan trọng của mônToán trong giáo dục STEM Tuy nhiên, trong lĩnh vực giảng dạy bộ môn Toáncủa mình thì đa số các thày cô chưa thực hiện dạy học các chủ đề theo địnhhướng giáo dục STEM, thực tế cho thấy các thày cô cũng còn gặp khá nhiềukhó khăn, khâu thiết kế chủ đề dạy học trong môn Toán theo định hướng giáodục STEM cũng là một trong các vấn đề khó khăn đó(khó khăn về mặt thờigian thiết kế, khó khăn về sự lựa chọn chủ đề phù hợp với nội dung bài học)
1.5.2.2 Thực trạng học tập môn Toán của học sinh lớp 10 ở trường THPT theo định hướng giáo dục STEM
Để tìm hiểu thực trạng học tập môn Toán lớp 10 theo định hướng giáo dụcSTEM của học sinh, tác giả đã tiến hành khảo sát (phụ lục số 2) 200 HS lớp 10
ở một số trường của tỉnh Nam Định Kết quả khảo sát như sau:
Với câu hỏi 3,4vềsự mong muốn được học theo định hướng giáo dụcSTEM và sự hứng thú với bài học theo định hướng giáo dục STEM của cácemHS được thể hiện qua các bảng sau:
Bảng 1.7 Mức độ mong muốn của HS được học môn Toán theo định
hướng giáo dục STEM
Trang 40Bảng 1.8 Mức độ hứng thú của HS khi được học theo định hướng giáo dục STEM
Bảng 1.9 Mức độ HS được học các môn theo định hướng giáo dục STEM
Bảng 1.10 Mức độ HS được học môn Toán lớp 10 theo định hướng giáo
dục STEM
Như vậy,qua các bảng số liệu điều tra trên cho thấy đa số các em đều chưađược học môn Toán theo định hướng giáo dục STEM nhưng đa số các em đềumong muốn được học mônToán theo định hướng STEM