academic entrepreneurs, Social Anthropology/Anthropologie Sociale 20, 3 267–286.. xã hội được triển khai, nhiều nhà quản lý cho rằng cần coi nguồn vốn chi cho NCKH trong ĐH là đầu tư ch[r]
Trang 2TỪ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ ĐẾN THỰC TIỄN VIỆT NAM
Trang 4ĐINH VĂN TOÀN (Chủ biên)
PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP
TRONG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
TỪ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ ĐẾN THỰC TIỄN VIỆT NAM
(Sách chuyên khảo)
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 8MỤC LỤC
Trang
Danh mục chữ viết tắt 11
Lời cảm ơn 13
Lời nói đầu 15
Mở đầu 19
Chương 1 Khái luận về doanh nhân, phát triển kinh doanh và doanh nghiệp 1.1 Doanh nhân và kinh doanh 23
1.2 Mô hình phát triển kinh doanh 25
1.3 Doanh nghiệp, vai trò của doanh nhân và tinh thần doanh nghiệp 31
1.4 Các loại hình doanh nghiệp 37
Chương 2 Quản trị đại học và xu hướng đổi mới tổ chức quản lý 2.1 Lý luận chung về quản trị đại học 43
2.2 Bản chất và đặc điểm của quản trị đại học tiên tiến 51
2.3 Quản trị đại học tiên tiến và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo 56
2.4 Một số mô hình quản trị đại học tiêu biểu trên thế giới 62
Trang 9Chương 3
Nền tảng phát triển doanh nghiệp trong trường đại học
3.1 Khái quát về các yếu tố nền tảng phát triển doanh nghiệp 71 3.2 Bản chất và nội dung của nền tảng phát triển doanh nghiệp 73 3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến
nền tảng phát triển doanh nghiệp 86 3.4 Mô hình phát triển doanh nghiệp trong trường đại học 91 3.5 Đặc trưng của đại học hiện đại và yêu cầu
phát triển doanh nghiệp trong trường đại học 100 3.6 Một số đặc điểm và yếu tố nền tảng cho phát triển
doanh nghiệp trong trường đại học 105
Chương 4
Phát triển doanh nghiệp trong các trường đại học trên thế giới
4.1 Tổng quan về phát triển doanh nghiệp
trong đại học trên thế giới 117 4.2 Một số đại học tiêu biểu
và kinh nghiệm phát triển doanh nghiệp 158 4.3 Bài học và một số gợi ý chính sách đối với các đại học
ở Việt Nam 194
Chương 5
Thực tiễn hình thành và phát triển doanh nghiệp
trong các cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam
5.1 Quản trị đại học tại Việt Nam - những thách thức 203 5.2 Hoạt động doanh nghiệp trong đại học
và đổi mới tổ chức, quản trị đại học ở Việt Nam 219 5.3 Thực tiễn hình thành và hoạt động của các doanh nghiệp trong đại học tại Việt Nam 261 5.4 Những thách thức khó khăn chủ yếu và nguyên nhân 290
Trang 10Chương 6
Những vấn đề đặt ra và chính sách cho phát triển doanh nghiệp
trong cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam
6.1 Quan điểm đổi mới, hoàn thiện quản trị đại học 295 6.2 Phương hướng hoàn thiện mô hình đại học doanh nghiệp
và phát triển doanh nghiệp trong đại học 296 6.3 Những vấn đề đặt ra và giải pháp 298 6.4 Hình thành và hoạt động doanh nghiệp
trong các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam 314 6.5 Cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý và điều hành
của các trường đại học 319 Kết luận 323 Danh mục tài liệu tham khảo 327
Trang 12DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CIETEC Trung tâm Sáng tạo, Khởi nghiệp và Công nghệ CMCN Cách mạng công nghiệp
CNTT Công nghệ thông tin
CSGDĐH Cơ sở giáo dục đại học
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
ĐHBKHN Đại học Bách khoa Hà Nội
ĐHQGHN Đại học Quốc gia Hà Nội
GD&ĐT Giáo dục & Đào tạo
HĐQT Hội đồng quản trị
HEIF Quỹ Sáng tạo trong giáo dục đại học
KH&CN Khoa học và công nghệ
KH&KT Khoa học và kỹ thuật
NCKH Nghiên cứu khoa học
PTDN Phát triển doanh nghiệp
MIT Viện Công nghệ Massachusetts
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
QTĐH Quản trị đại học
NCS Nghiên cứu sinh
NUS Đại học Quốc gia Singapore
Trang 13NTU Đại học Công nghệ Nanyang
NRF Quỹ Nghiên cứu quốc gia
R&D Nghiên cứu và phát triển
OTT Văn phòng chuyển giao công nghệ
QTKD Quản trị kinh doanh
QTCT Quản trị công ty
SEC Thử thách doanh nghiệp khoa học
SXKD Sản xuất kinh doanh
TNHH MTV Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
TUM Trường Đại học Kỹ thuật Munich
TTDN Tinh thần doanh nghiệp
UT Trường Đại học Twente
USP Đại học Sao Paulo
Trang 14Lời cảm ơn
Nhân dịp cuốn sách ra mắt, chúng tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến những người đã đóng góp và giúp đỡ nhóm tác giả hoàn thành cuốn sách này
Trước hết, lời cảm ơn chân thành xin được gửi tới Giáo
sư Phùng Xuân Nhạ, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo, nguyên Giám đốc Đại học Quốc gia
Hà Nội Khi còn làm Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo sư là người đã ủng hộ nhóm tác giả khởi xướng nghiên cứu này trong khuôn khổ nhiệm vụ KHCN cấp Đại học Quốc gia Hà Nội Nghiên cứu này cũng là nền tảng để ra đời cuốn sách với bối cảnh phát triển doanh nghiệp trong các cơ sở đại học vẫn còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu trong thực tiễn tại Việt Nam
Xin cảm ơn PGS.TS Nguyễn Kim Sơn, Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội và Ban lãnh đạo đã hỗ trợ, tạo điều kiện cho nhóm tác giả nghiên cứu và hoàn thành cuốn sách Đặc biệt, những gợi ý ban đầu về chủ đề nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn, nguyên Phó Giám đốc Đại học Quốc gia
Hà Nội đã tạo động lực để nhóm tác giả có thêm các nghiên cứu về lý thuyết và các khảo sát gắn với thực tiễn
Nhóm tác giả xin được cảm ơn các trường đại học trong
cả nước đã nhiệt tình hỗ trợ trong quá trình thực hiện khảo sát, cảm ơn lãnh đạo các doanh nghiệp đã dành thời gian chia
sẻ, trao đổi với tâm huyết thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp trong đại học Đặc biệt, cảm ơn PGS.TS Trần Văn Bình, nguyên Chủ tịch Hội đồng thành viên BK Holdings đã
Trang 15chia sẻ nhiệt huyết của cá nhân với quá trình hình thành, phát triển đầy thử thách của BK Holdings - doanh nghiệp trong đại học rất thành công tại Việt Nam
Cuối cùng, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn đến các nhà khoa học, những người đồng nghiệp đã ủng hộ, góp ý và động viên mọi mặt để cuốn sách sớm được hoàn thành Xin cảm ơn Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội đã hỗ trợ, phối hợp một cách hiệu quả để cuốn sách sớm đến tay bạn đọc
Thay mặt nhóm tác giả
Trang 16LỜI NÓI ĐẦU
Các trường đại học (ĐH) tại các nước phát triển đã có xu hướng trở thành các ĐH định hướng doanh nghiệp (đại học doanh nghiệp) ngày càng mạnh mẽ kể từ nhiều thập kỷ qua Kể từ thập niên đầu của thế kỷ 21, khi nền kinh tế thế giới bước vào “kỷ nguyên số” với ưu thế của cuộc cách mạng 4.0, các ĐH càng có sự chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng đổi mới sáng tạo gắn với khởi nghiệp Điều này càng thúc đẩy tiến trình đổi mới quản trị ĐH phù hợp với đổi mới tổ chức quản trị theo hướng đại học doanh nghiệp trước đây Tại châu Á, ĐH Quốc gia Singapore (NUS) đã trở thành đại học đi đầu trong đổi mới sáng tạo gắn với tinh thần khởi nghiệp kinh doanh và thực sự trở thành hình mẫu với mô hình đại học doanh nghiệp
Trong bối cảnh như vậy, phát triển doanh nghiệp gắn với sự chuyển đổi mạnh mẽ sang mô hình đại học doanh nghiệp sẽ giúp hoàn thiện mô hình tổ chức, điều hành Hoạt động của ĐH trở nên gắn kết với xã hội, bền vững về mặt hiệu quả đầu ra và hấp dẫn hơn đối với các bên liên quan và nhà đầu tư Việc không ngừng nghiên cứu, nâng cao năng lực thực hành và áp dụng theo hướng tiếp cận quản trị đại học tiên tiến và các thông lệ tốt trên thế giới đang trở thành nhu cầu cấp thiết hiện nay đối với các cơ quan quản lý nhà nước, đại học và cả doanh nghiệp, nhà đầu tư quan tâm tới giáo dục đại học
Cuốn sách Phát triển doanh nghiệp trong các cơ sở giáo dục đại
học: Từ kinh nghiệm quốc tế đến thực tiễn Việt Nam được biên soạn
nhằm đáp ứng nhu cầu tham khảo, học tập, nghiên cứu của những người quan tâm tới giáo dục đại học và phát triển tổ chức trong các tổ chức đặc biệt - cơ sở giáo dục đại học (CSGDĐH) Cách tiếp cận của cuốn sách mang tính hệ thống từ khung lý thuyết về doanh nhân, doanh nghiệp, nền tảng phát triển doanh nghiệp đến yêu cầu của quản
Trang 17trị đại học và cập nhật các kinh nghiệm thực tiễn cơ sở giáo dục đại học trong bối cảnh các quốc gia khác nhau Đây cũng là một tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, giảng dạy và nghiên cứu về kinh tế cũng như các nhà quản trị, điều hành ĐH trong giai đoạn hội nhập hiện nay
Ngoài phần Mở đầu, cuốn sách được cấu trúc thành 6 Chương để trình bày từ tổng quan lý thuyết đến các nội dung thực tiễn về kinh nghiệm trên thế giới, từ đó tiếp cận trực tiếp vào từng nhóm vấn đề đặt
ra trong thực tiễn và các gợi ý chính sách cho Việt Nam Chương 1 đề cập khá sâu về lý thuyết các nội dung tổng quan về doanh nhân, phát triển kinh doanh và doanh nghiệp, tinh thần doanh nghiệp Chương 2 trình bày khái quát về quản trị đại học tiên tiến và xu hướng đổi mới đối với tổ chức, quản lý các ĐH hiện nay Chương 3 đề cập và phân tích sâu hơn các yếu tố nền tảng phát triển doanh nghiệp trong cơ sở giáo dục đại học Chương 4 trình bày tổng quan về mô hình đại học doanh nghiệp và phát triển doanh nghiệp trong đại học trên thế giới và những bài học cho các ĐH ở Việt Nam Chương 5 trình bày kết quả nghiên cứu và khảo sát thực tiễn của nhóm tác giả về hình thành và hoạt động của doanh nghiệp trong các cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam Chương 6 đưa ra các gợi ý về phương hướng và giải pháp chính sách hoàn thiện mô hình đại học doanh nghiệp và phát triển doanh nghiệp trong đại học góp phần hoàn thiện quản trị đại học ở Việt Nam Trong từng chương có các hình, hộp tình huống và bảng số liệu giúp người đọc có thêm các dữ liệu thực tế và hiểu sâu thêm các nội dung
lý thuyết đã được trình bày
Cuốn sách được hoàn thành với sự tâm huyết của nhóm tác giả do
TS Đinh Văn Toàn làm chủ biên Tham gia nhóm biên soạn còn có các nhà khoa học đang giảng dạy và nghiên cứu tại Đại học Quốc gia
Hà Nội: PGS.TS Hoàng Văn Hải, TS Nguyễn Phương Mai, NCS Đặng Thành Đạt, ThS Lê Thị Thảo và NCS Phùng Thế Vinh Phân công biên soạn cụ thể các chương như sau:
Trang 18Chương 1 - TS Đinh Văn Toàn;
Chương 2 - TS Đinh Văn Toàn;
Chương 3 - PGS.TS Hoàng Văn Hải và NCS Phùng Thế Vinh; Chương 4 - TS Nguyễn Phương Mai và TS Đinh Văn Toàn; Chương 5 - TS Đinh Văn Toàn và NCS Đặng Thành Đạt;
Chương 6 - TS Đinh Văn Toàn và ThS Lê Thị Thảo
Trong quá trình biên soạn, tập thể tác giả đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ của Nhà xuất bản ĐHQGHN, Viện Quản trị Kinh doanh Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN, sự đóng góp ý kiến về chuyên môn của các đồng nghiệp, các nhà quản lý và lãnh đạo các trường ĐH Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn và mong tiếp tục nhận được sự hỗ trợ, quan tâm và góp ý để cuốn sách hoàn thiện hơn trong những lần tái bản sau
Tập thể tác giả
Trang 20MỞ ĐẦU
Nhiều quốc gia trên thế giới như ở châu Âu (Anh, Đức, Phần Lan ) và Mỹ đã cho phép các trường đại học được tự quyết định cơ cấu tổ chức và mô hình đại học doanh nghiệp Các doanh nghiệp trực thuộc trường ĐH kết nối, đầu tư để triển khai dịch vụ, ứng dụng và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu khoa học (NCKH), nhượng quyền sáng chế các phát minh về khoa học công nghệ (KHCN) Tại Pháp, có quy định trên cơ sở nghị quyết của Hội đồng quản trị, các
cơ sở giáo dục ĐH được xác định cơ cấu của mình Còn ở Nhật Bản, theo quy định hiện nay thì trong trường ĐH sẽ có các khoa đào tạo, nhưng trong trường hợp có lợi cho NCKH và đào tạo thì có thể thành lập các tổ chức để làm cơ sở cho việc tiến hành các hoạt động nghiên cứu và triển khai ở ngoài các khoa Một số đại học ở châu Á, tiêu biểu là ĐH Quốc gia Singapore và gần đây là ĐH Thanh Hoa và ĐH Bắc Kinh, các nhóm nghiên cứu đã hình thành nhiều doanh nghiệp trực thuộc Các ĐH khuyến khích các sinh viên và cựu sinh viên khởi nghiệp kinh doanh
Lý thuyết cũng như các nghiên cứu thực nghiệm đã cho thấy phát triển doanh nghiệp (PTDN) trong đại học gắn liền với sự phát triển tinh thần doanh nghiệp và đổi mới quản trị trường ĐH theo hướng tự chủ, quản trị hiệu quả theo kết quả đầu ra và gắn với thỏa mãn các bên liên quan Các hình thức chủ yếu của doanh nghiệp phát triển từ trường ĐH là các công ty hình thành từ các sản phẩm, ý tưởng hay công nghệ liên quan tới các nghiên cứu từ trường ĐH (còn gọi là các Spin-offs) Do vậy, các nhà sáng lập các Spin-offs thường liên quan trực tiếp tới các nghiên cứu từ trường ĐH hoặc cựu giảng viên, nghiên cứu viên ĐH Trong thời đại của giáo dục ĐH 4.0 ngày nay, các trường ĐH trở thành các trung tâm đổi mới sáng tạo, càng khẳng định
Trang 21vai trò là môi trường lý tưởng cho khởi nghiệp gắn với đổi mới sáng tạo (Startup) Vì vậy, phát triển doanh nghiệp nói chung và khởi nghiệp kinh doanh từ trường ĐH ngày càng có ý nghĩa thực tiễn và đáng được quan tâm
Ở Việt Nam, chủ trương thành lập công ty trong các trường đại học, viện nghiên cứu để tạo thuận lợi cho việc chuyển giao kết quả NCKH và ứng dụng công nghệ đã được cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đề xướng từ những năm 90 của thế kỷ XX Điều lệ Trường Đại học ban hành theo Quyết định số 70/2014/QĐ-TTg ngày 10/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định rõ về các cơ sở kinh doanh, dịch vụ trong
cơ cấu tổ chức nhà trường (Điều 19) “được tổ chức theo hình thức doanh nghiệp hoặc trung tâm dịch vụ để triển khai các dịch vụ về cung cấp thông tin, tư vấn; phổ biến và ứng dụng tri thức khoa học và công nghệ vào thực tiễn sản xuất; dịch vụ sinh viên; dịch vụ phục vụ cộng đồng và đáp ứng các nhu cầu của xã hội"
Tư tưởng về phát triển doanh nghiệp trong các đại học cũng đã được thể hiện trong Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP của Chính phủ:
“có cơ chế chính sách và tạo điều kiện thuận lợi để thành lập doanh nghiệp đa sở hữu trong các trường đại học nhằm thực hiện hoạt động ứng dụng triển khai thương mại hoá các kết quả nghiên cứu và cung ứng dịch vụ sự nghiệp công" Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học được đưa ra lấy ý kiến rộng rãi trong xã hội và ban hành từ năm 2018 quy định trong cơ cấu tổ chức của các cơ sở giáo dục đại học có các viện nghiên cứu, trung tâm, cơ sở dịch vụ, doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh và đơn vị khác theo nhu cầu phát triển của đại học
Trong thực tiễn, nhiều ĐH và trường ĐH lớn ở Việt Nam đã áp dụng khá thành công theo cách hình thành các viện nghiên cứu, trung tâm Tuy nhiên, các doanh nghiệp (công ty) sản xuất kinh doanh trực thuộc trường ĐH còn là con số rất khiêm tốn Việc thành lập công ty từ các nhà khoa học và bắt nguồn từ các phát minh, sáng chế hay ý tưởng kinh doanh từ các CSGDĐH (Spin-offs và Startups) chưa đáng kể
Trang 22Đi tiên phong thực hiện chủ trương này và thúc đẩy hình thành các startup kể từ cuối những năm 1980, Trường Đại học Bách khoa
Hà Nội đã nỗ lực để thành lập Công ty Bách khoa (BK-Holdings) Để được thành lập, đứng vững được và có sự trưởng thành về mọi khía cạnh: từ quan niệm, mô hình quản trị, tổ chức và thực hiện đầu tư, kinh doanh và đứng vững được trong thị trường cạnh tranh với nhiều thành tựu như ngày nay, nhà trường và các nhà khoa học với tinh thần doanh nhân đã trải qua nhiều biến cố với nhiều sự hy sinh, kể cả phải
“trả giá đắt" Mô hình “tổ hợp doanh nghiệp” trong đại học như Holding đang hiện hữu có thể coi là biểu tượng của sự đấu tranh bền
BK-bỉ của các nhà khoa học và là biểu tượng của tinh thần doanh nhân trong cơ sở giáo dục ĐH ở Việt Nam trong các thập niên cuối cùng của thế kỷ XX
Tuy nhiên, hình thành và phát triển doanh nghiệp cũng như đổi mới trong các hoạt động có tính “tự chủ” trong ĐH vẫn tồn tại nhiều vướng mắc, rào cản Bên cạnh mặt tích cực khi thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, các tổ chức khoa học - công nghệ trong ĐH
và chính các ĐH còn gặp nhiều vướng mắc do sự thiếu đồng bộ, mâu thuẫn của các quy định trong hệ thống văn bản pháp luật hiện hành như: Luật Đất đai, Luật Viên chức, Luật Phòng chống tham nhũng và các quy định đối với cán bộ, công chức
Mặc dù nền kinh tế - xã hội đã phát triển, nhiều thông lệ tốt trong quản trị đã tiếp cận với thế giới, các tổ chức khoa học và ĐH đã dần tiếp cận và hội nhập với khu vực, nhưng hình thành, phát triển và hoàn thiện mô hình phát triển doanh nghiệp hiệu quả trong các đại học còn nhiều vướng mắc và chưa có kết quả cao như tiềm năng và sức mạnh vốn có của các đại học trong nền kinh tế tri thức và thời kỳ của cuộc cách mạng 4.0 Phải chăng, quản trị đại học mà cùng với nó là một môi trường sinh thái cho tự trị đại học và “đại học khai phóng", định hướng đổi mới sáng tạo vẫn chưa đạt tới sự tương thích và chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của chính các đại học trong thời đại mới?
Trang 24Chương 1
KHÁI LUẬN VỀ DOANH NHÂN, PHÁT TRIỂN KINH DOANH
VÀ DOANH NGHIỆP
1.1 Doanh nhân và kinh doanh
Khái nhiệm “doanh nhân”, nếu xét theo nghĩa là người làm nghề
buôn bán, sản xuất và trao đổi hàng hóa thì đã xuất hiện từ rất sớm
trong lịch sử loài người Doanh nhân (entrepreneur trong tiếng Anh)
xuất hiện từ thời kỳ chiếm hữu nô lệ ở phương Tây khi được coi như những ông chủ quản lý các dự án sản xuất và thực hiện các hợp đồng
do chính phủ giao (Nguyễn Viết Lộc, Đinh Văn Toàn và cộng sự, 2015)1 Về mặt ngôn ngữ học, khái niệm về những người kinh doanh (doanh nhân) được dùng chính thức từ thế kỷ 18 bởi nhà kinh tế học người Pháp là Richard Cantillon (Lumpkin và cộng sự., 1996)2 và có
nguồn gốc từ entrepreneur (doanh nhân) Tên gọi này bắt nguồn từ hai
từ: entre nghĩa là “sự lựa chọn” giữa nhiều phương án hành động khác
nhau và từ prendre nghĩa là “nắm bắt” Từ doanh nhân (entrepreneur)
được dùng để nói về những người đảm nhận hay dám chịu trách nhiệm về những rủi ro giữa người mua và người bán khi kinh doanh, hay là những người thực hiện những nhiệm vụ có nhiều rủi ro như khởi sự một hoạt động kinh doanh
1 Nguyễn Viết Lộc, Đinh Văn Toàn và cộng sự (2015), Doanh nhân và văn hóa doanh nhân Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
2 Lumpkin, G T., & Dess, G G (1996), “Clarifying the entrepreneurial orientation
construct and linking it to performance”, Academy of Management Review, 21(1),
135-172
Trang 25Phân biệt với thương gia (businessman), nhà quản lý kinh doanh (business manager), doanh nhân được quan niệm là người có các đặc tính sau: i.) là người tổ chức các yếu tố sản xuất, đất đai, lao động, vốn
để sản xuất và bán hàng hóa nhằm thu lợi nhuận; ii.) thường là người chủ, cung cấp tài chính, người quản lý tổ chức công nghiệp hay thương mại để tạo ra lợi nhuận; iii.) là người mà thông qua hoạt động kinh doanh làm cho mình trở thành lãnh đạo trong giới kinh tế (Nguyễn Viết Lộc, Đinh Văn Toàn và cộng sự, 2015)1 Như vậy, có thể nói “doanh nhân” là một khái niệm cơ bản trong kinh tế học luôn gắn chặt với khái niệm “tinh thần kinh doanh” và “khởi nghiệp kinh doanh” Doanh nhân luôn gắn với đặc tính vốn có là dám đương đầu, chấp nhận rủi ro và không ngừng tìm kiếm cơ hội kinh doanh để có lợi nhuận cho doanh nghiệp Một số định nghĩa tiêu biểu về doanh nhân của các học giả nước ngoài được tổng hợp trong Hộp 1.1
Hộp 1.1 Một số định nghĩa về doanh nhân
Trong Từ điển Oxford của Anh, nhà kinh doanh hay doanh nhân
(entrepreneur) là “người kiếm tiền bằng cách lập doanh nghiệp hoặc điều khiển doanh nghiệp, đặc biệt là khi việc này bao hàm sự chấp nhận những rủi ro về mặt tài chính”
Bách khoa thư Anh ngữ Collin định nghĩa: “Doanh nhân là người sở hữu
hay điều hành một doanh nghiệp, họ phấn đấu làm ra lợi nhuận bằng cách chấp nhận rủi ro và đưa ra những sáng kiến mời”
Giáo trình Đại học Benedictine dành cho MBA: Doanh nhân ngày nay
gắn với 4 đặc điểm: 1) Tham gia vào quá trình sáng tạo, 2) Cống hiến thời gian và nỗi lực, 3) Tạo dựng và chi phối thành quả đạt được (rewards), 4) Dám đối mặt và chấp nhận rủi ro cần thiết
Từ điển Merrian – Webster: Doanh nhân là người bắt đầu công việc kinh
doanh và dám chấp nhận rủi ro để kiếm tiền
Từ điển Dicstionary.com: Doanh nhân là người thành lập và quản lý
doanh nghiệp, có óc sáng kiến và chấp nhận rủi ro
(Nguồn: Nguyễn Viết Lộc, Đinh Văn Toàn và cộng sự, 2015.)
1 Nguyễn Viết Lộc, Đinh Văn Toàn và cộng sự (2015), Doanh nhân và văn hóa doanh nhân Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 26Kinh doanh: Theo “Từ điển mở” Wikipedia1 thì kinh doanh
(business) là hoạt động của cá nhân hoặc tổ chức nhằm mục đính đạt lợi nhuận qua một loạt các hoạt động tổ chức sản xuất, tiếp thị, phân phối, bán hàng và quản lý các mặt tài chính, kế toán Kinh doanh là một trong những hoạt động phong phú nhất của loài người Hoạt động kinh doanh thường được thông qua các thể chế kinh doanh như doanh nghiệp (tập đoàn, công ty…) nhưng cũng có thể là hoạt động tự thân của các cá nhân như sản xuất, buôn bán nhỏ kiểu hộ gia đình
Theo quan điểm kinh tế - chính trị học, kinh doanh được coi là phương thức hoạt động kinh tế trong điều kiện tồn tại nền kinh tế hàng hoá Kinh doanh gồm tổng thể những phương pháp, hình thức và phương tiện mà chủ thể kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế của mình (bao gồm quá trình đầu tư, sản xuất, vận tải, thương mại, dịch vụ ) trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị cùng với các quy luật khác, nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời cao nhất Do vậy, để đánh giá các hoạt động kinh doanh, người ta có nhiều chỉ tiêu khác nhau như doanh thu, tăng trưởng, lợi nhuận biên, lợi nhuận ròng, và các đóng góp khác của doanh nhân, doanh nghiệp cho xã hội
Ngày nay, doanh nhân và các tổ chức kinh tế có thể phát triển kinh doanh ở mọi lĩnh vực mà có sự xuất hiện của nhu cầu trên thị trường ngoại trừ các hoạt động mà pháp luật của các quốc gia không cho phép kinh doanh Các lĩnh vực kinh doanh có thể bao gồm nhiều lĩnh vực như: tài chính tiền tệ, thông tin, tin tức, giải trí, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, bán lẻ, phân phối, vận tải, các loại dịch vụ, v.v
1.2 Mô hình phát triển kinh doanh
Hoạt động phát triển kinh doanh, về cơ bản chính là việc đưa ra hàng hóa (sản phẩm và/ hoặc dịch vụ) mới vào thị trường mới hoặc thị
1 https://vi.wikipedia.org/wiki/
Trang 27trường đã có (Barringer và cộng sự, 20121; Lumpkin và cộng sự,
19962) Nói cách khác, đó là việc chuyển hóa các cơ hội phát triển kinh doanh thành các dự án kinh doanh mới với sản phẩm mới được cung cấp ra thị trường (new entry, new business hay new venture) Phát triển kinh doanh hay hình thành doanh nghiệp để thực hiện các
dự án kinh doanh luôn song hành với nỗ lực và tinh thần kinh doanh của các doanh nhân Bởi lẽ, đặc tính của doanh nhân là “tinh thần kinh doanh”: chấp nhận đương đầu với rủi ro, luôn sáng tạo và luôn sử dụng các yếu tố sản xuất một cách hiệu quả nhất để theo đuổi khát vọng tìm kiếm lợi nhuận Khi có cơ hội, ngoài môi trường kinh doanh
và các yếu tố tác động đến phát triển kinh doanh thì tinh thần kinh doanh là yếu tố quyết định việc hình thành và phát triển doanh nghiệp của một cá nhân
Về mặt logic cấu trúc, có thể nhìn nhận mô hình kinh doanh như
là một đầu ra của việc tạo nên cấu trúc hoặc thay đổi tổ chức hiện tại
để theo đuổi một cơ hội mới George và Bock (2011)3 đã tiến hành một xem xét toàn diện và khảo sát các nhà quản lý để hiểu làm thế nào
họ nhận thấy các khía cạnh của một mô hình kinh doanh Phân tích kết quả khảo sát các nhà điều hành kinh doanh để hiểu rõ hơn về mô hình kinh doanh, George và Bock chỉ ra rằng, các khía cạnh chủ yếu của
mô hình kinh doanh là: cơ cấu nguồn lực, cơ cấu chuyển dịch và cấu trúc giá trị Nghiên cứu về mô hình phát triển kinh doanh cần sự kết nối chặt chẽ với nhận thức về tinh thần kinh doanh, về việc cùng kiến tạo cơ hội và các kết quả của tổ chức
1 Barringer, B., Jones, F., & Neubaum, D (2005), “A quantitative content analysis of
the characteristics of rapid-growth firms and their founders”, Journal of Business Venturing, 20, 663–687
2 Lumpkin, G T., & Dess, G G (1996), “Clarifying the entrepreneurial orientation
construct and linking it to performance”, Academy of Management Review, 21(1),
135-172
3 George G and Bock A J, 2011, “The Business Model in Practice and its Implications
for Entrepreneurship Research”, Entrepreneurship Theory and Practice, Vol 35,
Issue 1, pp 83-111
Trang 28Mở rộng ra, George and Bock (2012)1 sử dụng trường hợp nghiên cứu và số liệu khảo sát trên các mô hình kinh doanh của các công ty lớn để miêu tả làm thế nào các doanh nhân và doanh nghiệp chuyển đổi doanh nghiệp từ một cơ hội này sang cơ hội khác? Có sáu hành động nội tại được miêu tả là nguyên nhân để đạt được các thành công ngoài dự kiến của các doanh nghiệp, đó là: 1.) Suy nghĩ lại thiết kế nội
bộ tổ chức (Rethink organization design); 2.) Đánh giá các cơ hội chưa hoàn hảo (Appreciate imperfect opportunities); 3.) Tổ chức lại
mô hình để tăng sự gắn bó (Remodel for coherence); 4.) Xây dựng các giải pháp kết nối các bộ phận, cá nhân có sự khác biệt (Build bridges); 5.) Truyền cảm hứng (Inspire the narrative); 6.) Nắm bắt ngay cơ hội ngoài dự kiến (Embrace the unexpected opportunity) ngay sau khi sự việc vừa xảy ra
Nghiên cứu trên cũng chứng minh rõ thêm nhận định hiện nay đang có sự thay đổi về các cơ hội cho phát triển tinh thần kinh doanh
và mô hình kinh doanh Công nghệ và mạng xã hội cho thấy thế giới
“nhỏ lại” do sự kết nối vạn vật nhưng lại mở rộng theo chiều ngang về
cơ hội Ngoài các công cụ, biện pháp để khai thác các ý tưởng mới và sáng tạo thì các nhà khởi nghiệp, doanh nhân còn thiết lập, cơ cấu tổ chức để nắm bắt các cơ hội Nói cách khác, cần xem xét sự liên hệ mật thiết giữa tinh thần kinh doanh, mô hình phát triển kinh doanh và phát triển tổ chức khởi nghiệp kinh doanh
Ngoài ra, nghiên cứu sự hợp tác và truy cập các nguồn bên ngoài của công nghệ, Hummel và các cộng sự (2010)2 nhận thấy rằng quyết định dựa vào các đối tác kinh doanh thực sự quan trọng để chắc chắn rằng cả hai mô hình kinh doanh của các bên là bổ trợ nhau, các công
ty hợp tác mà hiểu rõ các khía cạnh chính của mô hình kinh doanh
1 George G and Bock A J, 2012, Models of Opportunity: How Entrepreneurs Design Firms to Achieve the Unexpected, Research Collection Lee Kong Chian School Of
Business
2 Hummel, E., Slowinski, G Matthews, S và Gilmont, E (2010), Business Model for Collaborative Research, Research Technology Management
Trang 29của mình Các nghiên cứu về mối quan hệ hợp tác kinh doanh và mô hình kinh doanh cũng chỉ ra mô hình mà người mua và các bên cung cấp trong mối quan hệ kinh doanh có thể tập trung vào giá trị chia sẻ
và các mục tiêu để tạo ra một sự sắp xếp có tính hợp tác cao và có lợi ích chung với nhau
Ngày nay, các loại mô hình kinh doanh có thể phụ thuộc vào công nghệ được sử dụng Ví dụ, doanh nghiệp dựa vào Internet có thể tạo ra các mô hình mới mà phụ thuộc chủ yếu vào sự xuất hiện của công nghệ mới nổi Sử dụng công nghệ, các doanh nghiệp có thể đạt một số lượng lớn khách hàng với chi phí thấp Thêm vào đó, sự tăng lên của đầu tư ngoài quốc gia và toàn cầu hoá có nghĩa là các mô hình kinh doanh phải tính toán chiến lược nguồn lực, chuỗi cung phức tạp
và dịch chuyển tới hợp tác, cấu trúc quan hệ hợp đồng
Về mặt tổ chức, để phát triển kinh doanh, các doanh nhân có thể thực hiện thông qua việc thành lập doanh nghiệp mới hoặc thông qua doanh nghiệp hiện có (Corporate Entrepreneurship hay Intrapreneurship) Trong trường hợp thứ nhất, các cá nhân có thể tự mình hoặc thành lập doanh nghiệp mới hoặc cùng những người khác xây dựng một nhóm những người cùng theo đuổi cơ hội phát triển kinh doanh để thành lập doanh nghiệp mới (Barringer và cộng sự,
20121) Trong trường hợp thứ hai, các cá nhân theo đuổi các cơ hội phát triển kinh doanh theo yêu cầu và vì lợi ích của tổ chức mà họ đang làm việc
Các nghiên cứu đã chỉ ra: việc quyết định hình thức tổ chức nào
để khai thác cơ hội phát triển kinh doanh hay mô hình phát triển doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi ba nhóm yếu tố chính là: bản chất của tổ chức ngành; cơ hội; và chế độ phân phối lợi nhuận Theo đó, các doanh nhân có xu hướng lựa chọn hình thức thành lập doanh
1 Barringer B., Jones, F., & Neubaum, D (2005), “A quantitative content analysis of
the characteristics of rapid-growth firms and their founders”, Journal of Business Venturing, 20, 663–687
Trang 30nghiệp mới nhiều hơn trong các trường hợp: khi thị trường vốn đảm bảo tốt hơn quyền sở hữu của người vay vốn; các cơ hội phát triển kinh doanh khó triển khai trong các tổ chức có sẵn vì thiếu động lực hoặc khó đoán định hơn; những ngành có ít rào cản gia nhập thị trường, lợi thế về kinh tế quy mô, lợi thế người đi trước và kinh nghiệm không quá lớn (Shane và cộng sự, 2000)1
Tổng hợp kết quả nghiên cứu về phát triển doanh nghiệp toàn cầu, Wolcott và cộng sự (2007)2 xác định hai yếu tố căn bản làm cơ sở
để phân loại các mô hình phát triển doanh nghiệp ở cấp độ tổ chức là: i.) Cơ cấu tổ chức: ai là người thực hiện hay sở hữu một hoạt động kinh doanh mới trong doanh nghiệp?
ii.) Phân bổ nguồn lực: doanh nghiệp phân bổ một khoản đầu tư chính thức nhất định cho phát triển cơ hội kinh doanh hay chỉ tùy theo tình huống?
Dựa trên hai yếu tố này, có bốn mô hình phát triển kinh doanh chủ yếu ở cấp độ tổ chức được trình bày dưới đây:
- Mô hình Cơ hội (Opportunist): Doanh nghiệp không tiếp cận một cách có chủ ý về phát triển cơ hội kinh doanh mới, việc phân bổ nguồn lực hoàn toàn theo tình huống do các yếu tố bên trong và bên ngoài định hướng
Trong thực tiễn, phần lớn các doanh nghiệp thường bắt đầu phát triển cơ hội kinh doanh mới theo mô hình này Theo đó, doanh nghiệp không có một cơ cấu tổ chức chính thức hoặc phân bổ nguồn lực một cách chuyên biệt cho một nhiệm vụ phát triển kinh doanh mới mà thường dựa vào nỗ lực và cả sự may mắn của các cá nhân có xu hướng làm việc một cách chăm chỉ, chuyên cần trong công ty Mô hình này chỉ có thể hoạt động được nếu như doanh nghiệp có được một môi
1 Shane S., Venkataraman S (2000), The promise of entrepreneurship as a field of research,
Academy of Management Review
2 Wolcott R.C và Lippitz M.J (2007), “The Four Models of Corporate Entrepreneurship“,
MIT Sloan Management Review, 49(1), 75-82
Trang 31trường văn hóa tạo được sự tin tưởng và một mạng lưới xã hội đa dạng bên cạnh hệ thống tổ chức chính thức của công ty Mô hình này trở nên không thích hợp khi doanh nghiệp bắt đầu cân nhắc một cách có trọng tâm về các chiến lược tăng trưởng nội sinh của mình
- Mô hình Nâng đỡ (Enabler): Doanh nghiệp cung cấp nguồn lực
và lãnh đạo cấp cao quan tâm tới những dự án có triển vọng
Mô hình này dựa trên triết lý “mọi nhân viên của công ty đều sẵn sàng tìm kiếm cơ hội và phát triển kinh doanh mới nếu như họ được
hỗ trợ về nguồn lực và hỗ trợ về quy trình” Theo đó, doanh nghiệp cần xác định rõ các tiêu chí để lựa chọn những cơ hội mà nhân viên đề xuất, ban hành hướng dẫn để được hỗ trợ về tài chính, minh bạch trong quá trình ra quyết định, tuyển chọn và duy trì những nhân viên
có tinh thần đổi mới sáng tạo, đồng thời lãnh đạo và các nhà quản lý cần hỗ trợ một cách thiết thực Trong mô hình này, không chỉ đơn thuần là sự phân bổ về tài chính cho phát triển cơ hội kinh doanh mới,
mà còn là phát triển nguồn nhân lực và sự tham gia của cấp quản lý nhằm tạo niềm tin cho nhân viên Điều này nhằm tránh tình trạng các
đề xuất phát triển kinh doanh mới thuần túy chỉ vì nguồn vốn hỗ trợ của công ty mà thiếu động lực và tinh thần kinh doanh
- Mô hình Ủng hộ (Advocate): Doanh nghiệp ủng hộ phát triển cơ hội kinh doanh mới nhưng từng bộ phận trong doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm về nguồn lực
Trong mô hình này, doanh nghiệp thiết lập bộ phận chính thức về phát triển cơ hội kinh doanh mới trong cơ cấu tổ chức của mình, đồng thời cung cấp nguồn lực có hạn cho nhiệm vụ này Bộ phận được thiết lập mới đóng vai trò phổ biến và tư vấn về đổi mới sáng tạo, khuyến khích và hỗ trợ các đơn vị, bộ phận kinh doanh của doanh nghiệp thực hiện cho mục tiêu chung để phát triển cơ hội kinh doanh mới Trong
đó, chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận và các nguyên tắc phối hợp được phân định, thiết lập để triển khai dự án chung
Trang 32- Mô hình Sản xuất (Producer): Doanh nghiệp thiết lập và cung cấp nguồn lực cho một bộ phận chính thức chịu trách nhiệm phát triển
cơ hội kinh doanh mới
Có tương đối ít các doanh nghiệp thực hiện phát triển cơ hội kinh doanh mới bằng mô hình sản xuất thông qua thiết lập một cơ cấu tổ chức chính thức và dành một nguồn lực nhất định cho thực hiện nhiệm
vụ này Tương tự như các mô hình nâng đỡ và ủng hộ, mô hình này cũng có mục tiêu khuyến khích những doanh nhân tiềm năng trong nội
bộ doanh nghiệp phát triển kinh doanh Bên cạnh đó, mô hình này còn hướng tới khuyến khích các cá nhân, đơn vị trong doanh nghiệp hợp tác xây dựng các dự án kinh doanh mới, tạo ra các hướng đi mới theo đuổi các cơ hội kinh doanh mới bên ngoài đơn vị mà họ đang làm việc Tuy nhiên, mô hình này đòi hỏi đầu tư nhiều nguồn lực và có thể cần thời gian dài hơn Mặt khác, việc hợp tác với các các đơn vị kinh doanh đã có để triển khai dự án kinh doanh mới không hề đơn giản Ngoài ra, việc xây dựng sự tín nhiệm và lòng tin trong toàn doanh nghiệp là tối quan trọng để thực hiện thành công mô hình này
Nhìn chung, ngoại trừ mô hình cơ hội, không nhất thiết nhà kinh doanh hay tổ chức phải lần lượt trải qua hay sử dụng một hay tất cả các mô hình phát triển kể trên Tùy thuộc vào mục tiêu chiến lược, nguồn lực và văn hóa của mình mà mỗi doanh nghiệp lựa chọn mô hình phát triển kinh doanh phù hợp cho mình trong mỗi giai đoạn hoặc bối cảnh (Wolcott và cộng sự., 2007)1
1.3 Doanh nghiệp, vai trò của doanh nhân và tinh thần doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một hiện tượng kinh tế - xã hội khách quan và
có từ rất sớm trong lịch sử xã hội loài người Doanh nghiệp luôn gắn với sự nghiệp kinh doanh của doanh nhân và phát triển kinh doanh Trong đó, phát triển kinh doanh được định nghĩa như là quá trình các
1 Wolcott R.C, Lippitz M.J (2007), “The Four Models of Corporate Entrepreneurship“,
MIT Sloan Management Review, 49(1), 75-82
Trang 33cá nhân theo đuổi các cơ hội phát triển kinh doanh, thậm chí theo Barringer, đôi khi họ chưa bận tâm nhiều về các nguồn lực mà họ đang kiểm soát (Barringer và cộng sự, 2012)1
Cơ hội phát triển kinh doanh (entrepreneurial opportunities) là những tình huống mà những sản phẩm, dịch vụ có thể được thực hiện
và bán cao hơn giá thành sản xuất Cơ hội phát triển kinh doanh khác với cơ hội kinh doanh thông thường ở chỗ nó đòi hỏi phải có sự tìm kiếm những mối quan hệ phương tiện - mục đích mới, trong khi các
cơ hội kinh doanh thông thường chỉ hàm ý việc tối ưu hóa các khuôn khổ phương tiện - mục đích hiện có Cơ hội phát triển kinh doanh có thể tồn tại dưới nhiều hình thức bao gồm cả ở thị trường sản phẩm, dịch vụ hay yếu tố nguyên vật liệu Cũng theo Shane và các cộng sự,
sở dĩ có cơ hội phát triển kinh doanh chủ yếu là do các thành viên trong xã hội có mức độ tin tưởng khác nhau về giá trị tương đối của các nguồn lực, dựa trên tiềm năng chuyển đổi chúng thành các trạng thái hay sản phẩm, dịch vụ khác nhau
Cơ hội phát triển kinh doanh tồn tại một cách khách quan nhưng quá trình nhận biết nó lại mang tính chủ quan Tại sao, khi nào và như thế nào mà một hay một nhóm các cá nhân lại nhận biết được một cơ hội phát triển kinh doanh mà không phải là một cá nhân hay một nhóm các cá nhân khác? Các cá nhân khác nhau về khả năng nhận biết
cơ hội phát triển kinh doanh chủ yếu bởi hai nguyên nhân: (i) Thông tin mà cá nhân đã sở hữu trước đó về các nguồn lực, công nghệ, thị trường, chính sách, v.v tạo cho mỗi cá nhân những nền tảng để tiếp nhận thông tin mới, xem xét giá trị của nó và tìm ra cơ hội phát triển kinh doanh Thông thường, thông tin càng chuyên biệt (chuyên sâu, cụ thể) thì càng có ích hơn cho hành động; (ii) Khả năng nhận thức về mối quan hệ mới giữa phương tiện – mục đích, nói cách khác là khả
1 Barringer, B., Jones, F., & Neubaum, D (2005), “A quantitative content analysis of
the characteristics of rapid-growth firms and their founders”, Journal of Business Venturing, 20, 663–687
Trang 34năng nhìn thấy cơ hội thương mại hóa các cơ hội phát triển kinh doanh của mỗi cá nhân là khác nhau
Một số nghiên cứu đã có chỉ ra rằng các cá nhân có khả năng nhận biết cơ hội phát triển kinh doanh trong những tình huống mà người khác nhìn nhận chúng là rủi ro, nhìn nhận tình huống thực tế và
ít hành động theo quán tính hơn (Shane và cộng sự, 2000)1 Sau khi nhận biết được cơ hội phát triển kinh doanh, việc quyết định có khai thác cơ hội kinh doanh đó hay không cũng là một vấn đề có tính quyết định Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng điều này chịu ảnh hưởng bởi một
số nhóm yếu tố như: đặc điểm của cơ hội phát triển kinh doanh, đặc điểm cá nhân hoặc nhóm các cá nhân và đặc điểm môi trường kinh doanh (Lumpkin và cộng sự, 19962; Shane và cộng sự, 20003)
Các cơ hội phát triển kinh doanh có giá trị kì vọng cao hơn sẽ có
xu hướng được quyết định khai thác nhiều hơn Đó thường là các cơ hội có thị trường lớn, lợi nhuận biên cao, chu kỳ công nghệ còn mới, mức độ cạnh tranh ở mức trung bình, chi phí vốn thấp, khả năng học hỏi từ các doanh nghiệp khác là khả thi Những cá nhân có tiềm lực về vốn, quan hệ xã hội, kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực tương tự hoặc có liên quan và có đặc điểm tâm lý như chấp nhận rủi ro, mức độ lạc quan, khả năng tự kiểm soát có xu hướng tham gia vào khai thác các cơ hội phát triển kinh doanh nhiều hơn (Shane và cộng sự, 2000)4.2
Trong khi đó, môi trường (kinh tế, xã hội, chính trị - pháp luật và công nghệ) có các đặc điểm như mức độ tinh xảo kỹ thuật cao, năng động, cạnh tranh cao, ngành nghề mới phát triển thường thu hút được các cá nhân quyết định phát triển cơ hội kinh doanh nhiều hơn
Ngày nay, nhiều nhà kinh tế học thống nhất cho rằng doanh nhân
đã trở thành một yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất và hoạt động kinh tế của doanh nghiệp Nếu không có vai trò doanh nhân, các
1, 2, 3 Shane, S và Venkataraman, S (2000), “The promise of entrepreneurship as a field
of research”, Academy of Management Review
4 Lumpkin, G.T & Dess, G.G (1996), “Clarifying the entrepreneurial orientation
construct and linking it to performance”, Academy of Management Review
Trang 35yếu tố còn lại của sản xuất (vốn, công nghệ và nguồn nhân lực) không thể hoạt động hiệu quả Đặc biệt, trong môi trường kinh doanh, các yếu tố như: tố chất doanh nhân (tinh thần kinh doanh) và đặc điểm, ý chí của doanh nghiệp (tinh thần doanh nghiệp) càng trở nên là yếu tố quan trọng đến quyết định kinh doanh và phát triển doanh nghiệp
Tinh thần kinh doanh (entrepreneurship) là yếu tố quan trọng để
các cơ hội kinh doanh được các doanh nhân tiến hành hoạt động kinh doanh và phát triển doanh nghiệp Các nghiên cứu về kinh tế, kinh doanh và thực tiễn đều khẳng định tinh thần kinh doanh luôn gắn với
doanh nhân (entreprener) và có thể coi là một đặc tính vốn có của
doanh nhân Tổng kết các nghiên cứu trong và ngoài nước của các tác giả Nguyễn Viết Lộc, Đinh Văn Toàn và cộng sự đã chỉ ra tinh thần kinh doanh, về căn bản có bốn nhóm yếu tố cốt lõi, đó là: nắm bắt cơ hội kinh doanh; dám chấp nhận rủi ro; sáng tạo - đổi mới; thành quả bền vững (Hình 1.1)
Hình 1.1 Các nhóm yếu tố cốt lõi của tinh thần kinh doanh
(Nguồn: Nguyễn Viết Lộc (2011)1)
1 Nguyễn Viết Lộc (2011), “Tinh thần kinh doanh - Cơ sở xây dựng hệ giá trị văn
hóa doanh nhân Việt Nam”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và kinh doanh, 27,
tr 232-239
Trang 36Bốn nhóm yếu tố nói trên liên quan mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau mang tính chu kỳ trong hoạt động kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận mang tính bền vững Chúng được cấu thành từ rất nhiều yếu tố liên quan đến tố chất của một doanh nhân gồm: khát vọng kinh doanh, khả năng tìm kiếm, tạo dựng và nắm bắt cơ hội kinh doanh, độc lập, quyết đoán, tự tin, dám làm dám chịu, linh hoạt chủ động, có tư tưởng mới, phương pháp mới, bền bỉ và có tinh thần trách nhiệm xã hội, đạo đức trong kinh doanh để đạt được thành quả kinh tế bền vững Đây cũng chính là các giá trị cốt lõi của “Văn hóa doanh nhân Việt Nam” được các tác giả đề xuất (Nguyễn Viết Lộc, Đinh Văn Toàn và cộng
sự, 2015)1
Nếu tinh thần kinh doanh là thuộc tính của các doanh nhân thì
“tinh thần doanh nghiệp” là linh hồn của một doanh nghiệp Ngày nay, trong điều kiện thị trường cạnh tranh mạnh mẽ và đầy biến động, doanh nghiệp cần một ý chí, một tinh thần doanh nghiệp mạnh mẽ để đứng vững và phát triển Tinh thần doanh nghiệp trở thành một trong
số các yếu tố nền tảng để hình thành nên doanh nghiệp và để doanh nghiệp phát triển được
Đã có một số định nghĩa được đưa ra cho tinh thần doanh nghiệp
cả trong lý luận và trong thực tiễn Nhiều nhà quản lý doanh nghiệp cho rằng tinh thần doanh nghiệp là tinh thần canh tân độc lập, sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm lớn, đánh đổi lấy những món lợi nhuận Nhiều khái niệm về tinh thần doanh nghiệp được các học giả đưa ra (xem Hộp 1.2), nhưng qua lý luận và thực tiễn trong kinh doanh, có thể thấy tinh thần doanh nghiệp có thể được hiểu là “ý chí chủ động của một doanh nghiệp, không dừng lại ở vị thế đang có mà là vươn lên tìm kiếm và nắm bắt các cơ hội kinh doanh mới để có vị thế cao hơn trên thị trường” (Hoàng Văn Hải và cộng sự, 2012)2
1 Nguyễn Viết Lộc, Đinh Văn Toàn và cộng sự (2015), Doanh nhân và văn hóa doanh nhân Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
2 Hoàng Văn Hải và cộng sự (2012), Tinh thần doanh nghiệp Việt Nam trong hội nhập,
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 37Hộp 1.2 Tinh thần kinh doanh và tinh thần doanh nghiệp
Stephen P Robbins trong cuốn sách Management cho rằng, tinh thần kinh doanh là
tố chất dũng cảm, có tính chất đổi mới và sáng kiến, sẵn sàng nhận lấy rủi ro, chấp nhận mạo hiểm của những chủ doanh nghiệp
PGS TS Hoàng Văn Hải và các cộng sự tại Trường Đại học Kinh tế thuộc Đại học
Quốc gia Hà Nội qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn cho rằng: tinh thần doanh nghiệp được hiểu là ý chí chủ động của doanh nghiệp, không dừng lại ở vị thế
đang có mà là vươn lên tìm kiếm và nắm bắt các cơ hội kinh doanh mới nhằm phát triển lên vị thế cao hơn trên thị trường
Michael Hammer và James Champy trong cuốn Tái lập Công ty cho rằng, các công
ty Mỹ thực hiện tái lập công ty, nhìn lại để phát triển như là một cuộc cách mạng
trong kinh doanh, thành công có được là do lãnh đạo công ty có tinh thần doanh nghiệp mạnh mẽ
Geofrey G Meredith, Robert E Nelson và Philip A Neck trong cuốn Quản lý và
tinh thần doanh nghiệp cho rằng, cần phải thấy những yêu cầu phải có của tinh thần doanh nghiệp và trang bị tinh thần doanh nghiệp cho những ai dự định dấn thân
vào nghề kinh doanh
Kornai Janos trong cuốn Con đường dẫn đến nền kinh tế thị trường cho rằng, những
người có tinh thần doanh nghiệp thật sự phải là những con người mà bản thân họ có
một ham muốn vượt lên số phận, đồng thời dám gánh chịu những tai họa nghiêm trọng về mặt vật chất khi làm ăn thua lỗ…
(Nguồn: Nguyễn Viết Lộc, Đinh Văn Toàn và cộng sự (2015) 1 ;
Hoàng Văn Hải và cộng sự (2012)2.)
Xét về nội hàm, tinh thần doanh nghiệp được cấu thành từ các yếu tố cơ bản gồm triết lý kinh doanh, động cơ kinh doanh của doanh nghiệp và bản lĩnh của các nhà quản trị trong doanh nghiệp Các biểu hiện chủ yếu nhất của tinh thần doanh nghiệp được thể hiện ở: ý thức chủ động, mưu cầu lợi nhuận hợp đạo lý, thái độ tích cực đầu tư, chấp nhận mạo hiểm, nỗ lực học hỏi, sáng tạo để tìm kiếm, áp dụng cái mới
và còn được thể hiện bởi tên của doanh nghiệp Tinh thần doanh nghiệp, do vậy chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố từ bên ngoài từ: lịch sử
1 Nguyễn Viết Lộc, Đinh Văn Toàn và cộng sự (2015), Doanh nhân và văn hóa doanh nhân Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
2 Hoàng Văn Hải và cộng sự (2012), Tinh thần doanh nghiệp Việt Nam trong hội nhập,
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 38và truyền thống; thể chế và môi trường pháp lý; tiến bộ về khoa học công nghệ và mức độ tham gia hội nhập quốc tế của nền kinh tế (Hoàng Văn Hải và cộng sự, 2012)1 Ngoài ra, nó cũng chịu ảnh hưởng của chính môi trường và văn hóa tổ chức của bản thân doanh nghiệp, vì vậy có ảnh hưởng từ lý trí, cá tính và đặc điểm của những người tạo lập và quản lý, điều hành doanh nghiệp hay của “tổ chức mẹ” hình thành nên doanh nghiệp
1.4 Các loại hình doanh nghiệp
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh Hoạt động kinh doanh
là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình từ: đầu tư, sản xuất đến cung ứng, tiêu thụ sản phẩm, dịc h
vụ trên thị trường Như vậy, nhìn chung thì doanh nghiệp là tổ chức kinh tế hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, mặc dù trên thực tế có một số
tổ chức hoạt động như doanh nghiệp nhưng không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhuận như các doanh nghiệp công ích của các chính phủ, các doanh nghiệp xã hội phi lợi nhuận hay các tổ chức hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận
Đối với các tổ chức không vì mục tiêu lợi nhuận, mục tiêu xã hội không cho phép họ “tối đa” hóa lợi nhuận bằng mọi cách mà phương châm của họ là “tối ưu” hóa việc cung cấp các chương trình và dịch
vụ cho lợi ích cộng đồng Các thu nhập hay lợi nhuận thu được không làm lợi cho các cá nhân hoặc các nhà đầu tư nhưng có thể dùng để thuê người quản lý và lãnh đạo Trong quá khứ, nhiều tổ chức phi lợi nhuận không chấp nhận điều này vì xem đó là kinh doanh Nhưng kể
từ cuối những năm 1980 đã sự có nhất trí trong xã hội cho rằng: tổ chức phi lợi nhuận thực hiện được các sứ mệnh và mục tiêu hoạt động
1 Hoàng Văn Hải và cộng sự (2012), Tinh thần doanh nghiệp Việt Nam trong hội nhập,
Sđd.
Trang 39hiệu quả hơn khi áp dụng phương thức tương tự tại các tổ chức kinh tế
vì lợi nhuận (sau đây gọi chung là doanh nghiệp) Các phương thức đó bao gồm việc quản trị nội bộ một cách hiệu quả từ hoạch định, tổ chức thực hiện và giám sát các bộ phận, quá trình để đạt được việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực (ngân quỹ và nhân lực)
Công ty là hình thức hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp trong các nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, công ty và doanh nghiệp được hình thành và hoạt động ở các hình thức tổ chức, pháp lý khác nhau Sự phân loại rất đa dạng, nhưng nếu căn cứ vào bản chất kinh tế của chủ sở hữu hay hình thức pháp lý của doanh nghiệp thì trên thế giới hiện có bốn loại hình phổ biến nhất với các ưu, nhược điểm chủ yếu như sau đây
1 Doanh nghiệp tư nhân (Sole Proprietorships):
Doanh nghiệp (công ty) tư nhân là một hình thức kinh doanh rất phổ biến do tính đơn giản và dễ thành lập Một doanh nghiệp tư nhân chỉ cần đăng ký tên và giấy phép địa phương là có thể bắt đầu kinh doanh Tuy nhiên, một bất lợi của hình thức này là chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm cá nhân cho tất cả các khoản nợ của doanh nghiệp
Vì vậy, nếu một doanh nghiệp tư nhân gặp rắc rối về tài chính, chủ nợ
có thể kiện chủ doanh nghiệp và nếu thành công, chủ doanh nghiệp sẽ phải trả các khoản nợ kinh doanh bằng tiền riêng của mình
Ưu điểm: Dễ thành lập, không mất nhiều thời gian và chi phí; Chủ sở hữu có thể tự do chuyển đổi giữa tài sản cá nhân và tài sản kinh doanh; Nếu doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, có thể khấu trừ vào số thuế cá nhân phải nộp cho nhà nước
Nhược điểm: Chủ sở hữu phải chịu hoàn toàn trách nhiệm cho các khoản nợ và thua lỗ của công ty; Chủ sở hữu không thể huy động vốn bằng cách bán cổ phần doanh nghiệp; Một doanh nghiệp cá nhân thường không thể tồn tại nếu chủ sở hữu tử vong hoặc mất khả năng làm việc
Trang 402 Doanh nghiệp hợp danh (Partnerships):
Doanh nghiệp hợp danh là doanh nghiệp có từ hai chủ sở hữu trở lên Doanh nghiệp hợp danh mang lại sự thuận tiện, đơn giản và linh hoạt cho các chủ sở hữu Tuy nhiên, đây cũng là hình thức doanh nghiệp dễ dẫn đến tranh chấp và kiện tụng nội bộ nhất
Ưu điểm: Các chủ sở hữu có thể bắt đầu một doanh nghiệp hợp danh khá dễ dàng và không tốn nhiều chi phí; Doanh nghiệp hợp danh
có các thuận lợi nhất định về thuế
Nhược điểm: Tất cả các chủ sở hữu chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ và thua lỗ của doanh nghiệp (trừ trường hợp doanh nghiệp hợp danh hữu hạn); Cá nhân các chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm cho hành động của các chủ sở hữu khác; Dễ dẫn đến tranh chấp nội bộ
3 Doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn (Limited Liability Company):
Doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn (TNHH) là một sự kết hợp giữa sự bảo vệ về trách nhiệm của công ty cổ phần và sự linh hoạt, đơn giản cũng như chính sách thuế có lợi của công ty hợp danh
Ưu điểm: Có sự linh hoạt về nhiều khía cạnh như: chính sách thuế, quản trị doanh nghiệp; Các chủ sở hữu không phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với các khoản nợ và nghĩa vụ của công ty
Nhược điểm: Do là một hình thức kinh doanh tương đối mới nên các tiền lệ pháp lý chưa có nhiều; Không thích hợp cho các doanh nghiệp muốn tiến tới trở thành công ty đại chúng (public company), hoặc muốn huy động vốn trên thị trường vốn; Tốn nhiều chi phí hơn
để thành lập so với doanh nghiệp hợp danh
4 Doanh nghiệp cổ phần (Corporation):
Doanh nghiệp này thường được gọi là công ty cổ phần, là một thực thể pháp lý dưới pháp luật Các cá nhân chủ sở hữu được bảo vệ
về trách nhiệm của công ty Đây là hình thức lý tưởng để huy động vốn bằng cách bán cổ phần của công ty