Và như vậy mối lo chính của sĩ phu là vấn đề tu dưỡng của kẻ sĩ, đạo đức kẻ sĩ, tức mối lo lắng hướng vào cái “hữu chi ư nội”(cái có ở tinh thần nội tại), để từ đó “hình chi ư ngoại” ([r]
Trang 1Tóm tắt:
Trong thời kỳ trung đại, văn chương khoa cử và văn chương sáng tác tự do có mối liên hệ hết sức mật thiết Văn thể với tư cách vừa là hình thức thể hiện lẫn đặc điểm tinh thần chủ thể sáng tạo được thể hiện ra cũng vì thế vừa là chuyện của văn chương khoa cử, vừa là cái phản ánh tinh thần sĩ phu và hiện trạng của sáng tác văn học nói chung
Giai đoạn cuối thế kỷ XVII, thế kỷ XVIII, nhà nho nhận thấy có rất nhiều điều bất ổn trong giáo dục, khoa cử, trong văn thể Một cuộc vận động cải cách văn thể đã diễn ra khá sôi nổi Có một vài vấn đề nghiên cứu được đặt ra là: Thực chất của cuộc vận động cải cách văn thể này là gì, đối tượng mà các nhà nho mong muốn cải cách là gì? Nó thể hiện những vấn đề gì ở đời sống tinh thần, mối quan tâm của tầng lớp sĩ – các tác gia của văn học? Cuộc vận động cải cách đã có tác động như thế nào đến đời sống văn học thế kỷ cuối thế kỷ XVII, thế kỷ XVIII nói chung và những tác động xã hội, văn hóa của cuộc vận động này đối với đương thời như thế nào? Bài viết bằng hướng tiếp cận văn hóa và tư tưởng, hy vọng làm rõ một số vấn đề văn học sử giai đoạn này
1 Vận động cải cách văn thể
Quan sát diễn tiến của nho học Việt Nam cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, đặc biệt là trong giáo dục
và khoa cử, người ta thấy một dạo các sĩ phu rộ lên cuộc tranh luận về vấn đề văn thể Cuộc tranh luận này lôi kéo nhiều vị đại nho đương thời Có một vài vị đại thần bức xúc dâng khải điều trần Phủ chúa cũng mấy lần ban chỉ dụ có tính chất định hướng cho vấn đề văn thể Không những thế, phủ chúa còn có cả những biện pháp và hành động thực tế nhằm chấn chỉnh văn thể
Các ý kiến thảo luận về văn thể bắt đầu từ những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XVII, sôi động vào đầu XVIII và kéo dài tới gần trăm năm Cho tận tới khi cuộc vận động đó lắng xuống vào cuối thế kỷ XVIII
đầu thế kỷ XIX, người ta vẫn còn thấy dư âm của nó trong Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, Nghệ
An ký của Bùi Dương Lịch, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, khi những người này
nói về văn thể và học thuật của một thời đã qua với những lời ca ngợi Có người còn đề nghị vua Tây Sơn truy tặng những danh hiệu cao quý nhất trong giới nho sĩ cho Bùi Sĩ Tiêm, một đại biểu quan trọng của cuộc vận động này như các triều trước đã từng phong cho Chu Văn An[1] Với mức độ tập trung khá cao các ý kiến của sĩ phu, với nhiều ý kiến thảo luận và hoạt động thực tiễn liên quan tới vấn đề văn thể cũng như những ảnh hưởng thực tiễn mà nó đã tạo ra trong lịch sử, chúng tôi tạm gọi
đây là một Cuộc vận động cải cách văn thể
Cải cách văn thể trở thành đối tượng hấp dẫn cho người viết bài này bởi lẽ, văn thể(文体) chỉ là một
vấn đề của giáo dục và khoa cử nho học, nhưng nó lại được sĩ phu quan tâm một cách đặc biệt Họ thảo luận về văn thể cùng lúc và xem nó như cái biểu hiện của nho phong sĩ khí, thậm chí còn can hệ tới cả vận mệnh, khí thế của quốc gia Việc nghiên cứu văn thể với tư cách là một thành tố văn hóa, xét trong tổng thể các mối quan hệ, có thể đem lại cho ta nhiều thông tin về đời sống văn hóa, xã hội
đương thời Từ mối liên hệ văn thể-sĩ phong(文体士風,chúng ta có thể thấy nhiều điều về tâm lý,
Trang 2tình cảm, khuynh hướng tư tưởng (tâm thái) của tầng lớp sĩ đương thời Và theo chiều từ bối cảnh văn hóa, đặc điểm chủ thể sáng tạo, chúng ta có thể hiểu thêm về các vấn đề thuộc phạm vi của đời sống sáng tạo văn học đương thời
1.1 Văn thể và vấn đề văn thể ở thời điểm 1693 (Chính Hòa năm thứ 14)
Khoa thi tiến sĩ đầu tiên năm 1442 thời Lê Sơ ở mức độ nào đó là cái mốc quan trọng đánh dấu sự hoàn bị của khoa cử nho học Việt Nam Khoa thi tiến sĩ là biểu hiện sinh động của sự kết hợp nho học và văn học, kinh sử với văn chương Mọi tri thức nho học đều được thể hiện bằng những hình thức văn chương với quy chuẩn ngặt nghèo và có thể chấm điểm một cách tương đối chính xác từ văn luật tới tư tưởng tình cảm Khoa cử nho học thời Lê Sơ, đặc biệt là thời Hồng Đức[2] đạt tới độ
“tận thiện tận mỹ”trong con mắt các nhà nho thời sau Các vị hậu nho khẳng định rằng, văn chương thời Hồng Đức như vậy đã thực sự là phương tiện chọn lựa được những người tài tuấn trong thiên
hạ Các vị quan văn thời Hồng Đức đều là những vị xuất thân trong kỳ thi tiến sĩ Ở thời điểm hoàng kim đó, người ta chỉ nhìn thấy cái tốt đẹp, cái mẫu mực, cái tích cực của khoa cử nho học
Đọc qua những bài văn sách đình đối hiếm hoi còn ghi lại được của những văn thần nổi tiếng một thời như Nguyễn Trực[3], Lương Thế Vinh[4], Vũ Kiệt[5], Vũ Dương[6], người ta có thể thấy ở đó cái hùng hồn tâm huyết, có khí cốt của kẻ sĩ thời thịnh trị Dẫu những bài văn đó không đề xuất được những vấn đề thực mới mẻ, những kiến giải tư tưởng độc đáo như ba bài đối sách của Đổng Trọng Thư đời Hán Vũ Đế làm thay đổi cách nhìn của một ông vua và thay đổi vận mệnh của Nho giáo, nhưng cũng có giá trị văn chương nhất định
Tuy nhiên, khoa cử có con đường vận động khách quan, không theo ý muốn của những người lập ra
nó Tự thân nó hàm chứa những căn bệnh Lê Quý Đôn đã nhận xét một cách khái quát về khoa cử nho học rằng, đó là thứ “học vô sở dụng, dụng vô sở học” (người đi học thì học những cái sau này ra đời không áp dụng để làm gì, và những cái áp dụng trong công việc cai trị không có điều gì nằm trong những điều đã học được) Khoa cử càng hoàn bị, thể chế càng ổn định, quy củ, trường công trường
tư mọc lên khắp nơi, khoa cử thành con đường tiến thân, gắn với bổng lộc càng có sức hấp dẫn người học thì việc dạy và học cũng ngày càng trở thành một thứ “công nghệ” Các sĩ phu đời sau cốt thi đỗ, làm quan Mà để thi đỗ thì người ta không nhất thiết phải nhuần nhuyễn nghĩa lý kinh sách, không cần phải công phu nội tỉnh rèn luyện đạo đức nhân nghĩa Người học chỉ cần học thuộc bài mẫu, nhớ được và nói theo được ý của các nhà chú giải Các trường học của các ông đồ nổi tiếng có nhiều học trò đỗ đạt chẳng qua chỉ là mô hình các “lò luyện thi” chất lượng cao, rất khác với các học cung, học phái, nơi mà ông thầy là nhà tư tưởng và là người thúc đẩy những sáng tạo Con đường
Trang 3vận động tự thân của giáo dục khoa cử như vậy đưa văn chương khoa cử từ chỗ còn có ý tứ, tinh thần thực chất, tới chỗ chỉ là mớ từ chương sáo rỗng, không có cốt tủy của văn chương
Trong quan niệm của nhà nho, văn chương là thứ thiêng liêng cao quý, văn là người Văn thể hiện tư tưởng của con người, khí cốt con người Xem văn có thể hiểu người Người ta có thể dùng văn để nói chí, để chuyển tải đạo lý, để giáo hóa, để di dưỡng tính tình, xem văn có thể hiểu người Tinh thần ban đầu của “dĩ văn thủ sĩ” (lấy văn chương làm công cụ chọn lựa kẻ sĩ) là có căn cứ của nó, tức thông qua văn mà chọn người có đức độ phẩm chất Nhưng khi đi vào khoa cử, văn chương dần không còn thể hiện tinh thần của người thi nữa Từ vua quan tới sĩ phu trong một thời gian dài hàng thế kỷ cứ bằng lòng với thứ văn chương trường ốc như vậy Nhưng, cũng có những lúc, những kẻ sĩ được xem là “thức giả” giật mình nhận thấy sự nguy hại của nó, ấy là thời điểm cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII mà chúng ta sẽ nói tới
Với ý nghĩa thông thường nhất, văn thể chỉ yếu tố hình thức của các nhóm tác phẩm văn chương, nó
chỉ thể tài của văn chương Nó gồm việc cấu tứ sắp đặt bài văn theo những thể thức nhất định Thể văn theo nghĩa đó chỉ những thể như Thi, Phú, Lục, Chế, Cáo, Chiếu, Biểu… Trong khoa cử nho học,
nó là những thể văn được chọn lựa cố định và có quy định hình thức rất chặt chẽ[7] Trong cách hiểu
của nhà nho, văn thể không chỉ có vậy Nó không chỉ là chuyện hình thức, nó còn mang hàm nghĩa
là thể thái của văn chương, cũng tức văn thể chỉ cả suy nghĩ, tình cảm, phong thái của kẻ sĩ được phô diễn ra trong các hình thức văn chương Nó bao hàm cả thế giới tinh thần mà người viết thể hiện
ra Sự thống nhất nội dung và hình thức của văn chương được đặt trọn trong khái niệm văn thể Tựa
hồ như, văn thể còn có khuynh hướng thiên về cái được thể hiện nhiều hơn là cái thể hiện Chúng ta
sẽ thấy ngay điều này ở một đoạn bình luận của Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục:
Tôi thường bàn luận, triều đại Tiền Lê, phong độ sĩ phu đại khái có ba lần biến đổi: Hồi Lê sơ, vì sau khi loạn lạc, nho sĩ thưa thớt Người đem thân chầu chực trong triều đường như Nguyễn Thiên Tích, Bùi Cầm Hổ phần nhiều bộc lộ chí khí sáng suốt, có những lời nói quả cảm, còn những người ngao
du nơi sông núi như Lý Tử Cấu, Nguyễn Thì Trung giữ tiết tháo trong trắng, không mơ tưởng đến giàu sang Đấy là một thời kỳ thay đổi Khoảng giữa niên hiệu Hồng Đức, mở rộng khoa cử, tuyển nhiều nhân tài, sĩ tử tập lối văn bóng bẩy, đục gọt từng câu, mong sao được đỗ để ra làm quan… Con đường bổng lộc đã mở, phương pháp thi cử cũng nghiêm ngặt, người điềm tĩnh được tiến lên, người cầu may bị sàng sảy, cho nên người tại chức ít thói cầu cạnh mà trong nước biết quý danh nghĩa Đấy là một thời kỳ thay đổi
[8]
Trang 4
Những lời của Lê Quý Đôn ở trên là đánh giá về sĩ phong, nhưng ông cũng coi đó là chuyện văn thể, chuyện quan hệ không thể tách rời giữa văn chương và sĩ phong Và theo ông, tới cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, đấy là thời kỳ văn thể có vấn đề và sĩ phong thì thối nát hơn bao giờ hết
Các triều đại xưa đặt ra khoa cử cốt chọn người cho bộ máy giúp việc của mình Họ gọi những phẩm
chất cần có của bộ máy ấy là tài Nhưng tài ở đây là những khả năng văn chương để thể hiện vốn
hiểu biết kinh sử Cái mà các triều đại cần ở kẻ sĩ là đức hạnh để trung thành, là đức hạnh để thay vua giáo hóa dân Cái đức hạnh đó không phải tự nhiên mà có, nó là kết quả của sự quán triệt tư tưởng của nho gia Văn chương là sự thể hiện mức độ thâm nhập của kẻ sĩ vào nội dung tư tưởng của nho gia Nho phong sĩ khí thực chất là khả năng thể hiện những tín điều đạo đức thành hiện thực
cư xử, ứng đáp, tức hiện thực đạo đức Theo nhận định của Lê Quý Đôn, văn thể thời Hồng Đức là biểu hiện thời sĩ phong cứng cỏi, tốt đẹp, tư tưởng nho gia được học tập thực sự và quán xuyến hành
vi, suy nghĩ của họ Từ thế kỷ XVI trở đi, văn chương, đặc biệt là văn chương khoa cử, không còn là biểu hiện của thực tiễn tu dưỡng đạo đức nữa Hay nói cách khác, văn chương khoa cử đã không khiến người ta phải học tập và tu dưỡng một cách thực chất, nó không phải là cách chọn được người thực tài thực học
Giáo dục khoa cử là con đường chính yếu nhất để Nho giáo thâm nhập vào tư tưởng người dân, là con đường bắt buộc người ta phải đọc sách thánh hiền Nhưng đạo của Khổng phu tử không phải là thứ chỉ tụng đọc ở miệng lưỡi hay dùng trí tuệ hiểu rõ là được Đạo của ông đặc biệt coi trọng phương diện tu dưỡng đạo đức trong thực tiễn Kẻ sĩ phải đi từ tụng đọc kinh sách đến quán triệt những điều
có trong kinh sách vào hành vi, suy nghĩ, ứng xử Nhưng con đường vận động của việc tuyển quan thông qua việc dùng một số bài văn chương theo những thể thức cố định đã tất yếu dẫn tới chỗ, người
đi thi chỉ cần theo đề cương, bài mẫu, chỉ học thuộc, nhớ giỏi, chỉ cần học những chú giải của hậu nho thay cho việc chủ động hiểu nghĩa lý chính văn kinh điển Đó là một nguy cơ đối với nho học nói chung và nho phong sĩ khí nói riêng Những người nhận thức được nguy cơ này đều kêu gọi cải cách văn thể, mà thực chất là cải cách khoa cử để chấn chỉnh tinh thần tầng lớp nho sĩ
Cuộc vận động cải cách văn thể, canh tân nho học mà chúng tôi đề cập có hai khía cạnh, mà cũng có
thể coi là hai mặt của một vấn đề: phê phán và đề xuất Phê phán cái hư rỗng, đề xướng cái hữu ích
thiết dụng của văn chương, nho học theo cách của nhà nho
1.2 Từ Chính lệnh của phủ Chúa
Trang 5Có thể lấy việc ban hành Chính lệnh cải cách văn thể, làm mốc cho sự bắt đầu của cuộc vận động cải cách văn thể, phục hồi thể văn thời Hồng Đức Chính lệnh này được ban hành vào năm Chính Hòa thứ 14 (1693), nó được ghi lại trong Sử ký tục biên như sau:
Khôi phục thể văn đời Hồng Đức Từ Trung Hưng đến nay những người chuyên chuộng chương cú, văn chương ngày một thấp kém và dở Bài trường thiên đến chỗ trực đoạn tất dùng một câu “khai giảng” Để chiếu ứng toàn đoạn thì đặt chữ “nhiên” ở đầu gọi là “quá tiếp chế”, cứ nhắm mắt mà viết thẳng ra, cho nên thực ra không có cấu từ gì cả Thi phú, tứ lục, đều rập theo thể văn cũ, không ngại trùng lặp Đến nay mới ra lệnh chấn chỉnh lại: Từ nay phép thi nhất nhất dùng thể văn đời Hồng Đức Lúc làm bài văn thì tùy câu hỏi, cốt dùng ý mình nghĩ mà viết ra, hơi văn hồn nhiên, không được viết trầm theo lời văn cũ[9]
Sự bắt đầu của cuộc vận động được ghi lại bằng ít dòng ngắn ngủi trong chính sử, cũng không rõ nó
là của quan đại thần nào đề xướng, chỉ biết nó xuất phát từ phủ chúa và nó phản ánh đòi hỏi của một thời đại
Như trên đã trình bày, văn thể là một khái niệm chỉ yếu tố hình thức của văn chương Nó gồm việc cấu từ sắp đặt bài văn theo những thể thức nhất định Nhưng nếu thể văn chỉ là những thể thức văn chương như vậy thì nội dung vận động cải cách phải là vấn đề bỏ cái này, thêm cái kia… Thế nhưng trong Chính lệnh cải cách chỉ nói sơ qua vấn đề cấu trúc thông qua cách dùng chữ “nhiên” làm thể
chuyển tiếp… rồi nhanh chóng đi tới một ý khác: Từ nay phép thi nhất định dùng thể văn đời Hồng
Đức Lúc làm bài thì tùy câu hỏi cốt dùng ý mình nghĩ mà viết ra, hơi văn hồn nhiên, không được viết trầm theo lời cũ Những lời ghi trong chính lệnh này cho thấy rõ hơn văn thể là vấn đề hình thức trong
mối quan hệ với nội dung, hình thức thể hiện nội dung và bao gồm cả nội dung
Coi văn thể bao gồm cả vấn đề “cốt dùng ý mình nghĩ mà viết ra” thì chúng ta có thể hiểu thể văn ở
đây là cách suy nghĩ của nho sĩ thể hiện bằng văn chương ngôn từ Hiểu theo cách này sát hợp hơn với cách dùng từ của nhà nho đương thời Và như vậy, cải cách thể văn không chỉ là cải cách thể
thức văn chương, cách thức làm bài thơ bài văn mà còn là thay đổi cả suy tư của sĩ phu và thay đổi
cả học phong, thay đổi nho phong sĩ khí Cốt lõi của cuộc vận động cải cách này là bỏ lối văn chương
cú, tầm trích phù hoa sáo rỗng, phục hồi thể văn thời Hồng Đức Cũng theo ý rút ra từ chính lệnh cải cách thì thể văn Hồng Đức là thứ văn chương có thực chất viết ra theo ý hiểu của người viết, có ý tứ, không sáo rỗng
Trang 6Thể văn Hồng Đức theo như lời bàn của Ngô Thì Sĩ trong Bảo chướng hoằng mô gồm “Kinh nghĩa,
thơ, phú, văn tứ lục và đối sách Nhưng kinh nghĩa không câu nệ ở chương nào, cũng có khi trích vài câu trong một chương để ra đề, hỏi nghĩa, như thế nếu chẳng phải người học rộng hiểu sâu ắt không thể làm được…”[10]ải cách văn thể thực chất là tìm kiếm hình thức văn chương nào đó có thể kiểm tra được đạo
đức, tinh thần thực sự của người thi, tránh học vẹt, thay đổi văn thể cốt tìm người có “thực học”, theo cách nói của
Lê Thánh Tông Còn các thể văn khác: “Tứ lục thì dùng cổ sử, quốc sử và kết hợp với những việc của
bản triều Thơ thì hoặc dùng thể ngũ ngôn, thất ngôn hoặc trường thiên, đoản thiên Phú thì chọn trong các thể Ly tao, liên châu tám vận, hoặc độc vận thể cổ cận Đề mục lấy trong các sách kinh, truyện, tử, sử không câu nệ ở sách nào Đến như hoài cổ tả cảnh thì không hạn vận” Như vậy, thể văn Hồng Đức với phạm vi rộng rãi đòi hỏi người học phải biết nhiều biết rộng và sự suy luận, lại phải biết liên hệ với chính trị đương thời, phải quan tâm tới thực tiễn Và c
1.3 Đến thái độ gay gắt của sĩ phu
Sau Chính lệnh cải cách văn thể được ban hành năm 1693, chúng ta thấy chính sử không ghi gì thêm
về thái độ của sĩ phu và những hoạt động triển khai nó trong thực tiễn Một thời gian sau, chúng ta lại thấy nó tái hiện với một diện mạo mới
Năm 1731, Thái thường tự khanh Bùi Sĩ Tiêm[11] dâng chúa Trịnh một bài khải mười điều, điều trần
về rất nhiều việc trong đó điều thứ bảy nói về vấn đề văn thể Đầu tiên, Bùi Sĩ Tiêm phân tích vai trò của khoa cử, quá trình hoàn thiện và lưu biến của khoa cử và văn chương khoa cử từ đầu thế kỷ XV tới cuối thế kỷ XVII:
Văn chương là công cụ kén học trò, là thứ của tô điểm nhà nước Văn thể triều ta bắt đầu chấn chỉnh từ đời Thiệu Bình (Lê Thái Tông 1434-1438), đại thành ở đời Hồng Đức, từ ấy đến nay được nhiều người giỏi, xây nền thịnh trị vẫn có thể hình dung được Đến trung gian một lần biến đổi mà thành ra thể văn noi theo các sách xưa, lại biến đổi lần nữa thì thành thứ văn tầm chương trích cú Những điều quan hệ đến thế đạo cũng theo đó mà có thể khảo xét được
Bùi Sĩ Tiêm nhắc lại chính lệnh cải cách văn thể niêu hiệu Chính Hòa, nhưng khẳng định tính hiệu quả thấp của nó trong thực tế, đồng thời phân tích sâu hơn vào những vấn đề bất ổn của khoa cử, đặc biệt là văn chương khoa cử đương thời:
Khoảng niên hiệu Chính Hòa (1680-1705)[12] bắt đầu khôi phục lại thể văn Hồng Đức Lúc bấy giờ rừng nho khua động, vườn văn dấy lên, lại nhìn thấy cái tốt đẹp của văn minh Nhưng thể văn ấy chỉ thi hành ở kỳ thi hương, thi hội mà thi đối sách ở điện đình vẫn dùng lối văn cũ Chưa đầy 20 năm mà đầu đề ra trong kỳ thi hội lại chia ra từng điều, giải nghĩa từng câu như cũ Kẻ ra đề thi thì chọn những
Trang 7bài văn người ta ít học đến để thí sinh cầu may khó làm nổi Quan chấm trường thì hâm mộ việc ám
tả lời cũ mà quên việc lược giảng tâm thuật Thậm chí cho thánh kinh là dấu vết cũ kỹ, cho cổ sử là câu chuyện nhàn đàm, chỉ chăm chăm vào những lời nói phù phiếm trong đối sách của chư tử để làm câu thần diệu mở đầu Rút cục làm cho sĩ tử trong một thời coi thường việc học kinh mà chỉ nghiên cứu các sách linh tinh Có người chỉ viết một bài trong “Thập khoa sách lược”[13] đã được lấy đỗ cao, còn về học thuật cứu chữa thời thế thì không có lấy một nửa chữ coi được Có người chỉ sành một mục ở “Tứ đạo”, ở “Đề cương”[14] để giật giải thi, mà mưu lược sửa chữa tệ hại không có một lời nào
có thể dùng được Xét đến lúc đưa ra làm việc thì vào Hàn lâm không làm nổi thể văn tứ lục, đi chấm trường xem văn của người thì mụ người hoa mắt Lấy văn chương như thế thì sự trông mong được giá trị như khuê như chương, đẹp đẽ như phủ như phất sao có thể đáp ứng được
Sau khi đã phân tích một cách hùng hồn những điều bất ổn trong cách tuyển sĩ, trong văn chương khoa cử và hệ quả của nó là chỉ chọn được một lớp nhà nho kém năng lực, tác giả đề ra một số kiến nghị:
Vậy kính xin: Dốc lòng tôn sùng cái học chính thống, chấn hưng phong thái nhà nho, khôi phục lối văn hồn hậu đời Hồng Đức, thay đổi lối viết văn chi ly đời trung cổ Phàm các sách “Ngốc trai”[15] “Đề cương”, “Tứ đạo” nhất thiết cấm hẳn Người đi học không được học theo các sách ấy, quan trường không được ra đề bài dựa vào các sách ấy Việc hỏi thăm về văn sách nên giảm bớt điều mục mà cầu ở thiết thực cốt yếu Văn cổ thì hỏi đại lược phải trái để xem học lực nông sâu của học trò Văn kim thì hỏi những việc thời vụ cơ nghi để xét mưu trí cao thấp Khoa trường theo đấy mà chọn người, người đi học theo đấy mà tiến thân, như vậy không có thể văn nào mà không xuất phát từ lẽ chính đáng
Điều thứ bảy bản điều trần kết thúc bằng sự mô tả một viễn cảnh tươi sáng nếu phủ chúa biết lắng nghe và có những biện pháp thực tiễn Những kiến nghị của ông là kiến nghị về vấn đề văn thể, văn chương, nhưng viễn cảnh tốt đẹp mà ông vẽ ra lại không chỉ là vấn đề văn chương khoa cử Viễn cảnh đó còn thể hiện ở cả văn chương ngoài khoa cử, văn chương để trị quốc bình thiên hạ, cả vấn
đề phẩm chất, năng lực quan lại nói chung, cao hơn nữa là vấn đề của thế đạo:
Sẽ thấy bực túc nho học rộng đi thi có thể dễ đỗ, còn bọn “nhãi ranh học vẽ” hết lối để đánh lộn sòng Người đỗ đại khoa đều có lối văn kinh luôn hữu dụng, người ra làm quan đều sẵn cái học tu tề trị
Trang 8bình, các bậc hiền tài cùng tiến mà thế đạo cũng được rõ ràng phát huy Như vậy gọi là chấn chỉnh thể văn để khích lệ người hiền tài vậy[16]
Đây là một điều bàn về văn thể và học thuật một cách tỉ mỉ Vì là một bài chính luận nhằm đạt tới sức thuyết phục tối đa nhắm đến người có quyền lực tối cao nên Bùi Sĩ Tiêm trình bày rất hùng hồn và rõ ràng Tác giả của bản điều trần đã phân tích tình hình cụ thể, chỉ ra những nguy cơ, những tệ hại trong giáo dục và khoa cử đương thời, cuối cùng đưa ra những kiến nghị và biện luận cho những kiến nghị đó Qua lời của Bùi Sĩ Tiêm, chúng ta biết được Chính lệnh 1693 đã có những tác động nhất định tới thực tiễn, nhưng không triệt để và sau một thời gian ngắn nó lại rơi vào lãng quên
Về căn bản, Bùi Sĩ Tiêm vẫn tiếp nối tinh thần của cuộc cải cách được đề ra trên 30 năm về trước nhưng có sự phân tích tỉ mỉ sâu sắc hơn Ông tập trung vào phê phán lối văn chương phù phiếm sáo rỗng không phát huy được học lực quảng bác, chỉ chăm chăm vào đề cương, văn mẫu Bùi Sĩ Tiêm chỉ ra nguyên nhân sâu xa đưa lại tình trạng văn chương sáo rỗng là do chấp nhận các sách đề cương
văn bài mẫu trong dạy và ra đề, chấm thi Điều đó khiến cho sĩ tử thành những con vẹt mà không chịu
nắm lấy nghĩa lý của thánh kinh Tri thức của họ không phải là tri thức thực trong quá trình đọc sách,
họ chỉ cần học thuộc Ông đề nghị cấm học đề cương vắn tắt, văn bài mẫu, người học phải học rộng hiểu sâu, học thực
Điều đáng chú ý thứ hai trong bài điều trần là tinh thần quay về phục hồi cái học chính thống Cái học
chính thống là cái học như thế nào? Cũng theo tinh thần của bài điều trần, cái học chính thống là lối học thời Hồng Đức, đối lập với tầm trích, đề cương là phải học kinh và sử để nắm lấy nghĩa lý của thánh hiền Chúng ta thấy có nét gặp gỡ trong xu thế phê phán, chấn chỉnh học phong giữa Trung Quốc và Việt Nam Ở Trung Quốc, Tống Nho khi chú lại kinh cũng đưa ra khẩu hiệu phục hồi Khổng Mạnh, quay về “nghĩa hàm nguyên thủy” của thánh kinh, tôn sùng đạo thống Nho học đời Thanh khi phê phán Tống Nho cũng cho rằng Tống Nho xuyên tạc kinh điển, phải phục hưng nho học Khổng Mạnh Cuộc vận động cải cách văn thể ở ta, như lời Bùi Sĩ Tiêm, vấn đề nóng bỏng cũng là chấn chỉnh để quay về cái học chính thống Cái học chính thống là cách học cách thi thời Hồng Đức, là đề cao việc tìm hiểu trực tiếp, thực sự trong thánh kinh và chư sử, tìm trong đó những bài học phục vụ kinh thế, nhưng nó cũng có ý ám chỉ tư tưởng chính thống của nho gia nói chung Cái học chính thống
là tư tưởng nhân nghĩa trung chính, đạo quân thần phụ tử của Khổng Mạnh Có thể nhận thấy ở đây tinh thần tôn phù chính thống Khi Bùi Sĩ Tiêm dâng khải, chúa Trịnh bất bình và truất hết quan chức
Trang 9của ông, đuổi về quê Nhà chúa nổi giận không thể chỉ vì vài ý tưởng canh tân khoa cử, những điều khác trong bản điều trần động chạm tới cả những chuyện phế lập trong phủ chúa, chuyện quan hệ vua-chúa và cả tư tưởng tôn phù chính thống toát ra từ toàn bản điều trần Tôn chính thống cũng có nghĩa là một sự phê phán chúa Trịnh tiếm quyền, vượt phận, không thực hiện nghĩa vụ bề tôi đối với vua Lê
Điều cần chú ý thứ ba trong bản điều trần là vấn đề tinh thần kẻ sĩ Mục đích chấn chỉnh văn thể suy cho cùng là chấn hưng tinh thần kẻ sĩ Nhu cầu chấn chỉnh thể văn cũng nảy sinh từ chỗ sĩ phong “có vấn đề” Kẻ sĩ - sản phẩm của khoa cử - như Bùi Sĩ Tiêm đánh giá là thiếu cả năng lực văn chương, thiếu phẩm chất đạo đức và năng lực giải quyết công việc chính trị Nguyên nhân của nó là do không học kinh điển nho gia tới nơi tới chốn Điều này cũng có nghĩa là ông phê phán cả thế hệ các nhà nho
bỏ quên cái học chính thống, không biết tới đạo cương thường, tới lễ nghĩa liêm sỉ Cũng có đủ lý do
để suy luận xa hơn một chút, sự a dua của sĩ nhân đối với các hành vi của nhà chúa cũng là một biểu hiện sự sa sút của nho phong sĩ khí, xa rời chính đạo
Điều đáng chú ý thứ tư là thứ văn chương Bùi Sĩ Tiêm đưa ra làm mục tiêu cho việc canh cải hướng
đến là thứ văn chương phục vụ mục đích kinh bang tế thế, mục tiêu thiết dụng rõ ràng Trong bài phải
có tới 6 lần Bùi Sĩ Tiêm nói tới tác dụng kinh luân hữu dụng của học thuật, của văn chương với những cách nói khác nhau:
- Học thuật cứu chữa thời thế
- Mưu lược sửa chữa tệ hại
- Lối văn kinh luân hữu dụng
- Cái học tu tề trị bình
- Cầu ở điều thiết thực cốt yếu
- Hỏi những việc thời vụ cơ nghi
Qua đó có thể thấy sự đòi hỏi tính chất phục vụ kinh thế của văn chương, của nho học đang là vấn
đề cấp bách Tinh thần chuộng học có thực chất, chuộng học thuật phục vụ kinh thế là rõ ràng Bài
khải 10 điều khá dài của Bùi Sĩ Tiêm được trích dẫn nguyên vẹn trong chính sử cũng là một việc hiếm hoi trong các bộ sử Nó chứng tỏ những người viết Sử ký tục biên (Ngô Thì Sĩ, Lê Quý Đôn, Ninh Tốn, Phạm Nguyễn Du…) rất chú ý tới bài khải này
Trang 10
Sau Bùi Sĩ Tiêm, chúng ta lại được biết tới một bài khải khác gửi chúa Trịnh, trong đó cũng có một điều quan trọng bàn về thể văn và học thuật của Ngô Thì Sĩ Điều thứ tư của bài khải nói về “chỉnh
đốn thể văn” Ngô Thì Sĩ mở đầu bằng việc mô tả văn thể Hồng Đức và khẳng định đó là thứ văn thể
mẫu mực nhất và việc áp dụng nó trong khoa cử là hợp lý, có thể chọn được nhân tài:
Văn chương có quan hệ đến vận đời mà đạo tìm kiếm người tài phải coi việc giáo hóa là trước nhất Khoảng đời Hồng Đức, cách chọn kẻ sĩ cũng thông qua các loại kinh nghĩa, thơ, phú, văn tứ lục và đối sách Nhưng kinh nghĩa không câu nệ ở chương nào, cũng có khi trích vài câu trong một chương
để ra đề, hỏi nghĩa, như thế, nếu chẳng phải người học rộng hiểu sâu ắt không thể làm được Tứ lục thì dùng cổ sử, quốc sử và kết hợp với những việc của bản triều Thơ thì hoặc dùng thể ngũ ngôn, thất ngôn hoặc trường thiên, đoản thiên Phú thì chọn trong các thể Ly tao, liên châu tám vận, hoặc độc vận thể cổ cận Đề mục lấy trong các sách kinh, truyện, tử, sử không câu nệ ở sách nào Đến như hoài cổ tả cảnh thì không hạn vận Như thế nếu không phải người học nhiều sử sách, phong phú ngôn từ cũng không dễ gì làm được
Tính mẫu mực của văn thể Hồng Đức được tác giả nhấn mạnh ở việc nó yêu cầu người học phải có thực học mới đáp ứng được các yêu cầu làm bài Văn chương khoa cử thời kỳ mẫu mực ấy có thể loại bỏ được những kẻ cầu may và khuyến khích cả người đã đỗ đạt không ngừng học tập để cầu tiến bộ:
Cho nên những người có thực học đều phải lo hoàn thành văn bài của mình đâu có thừa sức làm hộ người khác Kẻ học hành kém cỏi thì những lo nộp quyển trắng bị tội nên đã liệu trước không dám liều lĩnh vào thi Vì thế nơi trường ốc những tệ mua bán văn chương mờ ám, thi cử cầu may không
cần dập mà cũng tắt Kẻ đã đỗ đạt cũng không dám tự mãn mà còn đọc sách chờ khi khảo hạch sẽ
đối đáp được rạch ròi để khen điều hay, ngăn điều xấu Nếu không thì như Dương Minh Châu học nghiệp không tấn tới phải giáng làm chức tự thừa Nguyễn Quý Nhã khảo hạch lạc vận phải làm tri huyện Cũng bởi vậy mà những kẻ tham dự vào chuyện khoa cử chẳng ai không có thực học, chẳng đến nỗi lóa mắt vì năm sắc mà thành mê lẫn Đương thời khoa cử chọn được nhiều người tài, điều
đó đến nay còn là câu chuyện đẹp, người đời hay bàn tới
Trang 11
Ngô Thì Sĩ tập trung phân tích những bất ổn trong văn chương khoa cử đương thời, ông đề cập tới
cụ thể từng loại văn chương, từ bài sách vấn tới bài kinh nghĩa, tứ lục, thơ phú, sự phân tích của ông tiếp nối tinh thần và quan điểm của Bùi Sĩ Tiêm và có phần cụ thể hơn:
Ngày nay chỉ đề bài văn sách trường thứ tư là còn ít nhiều giữ được thể cách thời Hồng Đức, còn chuyện tìm moi những điển tích sâu kín phải chăng người ra đề chỉ cốt chọn đoạn nào thí sinh không thể nhớ được thì cho là tài Thí sinh trái lại chỉ chạy theo sự dễ dãi nông cạn, cốt sao cho lọt mắt quan trường thì cho là hay, việc kết hợp giữa cổ sử và chính sự đương thời cũng thiệp liệp cẩu thả, ứng đối không điều gì có giá trị thiết thực và văn tứ cũng chẳng đoạn nào đáng xem Kinh nghĩa chẳng qua quanh quẩn trong vài chục đề, thí sinh học thuộc lòng rồi cứ thế chép ra Văn chương ở trường
đệ nhất coi như thế là đủ Tứ lục thơ phú thì theo khuôn sáo tầm thường cũ kỹ Kẻ học giỏi dư sức làm xong bài của mình thì gà bài cho người khác Kẻ vô học phần lớn nhờ sức người mà gặp may Cho nên trong số thí sinh đỗ tam trường ít có bài văn lý khả thủ; thậm chí người tài thì rơi rụng, kẻ vô học lại đỗ, cũng vì cớ ấy, lâu dần thành nếp, người đi học yên lòng theo thói thường, cố chen chân trong chốn thi cử để may ra thi đậu thì làm quan, văn thể ngày một thấp kém, nhân tài ngày một mòn mỏi Nếu không một phen chấn chỉnh, thay đổi nếp cũ, thần e rằng chỉ trong vài chục năm nữa sẽ rơi vào con đường ti tiện không còn văn chương nữa
đó mà ban bổ Phải lấy sự chăm lười giỏi dốt làm tiêu chuẩn để thăng cấp, giáng cấp cho các học quan và lấy văn chương thuần túy làm căn cứ xếp loại học trò, cốt làm cho thể văn do đó mà biến đổi
Kẻ học phải bỏ lối tầm chương trích cú mà theo đuổi việc học rộng biết nhiều Bỏ kiểu văn thấp thỏi yếu đuối mà rèn luyện phong cách hùng hồn mạnh mẽ Như thế nghiệp học mới thành tựu lớn và nhân tài cũng xuất hiện đông đảo đủ để cung cấp cho việc sử dụng của nhà nước Tiên nho nói
“Thánh nhân để ơn đến muôn đời sau ắt thấy ở chỗ gây dựng nhân tài một đời” Đó mới là điều rất lớn
Trang 12
Nội dung bài điều trần kết thúc bằng những ngôn từ thường gặp trong các văn bản dâng vua chúa, nhưng cũng có chút ý vị khích lệ người cầm quyền:
Nay vâng đức thánh chúa thông minh quyết đoán, sự cường thịnh về việc võ đã vượt hẳn thời xưa, thì việc sửa đổi sĩ khí chấn tác văn phong dùng để giúp đỡ nghiệp lớn, ca ngợi thái bình lại càng rất cần cho ngày nay vậy[17]
Bài khải của Ngô Thì Sĩ về căn bản là tiếp nối tinh thần của Bùi Sĩ Tiêm Ta có thể nhận thấy ở đó sự
am hiểu sâu sắc tình hình thực tế khoa cử và cả sự nếm trải cá nhân qua sáu bảy lần hỏng thi của chính ông Ngô Thì Sĩ một lần nữa nhắc tới tính cấp bách của việc sửa đổi thể văn, chấn hưng học thuật Ông cũng đặc biệt nhấn mạnh tác hại của lối tầm chương trích cú trong giáo dục và khoa cử
đối với văn chương và học thuật, ông coi việc sửa đổi thể văn là việc làm nhằm sửa đổi sĩ khí, chấn
tác văn phong Quan niệm này cũng khẳng định thêm rằng sửa đổi thể văn đối với các nho sĩ đương thời là cả vấn đề sửa đổi nho phong sĩ khí
Đáng chú ý là trong bài khải Ngô Thì Sĩ hai lần nhắc tới từ “thực học” Ở đây cần hiểu khái niệm thực
học trong cách dùng của Ngô Thì Sĩ có nghĩa gì? Thực học (實學) là từ chỉ một trào lưu học thuật
thoát ra từ sự phê phán Tống Nho một cách tương đối toàn diện, chủ trương quay về Khổng Mạnh truyền thống, đề cao văn chương học thuật hữu dụng thiết thực phục vụ kinh thế tế dân[18] của các nhà nho Trung Quốc cuối Minh đầu Thanh Còn khái niệm thực học theo cách dùng của Ngô Thì Sĩ không như thế Theo văn cảnh của bài khải của Ngô Thì Sĩ thì thực học[19]được dùng với nghĩa chỉ cái học có thực chất, nắm được ý nghĩa của kinh sách, đối lập với lối học tầm trích sáo rỗng từ chương Nghĩa căn bản là đối lập với thuộc lòng từ chương không có ý kiến riêng Như
vậy thực học theo cách dùng của Ngô Thì Sĩ có nghĩa hẹp hơn nghĩa chỉ tinh thần chính của một trào
lưu ở Trung Quốc Ngô Thì Sĩ nhắc tới thực học và văn thể, sĩ phong thời Hồng Đức, vì vậy, một cách
tốt nhất, chúng ta xem xét một phát ngôn của chính Lê Thánh Tông về vấn đề này, đó là bài thơ Thực
học của ông:
Tâm chính gia tề nhất quán chi,
Thù phi trùng triện đấu thần kỳ
Vị nhân vị kỷ nghi tiên biện,
Hy thánh hy hiền vụ trí tri
Trang 13Khổng Mạnh văn chương thùy hậu thế,
Y Chu sự nghiệp tá minh thì
Sĩ phong đôn thượng chân nho xuất,
Dực ngã hy triều đại hữu vi[20]
(Quán xuyến một cách thống nhất[21] đạo chính tâm, tề gia[22]
Khác hẳn với loại kẻ sĩ chỉ biết tranh nhau khoe câu chữ đẽo gọt xảo khéo kỳ lạ
Nên phân biệt trước tiên lối học vị kỷ hay học vị nhân[23],
Lối học hy thánh hy hiền[24] chuộng ở chỗ hiểu biết cho đầy đủ
Văn chương (phải) như văn chương của Khổng tử, Mạnh tử còn lưu hậu thế,
Sự nghiệp (phải) như sự nghiệp của Y Doãn, Chu Công[25] giúp cho những đời vua sáng
Sẽ thấy bậc chân nho sĩ phong cao thượng đôn hậu xuất hiện ở đời
Phù giúp cho triều đại sáng láng của ta nên sự nghiệp lớn.)
Xem xét kỹ những điều Lê Thánh Tông đề cập tới trong bài Thực học nói trên, ta thấy ông quan niệm
về thực học hoàn toàn là chuyện tu dưỡng đạo đức Thực học với nghĩa là tu thân dưỡng tâm theo chuẩn mực của đạo Khổng- Mạnh tới chỗ có biểu hiện thực sự trong đạo đức, nhân cách Người tu dưỡng phải biến giáo điều của kinh sách thành thực tiễn đạo đức và hiện thực tinh thần sinh động ở nơi bản thần chứ không phải chỉ học thuộc câu chữ kinh điển mà không có một hiện thực đạo đức tương ứng Điều đó cũng có nghĩa là nhấn mạnh công phu nội tỉnh tu dưỡng Điều mà Lê Thánh Tông nói tới: lối học vị kỷ, lối học hy thánh hy hiền đều chỉ tâm tính học của nhà nho “Vị kỷ chi học”(為己之學)là học truy cầu sự hoàn thiện của đạo đức cá nhân, học để thành kỷ, thành nhân, khác với lối học vị nhân, học những điều mà người khác cần, mà những điều người khác cần đó có thể là kỹ xảo,
là tri thức không phải là đạo đức cá nhân “Hy thánh hy hiền”(希圣希賢)cũng là tinh thần tu dưỡng đạo đức, ngày ngày hoàn thiện mình để đạt tới nhân cách và tinh thần của bậc thánh bậc hiền Học
vị kỷ, học hy thánh hy hiền là tinh thần quan trọng trong tâm tính học (心 性 学) nho gia, nó được đề xướng từ Khổng Tử, tiếp nối bởi các nho gia thời Chiến Quốc và đặc biệt được các vị đại nho đời Tống như Nhị Trình, Chu Hy đề cao Vì vậy cũng có thể khẳng định thêm rằng, thực học như cách nói của Lê Thánh Tông là chỉ người học tập chú ý tới nghĩa lý của sách vở, chú ý công phu nội tỉnh,
tu dưỡng đạo đức và có đạo đức thực sự, lấy đó làm gốc rễ cho trị quốc bình thiên hạ Quan điểm thực học đó là tư tưởng chính thống, cốt lõi của nho gia suốt mấy nghìn năm Như vậy, quan niệm thực học của Ngô Thì Sĩ là giống với quan niệm của Lê Thánh Tông Nó thể hiện tinh thần của những người đề xướng cải cách văn thể là tác văn hữu ý, nắm được nghĩa lý kinh sách và đối lập với hư
Trang 14rỗng từ chương Đây là một điều rất đáng chú ý Với việc đề xướng thực học đối lập với hư học xét trong phạm vi giáo dục và khoa cử, đối lập với văn chương tầm trích hư rỗng không thực chất Rõ ràng, cho dù không sâu sắc và toàn diện, không ra đời từ sự phê phán một trào lưu học thuật trước
đó, chỉ phê phán trong phạm vi văn chương cử tử, nhưng cũng phải thừa nhận tinh thần “sùng thực truất hư” cũng đã được các nho sĩ Việt Nam đương thời nhận thức đến, xuất phát từ nhu cầu tự thân của những vấn đề phát sinh trong nền giáo dục khoa cử và học thuật
1.4 Nhìn trên diện rộng
Ngoài hai bản điều trần quan trọng nói trên, trong khoảng thời gian từ cuối thế kỷ XVII cho đến gần suốt thế kỷ XVIII, tinh thần cải cách, chấn hưng nho phong sĩ khí đó được nhiều nhà nho hưởng ứng, góp tiếng tạo thành một trào lưu, một tiếng nói chung, xu hướng chung của cả một thời đại
Ngay năm 1693, sau khi Chính lệnh cải cách thể văn vừa được ban hành, Tham tụng Nguyễn Danh Thực[26] dâng bài khải nói về đào tạo nhân tài, trong đó có đề cập tầm quan trọng của việc đào tạo nhân tài, có đưa ra những giải pháp cụ thể, nhất là việc chấn chỉnh việc dạy và học ở Quốc Tử Giám
Năm 1697, sau khi Chính lệnh cải cách ban ra được ít lâu, một sự kiện có một không hai trong lịch
sử giáo dục và khoa cử diễn ra Tiến sĩ Ngô Sách Tuân, người huyện Tiên Sơn (Hà Bắc) vì việc vi phạm nguyên tắc của giám quan khi ông đi làm giám thí trường Thanh Hóa mà bị tử hình Đây là vị tiến sĩ duy nhất trong lịch sử bị tử hình vì lý do liên quan đến khoa cử
Năm 1728, người ta còn nhắc nhiều tới sự kiện Tham tụng Nguyễn Công Hãng[27] dẫn quan văn vào
Quốc Tử Giám luyện tập thể văn bát cổ Công Hãng cho rằng: “Lối học kinh nghĩa là rập theo khuôn
sáo cũ không có cốt tủy văn chương Còn thể văn bát cổ thì lập ý đẻ chữ có thể dùng để thu người tài
lạ, vì muốn biến đổi thể văn nên đem quan văn vào Giám luyện tập thể văn ấy để cổ vũ nho phong sĩ khí”[28] Về việc làm này, Lê Quý Đôn tỏ ý không tán thành Lê Quý Đôn cho “Như thế là không
đúng”[29] Ông cũng cho rằng lối văn chương bát cổ là thứ văn trang sức phù phiếm không quan thiết
gì đến chính sự, đồng thời lại là lối văn chương quá khó, quá gò bó đối với sĩ tử Nếu dùng thể văn bát cổ ngay trường nhất thì sĩ tử chẳng ai còn dám đi thi nữa[30] Theo Lê Quý Đôn phân tích thì việc làm của Nguyễn Công Hãng có phần trái ngược với tinh thần cải cách Nhưng điều này lại được các
sử gia viết Đại Việt sử ký tục biên ghi công, cho rằng cách làm của Nguyễn Công Hãng là làm với tinh
thần tìm tòi giải pháp và tìm kiếm “lối văn có thể thu được người tài lạ”
Trang 15
Cũng nhân việc phê phán Nguyễn Công Hãng, Lê Quý Đôn bày tỏ quan điểm của mình về thể văn,
về học thuật:
Tôi thiết nghĩ như thế là không đúng (chỉ việc làm của Công Hãng - NKS) Bởi vì đặt ra khoa cử tuy
có thi, từ, phú, sách, luận, thể thì văn hoa, thể thì chất thực, thể chế khác nhau nhưng tóm lại chỉ là dùng lời nói suông để chọn người, mà người ta cũng dùng lời nói suông ứng đối lại, thực ra thì đến khi thi thố ra việc làm, vẫn không phải ở những điều ấy, vả lại căn cứ vào văn chương trong mấy bài thi nơi trường ốc, chỉ biết sơ lược đại khái, làm gì mà có thể xem xét hết được nhân tài? Chỉ vì việc kén chọn nhân tài không có phương pháp nào khác nữa, cho nên người trên phải mượn con đường này để thu hút người tài tuấn, người dưới cũng mượn con đường này để làm cái thang tiến mà thôi[31]
Qua đoạn bàn bạc trên, chúng ta có thể thấy ý kiến của Lê Quý Đôn có hơi khác với các nho sĩ khác Ông không những nhận thấy cái hư nát trống rỗng của văn chương dùng trong khoa cử đương thời
mà còn nhận thấy sự hạn chế nằm ngay trong bản thân chế độ khoa cử Đó chỉ là dùng lời nói suông
mà đáp lại lời nói suông, khi ra thi thố ở đời thì không phải ở đó, không thể căn cứ vào đó để chọn người tài được Nhưng Lê Quý Đôn không thể đưa ra một cái gì khác, không thể phê phán việc học tập và khoa cử một cách sâu sắc triệt để, cải cách cả nội dung giảng dạy và tri thức trang bị cho học sinh như Nguyễn Trường Tộ làm sau này Lê Quý Đôn chỉ thấy rằng vì triều đình không biết dùng cách nào khác mà phải dùng đó thôi Nhưng dù sao nhận thức của Lê Quý Đôn về thực chất và tính hữu dụng thiết thực của văn chương, học thuật cũng đã sâu sắc hơn nhiều người đương thời khác một bậc
Trong suốt khoảng thời gian nửa đầu thế kỷ XVIII, theo ghi chép của các bộ chính sử, chúng ta cũng thấy có nhiều ý kiến khác nói về vấn đề cải cách văn thể, yêu cầu sửa đổi chấn chỉnh nho phong sĩ khí Các chúa Trịnh cũng nhiều lần ra chỉ dụ nói về chấn chỉnh học phong, tôn sùng kinh sử, khuyên
sĩ tử chuyên cần, ban các sách đại toàn, cấm học đề cương vắn tắt Năm 1726 vì không tin tưởng vào kết quả của kỳ thi hương, triều đình đã cho các cống sĩ ra ngoài bãi sông Hồng thi lại và loại ra tới 17 người, trong đó có con trai thượng thư Lê Anh Tuấn Các năm 1747, 1765, 1771 cũng có những cuộc thi lại như vậy, loại ra nhiều sĩ tử, nhiều học quan, giám quan bị biếm chức hoặc bị phạt Đây là điều hiếm có ở các giai đoạn khác Nó cho thấy việc khoa trường lúc đó tồn tại khá nhiều tệ nạn và
Trang 16triều đình cũng đã mạnh tay trong việc chấn chỉnh Năm 1732, để tránh lối học đề cương vắn tắt,
chương cú triều đình đã cho khắc in ban bố các sách kinh điển đại toàn như Ngũ kinh đại toàn, Tứ
thư đại toàn cho các địa phương
Cũng trong khoảng thời gian nửa đầu thế kỷ XVIII, hoạt động trong các trường học từ quốc học đến các trường tư đều có những chuyển biến trong việc dạy và học Theo mô tả của Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tùy bút và của Bùi Dương Lịch trong Nghệ An ký thì thời gian này ở nhà Quốc học
(Giám) rất sôi động không khí học thuật, thảo luận bàn bạc, đây là thời kỳ được các tác giả đánh giá
là không khí học thuật thịnh nhất ở nhà Quốc học Bùi Dương Lịch viết:
Lúc này triều đình tôn chuộng nho học… Những buổi giảng hàng ngày, ở Quốc Tử Giám, triều đình sai quan ở ngự sử đài và quan khoa đạo thay phiên nhau giảng tập Mồng một ngày rằm có kỳ văn khóa, các quan đại thần trong triều đều đến trường Quốc học nghe bình duyệt, người học rất đông,
ai nấy đều được chuyên nghiệp…[32]
Ở trường tư của Thám hoa Vũ Thạnh ngay tại kinh thành Thăng Long việc dạy có những biểu hiện khác trước, như: dạy cả văn lẫn võ, không chỉ dạy Tứ thư, Ngũ kinh đến chỗ tinh vi mà còn dạy cả những tri thức phục vụ kinh bang tế thế Bản thân Vũ Thạnh được đánh giá rất cao trong việc đóng góp vào quá trình canh cải Phan Huy Chú viết về Vũ Thạnh trong Lịch triều hiến chương loại chí:
2 Văn thể và tâm thái của sĩ phu
2.1 Cuộc vận động cải cách văn thể với những nội dung và biểu hiện như đã phân tích ở trên cho
thấy tâm trạng của tầng lớp sĩ phu có những xáo động, băn khoăn, không hài lòng với thực tế đang diễn ra Họ nhìn thấy những nguy cơ Trên bề mặt, họ nhìn thấy những mớ văn chương sáo rỗng xuất
Trang 17hiện đầy dãy trong những kỳ thi và cả ở các sáng tác tự do Nhưng điều khiến những nho sĩ tiên ưu cảm thấy bất an lại không phải chỉ ở đó Khoa cử dùng thứ văn chương như Bùi Sĩ Tiêm và Ngô Thì
Sĩ phân tích để chọn người sẽ khiến cho người đi học không hướng tới nghĩa lý của kinh sách Điều
đó cũng có nghĩa là người đi học không hướng tới việc tu thân sửa kỷ theo chuẩn mực của nho gia Mục tiêu của khoa cử là thông qua chấm văn chương mà tìm lấy những người có đạo đức nhân cách tốt đẹp, năng lực trị quốc bình thiên hạ theo cách của đức trị thể hiện ra văn chương Và như vậy mối
lo chính của sĩ phu là vấn đề tu dưỡng của kẻ sĩ, đạo đức kẻ sĩ, tức mối lo lắng hướng vào cái “hữu chi ư nội”(cái có ở tinh thần nội tại), để từ đó “hình chi ư ngoại” (thể hiện ra văn chương)
Giáo dục và khoa cử như họ phân tích không phải là con đường khuyến khích người học hướng tới chân tài, thực học, không khuyến khích học rộng biết nhiều, không chọn được người có tinh thần thanh cao cứng cỏi của kẻ sĩ Sự không hài lòng này có thể xuất phát từ việc phẩm chất và năng lực của nhà nho đương thời không đáp ứng được những nhu cầu mới của công việc cai trị đất nước Từ khoảng cách hơn hai thế kỷ nhìn lại, chúng ta thấy đầu thế kỷ XVIII xuất hiện nhiều nhà nho có tầm tri thức và cái học kinh bang tế thế không kém gì thời Hồng Đức Ở một vài phương diện còn vượt trội hơn cả thời Hồng Đức Những nhân vật đa năng, văn võ toàn tài như Lê Anh Tuấn, Nguyễn Nghiễm, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Sĩ… khá đông Như vậy, việc bất an, kêu ca về sĩ phong đương thời
có lẽ dồn nhiều vào vấn đề tâm tính và thái độ chính trị của họ Có thể nó là sản phẩm của thái độ bất bình với việc chúa Trịnh lấn át vua Lê, nhưng nhiều người không dám công khai lên tiếng phản đối, trừ Bùi Sĩ Tiêm Từ chỗ không dám bày tỏ họ chuyển sang thất vọng với tinh thần của cả thế hệ nhà nho nói chung
Có thể nhìn việc các nhà nho kêu gọi chấn hưng nho phong sĩ khí, khôi phục chính học, tôn sùng cái học chính thống là dòng bảo thủ, sự hồi ứng mang tính phản tư trước những biến động của học thuật
và tinh thần trí thức Họ phê phán cái hủ bại trong văn chương khoa cử, trong nền giáo dục là đúng,
là một sự thực lịch sử Tuy nhiên, sự hồi ứng bảo thủ này cũng là dấu hiệu cho thấy biểu hiện của sĩ phu có nhiều vấn đề không phù hợp với học phong chính thống Tâm tính học không phải là vấn đề được coi trọng nhất Các sĩ phu thời Hồng Đức được ca ngợi về mặt cốt cách, tinh thần cũng như về văn chương, nhưng về học thuật và các hoạt động chính trị thì thực sự họ khá mờ nhạt trong lịch sử
Cả số đông các trạng nguyên, bảng nhãn của thời Lê Thánh Tông không biết làm gì để cứu chữa thời thế khi ông vua mẫu mực này qua đời Họ chỉ biết tuẫn liệt để tỏ lòng trung khi không biết làm thế nào cứu được ngai vàng cho nhà Lê vào thập kỷ 20 của thế kỷ XVI Như vậy, khẩu hiệu khôi phục học
Trang 18phong Hồng Đức thực chất là khôi phục tâm tính học, khôi phục học đại toàn Việc Nguyễn Công Hãng cho sĩ tử tập làm thể văn bát cổ, theo ông ta nó có thể kén được người tài lạ Nhưng có lẽ ông
đã không thật tích cực và cấp tiến khi đồng nhất cái tài tìm chữ, đặt câu của thể bát cổ với tài cần cho việc kinh bang tế thế, trị quốc an dân Có thể những sa sút của giáo dục khoa cử trong việc truyền bá
tư tưởng nho gia chính thống đã là một trong các điều kiện đẩy nhanh hơn sự dịch chuyển trọng tâm
từ đề cao đạo đức tâm tính sang cầu học thực tiễn cuối XVII đầu XVIII Bùi Sĩ Tiêm là người phê phán học phong hư rỗng hủ nát mạnh nhất, nhưng khó có thể nói rằng trong sự kêu gọi hùng hồn của ông không có yếu tố bảo thủ
Tuy số đông “chúng khẩu đồng từ” về việc khôi phục thể văn thời Hồng Đức, chấn hưng phong thái nhà nho, lấy sĩ phong Hồng Đức làm mẫu mực, nhưng trong đại trào ấy, chúng ta có thể nhận thấy những nỗi niềm đa chiều của họ Tinh thần bảo thủ đan xen với tinh thần cách tân Những động thái trong vấn đề văn thể là chuyển biến ở dòng chính thống của tư tưởng nho gia đương thời
2.2 Ở một bình diện khác, vận động cải cách văn thể bộc lộ những nét mới trong tư tưởng kẻ sĩ
Thực tế đang đặt ra những đòi hỏi mà năng lực và phẩm chất tầng lớp trí thức quan liêu không đáp ứng được Họ muốn có một phen thay đổi Trước nhu cầu thay đổi, với bài học kinh nghiệm học được
từ kho kinh, sử, tử, tập, họ quay về quá khứ để tìm hình mẫu Họ tư duy theo con đường của nhà nho nói chung, tức khi cần thay đổi hiện thực, đề xướng cải cách, họ hoặc chú giải, thảo luận lại kinh điển nho gia, hoặc lấy lại một mẫu mực trong quá khứ để làm biểu tượng Thời Hồng Đức là một lựa chọn cho cái mẫu mực lý tưởng Nhưng thời Hồng Đức được đưa ra làm mẫu không phải một thời lịch sử khách quan đã qua, mà là một mong muốn trong tưởng tượng Họ đề cao tiết tháo và chí hướng của
kẻ sĩ Hồng Đức, nhưng khi bàn cụ thể, họ lại đề xuất cả những vấn đề mà thời Hồng Đức chưa chú trọng, đó là cái học kinh thế Trong bài khải của Bùi Sĩ Tiêm và Ngô Thì Sĩ, và các ý kiến khác đều thống nhất ở việc đề cao tinh thần hướng về học thuật hữu dụng, thực lực giải quyết công việc cai trị của tầng lớp trí thức quan lại Tâm thái của sĩ phu muốn hướng tới một mẫu người mới: mẫu người
có thực tài thực lực để giải quyết vấn đề của thời cuộc
Trang 19thay đổi, và thực tế chúng ta thấy đã có thay đổi, nhưng sự thay đổi lại diễn ra không phải như những
gì họ nghĩ tới, hoặc mong muốn Trong đời sống tinh thần của kẻ sĩ đương thời, có xuất hiện những cái mới, nhu cầu mới, nhận thức mới, nhưng cái mới không đủ mạnh và không có hệ thống để sĩ phu giải quyết theo những hướng phê phán quyết liệt hơn, toàn diện hơn các lĩnh vực của nho học Sản phẩm của nó là trạng thái mới cũ đan xen, hòa hỗn Đó chính là tâm thái một thời của sĩ phu Chính
họ sẽ tạo ra những thay đổi, nhưng là những thay đổi trong giới hạn
2.3 Những đề xuất cải cách của sĩ phu dẫu chỉ là từ góc độ văn thể, nhưng chúng ta vẫn có thể nhìn
thấy ở đó tinh thần tự nhiệm, tự gánh vác trách nhiệm xã hội Họ đề cao đạo đức tiết tháo của kẻ sĩ thời Hồng Đức, nhưng xét cho cùng chính họ đã năng động để nhận thức hoàn cảnh và năng động
để thực hiện hơn các nhà đạo đức thời thế kỷ XV- XVI Khi người ta tự phản tỉnh, nhận ra sự yếu kém của mình và cả giai tầng mình, bất bình với chính giai tầng mình, đó cũng là những dấu hiệu của sự
tự cường và thay đổi có thể diễn ra Chỉ nhận thức và phản tỉnh không chưa dẫn tới những thay đổi trong thực tế, nhưng những sự thay đổi thường phải được bắt đầu từ sự nhận thức lại và tinh thần phản tỉnh Họ đã dũng cảm để nhận thức lại, để phê phán, để cầu tiến, để canh cải
Trong thực tế sự năng động của kẻ sĩ cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII đã đem lại những thành tựu học thuật, thành tựu trong hoạt động chính trị, quân sự và thành tựu văn chương đáng kể Có thể xem thế kỷ XVIII như là một thời kỳ phục hưng của văn hóa và học thuật, tính chất phục hưng đó thực
sự bắt đầu từ sự phản tỉnh và nhận thức lại của tầng lớp trí thức
2.4 Qua nội dung các đề nghị cải cách văn thể, ta thấy sĩ phu mong muốn có một thứ văn chương
mới thể hiện trung thực tâm tư tình cảm Kẻ sĩ cần có tinh thần và năng lực thực sự để làm gốc cho văn chương và cần có thứ văn chương thể hiện tốt nhất trạng thái tinh thần tình cảm và đạo đức đó
Có tâm tính học tốt là có căn cốt cho văn chương Tinh thần thực học mà một số nhà nho đề xuất có hai phương diện: Có thực một đời sống tinh thần đạo đức để làm gốc rễ cho văn chương và có những năng lực để kinh bang tế thế Dĩ nhiên trong cách nghĩ của nhà nho, hai điều này không thể tách rời
Trong suy nghĩ của các nhà nho chính thống, đạo đức trong tinh thần nội tại của các cá thể là cái đảm bảo cho chất lượng văn chương Nhưng trong thực tế, tinh thần nội tại không chỉ có đạo đức, nó còn những tình cảm tự nhiên, những giá trị tinh thần khác thuộc về con người cá thể Ở thời Nho giáo đương thịnh, tính duy lý của Nho giáo còn mạnh mẽ thì mọi yếu tố của đời sống tinh thần được nhất