- Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Khoa Luật- Đại học Quốc Gia Hà Nội, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội. - Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nộ[r]
Trang 1Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước tòa án trong luật tố tụng hình sự - những vấn
đề lý luận và thực tiễn
Trần Đức Hiếu
Khoa Luật Luận văn ThS ngành: Luật hình sự; Mã số: 60 38 40 Người hướng dẫn: TS Nguyễn Ngọc Chí
Năm bảo vệ: 2008
Abstract Trình bày khái niệm, vị trí, ý nghĩa, nội dung và cơ chế của nguyên tắc
bảo đảm quyền bình đẳng trước tòa án Nghiên cứu các nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước tòa án trong luật tố tụng hình sự ở Việt Nam từ 1945 đến nay và ở một số nước trên thế giới như cộng hòa nhân dân Trung Hoa, cộng hòa liên bang Đức, Nhật Bản, Liên bang Nga Nghiên cứu quy định của pháp luật tố tụng hình sự
và thực trạng áp dụng các nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước tòa ở Việt Nam từ năm 1989 đến nay Trên cơ sở phân tích, đánh giá các nguyên nhân của thực trạng, đưa ra định hướng và các giải pháp nâng cao hiệu quả nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước tòa: Cải cách thủ tục tố tụng hình sự theo hướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch; xây dựng và hoàn thiện tổ chức bộ máy ngành Tòa
án, đảm bảo vị trí độc lập của Tòa án và Thẩm phán trong hoạt động xét xử; hoàn thiện Bộ luật tố tụng pháp luật tố tụng hình sự; kiện toàn các cơ quan bổ trợ tư pháp; cần phải nâng cao điều kiện vật chất và kinh tế (quan tâm đào tạo cán bộ, thành lập
các cơ quan bổ trợ tư pháp)
Keywords Pháp luật Việt Nam; Luật tố tụng hình sự; Quyền bình đẳng; Tòa án
Content
1- Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài
Quyền bình đẳng trước tòa án không những thể hiện quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật, trước các cơ quan công quyền mà còn là sự bảo đảm cho những người tham gia tố tụng được bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước tòa án Vì vậy, Bộ luật tố tụng hình sự 2003 qui định nguyên tắc cơ bản bảo đảm quyền bình đẳng trước toà án làm cơ sở pháp lý cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án
Tuy nhiên, việc áp dụng và thực thi nguyên tắc này chưa thật hiệu quả, còn để xảy ra những vi phạm làm ảnh đến tính khách quan của bản án và quyết định của toà án, làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm…Thực tiễn xét xử cho thấy, Viện kiểm sát còn có những biểu hiện như: không đáp ứng yêu cầu của những người tham tố tụng, ít tranh luận hoặc không tranh luận với bị cáo, với người bào chữa, không tạo điều kiện để họ có thể đưa ra chứng cứ và lập luận bào chữa Toà án chưa bảo đảm thực hiện tốt việc tranh luận, thẩm vấn,
Trang 2đánh giá chứng cứ tại phiên toà, vẫn còn những biêu hiện thiếu dân chủ trong tranh luận Thực trạng này chưa phù hợp với mục tiêu của Nghị quyết 49 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp "xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo
vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”
Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước tòa án để làm sáng tỏ về mặt khoa học và áp dụng nguyên tắc này trong thực tiễn, đồng thời đưa ra những giải pháp hoàn thiện để góp phần nâng cao hiệu quả của việc áp dụng nguyên tắc đã nêu không những có ý nghĩa lý luận- thực tiễn pháp lý quan trọng, mà còn là
vấn đề mang tính cấp thiết Đây chính là lý do tôi quyết định lựa chọn đề tài “Nguyên tắc bảo
đảm quyền bình đẳng trước tòa án trong Luật tố tụng hình sự- Những vấn đề lý luận và thực tiễn” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình
2- Tình hình nghiên cứu
Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1988 và được sửa đổi bổ sung năm 2003,cũng đã có những bài viết, công trình khoa học nghiên cứu về nguyên tắc này như:
- Nguyễn Ngọc Chí (2007), Đề cương chi tiết bài giảng : Các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự, Tài liệu tập huấn việc thi hành Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình
sự
- Phạm Hồng Hải (2003), Mô hình lý luận Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam, Sách
chuyên khảo, NXB Công an nhân dân
- Phạm Hồng Hải (1998), Đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội, NXB Công
an nhân dân
- Vũ Mộc (2002) "Hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nhằm nâng cao chất lượng công tố của kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác theo tinh thần của Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ chính trị", Thông tin khoa học pháp lý
Ngoài ra, nguyên tắc còn được đề cập, phân tích trong một số Giáo trình và sách tham khảo như:
- Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Khoa Luật- Đại học Quốc Gia Hà Nội,
NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
- Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Tư
pháp
Tuy nhiên, tất cả những nghiên cứu trên đây của các tác giả mới ở dưới dạng là các bài viết đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành, một phần, mục trong các giáo trình, sách chuyên khảo hay sách tham khảo Cho đến nay trong khoa học Luật tố tụng hình sự Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập riêng đến nguyên tắc này một cách tương đối đồng bộ và có hệ thống Đặc biệt, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh nguyên tắc này cũng đòi hỏi cần phải được tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc hơn Vì vậy, luận văn sẽ tiếp cận, nghiên cứu tương đối có hệ thống nguyên tắc đảm bảo quyền bình đằng trước toà án góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn của nguyên tắc này
3- Mục đích của đề tài
Với đề tài, này tác giả mong muốn:
- Làm rõ cơ sở lý luận của nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án
- Phân tích thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án Chỉ ra những hạn chế, bất cập của pháp luật và áp dụng nguyên tắc này trong thực tiễn
Trang 3- Đề ra phương hướng, giải pháp đổi mới, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án trong giai đoạn hiện nay
4- Phạm vi nghiên cứu
Đề tài đi sâu nghiên cứu một số vấn đề sau:
a) Khái niệm, vị trí, ý nghĩa quyền bình đẳng trong tố tụng hình sự
b) Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của nguyên tắc bình đẳng trước tòa án trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam So sánh quy định của một số nước trên thế giới về nội dung nguyên tắc này
c) Nghiên cứu thực tiễn áp dụng nguyên tắc
d) Đưa ra giải pháp hoàn thiện nguyên tắc bình đẳng trước tòa án
5- Nhiệm vụ nghiên cứu
Với phạm vi nghiên cứu nêu trên trong luận văn này, tác giả tập trung vào giải quyết những nhiệm vụ chính như sau:
a) Phân tích và xây dựng định nghĩa khoa học của khái niệm quyền bình đẳng trước tòa án và so sánh nguyên tắc này với một số nguyên tắc liên quan
b) Nêu được vị trí, ý nghĩa của nguyên tắc này
c) Khái quát sự hình thành và phát triển của nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước tòa trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam So sánh quy định của một số nước trên thế giới về nội dung nguyên tắc này Nghiên cứu thực tiễn áp dụng nguyên tắc này
d) Luận chứng cho sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về nguyên tắc bình đẳng, đánh giá thực tiễn, nêu được vai trò, ý nghĩa của việc hoàn thiện nguyên tắc bình đẳng trước tòa, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nguyên tắc trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
6- Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Để đạt được những mục đích đã đặt ra trên cơ sở lý luận là phép duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử, luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: phương pháp so sánh, phân tích tài liệu, nghiên cứu lịch sử và phương pháp tổng hợp, cũng như những thành tựu của khoa học Luật hình sự, khoa học luật tố tụng hình sự, xã hội học pháp luật; v.v và các công trình của các nhà khoa học-luật gia ở trong và ngoài nước
Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài còn dựa vào số liệu trong các báo cáo của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và một số vụ án hình sự trong thực tiễn xét
xử và thông tin trên mạng Internet để phân tích và đánh giá, tổng hợp các tri thức khoa học Luật hình sự
7- Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Trên cơ sở làm rõ những khía cạnh lý luận, thực tiễn của nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án, kết quả nghiên cứu của đề tài khẳng định mối tương quan, bổ trợ trong việc thực hiện và áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án với các nguyên tắc khác Qua nghiên cứu cũng chứng minh được giá trị của nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước tòa án trong việc bảo vệ quyền con người, cũng như ý nghĩa trong quá
trình xét xử, xác định sự thật khách quan của vụ án
Trên cơ sở nghiên cứu nguyên tắc bình đẳng trước tòa án ở một số nước trên thế giới
và quá trình phát triển của nguyên tắc trong quá trình lập pháp Việt Nam, phân tích thực trạng áp dụng nguyên tắc để đưa ra các kiến nghị hoàn thiện nguyên tắc này ở khía cạnh lập pháp và việc áp dụng trong thực tiễn Đặc biệt, để góp phần phần vào công cuộc cải cách tư pháp tác giả luận văn kiến nghị bổ sung nguyên tắc tranh tụng trong Bộ luật tố tụng hình sự, đây là thành tựu của nền pháp lý nhân loại, là nguyên tắc liên quan, bổ trợ cho nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước tòa án và góp phần bảo vệ quyền con người Luận văn làm rõ tầm quan trọng của tranh tụng tại phiên tòa và vai trò chủ động của Kiểm sát viên và luật sư tại phiên tòa Ngoài ra, điểm mới về khoa học của luận văn ở một chừng mực nhất định có thể khẳng định rằng, đây là nghiên cứu chuyên khảo đồng bộ đầu tiên ở cấp độ một luận văn
Trang 4thạc sĩ đề cập đến nguyên tắc bình đẳng trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, do đó nó còn có
ý nghĩa làm tài liệu tham khảo cần thiết cho các cán bộ nghiên cứu khoa học, cán bộ giảng dạy, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự
8- Cơ cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn bao gồm ba chương với kết cấu như sau:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước tòa án trong tố tụng hình sự
Chương 2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự và thực tiễn áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án
Chương 3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án
References
Văn kiện
1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương (2002), Nghị quyết số
08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới
2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương (2005), Nghị quyết số
48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
3 Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương (2005), Nghị quyết số
49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020
Văn bản pháp luật
trị quốc gia, Hà Nội
trị quốc gia, Hà Nội
trị quốc gia, Hà Nội
trị quốc gia, Hà Nội
8 Chủ tịch Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Sắc lệnh số 13 ngày
24/01/1946
9 Chủ tịch Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Sắc lệnh số 51 ngày
17/4/1946
10 Chủ tịch Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Sắc lệnh số 85-SL
ngày 22/5/1950
Điều ước quốc tế
11 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Đại hội đồng Liên hợp quốc
thông qua ngày 16/12/1966
14 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền, Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày
10/12/1948
ngày 25/6/1993
Trang 5Sách, báo, tạp chí, báo cáo
16 Bộ Tư pháp - Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Những sửa đổi cơ bản của Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2003, Nxb Tư pháp Hà Nội
17 Ban chỉ đạo cải cách tư pháp (2008), Đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án, Viện
Kiểm sát theo định hướng cải cách, Tài liệu tập huấn ngày 21/11/2008
18 Lê Tiến Châu (2002), Tìm hiểu các kiểu (hình thức tố tụng hình sự), Tạp chí khoa học
pháp luật số 8/2002
19 Nguyễn Ngọc Chí (2004), Tố tụng tranh tụng và vấn đề cải cách tư pháp ở Việt Nam
trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền, trong cuốn chuyên khảo: Cải cách
tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học
quốc gia, Hà Nội
20 Nguyễn Đăng Dung (2005), Sự hạn chế quyền lực nhà nước, Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội, Hà Nội
21 Nguyễn Đăng Dung (2007), Một số vấn đề cải cách tư pháp ở Việt Nam, Tạp chí
Khoa học và Tổ quốc ngày 4/9/2007
22 Nguyễn Đức (2007), Toà án phải thực sự đóng vai trò trung tâm trong xét xử, Báo
pháp luật thành phố Hồ Chí Minh ngày 11/4/2007
23 Hồ Khải Hà (2007), Luật không cấm nhưng bị cáo còn …rụt tè, Báo pháp luật
TP.HCM ngày 6/6/2007
24 Phạm Hồng Hải (1998), Đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội, Nxb Công
an nhân dân
25 Phạm Hồng Hải (2003), Mô hình Lý luận Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công
an nhân dân
26 Phạm Hồng Hải (2004), Tiến tới xây dựng tố tụng hình sự ở Việt Nam theo kiểu tố
tụng tranh tụng, trong cuốn chuyên khảo: Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội
27 Phạm Hồng HảI - Trần Văn Sơn (2007), Luật sư Việt Nam Hội nhập quốc tế, Nxb Tư
pháp
28 Phan Trung Hoài (2002), Phán quyết của Tòa án phải dựa vào kết quả tranh tụng tại
phiên tòa, Báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh, số ra ngày 10-10
29 Phan Trung Hoài (2007), Hành nghề luật sư trong vụ án hình sự, Nxb Tư pháp
30 Phan Gia Hy (2007), Bàn án, trao đổi án: làm sao để trọn vẹn đôi đường, Báo Pháp
luật thành phố Hồ Chí Minh ngày 4/6/2007
31 Phan Gia Hy (2007), Tranh tụng không có nghĩa là bỏ hẳn xét hỏi, áo Pháp luật thành
phố Hồ Chí Minh ngày 4/6/2007
32 Phan Gia Hy (2007), Bị cáo có được ghi chép, Báo pháp luật thành phố Hồ Chí Minh
ngày 27/5/2007
33 Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2001), Giáo trình Luật tố tụng hình sự, Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội
34 Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2004), Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai
đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội
35 Tuyết Mai, Thành lập Toà khu vực để nâng cao chất lượng xét xử, Website:
Haiphong.gov.vn ngày 16/12/2008
36 Đức Minh (2007), Luật sư ngồi “ngang hàng” với Công tố viên, Báo pháp luật thành
phố Hồ Chí Minh, ngày 8/5/2007
37 Hồ Chí Minh, Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945
38 Vũ Mộc (2002), Hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nhằm nâng cao chất
lượng công tố của kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật
sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác theo tinh thần của Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ chính trị, Thông tin khoa học pháp lý
Trang 639 Lê Hữu Thể (2002), Vấn đề tranh tụng trong hoạt động tố tụng hình sự và việc thể
chế hóa trong quá trình hoàn thiện Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam, Thông tin
khoa học pháp lý
40 Thuỷ Thu, Để thành lập Toà án khu vực, Báo pháp luật Việt Nam ngày 28/5/2007
41 Tòa án nhân dân tối cao (1989), Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 1989, Hà Nội
42 Tòa án nhân dân tối cao (1990), Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 1990, Hà Nội
43 Tòa án nhân dân tối cao (1991), Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 1991, Hà Nội
44 Tòa án nhân dân tối cao (1992), Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 1992, Hà Nội
45 Tòa án nhân dân tối cao (1993), Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 1993, Hà Nội
46 Tòa án nhân dân tối cao (1994), Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 1994, Hà Nội
47 Tòa án nhân dân tối cao (1995), Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 1995, Hà Nội
48 Tòa án nhân dân tối cao (1996), Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 1996, Hà Nội
49 Tòa án nhân dân tối cao (1997), Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 1997, Hà Nội
50 Tòa án nhân dân tối cao (1998), Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 1998, Hà Nội
51 Tòa án nhân dân tối cao (1999), Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 1999, Hà Nội
52 Tòa án nhân dân tối cao (2000), Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 2000, Hà Nội
53 Tòa án nhân dân tối cao (2001), Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 2001, Hà Nội
54 Tòa án nhân dân tối cao (2002), Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 2002, Hà Nội
55 Tòa án nhân dân tối cao (2003), Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 2003, Hà Nội
56 Tòa án nhân dân tối cao (2004), Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 2004, Hà Nội
57 Tòa án nhân dân tối cao (2005), Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 2005, Hà Nội
58 Tòa án nhân dân tối cao (2006), Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 2006, Hà Nội
59 Tòa án nhân dân tối cao (2007), Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 2007, Hà Nội
60 Tòa án nhân dân tối cao, Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao năm 2003-2004, Quyển II, Nhà máy in Quân đội
61 Tòa án nhân dân tối cao (2008), Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao năm 2005, Công ty Cổ phần in Cầu Giấy
62 Toà án nhân dân tối cao-Trường cán bộ Toà án (2004), Tài liệu tập huấn Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2003
63 Tòa án nhân dân tối cao- Ủy ban Châu âu Dự án hỗ trợ cho thể chế Việt Nam, Tập
huấn việc thi hành Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự, Hà Nội, tháng
10/2007
64 Trường Đại học Luật Hà Nội , Giáo trình Luật tố tụng hình sự, Nxb Tư pháp
65 Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Chỉ dẫn về công tác Công tố- Hiệp hội công tố viên
quốc tế, Nxb Văn hóa dân tộc
66 Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Thông tin khoa học kiểm sát, Số chuyên đề: Luật tố
tụng hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, số 3+4 năm 2007, Nxb Văn hóa
dân tộc
67 Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2007), Thông tin khoa học kiểm sát, Số chuyên đề:
Luật tố tụng hình sự nước Cộng hòa Liên bang Đức, số 5+6 năm 2007, Nxb Văn
hóa dân tộc
68 Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2002), Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga, bản
dịch năm 2002
69 Viện nghiên cứu tổng hợp tư pháp, Bộ môn hợp tác quốc tế, Bộ tư pháp Nhật Bản
(2008), Bộ luật tố tụng hình sự Nhật Bản, bản dịch năm 2008
70 Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Tư pháp hình sự so sánh, Thông tin khoa học pháp
lý, số đặc biệt
71 Nguyễn Tất Viễn (2004), Đổi mới tổ chức và hoạt động giám định tư pháp trong quá
trình cải cách tư pháp, trong cuốn chuyên khảo: Cải cách tư pháp ở Việt Nam
Trang 7trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội,
Hà Nội
72 Võ Khánh Vinh (chủ biên) (2004), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự, NXB
Công an nhân dân