Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường “Xây dựng lộ trình thực tập Địa chất cơ sở tuyến Hà Tiên – Kiên Giang và khoáng sản liên quan” được hoàn thành chính là nhờ sự hỗ t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
Thời gian thực hiện: 02/2012-02/2013
Chủ nhiệm đề tài: ThS Đổng Uyên Thanh
Cán bộ tham gia đề tài:
1 ThS Hoàng Thị Hồng Hạnh
2 ThS Lê Thanh Phong
Thành phố Hồ Chí Minh – Tháng 08/2013
Trang 3ThS Hoàng Thị Hồng Hạnh – Bộ môn Địa môi trường – Khoa KT Địa chất & Dầu khí
ThS Lê Thanh Phong – Bộ môn Địa môi trường – Khoa KT Địa chất & Dầu khí
Trang 4Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường “Xây dựng lộ trình thực tập Địa chất cơ sở tuyến Hà Tiên – Kiên Giang và khoáng sản liên quan” được hoàn thành chính là nhờ sự hỗ trợ tích cực từ các cá nhân và cơ quan:
- Các Thầy/Cô trong Bộ môn Địa môi trường đã tham gia công tác khảo sát thực địa, lấy mẫu và đóng góp ý kiến trong quá trình thực hiện đề tài
- Ban lãnh đạo Liên đoàn bản đồ địa chất miền Nam đã tạo điều kiện nhóm thực hiện đề tài tham khảo các tài liệu liên quan
Tập thể tác giả xin chân thành cảm ơn
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU iii
DANH MỤC CÁC HÌNH MINH HỌA iv
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT vi
TÓM TẮT vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU 3
1.1 - VỊ TRÍ ĐỊA LÝ 3
1.2 - ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN 3
1.2.1 - Địa hình 3
1.2.1 - Thủy văn 4
1.2.2 - Khí hậu 6
1.2.3 - Đặc điểm thổ nhưỡng 6
1.2.4 - Đặc điểm rừng 7
1.3 - ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ GIAO THÔNG 7
1.3.1 - Dân cư 7
1.3.2 - Kinh tế 7
1.3.3 - Giao thông 8
1.4 - ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT – KHOÁNG SẢN 8
1.4.1 - Lịch sử nghiên cứu địa chất 8
1.4.2 - Địa tầng 9
1.4.3 - Magma 14
1.4.4 - Địa mạo - Kiến tạo 15
1.4.5 - Khoáng sản 17
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 20
2.1 - NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 20
2.1.1 - Nội dung 1: Thu thập và tổng hợp tài liệu liên quan đến khu vực nghiên cứu 20
Trang 62.1.2 - Nội dung 2: Xây dựng các lộ trình khảo sát và nội dung khảo sát chi tiết
từng điểm lộ (mục đích, yêu cầu, thời gian, dụng cụ ) 20
2.1.3 - Nội dung 3: Đi thực địa 21
2.1.4 - Nội dung 4: Công tác văn phòng 21
2.1.5 - Nội dung 5: Thu thập và tổng hợp tài liệu liên quan đến khu vực nghiên cứu 21
2.1.6 - Sản phẩm giao nộp của đề tài 22
2.2 - CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.2.1 - Các tiếp cận 22
2.2.2 - Phương pháp nghiên cứu 22
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
3.1 - CƠ SỞ XÂY DỰNG LỘ TRÌNH THỰC TẬP ĐỊA CHẤT CƠ SỞ 25
3.1.1 - Nguyên tắc xây dựng lộ trình và lựa chọn điểm khảo sát 25
3.1.2 - Các yêu cầu 25
3.1.3 - Cơ sở địa chất 26
3.2 - KẾT QUẢ XÂY DỰNG LỘ TRÌNH THỰC TẬP ĐỊA CHẤT CƠ SỞ 26
3.2.1 - Quy mô lộ trình thực tập địa chất cơ sở 26
3.2.2 - Kế hoạch thực hiện lộ trình 26
3.2.3 - Đặc điểm các điểm khảo sát 28
3.3 - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ 40
KẾT LUẬN 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 1.1 - Sản lượng các ngành kinh tế chủ yếu tại Kiên Giang 7
Bảng 2.1- Bảng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của đề tài 24
Bảng 3.1 - Thống kê các thông số đặc trưng của các điểm khảo sát 27
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH MINH HỌA
Hình 1.1 - Sơ đồ vị trí vùng nghiên cứu 3
Hình 1.2 - Địa hình và hệ thống sông ngòi 5
Hình 3.1 - Sơ đồ vị trí lộ trình thực tập địa chất cơ sở Hà Tiên - Kiên Giang 28
Hình 3.2 - Đá vôi thuộc hệ tầng Hà Tiên và mạch calcite tái kết tinh (a); Các hang động liên thông nhau thành các lối đi (b) (Ảnh Lê Thanh Phong) 29
Hình 3.3 - Mặt trượt thuận và vết xước mặt trượt lộ đá mylonit (a); Đứt gãy chờm nghịch (b) (Ảnh Lê Thanh Phong) 29
Hình 3.4 - Dạng địa hình đồng bằng - núi sót - carư (Ảnh Lê Thanh Phong) 29
Hình 3.5 - Mạch thạch anh xuyên cắt cát kết, bột kết (Ảnh Lê Thanh Phong) 30
Hình 3.6 - Địa hình đồi núi sót: Núi Đá Dựng (a); Xung quanh núi Đá Dựng nhìn từ hang Trống Ngực (Ảnh Lê Thanh Phong) 30
Hình 3.7 - Các hang động có vách thẳng đứng (Ảnh Lê Thanh Phong) 31
Hình 3.8 - Hình dạng kỳ lạ: Hình “Mẹ bồng con” (a); Hình “Đầu trâu” (b) (Ảnh Lê Thanh Phong) 31
Hình 3.9 - Mạch calcite tái kết tinh (Ảnh Lê Thanh Phong) 31
Hình 3.10 - Các dạng măng đá (a), nhũ đá (b) (Ảnh Lê Thanh Phong) 32
Hình 3.11 - Quá trình phong hóa sinh học (Ảnh Lê Thanh Phong) 32
Hình 3.12 - Vị trí lộ ra ryolit xen kẹp cát kết màu tím (Ảnh Lê Thanh Phong) 33
Hình 3.13 - Vách taluy tại chân Núi Đèn (Ảnh Lê Thanh Phong) 33
Hình 3.14 - Hình phân lớp xiên đơn và hệ thống khe nứt vuông góc mặt lớp (Ảnh Lê Thanh Phong) 33
Hình 3.15 - Quang cảnh công trường khai thác đá sét than và đá bị vò nhàu (Ảnh Lê Thanh Phong) 34
Hình 3.16 - Các mặt trượt trên đá vôi sáng màu và sẫm màu (Ảnh Lê Thanh Phong) 34
Hình 3.17 - Dạng địa hình karst (Ảnh Lê Thanh Phong) 35
Hình 3.18 - Các ngấn nước biển cổ (Ảnh Lê Thanh Phong) 36
Hình 3.19 - Nếp uốn lõm không đối xứng (a); Đá bị vò nhàu khu vực quanh nếp uốn (b) (Ảnh Lê Thanh Phong) 36
Hình 3.20 - Sét kết cấu tạo phân lớp xiên đơn (a); Cát kết xen kẹp phiến sét bị uốn nếp (b) (Ảnh Lê Thanh Phong) 37
Hình 3.21 - Hệ thống mạch thạch anh và khe nứt (Ảnh Lê Thanh Phong) 37
Hình 3.22 - Hang động karst tại cổng vào (Ảnh Lê Thanh Phong) 38
Hình 3.23 - Ngấn nước biển cổ bên trong Chùa Hang (a); ở bến tàu (b) (Ảnh Lê Thanh Phong) 38
Hình 3.24 - Hóa thạch Huệ Biển (a); Tác dụng tích tụ (b); Tác dụng phong hóa sinh học (c) (Ảnh Lê Thanh Phong) 39
Trang 9Hình 3.25 - Núi Hòn Sóc (a); Thể tù trên đá granit (b) (Ảnh Lê Thanh Phong) 39
Trang 11TÓM TẮT
Báo cáo kết quả đề tài KHCN “Xây dựng lộ trình thực tập địa chất cơ sở
tuyến Hà Tiên- Kiên Giang và khoáng sản liên quan” được trình bày trong 50 trang
đánh máy khổ A4, kèm theo 3 bảng số liệu và 25sơ đồ và ảnh chụp minh họa Bố cục báo cáo gồm phần Mở đầu, 3 chương chuyên môn và phần Kết luận - kiến nghị
Từ các kết quả nghiên cứu đã có, nhóm thực hiện đã tiến hành phân tích đánh giá nhằm xác định các điểm lộ nghiên cứu chính Sau đó đã tiến hành lộ trình khảo sát thực tế để kiểm chứng Kết quả báo cáo đã xây dựng một lộ trình thực tập địa chất cơ
sở trong vùng Hà Tiên - Kiên Giang bao gồm 13 điểm lộ Các điểm lộ được chọn lựa
là những điểm đặc trưng về địa chất và khoáng sản liên quan trong vùng phù hợp kiến thức đã được chuẩn bị trong môn học Địa chất cơ sở
Trang 12
MỞ ĐẦU
Đề tài “Xây dựng lộ trình thực tập địa chất cơ sở tuyến Hà Tiên- Kiên Giang
và khoáng sản liên quan” được thực hiện dựa trên cơ sở:
- Thuyết minh đề tài KHCN cấp trường “Xây dựng lộ trình thực tập địa chất cơ
sở tuyến Hà Tiên- Kiên Giang và khoáng sản liên quan”
- Hợp đồng triển khai nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cấp trường năm 2012 số 35/HĐ-ĐHBK-KHCN&DA, ngày 01 tháng 02 năm 2012 giữa PGS.TS Phan Đình Tuấn (Phó Hiệu trưởng) và ThS Đổng Uyên Thanh (Cán bộ giảng dạy khoa Kỹ thuật Địa chất & Dầu khí)
- Kết quả nghiên cứu của các tổ chức và cá nhân thực hiện trong vùng
- Kinh nghiệm hướng dẫn sinh viên thực tập môn học Địa chất cơ sở
Lý do chọn đề tài
Hàng năm, các sinh viên Khoa Kỹ thuật Địa chất và Dầu khí được thực tập môn học Thực tập Địa chất cơ sở ngoài trời nhằm làm sáng tỏ các kiến thức lý thuyết đã được học tập tại trường và nâng cao khả năng triển khai các công việc trong thực tế Hiện tại, lộ trình thực tập môn học này được thiết kế theo tuyến đường từ TP.HCM đến TP.Vũng Tàu Tuy nhiên, cho đến nay lộ trình này có nguy cơ không còn đáp ứng đầy đủ các nội dung của môn học do các điểm lộ đã dần bị phá huỷ trong quá trình phát triển kinh tế, các khu dân cư và hệ thống giao thông tại các điểm thực tập Vì vậy, việc tìm kiếm, khảo sát để xây dựng một lộ trình thực tập mới đạt yêu cầu của môn học, có nội dung chuyên môn phong phú và chuẩn, có thời gian tồn tại lâu dài, thuận lợi cho việc đi lại và khảo sát là rất cần thiết
Khu vực Hà Tiên-Kiên Giang có vị trí gần cực tây nam của đất nước, là nơi giao nhau của nhiều đới cấu trúc địa chất, có lịch sử phát triển địa chất phức tạp, thể hiện được sự đa dạng của các yếu tố địa chất, đa dạng của các yếu tố địa mạo… có khả năng đáp ứng nội dung thực tập của môn học Do đó, khu vực này được chọn để khảo sát lộ trình thực tập với tên đề tài nghiên cứu: “Xây dựng lộ trình thực tập Địa chất cơ
sở tuyến Hà Tiên – Kiên Giang và khoáng sản liên quan” với mong muốn có thêm một
lộ trình thực mới với các nội dung phong phú và đa dạng phục vụ tốt cho công tác giảng dạy
Mục tiêu của Đề tài: Xây dựng tuyến thực tập Địa chất cơ sở mới đa dạng,
phong phú và chi tiết đáp ứng được nội dung lý thuyết môn học Địa chất cơ sở
Mục tiêu cụ thể là chuẩn bị bộ sưu tập các điểm lộ tự nhiên và nhân tạo nhằm cung cấp cho sinh viên nhiều kiến thức thực tế về địa chất cơ sở trong khu vực ven biển Hà Tiên Kiên Giang
Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Trang 13Đối tượng nghiên cứu của lộ trình thực tập địa chất cơ sở là các thực thể của vỏ trái đất lộ trên mặt trong trong phạm vi Hà Tiên - Kiên Giang có liên quan đến các kiến thức đã được chuẩn bị trong môn học Địa chất cơ sở của khoa Kỹ thuật Địa chất
và Dầu khí (trường Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh)
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Kết quả thực hiện đề tài đã góp phần làm rõ thêm các kết quả nghiên cứu đã
có và tạo điều kiện thành viên của nhóm thực hiện có điều kiện tiếp cận được các đối tượng thực tế
- Kết quả đề tài cũng góp phần làm phong phú thêm tài liệu chuyên môn của môn học Địa chất cơ sở hiện nay Đây có thể xem là cơ sở tài liệu phục vụ cho môn học Thực tập địa chất cơ sở ngoài trời
- Tài liệu tham khảo cho các dự án xây dựng công viên địa chất
Thời gian thực hiện
Thời gian thực hiện đề tài: 12 tháng, từ tháng 2 năm 2012 đến hết tháng 2 năm
2013 Gia hạn đến tháng 8/2013
Cơ sở tài liệu
Báo cáo sẽ sử dụng chủ yếu là các báo cáo của Cục ĐC&KS Việt Nam thực hiện, trong đó đáng chú ý nhất là 2 báo cáo:
+ Báo cáo Đo vẽ Bản đồ địa chất và tìm kiếm khoáng sản khoáng sản tỉ lệ 1:50.000 nhóm tờ Hà Tiên - Phú Quốc (Trương Công Đượng - 1998)
+ Báo cáo kết quả đề tài: “Phân chia địa tầng N - Q và nghiên cứu cấu trúc địa chất Đồng bằng Nam bộ” (Nguyễn Huy Dũng và nnk - 2001); tập I và II
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện còn tham khảo thêm một số thông tin các của một số nhà chuyên môn đã thực hiện nghiên cứu trong vùng: Nguyễn Xuân Bao,
Hà Quang Hải…
Tham gia thực hiện đề tài gồm:
1- ThS Đổng Uyên Thanh - CNĐT
2- ThS Hoàng Thị Hồng Hạnh
3- ThS Lê Thanh Phong
Bố cục của báo cáo
Mở đầu
Chương I Tổng quan về vùng nghiên cứu
Chương II Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Chương III Kết quả và thảo luận
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Trang 14Hình 1.1 - Sơ đồ vị trí vùng nghiên cứu
Phía Bắc giáp Campuchia, đường biên giới dài 56,8 km, phía Nam giáp tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà Mau, phía Tây giáp vịnh Thái Lan với đường bờ biển dài 200 km, phía Đông lần lượt tiếp giáp với các tỉnh là An Giang, thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang
1.2 - ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN
1.2.1 - Địa hình
Kiên Giang có đủ các dạng địa hình từ đồng bằng, núi rừng và biển đảo Phần đất liền có địa hình tương đối bằng phẳng, thấp dần từ đông bắc xuống tây nam và có 2 dạng địa hình chính: đồng bằng thấp và đồi núi sót
Trang 151.2.1.1 - Dạng địa hình đồng bằng thấp
Trong vùng có các kiểu đồng bằng phổ biến sau:
Địa hình đồng bằng tích tụ - xâm thực: Dạng địa hình có diện phân bố nhỏ tạo
thành các dải hẹp ven chân núi ở Kiên Giang Bề mặt địa hình phát triển trầm tích a,amQ13 Đất đá trên mặt chủ yếu sét, sét cát và sét các trầm nhiều nơi bị phong hóa laterit Bề mặt địa hình dốc thoải, độ cao trung bình 5 - 10m, thường phát triển cây tạp
và thân mộc Hiên đang được sử dụng cho mục đích trồng cây ăn trái và lúa Quá trình ngoại sinh chủ yếu là rửa trôi bề mặt, xâm thực yếu tạo thành những mương rãnh hẹp
Địa hình tích tụ - đầm lầy: địa hình chiếm trên 90% diện tích vùng nghiên cứu
Bề mặt địa hình phát triển chủ yếu các trầm tích đa nguồn gốc tuổi Holocen a, am, b,
bm Q2 Thành phần đất đá lộ trên mặt chủ yếu là sét, bùn sét, bùn cát màu xám, đen nhạt lẫn nhiều xác và mùn thực vật hoặc nâu vàng loang lổ (ven sông) Bề mặt địa hình khá bằng phẳng, độ cao thay đổi từ 0,5 - 5m Quá trình ngoại sinh chủ yếu là tích
tụ và xâm thực ở ven các dòng chảy Thực vật phát triển chủ yếu là cây bụi, năng, lác, bàng, bần, đước, tràm… phần lớn diện tích này được sử dụng trồng lúa và cây ăn trái (các cù lao giữa sông) Trong phạm vi phân bố địa hình này, bề mặt bị chia cắt bởi nhiều kênh rạch và sông ngòi chảy qua
Bãi bồi ven biển: Địa hình này chỉ chiếm diện tích rất nhỏ ven biển Kiên Giang
Trên mặt phát triển trầm tích m, amQ2 Địa hình khá dốc, độ cao thay đổi <0,5m, quá trình ngoại sinh chủ yếu là tích tụ và xâm thực do sóng biển Thành phấn đất đá chủ yếu là các mịn, cát bụi, cát lẫn bùn sét màu xám đen Thực vật ít phát triển chủ yếu là đước và các loại cây bụi nước lợ
1.2.1.2 - Dạng địa hình đồi núi sót
Hệ thống núi sót ven biển ở Kiên Giang tập trung ở huyện Hòn Đất, huyện Kiên Lương và thị xã Hà Tiên, độ cao trung bình dưới 200m Xét về cấu tạo địa chất, có thể chia thành ba loại:
- Núi đá granit: núi Hòn Đất, núi Hòn Me, núi Hòn Sóc
- Núi đá vôi: núi Chùa Hang, núi Bình Trị, núi Hang Tiền, núi Khoe Lá, núi Ngang, núi Trà Đuốc, núi Mây, núi Mo So
- Núi đá phiến xen núi đá macma phun trào: núi Bãi Ớt, núi Ông Cọp, núi Xoa
Ảo, núi Nhọn, núi Tô Châu, núi Bình San, núi Pháo Đài, núi Đá Dựng
Đặc biệt dọc bờ biển từ Hà Tiên đến Hòn Chông có các chỏm núi đá vôi với nhiều hang động karst có nhiều cảnh quan kỳ thú
1.2.1 - Thủy văn
Mạng lưới sông, rạch, kênh, mương phát triển rất mạnh Sông Giang Thành bắt nguồn từ Campuchia chảy qua Hà Tiên và đổ ra biển Hệ thống kênh rạch nhỏ khác như Mây Còn, Khoe Lá… chảy uốn lượn quanh chân núi hoặc trong các đồng bằng, thoát ra sông lớn và đổ ra biển
Trang 16Một số kênh rạch thuộc tỉnh Kiên Giang lớn đáng chú ý trong vùng:
Kênh Thoại Hà do ông Nguyễn Văn Thoại được vua Gia Long giáng chỉ cho
đào vào mùa Xuân năm Mậu Dần (1818) Kênh đào theo lạch nước cũ, nối rạch Long Xuyên tại Vĩnh Trạch kéo dài theo hướng Tây Nam, ngang qua chân núi Sập, tiếp với sông Kiên Giang, đổ nước ra biển Tây tại cửa Rạch Giá Kênh dài 12.410 tầm, rộng 20 tầm, ghe xuồng qua lại thuận lợi Sau hơn 1 tháng đào xong, vua Gia Long khen và đặt tên kênh là Thoại Hà và ban tên núi Sập là Thoại Sơn, để biểu dương công trạng của quan trấn thủ Nguyễn Văn Thoại
Kênh Vĩnh Tế bắt đầu đào vào ngày rằm tháng Chạp năm Kỹ Mão (1819) cũng
do Nguyễn Văn Thoại chỉ huy Kênh đào song song với đường biên giới Việt Campuchia, bắt đầu từ bờ Tây sông Châu Đốc thẳng nối giáp với sông Giang Thành (Hà Tiên - Kiên Giang) Kênh đào trong 5 năm với hơn 80.000 dân binh, đào đắp với hàng triệu mét khối đất Tổng chiều dài của kênh là 205 dặm rưỡi (91km), rộng 7 trượng 5 thước (25m) và sâu 6 thước (3m) Nói về lợi ích của kênh Vĩnh Tế, Đại Nam nhất thống chí viết: “Từ đấy đường sông thông, việc biên phòng và việc buôn bán đều được hưởng mối lợi vô cùng”
Nam-Ngoài ra còn có 3 con sông chảy qua: Sông Cái Lớn (60 km), sông Cái Bé (70 km) và sông Giang Thành (27,5 km) và hệ thống kênh rạch chủ yếu để tiêu nước về mùa lũ và giao thông đi lại, đồng thời có tác dụng tưới nước vào mùa khô
Tóm lại, Kiên Giang có nguồn nước mặt khá dồi dào, nhưng đến mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) phần lớn nước mặt ở Tứ giác Long Xuyên đều bị nhiễm phèn mặn, do vị trí ở cuối nguồn nước ngọt của nhánh sông Hậu, nhưng lại ở đầu nguồn nước mặn của vịnh Rạch Giá
Hình 1.2 - Địa hình và hệ thống sông ngòi
Trang 171.2.2 - Khí hậu
Đây là vùng có khí hậu ôn hòa, nóng ẩm quanh năm Có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Một số đặc điểm yếu tố khí hậu như sau:
Mây: Lượng mây toàn vùng tương đối ít Trong mùa khô, có khi trời có mây
nhưng vẫn nắng Trong mùa mưa, lượng mây thường nhiều hơn
Nắng: toàn vùng có mùa nắng chói chang, trở thành địa phương có số giờ nắng
trong năm lớn kỷ lục của cả nước Bình quân mùa khô có tới 10 giờ nắng/ngày ; mùa mưa tuy ít hơn nhưng cũng còn tới gần 7 giờ nắng/ngày Tổng tích ôn cả năm lên trên 2.400 giờ
Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình toàn vùng không những cao mà còn rất ổn định
Chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng trong mùa khô chỉ hơn kém nhau khoảng 1,5° đến 3° ; còn trong các tháng mùa mưa chỉ vào khoảng trên dưới 1° Nhiệt độ cao nhất năm thường xuất hiện vào tháng 4, dao động trong khoảng 36°- 38° ; nhiệt độ thấp nhất năm thường xuất hiện vào tháng 10 dưới 18° (năm 1976 và 1998)
Gió: mùa khô gió thịnh hành là Đông Bắc, còn mùa mưa là gió Tây Nam - gió
Tây Nam là gió có tần suất xuất hiện lớn nhất Tốc độ gió ở đây tương đối mạnh, trung bình đạt tới trên 3m/giây Trong năm, tốc độ gió mùa hè lớn hơn mùa Đông Ngoài vùng ven biển Kiên Giang, phần lớn diện tích còn lại nằm sâu trong đất liền Nam Bộ nên ít chịu ảnh hưởng gió bão
Mưa: mùa mưa thường bắt đầu vào tháng 5 và kết thúc vào tháng 11 Tổng
lượng mưa mùa mưa chiếm 90% tổng lượng mưa năm Lượng mưa mùa mưa lớn lại trùng vào mùa nước lũ của sông Mê Kông dồn về hạ lưu nên đã gây ra tình trạng úng
tổ hợp với ngập lụt, chi phối đến nhiều hoạt động sản xuất và đời sống
Bốc hơi: trong mùa khô do nắng nhiều, độ ẩm không khí thấp nên lượng bốc
hơi lớn, bình quân 110mm/tháng (vào tháng 3 có tới 160mm) Trong mùa mưa , lượng bốc hơi thấp hơn, bình quân 85mm/tháng , nhỏ nhất khoảng 52mm/tháng xuất hiện vào tháng 9 hoặc tháng 10, là thời kỳ có mưa nhiều, độ ẩm cao
Độ ẩm: mùa có độ ẩm thấp (nhỏ hơn 80%) thường bắt đầu từ tháng 12 và kéo
dài đến tháng 4 năm sau Nghĩa là mùa có độ ẩm thấp trùng với mùa khô Mùa khô độ
ẩm ở thời kì đầu là 82%, giữa 78%, và cuối còn 72% Mùa mưa ở đây thật sự là một mùa ẩm ướt Độ ẩm trung bình trong những tháng mùa mưa đều 84%, cá biệt có tháng đạt xấp xỉ 90%
Ngoài các yếu tố khí tượng nói trên, trong vùng còn có các hiện tượng thời tiết cần lưu ý như: lốc xoáy, vòi rồng, mưa đá, hạn Bà Chằn, ảnh hưởng của Elnino và Lanina
1.2.3 - Đặc điểm thổ nhưỡng
Đất đai ở Kiên Giang phù hợp cho việc phát triển nông lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản, với tổng diện tích đất tự nhiên là 634.627,21ha, trong đó: nhóm đất
Trang 18nông nghiệp: 575.697,49ha, chiếm 90,71% đất tự nhiên (riêng đất lúa 354.011,93ha,
chiếm 61,49% đất nông nghiệp); nhóm đất phi nông nghiệp: 53.238,38ha, chiếm
8,39% diện tích tự nhiên; nhóm đất chưa sử dụng: 5.691,34ha, chiếm 0,90% diện tích
tự nhiên; đất có mặt nước ven biển: 13.781,11ha (là chỉ tiêu quan sát không tính vào
diện tích đất tự nhiên)
1.2.4 - Đặc điểm rừng
Kiên Giang là một trong hai tỉnh có diện tích rừng lớn nhất vùng Đồng bằng
sông Cửu Long Tổng diện tích đất lâm nghiệp năm 2011 là 91.288,87 ha, trong đó
Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh Kiên Giang đạt gần 1.714.100 người, mật
độ dân số đạt 270 người/km² Trong đó tại thành thị đạt gần 466.100 người, tại nông
thôn đạt 1.248.000 người
Kiên Giang là địa bàn cư trú của hơn 15 dân tộc khác nhau Trong đó, dân tộc
Kinh chiếm khoảng 85,5%, dân tộc Khmer chiếm khoảng 12,2%, dân tộc Hoa chiếm
khoảng 2,2%, còn lại là một số dân tộc khác như: Chăm, Tày, Mường, Nùng
1.3.2 - Kinh tế
Tốc độ phát triển kinh tế của tỉnh Kiên Giang được xếp vào hàng thứ 3 trong
các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long (sau Hậu Giang và Bạc Liêu) Ngành công
nghiệp chủ yếu là khai thác đá vôi và sản xuất xi măng Nông ngư nghiệp cũng là bộ
phận kinh tế chính của vùng, chủ yếu là phát triển lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy
hải sản Đến nay thương nghiệp và dịch vụ du lịch cũng đang dần chiếm ưu thế do
tăng cường khả năng trao đổi hàng hóa, khai thác các cảnh quan thiên nhiên phục vụ
du lịch
Bảng 1.1 - Sản lượng các ngành kinh tế chủ yếu tại Kiên Giang
Trang 19TT Các chỉ tiêu kinh tế Đơn vị Giá trị sản lượng
10 Thu nhập bình quân đầu người triệu đồng 42,60
Nguồn: Cục thống kê năm 2011
1.3.3 - Giao thông
Hệ thống giao thông tương đối phát triển Các tuyến đường huyết mạch trên địa
bàn tỉnh là Quốc lộ 80, Quốc lộ 61, Quốc lộ 63 và Tỉnh lộ 11 Đường bộ đi từ
TP.HCM đến Rạch Giá, Hà Tiên và từ TP.HCM đi Bảy Núi theo kinh Vĩnh Tế đến Hà
Tiên đã được nâng cấp và tráng nhựa Đường hàng không đi Rạch Giá, Phú Quốc khá
thuận tiện Bên cạnh đó, hệ thống kênh, mương có mật độ rất lớn là hệ thống giao
thông thủy nối liền các khu dân cư và vận chuyển hàng hóa
1.4 - ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT – KHOÁNG SẢN
1.4.1 - Lịch sử nghiên cứu địa chất
Lịch sử nghiên cứu địa chất trong vùng gắn liền với lịch sử nghiên cứu địa chất
của cả nước và trong khu vực Có thể chia lịch sử nghiên cứu địa chất trong vùng làm
2 giai đoạn chính: giai đoạn trước năm 1975 do các nhà địa chất Pháp và Việt Nam
thực hiện và giai đoạn sau năm 1975 hoàn toàn do các nhà địa chất Việt Nam nghiên
cứu
Nhìn chung, vào giai đoạn trước 1975, công tác nghiên cứu được đánh dấu bằng
sự ra đời của bản đồ địa chất tỷ lệ 1:500.000 tờ Sài Gòn và tờ Vĩnh Long Trong giai
đoạn này các nhà địa chất Pháp đã phân chia một số thành tạo địa chất nhưng đến sau
1975 một số thành tạo đã được các nhà địa chất Việt Nam chỉnh lý và bổ sung dựa trên
cơ sở những dấu hiệu mới phát hiện trong quá trình đo vẽ các BĐĐC ở các tỷ lệ khác
nhau Đặc biệt là sự thay đổi đáng kể về việc phân chia hệ tầng và tuổi địa chất của các
thành tạo trước Kainozoi
Song song với việc nghiên cứu địa chất, công tác nghiên cứu khoáng sản cũng
được chú ý nhưng chưa đồng bộ: các điểm quặng sắt ở núi Hòn Chông, đảo Hòn Tre
(Massa C., 1918); ở đảo Phú Quốc (Saurin E và Fontaine H., 1918) Đã ghi nhận sự
có mặt của molybden và galen trong vùng (Guber J., 1935) Đồng thời việc nghiên cứu
khai thác đá vôi cung cấp nguyên liệu cho nhà máy xi măng Hà Tiên cũng được thực
hiện trước 1975 Tuy nhiên đến sau năm 1975 thì công tác nghiên cứu khoáng sản đã
được tiến hành đồng bộ hơn trong các công trình BĐĐC tỷ lệ 1: 500.000 (Trần Đức
Lương, 1981), 1:200.000 (Nguyễn Ngọc Hoa, 1994), BĐĐCKS tỷ lệ 1: 50.000
(Trương Công Đượng, 1998) Hàng loạt mỏ và điểm quặng đã được phát hiện và đánh
giá
Trang 20Bên cạnh các công trình nghiên cứu thành lập các BĐĐC và BĐĐCKS với các
tỷ lệ khác nhau còn có nhiều chuyên đề nghiên cứu về địa mạo, kiến tạo, vỏ phong hóa, địa chất công trình, địa chất thủy văn, các báo cáo tìm kiếm và thăm dò khoáng sản… trong vùng rất có ý nghĩa phục vụ cho công tác nghiên cứu địa chất và phát triển kinh tế
Các đá có đường phương đông bắc- tây nam với góc dốc 50-70o, đổ về tây bắc
và đông nam tạo nên nhiều nếp uốn và hình thành dãy núi Bình Trị kéo dài trên 10km Những nơi gần đứt gãy đá cắm đứng
Các đá thuộc hệ tầng Hòn Heo ở dãy Bình Trị bị rất nhiều mạch thạch anh có kích thước vài cm đến 10cm xuyên cắt theo mặt lớp và vuông góc với mặt lớp làm đá
3hh), ranh giới trên bị phủ bởi đá vôi xám đen thuộc hệ tầng Hà Tiên (Pht) phủ không
Hệ tầng Hà Tiên (Pht)
Trang 21Đá vôi Permi lộ rải rác thành những núi nhỏ dọc bờ biển Hà Tiên từ Hòn Đá Dựng sát biên giới Campuchia đến Chùa Hang với Hòn Phụ Tử, nhưng phân bố tập trung ở khu vực giữa Bãi Ớt và Hòn Chông Chúng phủ không chỉnh hợp trực tiếp lên các trầm tích lục nguyên-carbonat hệ tầng Chùa Hang (D3-C1ch), ranh giới trên bị trầm
tích lục nguyên- phun trào hệ tầng Núi Cọp (T2anc) phủ lên
1.4.2.2 - Giới Mesozoi
Hệ tầng Núi Cọp (T 2anc)
Trước đây là hệ tầng Hòn Ngang (Fontaine H., 1969-1970; Nguyễn Ngọc Hoa,
1991; Nguyễn Xuân Bao, 1994), hoặc hệ tầng Nam Du (S-Dnd) (Nguyễn Kinh Quốc,
1981) Hệ tầng này lộ ra khá rộng, phân bố rải rác từ Hà Tiên đến Hòn Chông và trên hầu hết các đảo thuộc quần đảo Bà Lụa Theo mặt cắt tại núi Bãi Ớt- núi Cọp, hệ tầng gồm 3 tập:
- Tập 1: tuf tảng (aglomerat) phủ trực tiếp trên cát kết thạch anh, đá phiến của
hệ tầng Hòn Heo (D2-3hh) Thành phần của dăm tảng là cát kết thạch anh kích thước
không đều từ vài cm đến vài dm, sắc cạnh, xi măng là vật liệu phun trào acid Dày khoảng 100m
- Tập 2: ryolit, felsic màu xám xanh có cấu tạo dòng chảy, cứng chắc, đôi chỗ phong hóa có màu xám trắng Dày khoảng 400m
- Tập 3: cát kết tuf xen với đá phiến silic, đá phiến sét, sét bột kết Đá có cấu tạo phân lớp mỏng đến trung bình, đường phương hướng đông bắc- tây nam cắm về tây bắc hoặc tây nam với góc dốc 40-50o Dày 400m
Hệ tầng Minh Hòa (T 2amh)
Đá vôi Minh Hòa lộ ra với diện tích nh khoảng vài ngàn m2 ở cực bắc đảo Hòn Nghệ Ranh giới dưới chưa quan sát được, ranh giới trên có quan hệ kiến tạo với hệ tầng Hòn Nghệ, hệ tầng Tà Pa và hệ tầng Nha Trang Gồm đá vôi màu xám sáng, hạt mịn, phân lớp dày xen lớp mỏng dolomit Dày khoảng 200m
Trang 22Hệ tầng Hòn Nghệ (T 2lhn)
Trầm tích lục nguyên chỉ lộ ra rất hạn chế ở bờ biển tây bắc đảo Hòn Nghệ, bao gồm các tập sau:
Tập 1: bột kết, đá phiến sét, phân lớp trung bình Dày 20m
Tập 2: cát kết hạt nhỏ xen kẹp với đá phiến silic cùng màu xám sẫm, dạng dải (1-3cm), bị uốn mạnh và có các đứt gãy dịch chuyển nhỏ, chứa nhiều Huệ Biển Dày 55m
Tập 3: cát kết hạt vừa xám sẫm, phân lớp dày Dày 75m
Tập 4: đá phiến sét màu xám với các lớp mỏng bột kết nâu xám, phong hóa xámm vàng Dày 50m
Tập 5: cuội kết với hạt cuội chủ yếu là cát kết, ít bột kết mài tròn kém Dày 20m
Tổng chiều dày khoảng 200m
Phần dưới hệ tầng có quan hệ kiến tạo với đá vôi hệ tầng Minh Hòa, ranh giới trên bị các đá hệ tầng Nha Trang phủ và bị đá xâm nhập phức hệ Đèo Cả xuyên cắt và bắt tù
Hệ tầng Tà Pa (T 3 -J 1tp)
Gồm bột kết, cát kết, đá phiến, cát kết chứa cuội Chúng lộ ra khu vực núi Tà
Pa (Tri Tôn) Ranh giới dưới chưa quan sát được, ranh giới trên bị magma xâm nhập của phức hệ Định Quán (J3-K1đq) xuyên cắt và bị tầng cuội kết cơ sở hệ tầng Xa
Lôn (J3xl) phủ lên Bao gồm các tập:
- Tập 1: bột kết màu tím gụ, phân lớp dày 0,3-0,5m Dày 20m
- Tập 2: bột kết màu vàng, phân lớp dày 0,5m Dày 10m
- Tập 3: phiến sét xen bột kết màu xám đen bị sừng hóa, phân lớp dày 0,3-0,5m Dày 20m
- Tập 4: cát sạn kết chứa cuội thạch anh, phân lớp dày đến dạng khối Dày 50m
- Tập 2: phần dưới là tuf andesit màu xám có chứa những tảng dăm gồm nhiều thành phần: cát kết, bột kết với xi măng là phun trào andesit dạng khối Dày 100-150m; phần trên là đá andesit màu xám xanh, màu nâu có cấu tạo khối xen andesitobazan có cấu tạo đặc sít hoặc lỗ rỗng và ít lớp felsit ryolit Các đá trong phần trên có từ tính rất cao Dày trên 700m
Trang 23Hệ tầng Nha Trang (K 2nt)
Các phun trào felsic và tuf của chúng thuộc hệ tầng Nha Trang phân bố không nhiều ở đảo Hòn Nghệ và rải rác trên đất liền ở tây bắc Hòn Chông và khắp quần đảo Hải Tặc Chúng phủ không chỉnh hợp trên các đá của hệ tầng Tà Pa (T3-J1tp) Mặt cắt
được chia thành 2 phần: phần thấp gồm cuội sạn kết tuf, cát kết tuf, cấu tạo phân lớp dày với các mảnh vụn sắc cạnh, nhiều thành phần gồm thạch anh, silic, cát kết, bột kết,
đá vôi, xi măng gắn kết là đá phun trào, dày trên 10m; phần trên gồm tuf núi lửa màu xám xanh cấu tạo khối rất rắn chắc, các mảnh dăm là cát kết, đá phiến, silic, đá vôi, nền là đá phun trào Dày khoảng 200m
1.4.2.3 - Giới Kainozoi
Hệ tầng Phú Quốc (N 1 3pq)
Các trầm tích lục địa của hệ tầng Phú Quốc chủ yếu là cát kết cấu tạo nên toàn
bộ đảo Phú Quốc, các quần đảo An Thới và Thổ Chu ở Vịnh Thái Lan Ranh giới dưới chưa quan sát được, ranh giới trên bị trầm tích Đệ Tứ phủ Mặt cắt được chia thành 2 tập:
- Tập 1: cát kết hạt nhỏ đến vừa có felspat và khoáng vật màu đen, nhưng chủ yếu là thạch anh Đá có màu xám, phân lớp dày, xen trong cát kết là các lớp mỏng hoặc thấu kính sạn kết, sét bột kết màu xám, màu lục, khi bị phong hóa có màu nâu, nâu xám Đá cắm về phía tây, tây nam với góc dốc thoải 10-15o Dày khoảng 100m
- Tập 2: cát kết thạch anh hạt vừa đến thô thường có màu trắng, phân lớp dày, cấu tạo xiên chéo; cát kết, bột kết phong hóa màu vàng, hạt vừa đến nhỏ, phân lớp trung bình; cát kết chứa sạn và sạn kết Đá cắm về phía tây, tây nam với góc dốc 10-
15o Dày khoảng 200m
Hệ tầng Kiên Lương, trầm tích sông- biển (N 2 2kl)
Mặt cắt tại lỗ khoan từ dưới lên gồm:
Tập 1 (68,5-66,0m): cát bột màu xám sẫm chứa ít di tích thực vật Tập này nằm trên bề mặt bào mòn của đá phiến sét vôi xen silic của hệ tầng Hòn Chông Dày 2,5m
Tập 2 (66,0-65,0m): cát hạt không đều lẫn ít sạn thành phần thạch anh, silic Dày 1,0m
Tập 3 (65,0-51,0m): cát bột màu xám vàng, loang lổ trắng, phân lớp xiên mỏng,
bị phủ bởi các trầm tích Pleistoxen trung- thượng Dày 14,0m
Chiều dày chung là 17,5m
Hệ tầng Mỹ Tho, trầm tích sông-biển (amQ 1 1mt)
Chỉ gặp trong các lỗ khoan sâu Mặt cắt gồm 2 tập: tập dưới thô, tập trên mịn Phần hạt thô thường chiếm khối lượng chủ yêu trong mặt cắt, bề dày thay đổi từ 7-22m với thạch anh là chủ yếu, mảnh đá, felspat, rải rác có biotit, limonit và siderit Phần hạt mịn thường là sét bột màu xám trắng, xám vàng đến xám xanh, bề dày khoảng 5m
Trang 24Hệ tầng Long Toàn, trầm tích biển (mQ 1 2-3lt)
Chỉ gặp trong các lỗ khoan sâu Mặt cắt gồm 2 tập: tập dưới là cát trung mịn, tập trên là sét bột xen cát bột có cấu tạo phân lớp mỏng không đều, rải rác chứa mùn thực vật Trầm tích phủ bất chỉnh hợp trên hệ tầng Mỹ Tho và bị các trầm tích hệ tầng Long Mỹ phủ bất chỉnh hợp lên Bề dày biến đổi từ 5-15m ở phần rìa và 30-50m ở trung tâm
Hệ tầng Long Mỹ, trầm tích biển (mQ 1 3lm)
Hệ tầng này lộ trên mặt dưới dạng các bậc thềm biển có độ cao 10-20m, phân
bố trên đảo Phú Quốc và quanh các khối núi khu vực Tịnh Biên - Tri Tôn Ngoài ra còn có mặt trong các lỗ khoan ở độ sâu 5-10m trở xuống Trong khu vực từ Hà Tiên sang Kiên Lương đến Hòn Đất, bề dày trầm tích khá ổn định, chủ yếu sét bột, cát mịn, cấu tạo khối, đôi nơi có phân lớp mỏng, có màu sắc sặc sỡ Chiều dày không ổn định, thay đổi 10-30m, đôi chỗ đến 50m Quan hệ dưới phủ bất chỉnh hợp trên hệ tầng Long Toàn, bên trên bị trầm tích Holocen phủ bất chỉnh hợp
Hệ tầng Hậu Giang, trầm tích biển (mQ 2 2hg)
Phân bố khá phổ biến trong vùng nghiên cứu, lộ ra ở dạng các bậc thềm biển có
độ cao 6-10m trên đảo Phú Quốc và một số đảo nhỏ khác Trong đất liền chúng viền quanh các khối núi sót ở khu vực Bảy Núi, Hòn Chông, Ba Hòn Ngoài ra chúng bị chôn vùi dưới các trầm tích trẻ hơn ở độ sâu 1,5-4m
Thành phần chủ yếu là cát thạch anh (ở các thềm), bột, sét bột, sét (trong các lớp bị chôn vùi) và tùy từng nơi chúng có lẫn ít sạn sỏi hoặc xác mùn thực vật và vỏ
sò, điệp Thường có màu xám xanh, xám tro, phần lộ trên mặt thường có màu xám sáng, xám vàng nhạt, đôi khi nâu vàng
Chiều dày thay đổi từ vài mét đến 5-10m
Các trầm tích Holocen trung - thượng
Lộ phổ biến dưới dạng các bề mặt có độ cao tương đối từ 2 đến 3m, được chia làm 2 phần dưới và trên với các kiểu nguồn gốc khác nhau
Phần dưới: trầm tích biển (mQ22-31) phân bố rộng rãi khu vực Kiên Lương, Hòn Đất Thành phần trầm tích gồm sét, bột, cát tùy từng nơi có mùn thực vật, xác vỏ sò, điệp Trầm tích có màu nâu vàng, xám sẫm
Phần trên: trầm tích sông - đầm lầy (abQ22-32) phân bố khu vực bắc Kiên Lương, bắc Hòn Đất dạng dải rộng kéo dài gần theo phương bắc nam, với bề mặt hơi trũng thấp, trên có phát triển các lòng sông cổ Thành phần trầm tích gồm: sét, bột, mùn thực vật, than bùn (lấp đầy lòng sông cổ)
Chiều dày các trầm tích Holocen trung - thượng không ổn định, thay đổi từ 1,0m đến 3-4m, cá biệt trong lòng sông cổ đạt 6-7m
Các trầm tích tuổi Holocen thượng, phần dưới
Trầm tích biển (mQ23
1): phân bố ven đường bờ biển hiện đại ở độ cao 2-4m, phổ biến ở đảo Phú Quốc và một số đảo khác, khu vực Hòn Chông - Hà Tiên Thành
Trang 25phần chủ yếu là cát hạt vừa đến mịn lẫn ít bột sét và vỏ sò Trầm tích có màu trắng, xám vàng
Trầm tích biển - đầm lầy (mbQ231): phân bố thành một dải rộng 1-5km chạy dọc ven biển từ Hà Tiên đến Hòn Đất Thành phần chủ yếu gồm bột sét, ít mùn thực vật và thân cây phân hủy kém Trầm tích có màu nâu đất, màu gụ, xám sẫm
Trầm tích gió (vQ231): phân bố ở đảo Phú Quốc thành một dải hẹp dài 6km theo phương bắc - nam (từ Dương Tơ đến gần mũi Tao Rũ), bắc sân bay An Thới… Thành phần gồm cát hạt mịn, hạt vừa màu xám vàng, xám sáng với thạch anh chiếm 94-98%,
có thể sử dụng làm cát xây dựng, nguyên liệu thủy tinh, bao bì
Chiều dày các trầm tích tuổi Holocen thượng, phần dưới khoảng 5m
Các trầm tích tuổi Holocen thượng, phần trên
Trầm tích biển (mQ232): phân bố dọc bãi biển hiện đại, thường xuyên chịu tác động của thủy triều Thành phần tùy thuộc vào nguồn cấp Đảo Phú Quốc và một số đảo khác chủ yếu là cát lẫn ít sỏi sạn và vỏ sò Ven biển từ Hòn Đất đến Hòn Chông thành phần là bột sét lẫn cát màu xám sẫm Chiều dày thay đổi khoảng 1-4m
Trầm tích sông (aQ23
2): phân bố dọc các dòng sông, suối trên đảo Phú Quốc và một vài nơi khác Thành phần chủ yếu là bột, sét đôi chỗ có cát, sạn Chiều dày thay đổi khoảng 1-4m
Các thành tạo của phức hệ này gồm 2 pha xâm nhập và 1 pha đá mạch:
Pha 1 (J3đq1): lộ hạn chế ở sườn đông nam núi Cô Tô, rải rác dưới dạng thể tù
ở sườn tây nam núi Cấm Thành phần thạch học: diorit, diorit pyroxen hạt nhỏ đến vừa, đôi khi là gabrodiorit
Pha 2 (J3đq2): là pha xâm nhập chính, phân bố khu vực núi Cô Tô, rải rác phía bắc Tri Tôn, khu vực Hòn Đất, Hòn Me Thành phần thạch học: granodiorit horblend, monzonit thạch anh hạt vừa
Pha đá mạch (J3đq): diorit porphyr, spesartit, aplit dày từ vài cm đến 1m,
phát triển ở Hòn Đất và tây nam núi Cấm
Thường bị skarn hóa tạo magnetit và felspat kali hóa dưới tác dụng xâm nhập của phức hệ Đèo Cả Đới biến chất ngoại tiếp xúc rộng hàng chục mét thành tạo đá sừng thạch anh- biotit (vây quanh là đá trầm tích) và đá sừng plagioclas - pyroxen - biotit - felspat kali (đá vây quanh là phun trào trung tính) Phức hệ này xuyên qua các
Trang 26trầm tích lục địa hệ tầng Dầu Tiếng, đá phun trào andesit hệ tầng Đèo Bảo Lộc và chúng bị xâm nhập phức hệ Đèo Cả cắt qua nên bị đồng hóa và biến đổi mạnh
1.4.3.2 - Phức hệ Đèo Cả ( --Kđc)
Lộ thành những khối nhỏ từ 1km2 đến 10km2, phân bố ở Nhà Bàng, bắc Tri Tôn, Hòn Sóc, Hòn Me
Các thành tạo của phức hệ gồm 3 pha xâm nhập và 1 pha đá mạch:
Pha 1 (Kđc1): có diện lộ hẹp tạo thành đới dài 1,5km, rộng 700-800m dưới dạng thể sót ở nam núi Ba Rạch Thành phần thạch học: diorit, monzodiorit hạt vừa màu xám lục Thành phần khoáng vật: plagioclas bị sét - sericit hóa, microlin - orthoclas, pyroxen bị amphibol hóa, biotit, magnetit, apatit Chúng bị kiềm hóa rất mạnh trở thành màu phớt hồng tạo cho đá có kiến trúc dạng porphyr với ban tinh felspat kali có kích thước đến vài cm, rất tự hình, sắp xếp lộn xộn, đôi khi có định hướng, trong đá bị kiềm hóa này còn sót lại thể tù thành phần diotit Các mạch granit hạt nhỏ màu hồng xuyên qua chúng
Pha 2 (-K đc2): là pha xâm nhập chính của phức hệ, phân bố núi Ốc Gian, tây bắc núi Cấm, núi Tượng, rải rác quanh khu vực Nhà Bàng, Hòn Sóc, Hòn Me Thành phần thạch học: granit, granosyenit biotit hạt vừa, màu hồng, đôi khi có dạng porphyr yếu Thành phần khoáng vật: plagioclas, felspat kali, thạch anh, biotit, khoáng vật phụ (magnetit, apatit)
Pha 3 (Kđc3): phân bố tây bắc núi Cấm Thành phần thạch học: granit hạt nhỏ chứa ít biotit, đôi khi có dạng porphyr, màu xám sáng phớt hồng
Pha đá mạch (Kđc): granit aplit, pegmatit và granit porphyr
Biến đổi phát triển mạnh mẽ là quá trình kiềm hóa (felspat kali hóa)
1.4.3.3 - Phức hệ Cà Ná (K 2cn 2 )
Lộ với diện tích nhỏ khoảng 1km2 ở Trà Sư (Nhà Bàng) Thành phần tương đối đồng nhất là granit hạt nhỏ sáng màu, dạng porphyr yếu, ít biotit, thường gặp các ổ pegmatit kích thước nhỏ có các hạt quặng sulfur màu vàng kim dạng xâm tán, ở các đới bị felspat kali hóa thường gặp các ổ pegmatit 2-3dm chứa molybden Các đá bị biến đổi sau magma mạnh mẽ: felspat kali hóa, thạch anh hóa
1.4.4 - Địa mạo - Kiến tạo
1.4.4.1 - Địa mạo
Phần đất liền vùng Hà Tiên- Kiên Giang mang tính chất của một vùng đồng bằng ven biển rộng lớn với dải núi sót ven biển từ Hà Tiên đến Hòn Chông Độ cao tuyệt đối thay đổi từ 0m (đường bờ biển) đến 207m (núi Rạch Đùng) nhưng phổ biến ở
độ cao 10-60m Đặc điểm nổi bậc nhất về địa mạo là sự tồn tại của các khối núi đá vôi vùng ven biển Hà Tiên-Kiên Lương với các dạng địa hình karst độc đáo Đây là khu vực duy nhất ở miền nam nước ta có dạng địa hình này Hầu hết các khối núi đều có
Trang 27đỉnh lởm chởm, sườn núi dốc với góc dốc khoảng 60-70o, đôi chỗ dốc đứng, lớp phủ thực vật thưa thớt, chủ yếu là cây bụi thấp và có 2 dạng địa hình karst khá phát triển là:
- Hang động karst: có hình thái đa dạng gồm hang nằm ngang với mặt đồng bằng (chân núi), hang treo, hang có 1 cửa, hang xuyên ngang… ở 3 mức độ cao chủ yếu: (1) Mức hang karst cao 2-3m phổ biến nhất, gặp hầu hết ở các núi đá vôi, tiêu biểu là hang ở chân núi Chùa Hang Đây là hang xuyên ngang có 2 cửa hướng 220o và
320o, dàikhoảng 50-70m, rộng 8-10m, phần trung tâm rộng đến 15m, cao 2,5-3m, phần giữa hang có khe nứt thông lên đỉnh núi, trên thành và trần có nhũ đá với xác vỏ
sò bám vào; (2) Mức hang cao 15-20m ít phổ biến hơn, chúng phân bố ở sườn các khối núi đá vôi Tại núi Đá Dựng, trên sườn cao 15-20m lộ hang karst thuộc loại hang xuyên ngang, cửa hang hướng đông nam (160o), dài 15-20m, rộng 2-3m, cao 3-4m, phần trung tâm cao đến 5-6m; và (3) Mức hang cao 40-60m ít phổ biến nhất, chỉ gặp ở một số khối núi đá vôi, tiêu biểu có hang núi Thạch Động Hang này có 2 ngách nối với nhau, phương cửa chính 70o và có 3 cửa phụ Đoạn trung tâm của hang dài 30-40m, rộng 8-10m, cao gần 20m, trên trần có nhiều khe nứt được mở rộng, kích thước vài chục cm đến 1m, là kết quả của quá trình hòa tan và rửa lũa của đá vôi
- Ngấn nước biển cổ: dấu vết ngấn nước biển cổ phổ biến hầu hết chân và sườn các khối núi đá vôi trong vùng Các ngấn nước biển cổ này phân bố ở 3 mức độ cao: (1) 1,5-2m; (2) 2,5-3m; và (3) 3,5-4m Trong đó, phổ biến nhất nhất là ngấn nước cao 1,5-2m Tại núi Hang Cây Ớt tồn tại cả 3 ngấn nước ở các độ cao trên, trong đó ngấn nước ở độ cao 3m khoét sâu vào vách núi đến 2,6m
1.4.4.2 - Kiến tạo
Vùng nghiên cứu nằm trong phạm vi miền vỏ lục địa hình thành vào Paleozoi muộn – Mesozoi sớm, đã trải qua các giai đoạn phát triển kiến tạo vỏ cổ, kiến sinh vỏ mới và tạo lớp phủ dạng nền chủ yếu như:
- Devon- Carbon sớm: là thềm và sườn lục địa phía tây khối Indosinia tương đối yên tĩnh
- Carbon- Permi sớm: rìa lục địa tích cực và cung đảo trên đới hút chìm của mảng trong Paleotethys từ phía tây cắm vào
- Permi: môi trường yên tĩnh lắng đọng đá vôi hệ tầng Hà tiên
- Trias: khép kín hoàn toàn biển tàn dư của Paleotethys vào cuối Trias tạo các uốn nếp, đứt gãy, magma xâm nhập
- Mesozoi muộn: chế độ rìa lục địa tích cực, hình thành bồn trũng nội lục ở Phú Quốc
- Kainozoi: thuộc gờ nâng Khorat- Natuna, vùng vịnh Thái Lan sụt nhẹ trong
Đệ Tứ