Đối với các bao hàm thức vi phân nửa liên tục trên trong không gian Banach với phần lồi phải compắc yếu chứa tham số, tập hợp các nghiệm được chỉ ra là một tập compắc yếu khác rỗng phụ t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA – ĐHQG – TP.HCM
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Đình Huy
Cán bộ chấm nhận xét 1:
Cán bộ chấm nhận xét 2:
Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường đại học Bách Khoa, ĐHQG Tp.HCM ngày……….tháng ……….năm 2014 Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn Thạc sĩ gồm: 1
2
3
4
5
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV và Trưởng Khoa quản lý chuyên ngành sau khi luận văn đã được sửa chữa (nếu có)
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG TRƯỞNG KHOA
Trang 3NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngày, tháng, năm sinh: 20/05/1984 Nơi sinh: Kiên Giang
I TÊN ĐỀ TÀI:
TÍNH CHẤT TẬP NGHIỆM CỦA MỘT DẠNG BAO HÀM THỨC VI PHÂN
VÀ ỨNG DỤNG
II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:
Chương 1 Các khái niệm cơ bản giải tích đa trị và bao hàm thức vi phân
Chương 2 Tính chất tập nghiệm của một số dạng bao hàm thức vi phân
Chương 3 Ứng dụng vào bài toán điều khiển tối ưu
III NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 10/02/2014
IV NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 20/06/2014
V CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: PGS.TS Nguyễn Đình Huy
Tp.HCM, ngày…… tháng………năm 2014
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN CHỦ NHIỆM NGÀNH ĐÀO TẠO
TRƯỞNG KHOA
Trang 4Luận văn được thực hiện tại Trường Đại học Bách Khoa Tp.HCM Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ của quý thầy cô và gia đình
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy PGS TS Nguyễn Đình
Huy đã hết lòng hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới quý thầy cô giáo bộ môn Toán Ứng Dụng khoa Khoa học Ứng Dụng, những người đã đem lại cho tôi nhiều kiến thức mới và niềm đam mê nghiên cứu khoa học
Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng đào tạo Sau đại học Trường Đại học Bách Khoa Tp.HCM đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành chương trình đào tạo và an tâm học tập tại trường
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn
Tp.HCM, ngày 20 tháng 06 năm 2014
Học viên thực hiện
Nguyễn Văn Mừng
Trang 5Tôi tên là Nguyễn Văn Mừng, MSHV: 12240576, học viên cao học chuyên ngành Toán ứng dụng Trường Đại học Bách Khoa TP.HCM khóa 2012 – 2014 Tôi xin cam đoan rằng, ngoại trừ các kết quả tham khảo từ các công trình khác như đã ghi rõ trong luận văn, các công việc trình bày trong luận văn này là do chính tôi thực hiện và chưa có phần nội dung nào của luận văn này được nộp để lấy bằng cấp ở trường này hoặc trường khác
HỌC VIÊN CAO HỌC
NGUYỄN VĂN MỪNG
Trang 6Lý thuyết bao hàm thức vi phân, hay còn gọi là phương trình vi phân đa trị, là một trong những hướng nghiên cứu rất mạnh trong lý thuyết tổng quát về phương trình
vi phân hiện nay Sự xuất hiện ban đầu của lý thuyết bao hàm thức vi phân như sự mở rộng của khái niệm phương trình vi phân thường, lý thuyết này ngày càng thâm nhập mạnh mẽ vào các lĩnh vực khác nhau của toán học và các ngành khoa học khác nhờ các ứng dụng to lớn của nó
Đối với các bao hàm thức vi phân nửa liên tục trên trong không gian Banach với phần lồi phải compắc yếu chứa tham số, tập hợp các nghiệm được chỉ ra là một tập compắc yếu khác rỗng phụ thuộc vào tính nửa liên tục trên trong hàm ban đầu và các tham số Để ứng dụng kết quả này, bài toán kiểm soát tối ưu đối với một hệ thống các phương trình vi phân được nghiên cứu Sự tồn tại của nghiệm tối ưu và liên tục của hàm biên Bellman được chứng minh
Ngoài mở đầu và phần tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương: Các khái niệm cơ bản về giải tích đa trị và bao hàm thức vi phân, Tính chất tập nghiệp của một
số dạng bao hàm thức vi phân, Ứng dụng vào bài toán điều khiển tối ưu
Trang 7The theory function differential equation, also known as multi-valued differential equations, is one of the very strong research in the general theory of differential equations now The initial appearance of the theory of differential inclusion
as an extension of the concept of ordinary differential equations, this theory increasingly strong penetration into the different areas of mathematics and other sciences thanks to its wide applications
For a class of upper semicontinuous functional differential inclusions in Banach spaces with weakly compact cover right – hand side containing parameters, the set of solutions is proved to be a nonempty weakly compact set which depends upper semicontinuously on the initial funtion and parameters As an application of the obtained results, an optimal control problem for a system of functional differential equations is studied The existence of optimal solutions and the continuity of the Bellman marginal function are provided
In addition to the Introduction and references, dissertation consists of three chapters: The basic concept of multi-valued calculus and differential inclusion, collective nature of the industry involves several differential equation, Application to optimal control problem
Trang 8MỤC LỤC
Tờ nhiệm vụ luận văn Thạc sĩ
Lời cám ơn
Tóm tắt luận văn Thạc sĩ
Lời cam đoan của tác giả Luận văn
Chương 1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA GIẢI TÍCH ĐA TRỊ VÀ BAO
HÀM THỨC VI PHÂN
1.1 Ánh xạ đa trị 8
1.2 Tính nửa liên tục trên và tính nửa liên tục dưới của ánh xạ đa trị 10
1.3 Định lý điểm bất động Ky Fan 15
2 Tích phân của ánh xạ đa trị 16
2.1 Ánh xạ đa trị đo được, lát cắt đo được 16
2.2 Tích phân của ánh xạ đa trị 26
3 Khoảng cách Hausdorff 28
3.1 Không gian của những tập con đóng của không gian metric 28
3.2 Trường hợp của một không gian đều, đồng đều Hausdorff 35
3.3 Không gian các tập lồi đóng của không gian lồi địa phương 38
3.4 Tính liên tục của hàm đa trị lồi 44
Trang 9Chương 2 TÍNH CHẤT TẬP NGHIỆM CỦA MỘT SỐ DẠNG BAO HÀM THỨC VI PHÂN
1 Giới thiệu 50
2 Sự phụ thuộc của tập nghiệm vào điều kiện ban đầu 51
3 Sự phụ thuộc của tập nghiệm vào tham số 57
Chương 3 ỨNG DỤNG VÀO BÀI TOÁN ĐIỀU KHIỂN TỐI ƯU 61
Trang 10Các ký hiệu và chữ viết tắt
Trang 11
¡ tập hợp véctơ với tọa độ không âm trong ¡ n
d x khoảng cách từ điểm x đến tập
k
x x dãy véctơ x k hội tụ đến véc tơ x
theo tôpô yếu (được ký hiệu bởi )
Trang 12 )
MỞ ĐẦU
Lý thuyết bao hàm thức vi phân, hay còn gọi là phương trình vi phân đa trị,
là một trong những hướng nghiên cứu rất mạnh trong lý thuyết tổng quát về phương trình vi phân hiện nay Sự xuất hiện ban đầu của lý thuyết bao hàm thức vi phân như sự mở rộng của khái niệm phương trình vi phân thường, lý thuyết này ngày càng thâm nhập mạnh mẽ vào các lĩnh vực khác nhau của toán học và các ngành khoa học khác nhờ các ứng dụng to lớn của nó
Ta thấy rằng các vấn đề nghiên cứu trong lý thuyết phương trình vi phân thường đều đặt ra các bài toán tương tự trong lý thuyết bao hàm thức vi phân Các vấn đề được nghiên cứu nhiều nhất là vấn đề tồn tại nghiệm, các tính chất định tính
và cấu trúc của tập nghiệm, các tính chất phụ thuộc vào tham số và điều kiện ban đầu, v.v…
Lịch sử phát triển của lý thuyết bao hàm thức vi phân, trước hết phải kể đến các công trình nghiên cứu của Marchaud và Zarmemba từ những năm ba mươi, đã
đề cập đến bài toán tồn tại nghiệm và các tính chất tập nghiệm của bao hàm thức vi phân trong không gian hữu hạn chiều với vế phải là hàm đa trị có giá trị lồi và đạo hàm được hiểu theo nghĩa đạo hàm tiếp biên hoặc tựa tiếp biên Các công trình chủ yếu đặt nền móng cho sự phát triển mạnh mẽ của lý thuyết bao hàm thức vi phân như lĩnh vực nghiên cứu độc lập được công bố tập trung vào những năm 60 bởi các
Trang 13tác giả như Olech, Filippov, Plis, Wazewski và được ứng dụng vào việc nghiên cứu phương trình vi phân với vế phải là hàm gián đoạn Lý thuyết này tiếp tục được đẩy mạnh nghiên cứu trong những năm 70-80, trong hàng loạt các công trình của tác giả như Castaing, Valadier, Aubin, Callina, Tolstonogov, và các tác giả khác
Những người Việt Nam đầu tiên đi sâu nghiên cứu lý thuyết bao hàm thức vi phân là Giáo Sư Hoàng Tụy (với những công trình về điểm bất động của ánh xạ đa trị, tính ổn định của hệ bất đẳng thức suy rộng, ánh xạ đa trị lồi, ánh xạ tới hạn), Giáo sư Phạm Hữu Sách (với những công trình về ánh xạ đa trị lồi, đạo hàm của ánh xạ đa trị và ứng dụng trong lý thuyết tối ưu và điều khiển) và cố Giáo sư Phan Văn Chương (với những công trình về ánh xạ đa trị đo được, lý thuyết bao hàm thức vi phân), Phó Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Đình Huy (với những công trình về các loại tập nghiệm của bao hàm thức vi phân và ứng dụng) và nhiều tác giả khác Nguyên nhân thúc đẩy sự quan tâm nghiên cứu của tác giả đến các bài toán bao hàm thức vi phân chính là sự liên quan chặt chẽ giữa bao hàm thức vi phân và các hệ điều khiển mô tả bởi phương trình vi phân thường, mối liên hệ này được chỉ
ra bởi định lý hàm ẩn cổ điển của Filippov (1959)
Khi mới xuất hiện, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của lý thuyết điều khiển
và giải tích đa trị, lý thuyết bao hàm thức vi phân đã trở thành một trong những hướng nghiên cứu chính của lý thuyết tổng quát về phương trình vi phân Cho đến nay, lý thuyết này đã đạt được nhiều kết quả rất phong phú, đặc biệt là trong các bài toán tồn tại nghiệm và lý thuyết định tính bao hàm thức vi phân Đồng thời cũng đã đạt được nhiều kết quả đẹp đẽ về sự ứng dụng của lý thuyết này trong bài toán điều khiển tối ưu, trong lý thuyết trò chơi vi phân, bài toán kinh tế và trong nhiều ứng dụng khác
Các nghiên cứu về vấn đề tồn tại nghiệm và về lý thuyết định tính các bao hàm thức vi phân được phát triển theo hai hướng rõ rệt Đầu tiên, các nghiên cứu tập trung vào dạng bao hàm thức vi phân với vế phải lồi (tức là hàm đa trị ở vế phải
có giá trị lồi) với các công trình của Filippov (1959,1960), Plis (1965), Aubin và
Trang 14Cellina (1983), P.V.Chương (1985), v.v… Một lĩnh vực nữa không kém phần quan trọng trong lý thuyết bao hàm thức vi phân là các nghiên cứu về các tính chất của tập nghiệm, có ý nghĩa quan trọng về phương diện ứng dụng Các kết quả của Aubin và Clarke (1981), Haddad (1981), Bressan (1982), Tolstonogov (1986),… là những đóng góp đáng kể nhất trong lĩnh vực này
Trong nhiều bài toán điều khiển hệ thống, người ta thường giả thuyết rằng,
hệ đang xét được điều khiển bởi nguyên lý nhân quả, tức là trạng thái tương lai của
hệ đang xét độc lập với trạng thái quá khứ của hệ và chỉ xác định bởi hiện tại, trong trường hợp đó, các mô hình toán học của hệ được mô tả bởi phương trình vi phân thường, hoặc bởi các bao hàm thức vi phân thường Trong thực tế, nhiều vấn đề nếu không xét đến mối quan liên hệ với quá khứ sẽ không có nghĩa, chính vì lẽ đó đã xuất hiện lý thuyết phương trình vi phân với biến số lệch, hay tổng quát hơn, lý thuyết phương trình vi phân phiếm hàm, và sau đó sự ra đời tự nhiên của lý thuyết bao hàm thức vi phân phiếm hàm Lý thuyết bao hàm thức vi phân phiếm hàm là rất tổng quát, nó bao hàm cả lớp bao hàm thức vi phân có chậm và bao hàm thức vi phân thường Tuy nhiên, cho đến những năm gần đây, các kết quả thu được trong lĩnh vực này còn rất ít Tolstonogov và Finogenco (1980) cho một kết quả về bao hàm thức vi phân với vế phải Lipschitz, compact mạnh; Haddad (1981) xét bao hàm thức vi phân với vế phải compact mạnh, lồi trong không gian Hilbert; Haddad và Lasry (1983), Lavakov (1989) nghiên cứu một số tính chất định tính của tập nghiệm của bao hàm thức vi phân dạng này trong R n
Mục đích cơ bản của luận văn này là tập trung nghiên cứu các tính chất tập nghiệm của một dạng bao hàm thức vi phân phụ thuộc vào điều kiện ban đầu, tham
số và ứng dụng vào bài toán điều khiển tối ưu
Luận văn sử dụng đắc lực các công cụ của giải tích hàm, giải tích đa trị và đặc biệt sử dụng các kết quả mới nhất của lý thuyết ánh xạ đa trị đo được Các định
lý được sử dụng nhiều trong các chứng minh của luận văn là định lý điểm bất động
Trang 15Kakutani-Ky Fan, định lý Ascoli, định lý Carathéodory, định lý tách Hahn – Banach, hàm tích phân Bochner, các định lý về ánh xạ đa trị đo được v.v…
Ngoài lời nói đầu và tài liệu tham khảo luận văn được chia làm 3 chương, Chương 1 nhắc lại các khái niệm cơ bản của giải tích đa trị và bao hàm thức vi phân, Chương 2 phát biểu và chứng minh tính chất của tập nghiệm của bao hàm thức vi phân phụ thuộc vào điều kiện ban đầu và vế phải, Chương 3 trình bày những kết quả đạt được ở chương 2 ứng dụng vào bài toán điều khiển tối ưu
Chương 1
CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA GIẢI TÍCH ĐA TRỊ VÀ
BAO HÀM THỨC VI PHÂN
Trước hết, ta đưa ra một số khái niệm cơ bản để dùng vào luận văn này
1 Tính liên tục của ánh xạ đa trị
1.1 Ánh xạ đa trị
Cho X, Y là hai tập hợp bất kỳ Cho F: X ⇉ Y là ánh xạ từ X vào tập hợp gồm
toàn bộ các tập con của Y (được ký hiệu là2Y ) Ta nói F là ánh xạ đa trị từ X vào Y
Như vậy, với mỗi xX F x, là một tập hợp con của Y Không loại trừ khả năng
là với một số phần tử xX nào đó ta có F x là tập rỗng
Trang 16Ta sẽ thường sử dụng ký hiệu F: X ⇉ Y để chỉ sự kiện F là ánh xạ đa trị từ X
vào Y
Nếu với mỗi xX tập F x chỉ gồm đúng một phần tử của Y, thì ta nói F
là ánh xạ đơn trị từ X vào Y Khi đó, thay cho ký hiệu F: X ⇉ Y người ta sử dụng ký
hiệu quen thuộc F X: Y.
Định nghĩa 1.1.1: Đồ thị gphF, miền hữu hiệu domF và miền ảnh rgeF của ánh xạ
đa trị F: X ⇉ Y tương ứng được xác định bằng các công thức
Trang 17Nếu M X là một tập con cho trước thì hạn chế của F trên M là ánh xạ đa
trị F M: M ⇉ Y được cho bởi
( ) ( )
M
F x F x x M.
Định nghĩa 1.1.2: Cho F: X ⇉ Y là ánh xạ đa trị, X và Y là các không gian tôpô
1 Nếu gphF là tập đóng trong không gian tôpô tích XY , thì F được gọi là
ánh xạ đa trị đóng (hoặc ánh xạ có đồ thị đóng)
2 Nếu X và Y là các không gian tuyến tính tôpô và nếu gphF là tập lồi trong
không gian tíchXY , thì F được gọi là ánh xạ đa trị lồi
3 Nếu F x là tập đóng với mọixX , thì F được gọi là ánh xạ có giá trị
đóng
4 Nếu Y là không gian tuyến tính tôpô và nếu F x là tập lồi với mọixX ,
thì F được gọi là ánh xạ có giá trị lồi
Trang 18Định nghĩa 1.1.3: Cho F: X ⇉ Y và G: Y ⇉ Z là hai ánh xạ đa trị Ánh xạ đa trị
Trang 191.2 Tính nửa liên tục trên và tính nửa liên tục dưới của ánh xạ đa trị
Ta nhắc lại rằng một họ các tập con 2X của tập hợp X được gọi là một
tôpô trong X nếu
i) ,X;
ii) Giao của một họ hữu hạn tùy ý các tập thuộc lại là một tập thuộc ;
iii) Hợp của một họ tùy ý các tập thuộc là tập thuộc ;
Các tập thuộc được gọi là các tập mở Phần bù trong X của một tập mở
được gọi là tập đóng Tập X được trang bị một tôpô được gọi là một không gian
tôpô, và được ký hiệu bởi X, , để đơn giản hơn, nhiều khi ta chỉ viết X, nếu tôpô
đã được xác định theo một cách nào đó Nếu X d, là một không gian metric thì
ta ký hiệu bởi họ các hình cầu mở
Trang 20 , : : , ( , 0)
B x yX d y x xX
Xét các tập là giao của một số hữu hạn các tập thuộc và ta ký hiệu bởi
họ các tập có thể biểu diễn dưới dạng hợp của một họ tùy ý các tập giao như vậy, ta
có là một tôpô trên X, đó chính là tôpô tương ứng với metric d đã cho trên X
Nếu X, là một không gian tôpô và M X là một tập con tùy ý thì
U UM được gọi là vết của U trên M
Ta đã biết rằng nếu f X: Y là ánh xạ đơn trị từ không gian tôpô X vào không gian tôpô Y, thì f được gọi là liên tục tại xX nếu với mỗi tập mở V chứa
Ta nói f là liên tục ở trên X nếu nó là liên tục tại mọi điểm thuộc X Rõ ràng
nếu f là liên tục ở trên X nếu với mỗi tập mở V Y , ảnh ngược
Trang 21khác nhau: ánh xạ đa trị nửa liên tục trên và ánh xạ đa trị nửa liên tục dưới Theo Aubin và Frankowska (1990), hai khái niệm này đã được B.Bouligand và K.Kuratowski đưa ra năm 1932 Ngày nay, nhiều khi người ta dùng các cụm từ
“ánh xạ đa trị nửa liên tục trên theo Berge” và “ánh xạ đa trị nửa liên tục dưới theo Berge” để chỉ hai khái niệm này, vì chúng được khảo sát rất kỹ trong cuốn chuyên khảo của C.Berge (1959)
Cho F: X ⇉ Y là ánh xạ đa trị từ không gian tôpô X vào không gian tôpô Y
Định nghĩa 1.2.1: Ta nói F là nửa liên tục trên tại xdomF nếu với mọi tập mở
V Y thỏa mãn F x V tồn tại lân cận mở U của x sao cho
F x V x U.
Nếu F là nửa liên tục trên tại mọi điểm thuộc domF, thì F được gọi là nửa liên tục trên ở trong X.
Định nghĩa 1.2.2: Ta nói F là nửa liên tục dưới tại xdomF nếu với mọi tập mở
V Y thỏa mãn F x V tồn tại lân cận mở U của x sao cho
Trang 22Nhắc lại rằng hàm : X¡ xác định trên không gian tôpô X được
gọi là nửa liên tục dưới tại xdom, ở đó
Hàm được gọi là nửa liên tục trên tại xdom nếu với mọi 0tồn tại
lân cận mở U của x sao cho
Trang 23Định lý 1.2.1 (Định lý Weierstrass): Cho X là không gian tôpô compact Nếu
min x :xX
Nhắc lại rằng không gian tôpô X được gọi là compact nếu từ mỗi phủ mở
U A của X có thể trích ra một phủ con hữu hạn, tức là tồn tại các chỉ số
U
Giả sử X là không gian compact, X , : XR là hàm nửa liên tục dưới ở
trong X Ta cần chứng minh (2.2) có nghiệm, tức là tồn tại x sao cho
(2.4) Giả sử phản chứng: không có x nào thỏa mãn (2.4) Đặt
inf x :x X
Nếu thì ta đặt
Trang 24 U Vậy k k¥là phủ mở của X Do X là không gian compact và do k
là họ tập lồng nhau, nên k ¥ :X k Khi đó ta phải có k, trái với giả thuyết Bây giờ ta xét trường hợp ¡ Với mỗi k ¥ ta đặt
1:
Rõ ràng k k¥ là phủ mở của X (do không có xX nào thỏa mãn (2.4))
mà từ đó ta không thể trích ra một phủ con hữu hạn nào Vậy X không là không
gian tôpô compact, trái với giả thuyết Định lý đã được chứng minh xong
1.3 Định lý điểm bất động Ky Fan
Định nghĩa 1.3.1: Ánh xạ đa trị F: X ⇉ Y từ không gian metric X vào không gian
định chuẩn Y được gọi là hêmi liên tục trên tại xdomF nếu với mỗi *
pY hàm số
,.
p
C p là nửa liên tục trên tại x Ta nói F là hêmi liên tục trên ở trong X nếu nó là
hêmi liên tục trên tại mọi điểm thuộc domF
Định nghĩa 1.3.2: Cho F: X ⇉ X, ở đó X là không gian Banach, là ánh xạ có giá trị
đóng (có thể rỗng) Tập lồi K domF được gọi là một miền vững của F nếu
Trang 25 K
F x T x x K
Định lý sau đây là dạng mở rộng của định lý điểm bất động Kakutani (xem Định lý 1.3.2 dưới đây) từ trường hợp các không gian hữu hạn chiều sang trường hợp không gian vô hạn chiều
Định lý 1.3.1 (Định lý điểm bất động Ky Fan, 1972): Cho K là tập lồi, compact,
khác rỗng trong không gian Banach X Cho G: K ⇉ K là ánh xạ đa trị hêmi liên tục
trên ở trong K, có giá trị lồi, đóng, khác rỗng Khi đó, tồn tại xK sao cho
.
xG x
Chứng minh
Ta đặt F x G x x Từ các giả thuyết đặt trên G suy ra rằng F : K ⇉ X
là ánh xạ đa trị hêmi liên tục trên, có giá trị lồi, đóng, khác rỗng Ngoài ra, ta có
F x G x x K x T x (1) Với mọi xK Vì F x với mọi xK, nên từ (1) suy ra tập lồi K là
miền vững của F Theo định lý 1.3.3, tồn tại xK sao cho 0 F x Tức là tồn tại
xK sao cho xG x .
Trang 26Định lý 1.3.2 (Định lý điểm bất động Kakutani, 1941): Cho K ¡ n là tập lồi,
compact, khác rỗng Cho G: K ⇉ K là ánh xạ đa trị nửa liên tục trên ở trong K, có
giá trị lồi, đóng, khác rỗng Khi đó, tồn tại xK sao cho xG x
2 Tích phân của ánh xạ đa trị
Trong phần này trình bày các khái niệm tích phân Aumann (tích phân đa trị) Vì lát cắt đo được là cơ sở để xây dựng tích phân Aumann, nên chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ các định lý về sự tồn tại lát cắt đo được của ánh xạ đa trị Các định lý về lát cắt đo được và tích phân Aumann có vai trò quan trọng trong lý thuyết bao hàm thức vi phân (phương trình vi phân đa trị) Mọi người có thể đọc về bao hàm thức vi phân trong Aubin và Frankowska (1990), Aubin và Cellina (1984) Ứng dụng của bao hàm thức vi phân trong các vấn đề về điều khiển tối ưu được trình bày trong Clarke (1983)
2.1 Ánh xạ đa trị đo được, lát cắt đo được
Khái niệm ánh xạ đa trị đo được mở rộng một cách tự nhiên khái niệm ánh
xạ (đơn trị) đo được trong giải tích hàm Một kết quả quan trọng ở đây là định lý của von Neumann nói rằng ánh xạ đa trị đo được có giá trị khác rỗng có lát cắt đo được
Trang 27Trong suốt mục này, giả sử Y là một không gian metric đầy đủ, khả li, và
là một - đại số các tập con của tập hợp X Các tập thuộc được gọi là các tập đo
được Tập X xét với - đại số (hay cặp (X, )) được gọi là không gian đo được
Ký hiệu - đại số Borel của không gian metric Y bởi ℬ – tức là ℬ là - đại số
nhỏ nhất chứa tất cả các tập mở của Y
Nhắc lại rằng họ được gọi là một - đại số nếu nó thỏa mãn ba tính chất
sau:
Trang 28(i) X
(ii) X \A thuộc với mọi A
(iii) Hợp của một họ tùy ý gồm một số đếm được các tập thuộc là một tập
thuộc
Từ (i) - (iii) suy ra rằng và giao của một họ tùy ý gồm một số đếm
được các tập thuộc là một tập thuộc
Trang 29Định nghĩa 2.1.1 (Ánh xạ đơn trị đo được): Ánh xạ đơn trị f X: Y được gọi là
đo được nếu ta có 1
f V xX f x V là tập thuộc với mỗi tập mở V Y.
(Ảnh ngược của mỗi tập mở là tập đo được.)
Ta thấy rằng hàm số : X ¡ là đo được khi và chỉ khi với mọi ¡ tập hợp
Định nghĩa 2.1.2 (Ánh xạ đa trị đo được): Giả sử F: X ⇉ Y là ánh xạ đa trị có giá trị
đóng Ta nói F là đo được nếu với mỗi tập mở V Y ,
Trang 30Định nghĩa 2.1.3 (Lát cắt): Ánh xạ đơn trị f : XY thỏa mãn điều kiện
f x F x với mọi xX được gọi là một lát cắt của F Nếu f là ánh xạ đo được, thì ta nói nó là một lát cắt đo được của F Nếu X là tập con đóng trong không gian định chuẩn và nếu f là ánh xạ liên tục hoặc Lipschitz địa phương, thì ta nói nó là một lát cắt liên tục hoặc lát cắt Lipschitz địa phương của F
Định lý 2.1.1 (von Neumann, 1949): Cho (X, ) là không gian đo được, Y là không
gian metric đủ, khả li, và F : X ⇉ Y là ánh xạ đa trị đo được, có giá trị đóng, khác
rỗng Khi đó, tồn tại lát cắt đo được f X: Y của F
Nhận giá trị trong Y0 sao cho f k hội tụ theo điểm đến một lát cắt f của F khi
k Từ đó suy ra rằng f là lát cắt đo được cần tìm
Với mỗi xX , giả sử i i x là số tự nhiên nhỏ nhất sao cho
i,1
F x B y (1.1)
Trang 31(Vì Y0 là trù mật trong Y, với mọi yY và với mọi 0, i ¥ :yB y i,, vậy tập hợp các chỉ số i ¥ thỏa mãn (1.1) là khác rỗng, hiển nhiên trong tập đó có phần tử nhỏ nhất.) Ta đặt:
Trang 32Cố định điểm xX và chọn i ¥ sao cho xS i Ký hiệu bởi j j x số
tự nhiên nhỏ nhất sao cho
Do (1.6), số tự nhiên j j x là tồn tại và duy nhất Đặt f m1 x y j Khi
đó, lấy y là một phần tử thuộc tập hợp vế trái của (1.7), ta có
Trang 33Vậy ta đã xây dựng được ánh xạ đo được f m1:X Y nhận giá trị trong Y0
sao cho (1.4) và (1.5), với m được thế bởi m+1, nghiệm đúng
Từ (1.5) suy ra rằng, với mọi xX, dãy f k x k
¥ là dãy Cauchy Thật vậy, theo (1.5) ta có
Vậy f là lát cắt đo được của F
Trong chứng minh định lý 2.1.1, các giả thuyết sau đã được sử dụng triệt để:
(i) X là không gian metric khả li, (ii) X là không gian metric đủ, (iii) F là ánh xạ đo được, (iv) F là ánh xạ có giá trị đóng, khác rỗng
Trang 34C.Castaing đã phát hiện ra rằng nếu các điều kiện (i)-(iv) được thỏa mãn, thì
không những tồn tại một lát cắt đo được nào đó của ánh xạ đa trị F, mà còn tồn tại
một họ đếm được các lát cắt đo được f k k¥ của F sao cho
F x f x k¥ x X (1.9) Như vậy, với mỗi xX , tập giá trị f x k ¥ k( ) : của các lát cắt là trù mật trong tập F x( ) Khi đó tính chất (1.9) nghiệm đúng, thì người ta nói f k là họ đếm được các lát cắt đo được trù mật;
Định lý sau đây vừa chỉ ra sự tồn tại họ đếm được các lát cắt đo được trù mật của ánh xạ đa trị đo được, vừa khẳng định rằng tính chất đó cũng đặc trưng cho tính
đo được của các ánh xạ đa trị Ở đây cũng sẽ chứng tỏ rằng ta có thể đặc trưng tính
đo được của ánh xạ đa trị thông qua tính đo được họ hàm khoảng cách
,
xa d y F x y Y
Định lý 2.1.2 (C.Castaing, 1967): Cho (X, ) là không gian đo được, Y là không
gian metric đủ, khả li, và F: X ⇉ Y là ánh xạ đa trị có giá trị đóng, khác rỗng Khi
đó, các khẳng định sau là tương đương:
(a) F là ánh xạ đa trị đo được;
(b) Tồn tại một họ đếm được các lát cắt đo được trù mật f k k
¥ của F;
Trang 35(c) Với mỗi y Y , hàm số xa d y F x , là đo được
Chứng minh
a b Giả sử Y0y i i: ¥ là một tập con đếm được trù mật trong Y
Với mỗi k ¥ và i ¥ ta xét ánh xạ đa trị F i k, : X ⇉ Y cho bởi công thức
(Ta thấy rằng F i k, là ánh xạ cắt gọn của F Để ý thêm rằng bán kính của các
Trang 36i k,
¥ ¥ sao cho f i k, x B y , (1.11) Chọn k ¥ sao cho 1
Trang 37 b c Giả sử f k k¥ một họ đếm được các lát cắt đo được trù mật của
F Lấy tùy ý yY Với mỗi k ¥ , xét hàm số xa d y f , k x Với mọi ¡ , tập hợp
c a Giả sử rằng với mỗi y Y hàm số xa d y f , k x là đo được Khi
đó, với mỗi ¡ ta có xX d y F x: , là tập đo được Vì
xX d y F x: ,
Trang 38
U ( j 0, j) Khi đó,
là tập đo được Vậy F là ánh xạ đa trị đo được
Định nghĩa 2.1.4 (Độ đo; không gian có độ đo; độ đo đủ; độ đo - hữu hạn):
1 Ánh xạ : 0, được gọi là một độ đo dương trên - đại số
nếu với mọi họ đếm được các tập đôi một không giao nhau A k k¥, ở đó
k
A với mọi k ¥ , ta có
Trang 39 k k .
k k
2 Tập X với - đại số và độ đo dương trên (hay bộ ba (X, ,))
được gọi là không gian có độ đo
3 Ta nói là -hữu hạn nếu X là hợp của một họ đếm được các tập có độ
đo hữu hạn
4 Nếu với mọi A thỏa mãn A 0 và với mọi A* A ta có A * ,
thì ta nói rằng - đại số là - đủ (tức là đủ theo độ đo )
Trang 405 Bộ ba (X, ,) được gọi là một không gian có độ đo đủ, -hữu hạn nếu
là độ đo dương -hữu hạn và là - đủ
Cho (X, ) là không gian đo được, Y là không gian metric Như đã quy ước
từ đầu mục này, ký hiệu - đại số Borel của Y Ta xét - đại số sinh ra bởi họ
tập
{A B X Y A : , B } (1.12)