Khảo sát tại các nhà máy chế biến tôm xuất khẩu hàng đầu Việt Nam tại tỉnh Sóc Trăng, công đoạn phân cỡ tôm chiếm tới 18,4% khối lượng công việc chế biến tôm thành phẩm, tuy nhiên, thực
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHIÃ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: ĐẶNG ĐỨC QUANG, MSHV: 12040471
Năm sinh: 28/07/1983, Nơi sinh: PHÚ YÊN Chuyên ngành: Công nghệ chế tạo máy, Khóa: 2012
Đề tài luận văn:
NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ CÂN BĂNG TẢI ĐỂ
PHÂN LOẠI TÔM XUẤT KHẨU
PGS.TS THÁI THỊ THU HÀ
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS Thái Thị Thu Hà
4 TS Nguyễn Văn Giáp
5 TS Lê Thanh Danh
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV và Trưởng Khoa quản lý chuyên
ngành sau khi luận văn đã được sửa chữa (nếu có)
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG TRƯỞNG KHOA
PGS.TS Nguyễn Hữu Lộc
Trang 4MỤC LỤC
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT LUẬN VĂN iii
LỜI CAM ĐOAN iv
MỤC LỤC 1
DANH MỤC BẢNG BIỂU 3
DANH MỤC HÌNH VẼ 4
Chương 1: Mở đầu 8
1.1 Giới thiệu đề tài 8
1.2 Vai trò của con tôm trong nền kinh tế quốc dân 9
1.3 Kích cỡ của tôm và giá thành 10
1.4 Tình hình chế biến tôm trên thế giớivà Việt Nam 12
1.5 Tính cấp thiết của đề tài 17
Chương 2: Tổng quan về tình hình nghiên cứu 20
2.1 Các nghiên cứu, bằng sáng chế và bài báo 20
2.2 Các dây chuyền phân cỡđể phân loại tôm 23
2.3 Mục tiêu và nội dung luận văn 29
Trang 52.4 Phương pháp nghiên cứu 29
2.5 Ý nghĩa luận văn 29
Chương 3:Phân tích so sánh lựa chọn phương án 30
3.1 So sánh các nguyên lý làm việc của cân băng tải 30
3.2 Kết luận 34
Chương 4:Thiết kế hệ thống cân băng tải 35
4.1 Cấu trúc tổng thể hệ thống phân loại tôm theo trọng lượng sử dụng nguyên lý cân bù lực điện từ 35
4.2 Thiết kế cụm cân bù lực điện từ 36
4.3 Thiết kế băng tải cân 50
4.4 Cơ cấu cân 51
4.5Thiết kế hệ thống điều khiển 51
Chương 5: Kết luận 60
5.1 Kết quả 60
5.2 Hướng phát triển 61
5.3Danh mục công trình khoa học 61
Tài liệu tham khảo 62
Phụ lục
Phụ lục A: Bài báo Viện cơ học và tin học ứng dụng
Phụ lục B: Bản vẽ hệ thống cân
Trang 6CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Đặc điểm máy phân cỡ Roller Grader (Thái Lan) 24
Bảng 2.2 Đặc điểm máy phân cỡ Shrimp grading machine (Trung Quốc) 25
Bảng 2.3 Đặc điểm máy phân cỡ CT-1014 (Denmark) 25
Bảng 2.4 Tính năng của cân băng tải DACS-G – S015 26
Bảng 2.5 Tính năng của cân băng tải Teltek C60 27
Bảng 2.6 Tính năng của cân băng tải SW-C320 28
Bảng 3.1 So sánh các công nghệ cân phân loại theo trọng lượng 33
Bảng 4.1 Các thông số cơ cấu cân bù lực điện từ 38
Trang 7DANH SÁCH HÌNH VẼ
Hình 1.1 Con tôm 9
Hình 1.2 Các sản phẩm xuất khẩu thủy sản chính năm 2013 của Việt Nam 9
Hình 1.3 Sản lượng tôm theo kích cỡ trung bình năm 2010 10
Hình 1.4 Xu hướng giá nhập khẩu tôm của Mỹ 11
Hình 1.5 Các loại tôm chính được nuôi trồng 13
Hình 1.6 Sản lượng tôm ở Châu Á 14
Hình 1.7 Giá trị xuất khẩu tôm 2009 – 2013 14
Hình 1.8 Tỷ trọng xuất khẩu tôm Việt Nam năm 2013 15
Hình 1.9 Thị phần của tôm Việt Nam tại Nhật Bản trong năm 2010 16
Hình 1.10 Thị phần tôm Việt Nam tại Hoa Kỳ trong năm 2010 16
Hình 1.11 Quy trình chế biến tôm 17
Hình 2.1 Patent US3770123 21
Hình 2.2 Patent US5064400 21
Hình 2.3 Patent US5367128 22
Hình 2.4 Băng tải cân 23
Hình 2.5 Máy phân cỡ Roller Grader (Hãng Patkol) 24
Hình 2.6 Máy phân cỡ Shrimp grading machine (Hãng Chenguang food machinery) 24
Hình 2.7 Máy phân cỡ CT-1014 (Hãng Carnitech) 25
Hình 2.8 Cân băng tải DACS-G – S015 26
Hình 2.9 Cân băng tải Teltek C60 27
Hình 2.10 SW-C320 check weigher 28
Trang 8Hình 3.1 Loadcell 30
Hình 3.2 Cấu trúc strain gauge 30
Hình 3.3 Mạch cầu Wheatstone một phần tư 31
Hình 3.4 Cân bù lực điện từ 32
Hình 4.1 Sơ đồ khối hệ thống phân loại băng tải 35
Hình 4.2 Sơ đồ khối của hệ thống cân 36
Hình 4.3 Mô hình vật lý hệ thống cân 37
Hình 4.4 Hệ lò xo và giảm chấn 39
Hình 4.5 Khối lượng m, M 39
Hình 4.6 Mô hình toán học hệ thống cân bù lực điện từ 40
Hình 4.7 Lực F 40
Hình 4.8 Khoảng dịch chuyển của x 41
Hình 4.9 Khoảng dịch chuyển xL 41
Hình 4.10 Cơ cấu cân bù lực điện từ 42
Hình 4.11 Module Solidworks Simulation và Phân tích bài toán tĩnh (Static)43 Hình 4.12 Cụm cân 44
Hình 4.13 Gán vật liệu cho cụm cân 44
Hình 4.14 Vùng tiếp xúc hai chi tiết 45
Hình 4.15 Chia lưới cụm cân 45
Hình 4.16 Vị trí đặt lực F 46
Hình 4.17 Ngàm tại đế cân 46
Hình 4.18 Kết quả chuyển vị 47
Hình 4.20 Khoảng cách khe hở trên thân đỡ 47
Trang 9Hình 4.20 Kết quả chuyển vị tại dầm cân bằng 48
Hình 4.21 Kết quả chuyển vị tại cuộn cảm 48
Hình 4.22 Khối lượng cơ cấu cân 49
Hình 4.23 Cụm cân 50
Hình 4.24 Cơ cấu cân bù lực điện từ 51
Hình 4.25 Lắp ráp hệ thống cân 51
Hình 4.26 Sơ đồ điều khiển hệ thống 52
Hình 4.27 Dao động và khử dao động 54
Hình 4.28 Giá trị khối lượng tôm 57
Hình 4.29 Sơ đồ thuật toán 58
Hình 4.30 Sơ đồ mạch điện tử 59
Hình 5.1 Lắp ráp cơ khí 61
Trang 10CHỮ VIẾT TẮT
EU European Union
FAO Food Agriculture Organization of the United Nations
GOAL Global Outlook for Aquaculture Leadership
ISO International Standard Organization
VASEP Vietnam Association of Seafood Exporters and Producers
Trang 11Chương 1:MỞ ĐẦU
Chương này giới thiệu đề tài luận văn, nêu bật vai trò của con tôm trong nền kinh
tế quốc dân và điểm qua tình hình chế biến tôm trên thế giới và Việt Nam Trình
bày tầm quan trọng của nhu cầu cơ khí hóa và tự động hóa quá trình phân cỡ tôm
xuất khẩu
iới thiệu đề tài
Trong những năm gần đây, chế biến và xuất khẩu tôm đã trở thành một bộ phận
quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu đến
2013 chỉ đứng sau gạo trên cả cá tra, vươn lên thành quốc gia xuất khẩu tôm đứng
hàng thứ 3 thế giới Theo hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam
(VASEP), năm 2013, Việt Nam xuất khẩu thủy sản đạt gần 6,7tỷ USD, trong đó
xuất khẩu tôm thu về 3,1 tỷ USD Xuất khẩu tôm chiếm 46% kim ngạch xuất khẩu
thủy sản của cả nước Mười thị trường nhập khẩu tôm chính của Việt Nam gồm Mỹ,
Nhật Bản, EU, Trung Quốc, Australia, Canada, Đài Loan và ASEAN [1]
Xuất khẩu tôm tăng mạnh đặt ra yêu cầu rất lớn về nguồn nhân lực lẫn chất
lượng sản phẩm Khảo sát tại các nhà máy chế biến tôm xuất khẩu hàng đầu Việt
Nam tại tỉnh Sóc Trăng, công đoạn phân cỡ tôm chiếm tới 18,4% khối lượng công
việc chế biến tôm thành phẩm, tuy nhiên, thực tế hiện nay các nhà máy chế biến
tôm sử dụng chủ yếu nhân công để thực hiện việc phân cỡ tôm thì sự tăng nhanh
của sản lượng tôm sẽ kéo theo yêu cầu tăng số lượng nhân công và mức độ quản lý
chất lượng cao hơn, điều này sẽ rất khó thực hiện với giá nhân công ngày càng tăng
cao và nguồn nhân lực đang khan hiếm
Từ thực tế đó, đề tài nghiên cứu thiết kế máy phân cỡ tôm có khả năng thay thế con người trong quá trình phân cỡ được đặt ra để giải quyết vấn đề về nguồn lao
động trong qui trình chế biến tôm xuất khẩu nhưng vẫn đảm bảo cho năng suất cao,
đồng thời chất lượng cũng như an toàn vệ sinh thực phẩm trong công đoạn phân cỡ
tôm cũng được đảm bảo
Trang 121.2 Vai trò của con tôm trong nền kinh tế quốc dân
Những năm qua thủy sản liên tục là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta Trong đó chế biến thủy sản đóng vai trò quan trọng trong chiến lược
phát triển thủy sản nước nhà Lượng hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam ra thị
trường ngày càng gia tăng cả số lượng cũng như chất lượng
Hình 1.1: Con tôm
Thống kê từ Hải quan cho thấy, năm 2013, Việt Nam xuất khẩu tôm sang 88 thị trường trên thế giới, thu về 3,1 tỷ USD, tăng 39,1% so với năm 2012 Xuất khẩu
tôm tăng mạnh không chỉ bù đắp cho sự tăng giảm trong xuất khẩu những mặt hàng
thủy sản khác và còn giúp xuất khẩu thủy sản nói chung vượt mục tiêu 6,5 tỷ USD
đã đề ra và đạt trên 6,7 tỷ USD, tăng 9,7% so với năm 2012 Xuất khẩu tôm chiếm 46% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước [1]
Nguồn: VASEP 2014
Hình 1.2: Các sản phẩm xuất khẩu thủy sản chính năm 2013 của Việt Nam
Trang 13Về phía cơ quan quản lý nhà nước thì ngày 16/8/2013, tại Quyết định số 1445/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển
thủy sản đến năm 2020, tầm nhìn 2030 Nội dung chủ yếu là thực hiện công nghiệp
hóa vào năm 2020, hiện đại hóa vào năm 2030 ngành chế biến thủy sản xuất khẩu
để đạt được mục tiêu là tăng trưởng 7-8%/ năm
1.3 Kích cỡ của tôm và giá thành
Tôm là một sản phẩm được giao dịch theo kích thước và chủng loại, sản phẩm
tôm dao động từ 20 con / kg đến 70 con / kg Tôm có kích thước lớn hơn sẽ cho giá
cao hơn Năm 2010, tôm với kích thước 31- 40 con / kg được nuôi nhiều nhất trên
thế giới với khoảng 23% Xếp hạng thứ hai là khoảng 41- 50 con / kg Tôm có kích
thước lớn hơn 26 - 30 con / kg chiếm khoảng 16% Kích cỡ tôm lớn của nhỏ hơn 20
con / kg ít nuôi do giá thành cao và ưu tiên cho xuất khẩu sang thị trường nhập khẩu nghiêm ngặt như Mỹ chiếm 18% khối lượng nhập khẩu (Hình 1.3)
Theo đó, kích thước của tôm nuôi phụ thuộc vào nhu cầu của khách hàng Sản xuất tôm theo kích cỡ của thế giới thể hiện trong hình 1.3
Hình 1.3: Sản lượng tôm theo kích cỡ trung bình năm 2010
Trang 14Giá tôm trên thị trường thế giới đều dựa trên giá của ba thị trường nhập khẩu chính, cụ thể là Mỹ, Nhật Bản và EU
Ngoài các yếu tố khối lượng cung, giá tôm cũng bị ảnh hưởng mạnh bởi tiền
tệ, tỷ giá hối đoái của các nước nhập khẩu, bệnh tôm và vấn đề môi trường trong
nước sản xuất, và các sự kiện bất ngờ như cuộc khủng hoảng kinh tế hay thiên tai
Ví dụ, giá tôm tại thị trường Mỹ đã giảm 39% từ 11,58 USD / kg vào tháng Tám năm 2007 còn 7,04 USD / kg vào tháng Tám năm 2009 (Hình 1.4) Việc tăng
thuế chống bán phá giá tôm Thái Lan đã làm cho giá nhập khẩu tôm vào Mỹ tăng
31% trong tháng Giêng năm 2009 (10,71 USD / kg) so với tháng 8 năm 2008 (7,38 USD / kg)
Từ năm 2010, cuộc khủng hoảng kinh tế dường như đã giảm bớt và nhu cầu tiêu thụ tôm đã tăng mạnh hơn Hiện tại, nguồn cung tôm cho thị trường thế giới bị giảm do sự việc giảm sản lượng trước đó của nhiều quốc gia do giá thấp trong năm
2008 và 2009 Giá tôm bắt đầu tăng trở lại trong tháng 10 năm 2010 (8,02 USD /
kg) và tháng Hai năm 2012 (8,37 USD / kg).[2]
Hình 1.4: Xu hướng giá nhập khẩu tôm của Mỹ
Trang 151.4 Tình hình chế biến tôm trên thế giới và Việt Nam
1.4.1 Tình hình chế biến tôm trên thế giới
Tôm là một trong những loại thủy sản phổ biến nhất trên thế giới Nuôi tôm
xuất hiện trên thế giới từ nhiều thế kỷ trước, nhưng loại hình sản xuất hiện đại của
nó chỉ bắt đầu vào những năm 1930 sau khi các nhà nghiên cứu Nhật Bản,
Motosaku Fujinaga, thực hiện nghiên cứu của ông trên ao nuôi từ ấu trùng tôm
kuruma (Penaeus japonicus) (Shigueno, 1975; Weidner và Rosenberry, 1992) Với
sự phát triển của công nghệ, sản xuất ấu trùng tôm được thực hiện đầy đủ vào năm
1964 để đáp ứng nhu cầu con giống cho tôm nuôi trong đó tạo ra một sự bùng nổ
trong sự phát triển của ngành vào những năm 1990 (Rosenberry, 1998) Do đó, các
trang trại nuôi tôm đang được xây dựng sau đó để đáp ứng nhu cầu tôm trên thế giới
với khoảng năm triệu tấn tôm sản xuất hàng năm (WFF, 2010) [2]
Có hai khu vực chính để nuôi tôm trên thế giới, phương Tây và phương Đông
Phương Tây bao gồm các nước Latin như Brazil và Ecuador Phương Đông bao
gồm các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines, Việt
Nam, Bangladesh và Ấn Độ
Trong khi phương Tây thống trị sản xuất tôm thẻ chân trắng (Penaeus
vannamei), còn phương Đông sản xuất cả tôm sú (P monodon) và tôm thẻ chân
trắng (Wyban, 2009) Theo FAO, tôm thẻ chân trắng là loại tôm được nuôi nhiều
nhất trên toàn thế giới với khoảng 39% Tôm sú đứng thứ hai với khoảng 17%
(Hình 1.5) Nuôi tôm là lĩnh vực sản xuất thực phẩm phát triển nhanh nhất trong
những năm gần đây, tôm bổ sung chất đạm cho người và bổ sung phong phú cho
nguồn động vật thủy sản hoang dã [2]
Theo Fuchs cùng các cộng sự (1999) và Rosenberry (1998), Châu Á dẫn đầu
trong lĩnh vực nuôi tôm, chiếm gần 80% sản lượng tôm thế giới Đa số tôm nuôi
được xuất khẩu sang Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu và Nhật Bản.Sự phát triển của sản
xuất tôm đã tạo ra thu nhập đáng kể cho các nước đang phát triển và phát triển, đặc
Trang 16biệt là ở châu Á và châu Mỹ Tôm sẽ trở thành một sản phẩm xuất khẩu chiến lược
vì giá trị xuất khẩu cao của nó cho nhiều quốc gia như Việt Nam, Thái Lan,
Indonesia, Bangladesh và Ấn Độ
Hình 1.5: Các loại tôm chính được nuôi trồng
Bên cạnh những đóng góp to lớn của nó đến nền kinh tế thế giới, sự phát triển
nhanh chóng của ngành tôm cũng đã tạo ra nhiều tác động tiêu cực mà không có
giải pháp khắc phục như ô nhiễm nước, bệnh tôm, và các hộ gia đình bị mất kế sinh
nhai (Theo The Third World Network, năm 2012) [2]
1.4.2 Tình hình chế biến tôm ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước sản xuất tôm hàng đầu thế giới Sự phát triển của nghề nuôi tôm ở Việt Nam đã bị ảnh hưởng mạnh bởi sự mở rộng của tôm
nuôi trồng thủy sản trong khu vực ven biển châu Á trong những năm 1990 Ngoài
việc là một nước xuất khẩu gạo, Việt Nam cũng chuyển sang định hướng xuất khẩu
thủy sản và nhanh chóng thay đổi để trở thành một trong mười nhà xuất khẩu tôm
hàng đầu thế giới
Nuôi tôm đã đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế của Việt Nam
Nó đứng thứ ba trong số các lĩnh vực kinh tế trọng điểm nông nghiệp của đất nước
sau gạo và cá tra.Tổng khối lượng xuất khẩu tôm đạt 240.985 tấn, trị giá 2,1 tỷ
Trang 17USD vào năm 2010 So với năm 2005, khối lượng xuất khẩu trong năm 2010 tăng
51% và giá trị xuất khẩu tăng 53,6% Trong năm 2011, giá trị xuất khẩu đạt 2,4 tỷ
USD, tới năm 2013 đạt 3,1 tỷ USD (hình 1.7)
Hình 1.6: Sản lượng tôm ở Châu Á
Nguồn: VASEP 2014
Hình 1.7: Giá trị xuất khẩu tôm 2009 – 2013
Trang 18Tôm được xuất khẩu sang 88 quốc gia trên thế giới trong năm 2013 Nhật Bản, Mỹ, EU, Canada, Trung Quốc, Australia, Đài Loan và Asian là những thị trường lớn đối với tôm xuất khẩu từ Việt Nam
Mỹ là thị trường lớn nhất đối với tôm xuất khẩu của Việt Nam với khoảng 26,7% Nhật Bản đứng thứ hai, chiếm 22,8% tổng kim ngạch xuất khẩu tôm của
Việt Nam Tiếp theo là EU với khoảng 13,1%, và Trung Quốc với 12,2%
Nguồn: VASEP 2014
Hình 1.8: Tỷ trọng xuất khẩu tôm Việt Nam năm 2013
Ở thị trường Nhật Bản nơi mà Việt Nam là nhà cung cấp lớn nhất trong năm
2011, khoảng 20,43% tôm được bán trên thị trường có xuất xứ Việt Nam (Hình
1.9) Giá trị của tôm xuất khẩu sang nước này khoảng 607 triệu USD trong năm
2011
Ở Mỹ, Việt Nam xếp hạng tư sau các nhà xuất khẩu tôm lớn nhất như Thái Lan, Indonesia và Ecuador Thị phần của tôm Việt Nam là khoảng 8,89% trong năm
2010 (Hình 1.10) Năm 2011, tôm xuất khẩu sang Mỹ đã đóng góp 558 triệu USD
cho nền kinh tế của đất nước So với năm 2010, khối lượng xuất khẩu tăng khoảng
1,3% Tăng nhẹ trong nhu cầu được thể hiện bằng sự gia tăng trong giá tôm tại thị
trường này mang lại giá trị cao hơn cho tôm Việt Nam
Hiện nay, có hơn 300 nhà máy chế biến tại Việt Nam liên quan đến kinh doanh tôm, trong đó 60 công ty lớn chiếm hơn 80% giá trị xuất khẩu Trong năm
Trang 192010, khoảng 100 nhà máy chế biến đạt giá trị xuất khẩu 2 triệu USD trong khi tổng
giá trị của các phần còn lại chiếm khoảng 78.460.000 USD và 15.212 tấn xuất khẩu (VASEP, năm 2011)
Hình 1.9: Thị phần của tôm Việt Nam tại Nhật Bản trong năm 2010
Hình 1.10: Thị phần tôm Việt Nam tại Hoa Kỳ trong năm 2010
Trang 20Minh Phú, Quốc Việt, UTXI, STAPIMEX, CAMIMEX, FIMEX, Phương Nam, Việt Nam fishone, SEA Minh Hải là mười công ty xuất khẩu tôm hàng đầu tại
Việt Nam
1.5 Tính cấp thiết của đề tài
Nguồn: www.fimexvn.com
Hình 1.11: Quy trình chế biến tôm
Để có thể xuất khẩu được, tôm phải được phân loại theo trọng lượng thành 7 cỡ với trọng lượng khoảng từ 14 đến 80 g/con trước khi thực hiện công đoạn khác
Cho đến nay, việc chế biến tôm tại các nhà máy chế biến thủy sản hầu hết thủ công,
dựa trên sức người là chính đã gây ra nhiều hạn chế như: năng suất không cao, tỉ lệ
thu hồi thành phẩm không cao, chất lượng không cao, dễ gây nhiễm vi sinh, chi phí
sản xuất lớn, tốn nhiều công nhân và chi phí, tốn diện tích mặt bằng, môi trường
làm việc ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe người lao động, tất cả các lý do trên
làm tăng giá thành sản phẩm dẫn đến không mang lại tính cạnh tranh cao cho sản
Trang 21phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường thế giới Trước tình hình này, chính phủ cũng đã có phê duyệt quy hoạch phát triển thủy sản Việt nam đến năm
2020 và tầm nhìn đến 2030, trong đó có nêu rõ những giải pháp về khoa học công
nghệ để cải thiện chất lượng thủy sản xuất khẩu, mà cụ thể là nghiên cứu thiết kế
chế tạo các máy móc mang tính cơ khí hóa và tự động hóa cao ứng dụng vào các
khâu của quy trình chế biến tôm nhằm tăng năng suất, giảm sức lao động, hạ giá
thành … đây là yêu cầu cấp thiết hiện nay để tạo lợi thế cho doanh nghiệp, giảm áp lực nhân công lao động khi mùa vụ đến ở các khâu trong quy trình chế biến như:
• Công ty CPTP Sao Ta : 3.000 người
• Công ty CP Thủy sản Sóc Trăng: 3.500
• Công ty CPTS Sạch Việt Nam: 2.500
• Công ty CP Thủy sản UT XI: 2.800
• Công ty Chế biến thủy sản Phương Nam: 1.000
• Công ty chế biến thủy sản Ngọc Thu: 800
• Công ty thủy sản Incomfish: 2.000
• Công ty thủy sản Minh Phú: 10.000
• Công ty thủy sản Camimex: 4.000
Trang 22Do đó, vấn đề tiếp cận, làm chủ, tự thiết kế chế tạo cân băng tải để cân định lượng tôm là cần thiết và mang tính thực tiễn Mục đích của nghiên cứu này nhằm
thiết kế, chế tạo thử nghiệm cân băng tải để cân tôm với các yêu cầu sau:
- Cân được tôm với các kích thước từ 14 đến 80 gram,
- Độ chính xác (3σ): ± 0,2 g
- Năng suất của hệ thống có thể đạt đến: 150 con/phút
- Màn hình hiển thị trọng lượng từng con tôm
Tuy nhiên, việc thiết kế chế tạo cân băng tải để phân loại tôm hiện nay gặp nhiều khó khăn như sau cần đáp ứng: là hệ thống cân động, cân được những vật có trọng lượng nhỏ (từ vài gram trở lên) với độ chính xác rất cao và phải đạt năng suất cao
Trên thị trường hiện nay, đã có các máy phân cỡ tôm do nước ngoài sản xuất Tuy nhiên, giá thành máy nhập khẩu cao; chi phí phụ tùng nhập khẩu cao Rất khó
khăn cho doanh nghiệp nếu phải đầu tư máy trong tình hình kinh tế hiện nay
Ở Việt Nam, hiện tại cân băng tải chưa được sử dụng nhiều trong việc phân
cỡ tôm và cũng đã có nhiềucông trình nghiên cứu chế tạo cân băng tải tuy nhiên
năng suất chưa cao (30 con/phút) Do đó, để đáp ứng khả năng tự động hóa dây
chuyền phân loại tôm theo trọng lượng như hiện nay thì việc nghiên cứu và đưa vào
ứng dụng thực tế sẽ giảm chi phí nhân công và đẩy mạnh năng suất, từ đó giảm giá
thành của sản phẩm Cũng giống như các nước phát trên thế giới, tự động hóa đã dần như thay thế vai trò của lao động thủ công
Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu thiết kế cân băng tải để phân loại tôm xuất
khẩu với độ chính xác ± 0,2 gram” nhằm giải quyết những vấn đề hiện nay trong
lĩnh vực phân cỡ tôm xuất khẩu hiện nay
Trang 23Chương 2: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương này nêu ra tổng quan tình hình nghiên cứu hệ thống phân cỡ tôm
trong và ngoài nước Phân tích các công trình liên quan đã được công bố Mục
đích và nội dung nghiên cứu cũng được làm rõ.Chương này cũng nêu ý nghĩa
khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Cân băng tải cân các sản phẩm đang di chuyển qua trên một dây chuyền sản xuất, là một phần của máy phân cỡ
Ưu nhược điểm của cân băng tải:
Hiện tại, cân băng tải được áp dụng vào rất nhiều lĩnh vực cân phân loại
như: xi măng, hộp sữa bột, thuốc y tế, … và cân phân loại tôm
2.1 Các nghiên cứu, bằng sáng chế và bài báo
2.1.1 Ở ngoài nước
Cho đến nay, đã có các công trình nghiên cứu phân loại tôm đã được công
bố Trong đó, một số tác giả sáng chế hệ thống phân loại tôm dựa theo kích thước
như các tác giả Joseph Mraz [7], Stipe [8]
Trang 24Thiết bị phân loại tôm theo kích thước ở hình 2.1 sử dụng các cặp trục quay hình trụ với kích thước đường kính giảm dần Các cặp trục quay này được gắn song
song với nhau theo chiều dốc hướng từ trên xuống và được xoay theo hướng ngược
lại để tôm có thể di chuyển đến đúng khu vực có kích thước tương ứng Băng tải
cấp liệu điều chỉnh tỷ lệ cấp liệu tôm tới các trục quay
Hình 2.1: Patent US3770123 [7]
Trang 25Hình 2.2: Patent US5064400 [8]
Cơ cấu phân loại tôm ở hình 2.2 sử dụng băng tải phân loại tôm Băng tải có thể phân loại tôm thành nhiều cỡ nhờ các rãnh di động có các khe hở bên dưới với
các kích thước phân loại từ nhỏ đến lớn Tôm nhỏ hơn so với một phạm vi kích
thước chọn trước sẽ rơi qua khe trong khi tôm với kích thước lớn hơn sẽ được giữ
chặt phần đầu và phần thân, sau đó được đưa đến các phân đoạn phân loại tiếp theo
của băng tải để tôm rơi vào đúng khe kích thước của nó
Tuy nhiên, các hệ thống phân loại tôm theo kích thước cho sai số lớn nên không đạt yêu cầu về việc phân loại tôm xuất khẩu
Năm 1990, các tác giả (Hideya Fujimoto, Kazuhiko Horikoshi, Kunio Kikuchi, Osamu Tanaka, Fumihiro Tsukasa) đã phát minh ra hệ thống cân bằng
điện tử đáp ứng nhanh và được thương mại hóa bởi công ty Anritsu Corporation
Theo đó, một hệ thống cân điện tử bao gồm một đĩa cân / đòn cân (15) có chức năng đối trọng vật thể cân đặt trên đĩa cân Một cuộn dây điện từ (9) tạo ra
một lực điện từ để bù đắp sự dịch chuyển của đòn cân (15) gây ra bởi trọng lượng
của vật thể cần cân Cảm biến vị trí (3, 4, 5) phát hiện sự dịch chuyển của đòn cân
(15) Một bộ chuyển đổi dòng điện (7) điều khiển điện áp để đáp ứng với các tín hiệu phát hiện truyền từ các cảm biến vị trí (3, 4, 5) Mạch chuyển đổi dòng điện
(20) tạo ra dòng điện để cung ứng cho thiết bị (7) và cho các cuộn dây điện từ (9) Máy tính (24) tính toán trọng lượng của các vật thể từ điện áp ra của mạch chuyển đổi dòng điện (20)
Trang 26Hình 2.3: Patent US5367128 [9]
2.1.2 Ở trong nước
Ở Việt Nam đã có những nghiên cứu về hệ thống cân băng tải để phân loại tôm theo trọng lượng nhưng đang gặp phải nhiều khó khăn trong việc thiết kế, chế tạo, điển hình như các tác giả Trần Thanh Hùng, Nguyễn Huỳnh Anh Duy và Lý Thanh Phương [10] đã sử dụng loadcell trong mô hình phân loại tôm (năng suất 30con/phút) Tôm được di chuyển qua cảm biến ở tốc độ cao qua một băng tải ngắn
Toàn bộ băng tải, bao gồm cả khung và bộ phận động lực, được gắn lên một cảm
biến trọng lượng (gọi tắt là băng tải cân) (Hình 2.4) Một đầu cân (signal
conditioner and reader) được sử dụng để đọc số liệu từ cảm biến trọng lượng và
truyền về bộ điều khiển Để giảm thiểu sai số, toàn bộ băng tải và bộ phận động lực được thiết kế sao cho tổng khối lượng là nhỏ nhất
Trang 27Hình 2.4: Băng tải cân (dài 445 mm, rộng 252 mm, tốc độ di chuyển 39 mm/s)
Tuy nhiên các tác giả khẳng định cần phải tìm một loại cảm biến khác mới
đạt yêu cầu
2.2 Các dây chuyền phân cỡđể phân loại tôm
Trên thị trường đã có rất nhiều dòng sản phẩm phân cỡ để phân loại tôm và điển hình là những dòng sau:
2.2.1 Hệ thống phân cỡ tôm phân loại theo kích thước
Hình 2.5: Máy phân cỡ Roller Grader (Hãng Patkol)
Bảng 2.1: Đặc điểm máy phân cỡ Roller Grader (Thái Lan) [19]
Trang 28Công suất 2000 kg/giờ
Trang 29Công suất 1200 – 1500 kg/giờ
Hình 2.7: Máy phân cỡCT-1014 (Hãng Carnitech)
Bảng 2.3: Đặc điểm máy phân cỡ CT-1014 (Denmark)
2.2.2 Hệ thống phân cỡ tôm phân loại theo trọng lượng
Hình 2.8: Cân băng tải DACS-G – S015
Bảng 2.4: Tính năng của cân băng tải DACS-G – S015 [16]
Trang 30Khả năng cân 1500g
Thang đo tối thiểu 0.1g
Tốc độ cân* 440 items/min (max.)
Độ chính xác(3σ)* ±0.2g
Cảm biến khối lượng Double-beam load cell (high output)
Chiều dài 46 ~ 400 Chiều rộng 20 ~ 320 Kích thước vật thể cân
(mm)
Chiều cao 10 ~ 180 Tốc độ băng tải 120m/phút (max.)
Thiết kế Tiêu chuẩn : IP30
Trang 31Hình 2.9: Cân băng tải Teltek C60
Bảng 2.5: Tính năng của cân băng tải Teltek C60 [17]
Khả năng cân 15 - 2500g hoặc 15 – 6000g
Tốc độ cân* 300 con/phút
Độ chính xác(3σ)* ±0.2g
Tốc độ băng tải 120m/phút (max.)
Thiết kế Tiêu chuẩn : IP66 hoặc thép không gỉ, hợp
Hệ thống điều khiển 7’ Siemens HMI và PLC
Trang 322.2.3 Nhận xét
Hệ thống phân cỡ tôm theo kích thước có các đặc điểm sau:
- Năng suất phân cỡ cao (hơn 1.000kg/giờ)
Hệ thống phân cỡ tôm theo trọng lượng có các đặc điểm sau:
- Năng suất phân cỡ thấp hơn phân cỡ theo kích thước (trung bình 150 con/phút)
- Độ chính xác cao (trung bình ± 1g)
Do đó, hệ thống phân cỡ tôm theo trọng lượng phù hợp với việc cân và phân
cỡ tôm xuất khẩu (đòi hỏi độ chính xác ±0,2 gram và năng suất 150 con/phút)
2.3 Mục tiêu và nội dung luận văn
Mục tiêu:
Nghiên cứu thiết kế, tính toán cân băng tải
Để đạt được mục tiêu đề ra cần thực hiện các nội dung sau:
Nghiên cứu tổng quan về cân băng tải hiện có trên thế giới và Việt Nam
Cơ sở lý thuyết về cân băng tải điện tử
Nghiên cứu cấu tạo cân băng tải
Tính toán thiết kế và đánh giá một số cụm chi tiết
Kết luận
Trang 332.4 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này dùng các phương pháp sau:
Tổng quan tài liệu, nghiên cứu liên quan đến cân bù lực điện từ
Tài liệu, báo cáo về phân loại tôm, kích cỡ tôm, xuất khẩu tôm
Cơ sở lý thuyết
Ứng dụng các phần mềm Solidworks và Ansysđể hỗ trợ tính toán, thiết kế
2.5 Ý nghĩa luận văn
Ý nghĩa khoa học là xây dựng phương pháp luận để tính toán thiết kế cân băng tải
Ý nghĩa thực tiễn của luận văn là thiết kế chế tạo một mô hình để nghiên cứu thực nghiệm quá trình phân cỡ để đáp ứng nhu cầu thực tiễn của sản xuất
Chương 3: PHÂN TÍCH SO SÁNH LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN
Các nguyên lý cân băng tải được phân tích so sánh và lựa chọn
3.1 So sánh nguyên lý làm việc của cân băng tải
Với hệ thống phân loại băng tải có hai phương pháp thường được sử dụng để
đo trọng lượng tôm đó là: đo biến dạng và bù lực điện từ
3.1.1 Phương pháp đo biến dạng
Ở phương pháp đo này dùng loadcell kết hợp với strain gauge
Loadcell là cảm biến lực Khi lực được tác dụng lên loadcell, loadcell sẽ
Trang 34chuyển đổi lực tác dụng thành tín hiệu điện
Hình 3.1: Loadcell
Hình 3.2: Cấu trúc strain gauge
Strain gauge dùng để đo biến dạng của vật thể Strain gauge được nối vào vật
thể cần đo bằng một loại vật liệu gắn kết Khi vật thể cần đo bị biến dạng do tác
dụng của ngoại lực thì làm cho strain gauge bị biến dạng theo và làm thay đổi điện
trở
Hệ thống đo biến dạng bao gồm một loadcell, strain gauge, mạch điện cầu Wheatstone và bộ khuếch đại Mạch cầu Wheatstone được thiết kế để đo sự thay đổi
điện trở rất nhỏ Do biến dạng ở vật thể đo rất nhỏ cho nên cần phải có bộ khuếch
đại tín hiệu đo.[13]
Từ mối quan hệ giữa biến dạng và giá trị điện trở ở trên, strain gauge sử dụng mạch cầu Wheatsone (có 03 loại mạch cầu Wheatstone đó là cầu đủ, bán cầu
và một phần tư cầu) Nguyên lý hoạt động của cầu Wheatstone dựa trên việc đo
điện áp khác nhau giữa cầu Mạch cầu Wheatstone luôn bao gồm bốn điện trở có giá trị bằng nhau Ở mạch một phần tư cầu, ba điện trở có giá trị cố định với độ
Trang 35chính xác cao, điện trở còn lại đóng vai trò là một phần tử strain gauge Hình 3.7
mô tả cấu trúc tổng quan của mạch cầu Wheatstone một phần tư
Hình 3.3: Mạch cầu Wheatstone một phần tư
Trong đó RSG là phần tử strain gauge, R1, R2, R3 có giá trị điện trở cố định, UM là
điện áp đo được và UEX là điện áp kích từ (DC) [13]
Nguyên lý hoạt động:
- Ở trạng thái cân bằng (trạng thái không tải), điện áp tín hiệu ra bằng không
- Khi có tải trọng hoặc lực tác động lên thân loadcell sẽ làm cho thân loadcell
bị biến dạng (giãn hoặc nén), dẫn đến sự thay đổi chiều dài và tiết diện của các sợi
kim loại của strain gauge dán trên thân loadcell làm thay đổi giá trị điện trở của
strain gauge Sự thay đổi này dẫn đến sự thay đổi điện áp đầu ra Sự thay đổi điện
áp này là rất nhỏ, do đó nó được khuếch đại bằng bộ khuếch đại Đo điện áp đầu ra
này sẽ tính được khối lượng vật thể cân
Ưu điểm
- Cân được các tải trọng lớn ( vài chục gram đến xấp xỉ 50 tấn)
- Thiết kế rất chắc chắn, khả năng chịu tải cao
- Vỏ ngoài bảo vệ chống ẩm và bụi bẩn, thiết kế bằng thép không gỉ để chống ăn
mòn
- Dễ dàng bảo trì (các bộ phận thay thế cho nhau đơn giản)
Nhược điểm
Trang 36Nguyên tắc hoạt động của cân bù lực điện từ (1): Khi tải trọng cân 4 đặt trên bàn
cân 3 (được nối với đòn bẩy 9) làm cho đòn bẩy chuyển vị đi lên theo phương z một
đoạn x, đồng thời làm cho cuộn cảm 8 dịch chuyển đi lên một đoạn tương ứng
Dịch chuyển này được đo lại bởi cảm biến dịch chuyển 12 ghi nhận thay đổi vị trí
theo chiều dọc khi cân chịu tải, tín hiệu đo được chuyển vào bộ điều khiển 15, bộ
điều khiển tính toán tạo ra dòng điện bù để đưa vào cuộn cảm 8 nhằm tạo ra lực bù
tác dụng lên nam châm vĩnh cữu 5 để đưa đòn bẩy 9 về vị trí cân bằng (dòng điện tỷ
lệ thuận với trọng tải) Đồng thời từ tín hiệu dịch chuyển đo được bộ điều khiển tính
toán được khối lượng tải trọng 4
Ưu điểm
Bộ điều khiển
Trang 37- Thích hợp khi dùng trong cân băng tải để cân các sản phẩm có khối lượng nhỏ với
3.1.3 So sánh các công nghệphân loại theo trọng lượng
Bảng 3.1: So sánh các công nghệcân phân loại theo trọng lượng
Nguyên lý phân
loại
Đo biến dạng Bù lực điện từ
Thời gian đáp ứng 1 giây < 1 giây
Phạm vi cân Vài gram ÷ vài tấn Từ 5 gram trở lên
Phân loại theo nguyên lý cân bù lực điện từ:
Độ chính xác cao (± 0,2 g), Thiết kế phức tạp,
Năng suất cao (trung bình 150 con/phút)
Phân loại theo nguyên lý biến dạng (sử dụng loadcell):
Độ chính xác cao (± 0,5 g), Thiết kế đơn giản,
Năng suất thấp (trung bình 30 con/phút)
Trang 383.2 Kết luận:
Qua phân tích so sánh ở phần trên và yêu cầu của hệ thống cân (150 con/phút với độ
chính xác ± 0,2 g), em chọn phương pháp cân trọng lượng sử dụng nguyên lý cân
bù lực điện từ
Chương 4: THIẾT KẾ HỆ THỐNG CÂN BĂNG TẢI
Trình bày tính toán thiết kế các cụm máy và tính toán mô phỏng một
số cụm
Trình bày sơ đồ nguyên lý điều khiển hệ thống
Yêu cầu kỹ thuật hệ thống cân băng tải :
• Cân động, cân liên tục,
• Cân được các vật có khối lượng nhỏ (từ 14 gram trở lên)
• Độ chính xác cao (±0,2 gram),
Trang 39• Năng suất ít nhất 150 con/phút
4.1 Cấu trúc tổng thể hệ thống phân loại tôm theo trọng lượng sử dụng
nguyên lý cân bù lực điện từ
Hình 4.1: Sơ đồ khối hệ thống phân loại băng tải
Khi hệ thống hoạt động, tôm được đưa vào băng tải gia tốc để tách rời từng con tôm làm cho khoảng cách giữa hai con tôm kế tiếp tăng lên, đảm bảo không cho
hai con tôm cùng nằm trên băng tải cân, sau đó tôm sẽ được chuyển qua băng tải
cân định lượng Do vậy, trọng lượng tôm được đo bởi băng tải cân (cân bù lực điện
từ) Tôm sau khi đi qua băng tải cân sẽ qua băng tải phân loại, từ đó tôm được phân
loại thành 7 hoặc 12 cỡ phụ thuộc vào trọng lượng tôm
4.2 Thiết kế cụm cân bù lực điện từ
Yêu cầu thiết kế:
Tốc độ cân 150 con/phút
Trang 40 Độ chính xác ± 0,2g
Sơ đồ khối của hệ thống cân được mô tả ở hình 4.2
Hình 4.2: Sơ đồ khối của hệ thống cân
Trong đó: K1 là hệ số khuếch đại điện áp, để xuất điện áp cho cuộn cảm để tính
toán ra lực điện từ bù lại hệ thống
B là mật độ từ thông, l là chiều dài của cuộn cảm M: khối lượng tôm thực tế