Ứng dụng Benchmarking để đánh giá và cải tiến việc thực hiện của hệ thống quản lý an toàn tại các công ty xây dựng – áp dụng đối với Công ty TNHH Xây dựng Thương mại Thuận Việt III...
Trang 1Đại Học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh
TẠI CÔNG TY XÂY DỰNG VIỆT NAM
Chuyên ngành : CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG
Mã số ngành : 60.58.90
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP.Hồ Chí Minh, tháng 06 năm 2014
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
PHÕNG ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÖC
TP HCM, ngày 10 tháng 02 năm 2014
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên : ĐẶNG ĐÌNH LUẬT Phái : Nam
Năm sinh : 18-02-1985 Nơi sinh : Kiên Giang Chuyên ngành : Công nghệ và Quản lý Xây dựng MSHV : 10080292
I TÊN ĐỀ TÀI :
ỨNG DỤNG BENCHMARKING ĐỂ CẢI THIỆN SỰ THỰC HIỆN CỦA HỆ THỐNG AN TOÀN LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY XÂY DỰNG VIỆT NAM
II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG :
Xác định các chỉ số quan trọng đo lường việc thực hiện của hệ thống quản lý an toàn lao động
Phân tích, xếp hạng tầm quan trọng các chỉ số đo lường việc thực hiện của hệ thống quản lý an toàn lao động
Ứng dụng Benchmarking để đánh giá và cải tiến việc thực hiện của hệ thống quản
lý an toàn tại các công ty xây dựng – áp dụng đối với Công ty TNHH Xây dựng Thương mại Thuận Việt
III NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 10-02-2014
IV NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ : 20-06-2014
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, trước hết tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc đến thầy PGS.TS Phạm Hồng Luân đã định hướng, truyền đạt những kinh nghiệm quý báu và tận tình hướng dẫn em trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cám ơn tất cả các quý thầy cô Khoa Kỹ Thuật Xây Dựng, đặc biệt là các thầy cô giảng dạy thuộc chuyên ngành Công nghệ và Quản lý Xây dựng, trường Đại học Bách Khoa Tp Hồ Chí Minh Tất cả những kiến thức, kinh nghiệm các thầy cô đã truyền đạt trong suốt quá trình học cũng như những góp ý quý báu của các thầy cô về luận văn này sẽ mãi là hành trang quý giá cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và công tác sau này
Xin chân thành cám ơn tất cả những người bạn K2010, các bạn đã cùng tôi trải qua những tháng ngày học tập thật vui, bổ ích Đặc biệt cám ơn bạn Nguyễn Đức Khánh đã hỗ trợ tôi rất nhiều để hoàn thành luận văn này
Xin cám ơn lãnh đạo, cán bộ anh chị em công ty Xây dựng Thương mại Thuận Việt, Công ty TNHH xây dựng An Phong, Công ty COFICO đã tạo điều kiện hỗ trợ cho tôi trong suốt quá trình làm luận văn này
Cuối cùng, xin cám ơn những người thân trong gia đình, những người bạn thân của tôi đã luôn bên cạnh, quan tâm, động viên và giúp đỡ tôi vượt qua những khó khăn, trở ngại để hoàn thành luận văn này
TP Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 06 năm 2014
Trang 5hệ thống là tất cả các công nhân, nhà thầu và bảo vệ các cá nhân có mặt trên công trường
Nhằm mục đích đánh giá hiệu quả việc thực hiện hệ thống SMS tại công ty TNHH Xây dựng Thương Mại Thuận Việt, đề tài nghiên cứu áp dụng phương pháp Benchmarking để so sánh các chỉ số thực hiện trong hệ thống SMS với các công ty trong xây dựng có quy mô tương ứng, từ đó học hỏi kinh nghiệm từ các công ty được đánh giá
có chỉ số thực hiện tốt nhất, sau đó áp dụng thực hiện với công ty Thuận Việt
Nghiên cứu tiến hành khảo sát ba nhóm chỉ số đo lường thực hiện SMS là: nhóm chỉ số về chính sách - tổ chức, nhóm chỉ số về công tác quản lý, nhóm chỉ số đầu tư kinh
tế Sau khi tiến hành khảo sát, kiểm định, phân tích, tác giả tìm ra được 19 chỉ số quan trọng ảnh hưởng đến việc thực hiện hệ thống an toàn Thông qua bảng khảo sát thang đo Likert Scale 5 mức độ với 3 nhóm chỉ số an toàn được gửi đến các đối tượng là giám sát
an toàn, kỹ sư thi công ở công ty Thuận Việt, An Phong và COFICO để phân tích giúp cải thiện hệ thống an toàn lao động một cách liên tục nhờ tiếp thu những cách thức thực hiện tốt hơn từ công ty đối sách
Trang 6MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 5
1.1 Giới thiệu chung 5
1.2 Xác định vấn đề nghiên cứu 7
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 9
1.4 Phạm vi nghiên cứu 10
1.4.1 Thời gian nghiên cứu 10
1.4.2 Đối tượng nghiên cứu 10
1.4.3 Giới hạn của đề tài 10
1.5 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu 11
1.5.1 Về mặt học thuật 11
1.5.2 Về mặt thực tiễn 11
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 12
2.1 Các thuật ngữ trong nghiên cứu 12
2.1.1 Khái niệm về tai nạn lao động 12
2.1.2 An toàn lao động trong xây dựng 12
2.1.3 Chương trình an toàn lao động 13
2.2 Hệ thống quản lý an toàn lao động 14
2.2.1 Khái niệm về hệ thống quản lý an toàn lao động 14
2.2.2 Giới thiệu một số tiêu chuẩn áp dụng quản lý hệ thống an toàn lao động 15 2.3 Giới thiệu về phương pháp Benchmarking 16
2.3.1 Định nghĩa về Benchmarking 16
2.3.2 Lịch sử phát triển của Benchmarking 17
2.3.2.1 Tóm tắt lịch sử 17
2.3.2.2 Giới thiệu về Benchmarking của tập đoàn Xerox 18
2.3.3 Các loại Benchmarking 18
2.3.3.1 Benchmarking nội bộ 18
2.3.3.2 Benchmarking cạnh tranh ngoài 19
2.3.3.3 Benchmarking hợp tác ngoài 20
2.3.3.4 Benchmarking ngầm 20
2.3.3.5 Benchmarking tốt nhất trong công nghiệp 21
2.3.4 Các ưu điểm và chỉ trích về Benchmarking 21
2.3.4.1 Các ưu điểm của Benchmarking 21
2.3.4.2 Các rào cản về Benchmarking 23
2.3.5 Phương pháp thực hiện Benchmarking 23
2.4 Các nghiên cứu liên quan tới đề tài 25
2.4.1 Các nghiên cứu liên quan An toàn lao động 25
2.4.2 Benchmarking trong xây dựng 28
2.5 Giới thiệu về chỉ số đo lường hiệu suất thực hiện KPI 30
2.5.1 Định nghĩa chỉ số KPI 30
2.5.2 Ứng dụng chỉ số KPI 31
Trang 7CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
3.1 Giới thiệu cách thức lập bảng câu hỏi, kích thước mẫu, kiểm định thang đo 32
3.1.1 Giới thiệu cách thức lập bảng câu hỏi 32
3.1.2 Xác định kích thước mẫu 33
3.1.3 Kiểm định thang đo 35
3.2 Mô tả phương pháp và sơ đồ nghiên cứu 35
3.2.1 Xác định các chỉ số đo lường hệ thống an toàn lao động KPIs 36
3.2.2 Quá trình thu thập dữ liệu Benchmarking 37
3.2.3 Kỹ thuật phân tích dữ liệu Benchmarking 39
3.2.4 Giới thiệu các công ty thực hiện Benchmarking 40
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43
4.1 Xác định và xếp hạng các chỉ số đo lường hệ thống an toàn lao động 43
4.1.1 Nhận dạng các chỉ số 43
4.1.2 Thiết kế bảng câu hỏi 44
4.1.2.1 Nội dung bảng câu hỏi 44
4.1.2.2 Khảo sát thử nghiệm 45
4.1.3 Kích thước mẫu khảo sát chính thức 47
4.1.4 Phân tích số liệu khảo sát và kiểm định thang đo 47
4.1.4.1 Phân tích số liệu khảo sát 47
4.1.4.2 Kiểm định thang đo 49
4.1.4.3 Phân tích thông tin cá nhân đối tượng khảo sát 50
4.1.5 Xếp hạng và phân tích các chỉ số theo từng nhóm 54
4.1.5.1 Nhóm chỉ số về Chính sách – Tổ chức 54
4.1.5.2 Nhóm chỉ số về công tác Quản lý 55
4.1.5.3 Nhóm chỉ số về Đầu tư kinh tế 56
4.2 Ứng dụng phương pháp Benchmarking để đánh giá và cải tiến việc thực hiện hệ thống an toàn lao động 57
4.2.1 Thiết kế bảng câu hỏi Benchmarking và thu thập thông tin 57
4.2.2 Thu thập dữ liệu Benchmarking 59
4.2.3 Phân tích dữ liệu Benchmarking 60
4.2.3.1 Benchmarking cho KPI-1: cải tiến về Chính sách - Tổ chức 60
4.2.3.2 Benchmarking cho KPI-2: cải tiến về Công tác quản lý 65
4.2.3.3 Benchmarking cho KPI-3: cải tiến về Đầu tư kinh tế 73
4.2.4 Những giải pháp cần Benchmarking cho công ty nội bộ 75
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78
5.1 Kết luận 78
5.2 Kiến nghị và hướng phát triển đề tài 79
5.2.1 Kiến nghị 79
5.2.2 Hướng phát triển đề tài 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC 84
Trang 8DANH SÁCH HÌNH ẢNH
Hình 1.1: Tình hình kinh doanh của 64 doanh nghiệp bất động sản đang niêm yết trên sàn
chứng khoán 6
Hình 2.1: Sơ đồ quy trình kiểm tra an toàn tại công trường 13
Hình 2.2: Khung hệ thống quản lý an toàn lao động 14
Hình 2.3: Sơ đồ thực hiện Benchmarking 24
Hình 2.4: Quá trình và khoảng cách Benchmarking 25
Hình 3.1: Sơ đồ quy trình nghiên cứu 36
Hình 3.2: Quy trình thu thập dữ liệu Benchmarking 38
Hình 3.3: Quy trình phân tích dữ liệu Benchmarking 40
Hình 4.1: Biểu đồ Kinh nghiệm làm việc cá nhân tham gia khảo sát 51
Hình 4.2: Biểu đồ Vai trò cá nhân tham gia khảo sát 52
Hình 4.3: Biểu đồ Loại dự án cá nhân tham gia khảo sát 53
Hình 4.4: Biểu đồ Giá trị dự án cá nhân tham gia khảo sát 54
Hình 4.5: Biểu đồ Benchmarking về nhóm KPI-1 61
Hình 4.6: Biểu đồ Benchmarking về nhóm KPI-2 67
Hình 4.7: Biểu đồ Benchmarking về nhóm KPI-3 74
Trang 9DANH SÁCH BẢNG TỔNG HỢP
Bảng 1.1: Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước 5
Bảng 1.2: Tình hình tai nạn lao động cả nước năm 2013 8
Bảng 4.1: Các chỉ số đo lường hệ thống quản lý an toàn lao động 43
Bảng 4.2: Bảng kết quả khảo sát thử nghiệm: các chỉ số đo lường hệ thống quản lý an toàn lao động 45
Bảng 4.3: Thành phần đối tượng tham gia và tỷ lệ phản hồi 47
Bảng 4.4: Bảng kết quả khảo sát chính thức: tầm quan trọng các chỉ số đo lường hệ thống quản lý an toàn 48
Bảng 4.5: Bảng kiểm tra hệ số Cronbach Alpha 49
Bảng 4.6: Thời gian công tác cá nhân tham gia khảo sát 51
Bảng 4.7: Vai trò hiện tại cá nhân tham gia khảo sát 52
Bảng 4.8: Loại dự án cá nhân tham gia khảo sát thực hiện 53
Bảng 4.9: Giá trị dự án khảo sát cá nhân đang tham gia 53
Bảng 4.10: Bảng xếp hạng nhóm Chính sác Tổ chức 54
Bảng 4.11: Bảng xếp hạng nhóm Công tác quản lý 55
Bảng 4.12: Bảng xếp hạng nhóm Đầu tư kinh tế 57
Bảng 4.13: Bảng các chỉ số đo lường thu thập dữ liệu Benchmarking 58
Bảng 4.14: Kết quả thu thập dữ liệu Benchmarking 59
Bảng 4.15: Benchmarking về nhóm KPI-1 60
Bảng 4.16: Benchmarking về nhóm KPI-2 65
Bảng 4.17: Benchmarking về nhóm KPI-3 73
Trang 10CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu chung
Trong công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, đưa đất nước thành một nước công nghiệp phát triển thì ngành công nghiệp xây dựng đóng vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật xã hội, tạo công ăn việc làm và động lực phát triển cho các ngành kinh tế khác
Bảng 1.1: Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (nguồn [1])
Đơn vị tính (%)
Năm
Các ngành kinh tế
Tổng số Nông, lâm nghiệp
và thủy sản
Công nghiệp và xây dựng Dịch vụ
Trong năm 2013 GDP cả nước tăng 5,42% so với năm 2012, trong đó nhóm ngành công nghiệp xây dựng tăng 5.43% Đây cũng là năm Việt Nam bước vào năm thứ 3 của
kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm giai đoạn 2011-2015 Mục tiêu đề ra về công xây dựng cho thời kỳ này đều ở mức khá cao so với kết quả thực hiện của thời kỳ 2006-
nghiệp-2010, hoặc chủ yếu dựa vào kết quả của năm xuất phát (năm 2010) với nhiều kết quả cao
so với một số năm trước đó
Trang 11Cùng với những kết quả tích cực đạt được, ngành xây dựng cũng gặp không ít khó khăn như: hàng tồn kho bất động sản ngày càng tăng cao dẫn đến doanh thu lợi nhuận của doanh nghiệp sụt giảm mạnh, chủ đầu tư thực hiện không đúng quy trình thủ tục gây chậm chễ trong thanh toán công trình Mặt khác nợ xâu ngân hàng tăng cao, nhiều doanh nghiệp doanh thu có được chỉ để dùng để trả lãi vay ngân hàng, dẫn đến việc bán hoặc chuyển nhượng dự án để cắt lỗ thường xuyên diễn ra trên các dự án có quy mô lớn [2]
Hình 1.1: Tình hình kinh doanh của 64 doanh nghiệp BĐS đang niêm yết trên sàn chứng
khoán [2]
Để giải quyết vấn đề hàng tồn kho bất động sản, chính phủ cũng đưa ra nhiều giải pháp như: gói tín dụng 30,000 tỷ đồng hỗ trợ cho người có nhu cầu mua nhà vay với lãi suất thấp 6% thời gian vay 10 năm, cho phép các chủ đầu tư chuyển đổi mục đích dự án
từ nhà ở thương mại sang nhà ở xã hội Bên cạnh đó các doanh nghiệp bất động sản cũng
nỗ lực thực hiện có hiệu quả việc định hướng lại chiến lược kinh doanh, tập trung vào
Trang 12phân khúc bất động sản phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng, đưa ra các chương trình khuyến mãi từ đó giúp doanh số bán ra tăng và giảm lượng hàng tồn kho
Trong các năm qua TP.HCM nói riêng và cả nước nói chung, các doanh nghiệp xây dựng đã tập trung phát triển thông qua đổi mới công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, áp dụng quy trình quản lý tiên tiến nhờ đã thi công xây dựng nhiều công trình lớn, áp dụng công nghệ thi công phức tạp điển hình như: toà nhà Bitexco, khách sạn JW Marriott Hà Nội, Vincom Mega Mall Times City Dù vậy, do tính chất đặc thù của sản phẩm ngành xây dựng nên trong quá trình thi công xây dựng sẽ gặp không ít rủi ro và khó khăn Một trong những rủi ro đó là vấn đề sự cố mất an toàn lao động, khi có sự cố xảy ra nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ tính mạng người lao động mà còn ảnh hưởng lớn đến chi phí, tiến độ dự án Đây là vấn đề phức tạp cần được quan tâm giải quyết
1.2 Xác định vấn đề nghiên cứu
Quản lý an toàn lao động là một phần việc quan trọng trong quản lý dự án xây dựng như hoạch định, lập tiến độ, ước tính và kiểm soát chi phí…nên cần được quan tâm
dù cho ở cấp độ và giai đoạn nào của dự án Vấn đề an toàn lao động phải được nhận thức
từ cấp quản lý cao nhất cho tới từng tổ lao động, mỗi công nhân trên công trường Khi sự
cố mất an toàn xảy ra tai nạn lao động, không chỉ tác động trực tiếp đến người công nhân
mà còn mất mát về tinh thần, ảnh hưởng đến cuộc sống sau này của gia đình họ Ngoài các tổn thất trực tiếp do tai nạn lao động như chi phí viện phí, bồi thường thiệt hại, chi phí
do kiện cáo, chi phí do mất mát hư hỏng tài sản, còn tổn thất vô hình đáng kể như mất giờ công của người công nhân bị tai nạn, gián đoạn công việc [3]
Theo số liệu thống kê từ báo cáo của Bộ lao động - Thương binh và Xã hội [4] thì trong năm 2013 cả nước đã xảy ra 6695 vụ tai nạn làm chết và bị thương 6887 người trong đó lĩnh vực xây dựng chiếm 28.6% tổng số vụ và 26.5% tổng số người chết Trong
số các địa phương xảy ra tai nạn thì Thành phố Hồ Chí Minh vẫn là địa phương xảy ra tai nạn nhiều nhất với 90 người , tiếp đến là Hà Nội 35 người Số liệu cho thấy tỷ lệ mất an toàn lao động vẫn không giảm dù nhà nước và doanh nghiệp đã có nhiều nỗ lực
Trang 13Bảng 1.2: Tình hình tai nạn lao động cả nước năm 2013 (nguồn [4])
STT Chỉ tiêu thống kê Năm 2013
Điều 78 Luật xây dựng có quy định công tác an toàn lao động phải: thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn cho người, máy móc, thiết bị, tài sản, công trình đang xây dựng, công trình ngầm và các công trình liền kề; thực hiện biện pháp kỹ thuật an toàn riêng đối với những hạng mục công trình hoặc công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn; thực hiện các biện pháp cần thiết nhằm hạn chế thiệt hại về người và tài sản khi xảy
ra mất an toàn trong thi công xây dựng
Thông tư 22/2010/TT-BXD quy định chi tiết về an toàn lao động trong thi công xây dựng đối với công trình xây mới và nâng cấp sửa chữa Thông tư quy định chi tiết các yêu cầu chung về công trường xây dựng, các biện pháp đảm bảo an toàn trong quá trình thi công và quy định rõ quyền hạn trách nhiệm các chủ thể đối với an toàn trong quá trình thi công như: chủ đầu tư, nhà thầu, ban quản lý dự án, các nhà tư vấn, người lao động, người làm công tác an toàn Đồng thời quy định cách thức giải quyết sự cố khi xảy ra tai nạn lao động do mất an toàn lao động hay sự cố công trình
Theo [3] thì tại các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam, công tác quản lý an toàn lao động chủ yếu được thực hiện thông qua việc tổ chức bộ phận (phòng, ban, thành lập hội đồng bảo hộ lao động ), bố trí cán bộ phụ trách, ban hành các văn bản quy định chung như nội quy an toàn lao động, đây là những biện pháp mang tính chất tĩnh Muốn công tác
Trang 14an toàn lao động thật sự hiệu quả, cần chủ động thực hiện các hoạt động triển khai thường xuyên, mang tính động Tuy nhiên, các đơn vị rất hạn chế các công tác thường xuyên về
an toàn lao động, chỉ một số ít đơn vị có kế hoạch an toàn lao động hằng năm, có ban hành văn bản chỉ đạo điều hành công tác an toàn vệ sinh lao động Ngay cả việc tổ chức mạng lưới an toàn viên, là một yêu cầu theo quy định phải làm thì cũng chỉ có rất ít đơn vị thực hiện
Để giải quyết vấn đề trên, các công ty xây dựng cần phải xem quản lý an toàn lao động như là một phần quan trọng trong quản lý dự án Nếu quản lý an toàn hiệu quả sẽ giảm thiểu được những rủi ro về tai nạn lao động và góp phần làm tăng hiệu quả thực hiện của dự án Luận văn tập trung vào nghiên cứu các chỉ số quan trọng trong việc thực hiện
hệ thống quản lý an toàn lao động nhằm đánh giá một cách toàn diện thực trạng hệ thống quản lý an toàn của công ty, so sánh với các công ty lớn tương đương và tìm cách cải tiến
hệ thống an toàn công ty
Benchmarking là công cụ quản lý được áp dụng phổ biến ở các tập đoàn lớn như Rerox, AT&T, Motorola, là công cụ hiệu quả giúp họ cải tiến quy trình sản xuất vươn lên thành tập đoàn đứng đầu trong ngành Tại Việt Nam trong những năm gần đây benchmarking cũng bắt đầu được áp dụng nhiều lĩnh vực như: cấp thoát nước đô thị, kinh doanh thương mại, cải tiến dịch vụ hàng không, quản lý các dự án xây dựng công trình Sau khi tiến hành sử dụng công cụ này giúp nâng cao hiệu quả quản lý, chất lượng sản phẩm, dịch vụ được tốt hơn Chính vì hiệu quả thiết thực nhờ áp dụng kỹ thuật mang lại nên nghiên cứu ứng dụng phương pháp Benchmarking để tìm ra các quy trình thực hiện tốt nhất để áp dụng cho công ty nội bộ là Công ty TNHH Xây dựng Thương mại Thuận Việt thông qua việc nghiên cứu, học hỏi các thức thực hiện hệ thống quản lý an toàn lao động ở các công ty đối sách
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Tên đề tài nghiên cứu: ―Ứng dụng Benchmarking để cải thiện sự thực hiện của
hệ thống an toàn lao động tại công ty xây dựng Việt Nam‖
Nội dung nghiên cứu tập trung ở các vấn đề chính:
Trang 15 Xác định các chỉ số quan trọng đo lường việc thực hiện của hệ thống quản lý an toàn lao động
Phân tích, xếp hạng tầm quan trọng các chỉ số đo lường việc thực hiện của hệ thống quản lý an toàn lao động
Ứng dụng Benchmarking để đánh giá và cải tiến việc thực hiện của hệ thống quản lý an toàn tại các công ty xây dựng – áp dụng đối với Công ty TNHH Xây dựng Thương mại Thuận Việt
1.4 Phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện từ tháng 12 năm 2013 đến tháng 5 năm 2014
1.4.2 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các nhà thầu xây dựng vừa và lớn đang thực hiện các dự án xây dựng dân dụng và công nghiệp tại TP.HCM
Đối tượng tham gia nghiên cứu các nhà quản lý dự án, kỹ sư xây dựng, giám sát an toàn lao động, tư vấn giám sát, các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong thi công xây dựng, đặc biệt am hiểu quản lý an toàn toàn lao động xây dựng Họ có thể từng làm việc ở các vai trò liên quan trực tiếp đến công tác thi công như: chủ đầu tư, ban quản lý dự án, nhà thầu thi công, tư vấn giám sát
Để có thể cải tiến hệ thống quản lý an toàn lao động tại công ty nội bộ là Công ty TNHH xây dựng thương mại Thuận Việt, tác giả chọn hai công ty đối sách trong cùng lĩnh vực để nghiên cứu là:
Công ty Cổ phần xây dựng số 1 - COFICO
Công ty TNHH xây dựng An Phong
1.4.3 Giới hạn của đề tài
Do thời gian nghiên cứu bị giới hạn nên luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các vấn
đề trong quá trình thực hiện của hệ thống quản lý an toàn lao động thông qua các chỉ số
đo lường được thực hiên tại công ty Thuận Việt, Cofico và An Phong
Trang 161.5 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu
Để một dự án thành công phải đảm bảo thực hiện đúng tiến độ, chất lượng và chi phí hợp lý Để làm được điều này thì công tác quản lý an toàn lao động phải được đặt lên hàng đầu nhằm hạn chế thấp nhất chậm tiến độ, ảnh hưởng chất lượng công trình do sự cố phải làm lại, chi phí tối ưu nhất do không phải chi trả cho các sự cố mất an toàn lao động Chính vì những chỉ số trên nên việc xác định được các chỉ số đo lường hệ thống an toàn lao động đang được thực hiện tốt nhất ở các công ty, học hỏi các biện pháp thực hiện các chỉ số đó một cách tốt nhất áp dụng vào hệ thống thực hiện của công ty Áp dụng hệ thống vào các dự án nhằm đảm bảo dự án thành công
1.5.1 Về mặt học thuật
Nghiên cứu giúp xác định các chỉ số quan trọng thực hiện việc đo lường hệ thống quản lý an toàn lao động của công ty xây dựng, đồng thời nêu cách ứng dụng phương pháp Benchmarking để đánh giá và cải tiến việc thực hiện của hệ thống quản lý an toàn trong xây dựng Từ đó có thể áp dụng trong các lĩnh vực khác
1.5.2 Về mặt thực tiễn
Việc sử dụng Benchmarking giúp cho nhà thầu cũng như bộ phận quản lý an toàn của chủ đầu tư có được cái nhìn về tình trạng của hệ thống quản lý an toàn tại công trường của mình Từ đó, có thể đưa ra những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hệ thống quản lý an toàn tại công ty nội bộ Công ty TNHH Xây dựng Thương mại Thuận Việt
Trang 17CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN
2.1 Các thuật ngữ trong nghiên cứu
2.1.1 Khái niệm về tai nạn lao động
Thông tư liên tịch số 14/2005 của Liên tịch Bộ LĐ-TB&XH và Bộ Y tế, Tổng Liên đoàn LĐVN thì tai nạn lao động được định nghĩa sau [5]:
Là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động
Là tai nạn xảy ra trên tuyến đường đi và về trực tiếp giữa nơi làm việc và nơi thường trú hoặc nơi tạm trú của người lao động, nơi người lao động đến nhận tiền lương, tiền công
2.1.2 An toàn lao động trong xây dựng
An toàn lao động trong thi công xây dựng công trình: là hệ thống các biện pháp về
tổ chức và quản lý, điều hành trên công trường nhằm cải thiện điều kiện lao động và ngăn chặn tai nạn lao động trong thi công xây dựng công trình [6]
Công nghiệp xây dựng được xem như ngành có truyền thống nguy hiểm do tỷ lệ tai nạn lao động gây ra chấn thương và tử vong cao Số vụ tai nạn chết người ở các quốc gia không dễ dàng xác định số lượng, do rất ít nơi có số liệu tổng hợp về vấn đề này đầy
đủ và chính xác Khi tai nạn xảy ra tác sẽ tác động trực tiếp đến các thành phần tham gia
dự án như: lao động bị thương, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng công trình, chậm tiến độ Tác động gián tiếp đến doanh thu chủ đầu tư do giao dự án chậm trễ, tác động đến tinh thần làm việc của lực lượng lao động Các tai nạn thường gặp trên công trương là té ngã, bị đâm va các công cụ lao động, bị điện giật, bị cháy nổ, khí độc…
Nhìn chung các công ty xây dựng lớn đều áp dụng các hướng dẫn, quy định pháp luật, thiết lập hệ thống quản lý an toàn lao động riêng Tuy nhiên các tai nạn xảy ra đều là
do lỗi trực tiếp từ việc không tuân thủ các hệ thống an toàn được thiết lập
Trang 182.1.3 Chương trình an toàn lao động
Chương trình an toàn lao động các công ty xây dựng bao gồm: chính sách an toàn, ban an toàn lao động để thực hiện chính sách an toàn, đào tạo an toàn lao động cho lao động Các hồ sơ an toàn, giám sát, đào tạo cũng như kiểm tra định kỳ là vấn đề cốt lõi đến thành công của một chương trình an toàn lao động Để đảm bảo thành công chương trình
an toàn cần cần 3 điều kiện sau: cam kết quản lý và lãnh đạo, đảm bảo các điều kiện làm việc an toàn, thói quen làm việc an toàn [6]
Các công ty xây dựng quan tâm đến việc thiết lập các tiêu chuẩn an toàn tại các công trình xây dựng cũng như toàn bộ tổ chức cần phải có một chính sách an toàn như là một phần của các chính sách thuộc công ty Chính sách an toàn bao gồm tuyên bố lãnh đạo công ty về an toàn, các hướng dẫn của công ty về các bước công việc nhằm đạt được các mục tiêu Các công ty xây dựng lớn tại Việt Nam đều có các chính sách an toàn được ban hành, chính sách này sẽ được đánh giá hàng năm nhằm đảm bảo tính tuân thủ và phù hợp với hệ thống quản lý an toàn của toàn công ty
Hình 2.1: Quy trình kiểm tra an toàn tại công trường [6]
Tài liệu kiểm tra
Chỉnh sửa hành động hoặc điều kiện không an toàn Thực hiện kiểm tra
Tiêu chuẩn kiểm tra
-Người kiểm tra?
- Kiểm tra những gì?
- Tần suất kiểm tra?
Kiểm tra những hành động hoặc điều kiện không an toàn
Trang 192.2 Hệ thống quản lý an toàn lao động
2.2.1 Khái niệm về hệ thống quản lý an toàn lao động
Hệ thống quản lý an toàn lao động (SMS) là một phần trong hệ thống quản lý chung của các công ty xây dựng Việt Nam Thực hiện SMS sẽ giúp cho các nguy cơ mất
an toàn được nhận dạng, đánh giá và đưa ra các giải pháp phù hợp giúp ngăn ngừa và giảm thiểu các tai nạn có thể xảy ra trên công trường Hệ thống SMS đề cập đến các chính sách liên quan, thủ tục và hướng dẫn công việc được thể hiện bằng các tài liệu có sẵn trên công trường hoặc trên mạng nội bộ của công ty Đối tượng được áp dụng trong hệ thống
là tất cả các công nhân, nhà thầu, bảo vệ các cá nhân có mặt trên công trường
Hình 2.2: Khung hệ thống quản lý an toàn lao động [7]
Cấu trúc một hệ thống an toàn bao gồm các nguyên tắc sau [7]:
Nguyên tắc 1- Lãnh đạo & Cam kết an toàn: mục tiêu muốn của lãnh đạo trong
cam kết an toàn là đạt được một hiệu suất cao về an toàn, sức khoẻ, môi trường (HSE) trong suốt quá trình hoạt động, cụ thể như:
Thiết lập chính sách an toàn sức khoẻ và môi trường được sự hỗ trợ của lãnh đạo công ty nhằm quản lý có hiệu quả các rủi ro về an toàn, sức khoẻ, môi trường HSE
Duy trì một cơ cấu tổ chức hiệu quả để thực hiện chính sách HSE
Thực hiện cải tiến liên tục
Lãnh đạo & Cam kết (Nguyên tắc 1)
Lập kế hoạch (Nguyên tắc 2)
Kiểm tra đánh giá
(Nguyên tắc 4 )
Kiểm toán hệ thống
(Nguyên tắc 5)
Thực hiện (Nguyên tắc 3)
Trang 20 Phát triển và duy trì một cơ chế làm việc hiệu quả có sự tham gia và tư vấn của các nhân viên và bên liên quan trong việc kiểm soát rủi ro, mối nguy hiểm tại nơi làm việc
Đảm bảo đủ nguồn lực để thực hiện, duy trì và phát triển hệ thống SMS
Nguyên tắc 2 - Lập kế hoạch an toàn
Xác định, đánh giá, kiểm soát, ghi chép lại các mối nguy hiểm, rủi ro
Thiết lập, giám sát và chia sẻ thông tin về các biện pháp thực hiện có ý nghĩa đến người lao động và các bên liên quan
Cung cấp chương trình đào tạo an toàn phù hợp
Phát triển, thực hiện, duy trì các thủ tục pháp lý để xác định, thu thập đánh giá thông tin liên quan đến bộ phận thiết kế an toàn
Nguyên tắc 3 - Thực hiện hệ thống an toàn: mục tiêu là để chứng minh rằng mối
nguy hiểm liên quan đến cơ sở vật chất và các hoạt động được kiểm soát, sắp xếp
và được đưa ra để ứng phó với trường hợp khẩn cấp
Nguyên tắc 4 - Kiểm tra đánh giá: các chỉ số hoạt động của HSE thường xuyên
được đo lường, giám sát, đánh giá để đảm bảo hệ thống SMS hoạt động có hiêu quả và được sử dụng như quá trình cải tiến liên tục
Nguyên tắc 5 - Kiểm định hệ thống an toàn: mục tiêu là để chứng minh rằng hệ
thống quản lý rủi ro về an toàn và sức khỏe được thực hiện một cách hiệu quả, liên tục cải tiến như:
Định kỳ kiểm tra hoạt động của các tổ chức quản lý an toàn
Thường xuyên rà soát hệ thống quản lý an toàn để đảm bảo được hiệu quả trong việc đáp ứng các chính sách và mục tiêu an toàn
2.2.2 Giới thiệu một số tiêu chuẩn áp dụng quản lý hệ thống an toàn lao động
Tiêu chuẩn VN ISO 9001:2008 là hệ thống áp dụng cho các tổ chức nhằm đưa ra các chuẩn mực về chất lượng Việc áp dụng ISO 9001 vào doanh nghiệp đã tạo được cách làm việc khoa học, tạo ra sự nhất quán trong công việc, chuẩn hóa các quy trình hoạt động, loại bỏ được nhiều thủ tục không cần thiết, rút ngắn thời gian và giảm chi phí phát sinh do xảy ra những sai lỗi hoặc sai sót trong công việc, đồng thời làm cho năng lực
Trang 21trách nhiệm cũng như ý thức của cán bộ công nhân viên nâng lên rõ rệt [8] Việc áp dụng
hệ thống này đang là phổ biến đối với các công ty xây dựng Việt Nam nhằm quản lý các quy trình từ quản lý nhân sự, đấu thầu, quản lý chất lượng công trình và quản lý an toàn lao động
Hệ thống OHSAS 18001:2007 là hệ thống tiêu chuẩn quốc tế chuyên biệt về quản lý
an toàn sức khỏe nghề nghiệp, cung cấp các yêu cầu nhằm đảm bảo an toàn sức khỏe nghề nghiệp, bao gồm sự phù hợp với luật pháp Hệ thống này có thể áp dụng cho tất cả các tổ chức mong muốn phòng ngừa hoặc giảm thiểu rủi ro cho nhân viên hoặc những nhà đầu tư khác mà có thể rơi vào rủi ro an toàn sức khỏe nghề nghiệp với các hoạt động của tổ chức Tại Việt Nam các tổ chức áp dụng như: Toshiba, Pepsi Việt Nam, Yokohama Tyre, Điện lực Phú Mỹ, Lilama, sơn Jotun, Dầu khí Việt Nam, COFICO, Coteccons Áp dụng hệ thống này giúp đem lại lợi ích về kinh tế, quản lý, thương hiệu và bảo vệ người lao động tốt hơn Hệ thống gồm các bước: Xác định mối nguy hiểm và khả năng tổn thất, đánh giá rủi ro, phát triển các biện pháp kiểm soát, áp dụng biện pháp kiểm soát, xem xét sự thoả đáng biện pháp kiểm soát [9]
2.3 Giới thiệu về phương pháp Benchmarking
2.3.1 Định nghĩa về Benchmarking
Người ta thường nói rằng người chuẩn thì không cần phát minh lại bánh xe [10]
Vì họ có thể thực hiện các cải tiến và không tập trung vào các ý tưởng cũ Benchmarking thoạt nhìn có thể bị hiểu nhầm là hình thức bắt chước xây dựng kế hoạch chiến lược để cải tiến hoạt động tổ chức, điều này là không đúng Benchmarking là quá trình cho phép
tổ chức thực hiện những cải thiện theo ý tưởng hiện có [11] Vậy Benchmarking là gì?
Định nghĩa Benchmarking rất rộng, theo thực tiễn ― Là công cụ tự cải thiện cho tổ chức, cho phép so sánh mình với các tổ chức khác Nhằm xác định một cách tương đối điểm mạnh và điểm yếu của họ và tìm cách học hỏi cải thiện Benchmarking là cách tìm
và áp dụng những thực hành tốt nhất‖ [12] ― Benchmarking là phương pháp đánh giá mở
và hợp tác của các dịch vụ và quy trình nhằm mục đích thi đua thực hành tốt nhất sẵn có‖ [13] Theo [14] ― Benchmarking chỉ đơn giản là quá trình đo lường hiệu suất hoạt động
Trang 22tốt nhất của các công ty cùng ngành hoặc khác ngành‖ Theo [15] ―Benchmarking là quá trình liên tục so sánh và đo lường một tổ chức với các tổ chức kinh doanh hàng đầu ở bất
cứ nơi nào trên thế giới để đạt được thông tin cần thiết nhằm cải tiến hiệu suất hoạt động của tổ chức mình‖
Benchmarking không phải khái niệm phức tạp nhưng cũng không nên được dùng quá nhẹ, phương pháp về cơ bản là học hỏi từ người khác, nó sử dụng các kiến thức và kinh nghiệm của người khác để cải thiện hoạt động của tổ chức mình Thông qua quá trình ghi nhận, phân tích, đánh giá điểm mạnh và điểm yếu của tổ chức và đánh giá những cái cần cải tiến [11]
Ngoài ra thông tin có được từ các tổ chức sẽ được đánh giá, sử dụng và chia sẻ Đây là quá trình sử dụng kiến thức và kinh nghiệm của người khác để phát triển các ý tưởng mới mẻ Giống như cách thức hoạt động cơ bản của đội nhóm teamwork, một xu hướng mà các tổ chức kinh doanh tiến bộ hiện nay đang thực hiện nhằm đạt được các thành tựu trong ngành nếu có sự phối hợp của lãnh đạo hàng đầu các doanh nghiệp [11]
2.3.2 Lịch sử phát triển của Benchmarking
2.3.2.1 Tóm tắt lịch sử
Theo G.H.Watson thì sự phát triển Benchmarking trải qua 5 giai đoạn sau [16]:
Giai đoạn 1950-1975: Reverse Engineering - Kỹ thuật đảo ngươc
Giai đoạn 1976-1986: Competitive Benchmarking - Benchmarking cạnh tranh
Giai đoạn 1982-1988: Process Benchmarking - Benchmarking quá trình
Từ năm 1988 trở đi: Strategic Benchmarking - Benchmarking chiến lược
Từ năm 1993 trở đi: Global Benchmarking - Benchmarking toàn cầu
Kỹ thuật đảo ngược là quá trình tập trung vào sản phẩm, tách hệ thống ra từng phần, xác định, phân tích, cải tiến rồi kết hợp từng phần lại với nhau Benchmarking thực
sự bắt đầu với hình thức hiện đại là Benchmarking cạnh tranh, được giới thiệu bởi Rank Xerox vào năm 1976 Tiếp theo đó là Benchmarking quá trình, được thực hiện chủ yếu thông qua việc tìm kiếm ý tưởng bên ngoài từ những đối thủ trực tiếp Benchmarking chiến lược liên quan trực tiếp đến sự thay đổi doanh nghiệp không chỉ là quá trình
Trang 23Benchmarking toàn cầu là mới nhất liên quan đến việc so sánh một tổ chức với các đối sách phạm vi toàn cầu [16]
2.3.2.2 Giới thiệu về Benchmarking của tập đoàn Xerox
Vào những năm 1970, Xerox là một trong những nhà sản xuất máy Photocopy lớn nhất thế giới, tuy nhiên những nhà sản xuất Nhật Bản đã tạo ra các sản phẩm có chất lượng tốt hơn, bán chúng với giá rẻ hơn so với Xerox và tạo ra lợi nhuận tốt Đứng trước tình hình đó, Benchmarking có thể được xem là công cụ quản lý giúp hồi sinh tập đoàn
họ Xerox xác định ―Benchmarking là quá trình đo lường liên tục sản phẩm, dịch vụ của chúng tôi, và quá trình thực hành chống lại đối thủ cạnh tranh khó khăn nhất của chúng tôi hay các công ty công nhận hàng đầu trong ngành‖ [10]
Kết quả Benchmarking của họ là đáng kinh ngạc, khi họ tìm thấy các đối thủ ở Nhật Bản đã thực hiện kỹ thuật tập hợp lại (regroup), để thực hiện được điều này họ áp dụng Kỹ thuật đảo ngược hệ thống và thực hiện Benchmarking cạnh tranh như là một phần cơ bản trong hoạt động của tổ chức họ vào đầu những năm 1980 Xerox bắt đầu học hỏi các tổ chức trong và ngoài ngành công nghiệp của họ Đến 1983 thì họ chuẩn hoá hơn
230 quy trình thực hiện trong hoạt động kinh doanh các ngành, từ đó lựa chọn quy trình thực hiện tốt nhất của công ty khác áp dụng vào tập đoàn Đây là cách họ lấy lại năng lực cạnh tranh cốt lõi của họ và lợi thế chiến lược trong ngành công nghiệp sản xuất máy photocopy [17]
2.3.3 Các loại Benchmarking
Benchmarking khởi đầu từ các ngành công nghiệp, nhưng cho tới bây giờ, quá trình này đã mở rộng sang lĩnh vực dịch vụ, tài chính, cơ quan nhà nước và lĩnh vực xây dựng Theo [18] Benchmarking có những loại thực hiện chính bao gồm:
2.3.3.1 Benchmarking nội bộ - Internal benchmarking
Đây là loại Benchmarking thực hiện so sánh các bộ phận, phòng ban công một công ty, các tổ chức hay các đơn vị trong một trường đại học với nhau Trước tiên, các
Trang 24các bộ phận trong một tổ chức phải hiểu hoạt động chính bộ phận đó, từ đó xem xét đánh giá bộ phận của mình và những bộ phận khác trong tổ chức để Benchmarking
Benchmarking nội bộ có rủi ro thất bại thấp nhất trong việc áp dụng thông tin cho
tổ chức, nhưng Benchmarking nội bộ lại mang lại lợi ích ở mức thấp nhất, vì nó chỉ đơn thuần xem xét những quá trình của chính công ty đươc đánh giá Lợi ích chính ở đây là xem xét những quá trình nội bộ đồng thời cố gắng làm việc chăm chỉ và khôn ngoan hơn
để cải tiến
Loại Benchmarking đặc biệt thích hợp ở các trường đại học khi giảng dạy với một chương trình chuẩn nhưng thực hiện ở nhiều cơ sở khác nhau, hay được thực hiện bởi các công ty nhượng quyền thương mại (Franchising)
2.3.3.2 Benchmarking cạnh tranh ngoài - External competitive benchmarking
Các tổ chức, công ty có lẽ sẽ không sẵn lòng chia sẻ bí mật kinh doanh với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp và điều này khiến cho Benchmarking cạnh tranh trở thành loại Benchmarking khó khăn nhất Benchmarking cạnh tranh là so sánh một cách cụ thể đối thủ cạnh tranh này với một đối thủ cạnh tranh khác Một trong những vấn đề phát sinh trong việc phân tích này là các tổ chức tham gia Benchmarking có thể cố ý làm sai lệch ý nghĩa của bên Benchmarking bằng cách cung cấp thông tin không đúng sự thật Thông thường các công ty thường không trao đổi thông tin, mà họ thường xuyên trao đổi các chuyến thăm nhà máy và thông qua đó tự mình khai thác thông tin
Không phải tất cả các đối thủ cạnh tranh đều sẵn sàng hợp tác, nhưng người nghiên cứu đến nhiều nhà máy, thu thập đủ thông tin từ các bài viết trên tạp chí, và từ chính các nhà máy cung cấp và lực lượng bán hàng của mình,…những thông tin này sẽ giúp tìm được những gì người nghiên cứu cần Loại Benchmarking này sẽ rất khó quản lý nếu các đối thủ cạnh tranh không hợp tác Trong trường hợp đó sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào những thông tin, dữ kiện thứ cấp, điều này thì ít có giá trị hơn khi nghiên cứu đối chiếu và so sánh trực tiếp
Lợi ích có được từ Benchmarking cạnh tranh chính là cơ hội để học hỏi cách làm việc hiệu quả hơn từ bên ngoài Kết quả thu được cũng tốt hơn khi người nghiên cứu tự
Trang 25Benchmarking, và việc truyền tải thông tin từ các quá trình của các đối thủ cạnh tranh đến công ty thực hiện nghiên cứu cũng dễ dàng hơn Tuy nhiên, các công ty không được đơn thuần sao chép sự cạnh tranh mà phải tiếp nhận và sửa đổi thông tin thu thập được cho phù hợp với nhu cầu của công ty
2.3.3.3 Bechmarking hợp tác ngoài - External collaborative benchmarking
Là một dạng Benchmarking cạnh tranh, Benchmarking hợp tác cần phải có một sự trao đổi thông tin giới hạn từ một sự liên kết tạm thời giữa các công ty (đôi khi giấu tên) Đây là một cách tốt để giúp tổ chức của bạn khởi đầu, bởi vì Benchmarking hợp tác thì ít tốn kém hơn Benchmarking cạnh tranh và đặc biệt là ít tốn thời gian hơn Các tổ chức chuyên nghiệp trong ngành có thể đề xuất một cơ sở dữ liệu Benchmarking hợp tác các kinh nghiệm tốt nhất Benchmarking hợp tác thông thường tập trung vào phương pháp thống kê định lượng hơn là phương pháp phân tích định tính
2.3.3.4 Benchmarking ngầm - Implicit benchmarking
Việc tiến hành so sánh các đối thủ cạnh tranh với nhau mà không cho các đối tác biết công ty họ đang bị tiến hành gọi là Benchmarking ngầm Thông thường loại này tốn kém hơn so với Benchmarking cạnh tranh
Các loại quá trình được cải tiến ngầm tốt nhất là quá trình có chung với các đối tác, chất lượng và tính tương thích của dữ liệu thu thập phụ thuộc vào phương thức quản lý cụ thể khi hướng các đối tác ngầm cũng như kinh nghiệm của nhóm Benchmarking trong việc thu thập và phân tích dữ liệu Hình thức Benchmarking này dễ thuyết phục nhà quản
lý hơn nếu nó có liên quan đến việc tăng khả năng thâm nhập thị trường hoặc khi việc quản lý đang ở mức cạnh tranh cao
Hình thức Benchmarking ngầm sẽ không tồn tại đối tác thực sự bởi vậy nghiên cứu này không phụ thuộc vào sự hợp tác với đối thủ cạnh tranh, thông tin này có thể đến từ bất kì nguồn tình báo cạnh tranh nào Rủi ro trong việc sử dụng những thông tin này cho
tổ chức đôi khi cao hơn, vì có thể có những dữ liệu không hoàn chỉnh, nhưng Benchmarking ngầm giúp thu thập được những dữ liệu mới, dữ liệu này sẽ giúp các công
Trang 26ty cải tiến quá trình hoặc chuẩn bị cho tương lai phát triển thị trường mà không lay động các đối thủ cạnh tranh
2.3.3.5 Benchmarking tốt nhất trong công nghiệp
External trans-industry (best in class): đây là loại Benchmarking được thực hiện nghiên cứu trên nhiều ngành công nghiệp khác nhau nhằm tìm kiếm các giải pháp và cải tiến mới mà không phân biệt ngành nghề Các nhà thực hiện xem đây là hình thức hấp dẫn nhất của Benchmarking vì nó có thể dẫn đến những cải tiến lớn trong hoạt động Theo trường Đại học NACUBO Hoa Kỳ đánh giá ― đây là mục tiêu cuối cùng của Benchmarking‖
2.3.4 Các ưu điểm và chỉ trích về Benchmarking
2.3.4.1 Các ưu điểm của Benchmarking
Có ba lý do để Benchmarking để thành công cụ phổ biến được sử dụng trong ngành công nghiệp [19], đó là:
Benchmarking là phương thức hiệu quả hơn để thực hiện những sự cải tiến Thông qua phương pháp các nhà quản lý có thể giới hạn các lần thử nghiệm và các lỗi xảy ra trong thực hiện việc cải tiến
Benchmarking giúp tăng tốc khả năng của tổ chức trong thực hiện sự cải tiến Đối với các công ty Mỹ ngày nay, thời gian là điều quan trọng nhất
Benchmarking có khả năng mang lại hiệu suất hoạt động đáng kể trong hầu hết các công ty ở Mỹ Từ đó tạo ra quy trình trình sản xuất và kỹ năng quản lý tốt, giúp họ nhanh chóng đạt được đẳng cấp thế giới
Theo Rank Xerox cho rằng thực hiện Benchmarking có các ưu điểm sau [20]:
Benchmarking mang tới những cách thức mới và sáng tạo của hoạt động quản lý doanh nghiệp
Nó là một công cụ hiệu quả trong công tác xây dựng đội ngũ (Team building), giúp cho các nhân viên cùng nhau hướng về mục tiêu chung của tổ chức
Giúp nâng cao nhận thức chung về chi phí và hiệu suất của sản phẩm và dịch vụ của các tổ chức cạnh tranh trên thị thường
Trang 27 Là công cụ giúp tập hợp các đơn vị trong tổ chức cùng nhau đối phó với sự cạnh tranh
Làm nổi bật sự tham gia của các nhân viên trong các tổ chức, khuyến khích các nỗ lực cá nhân và đội nhóm
Ngoài ra, để làm rõ các lợi ích do benchmarking cạnh tranh mang lại cả trong lĩnh vực kinh doanh và công cộng, một số lợi thế được thảo luận ở đây như: xây dựng đội ngũ, tính toàn diện, tính linh hoạt, tính sáng tạo, và sự phát triển [21]:
Xây dựng đội ngũ (Team building): benchmarking không thể thành công nếu không
có sự tham gia của tất cả thành viên trong dự án Nó tạo ra sự thống nhất trong tổ chức và cung cấp cho các thành viên một mục tiêu chung để thực hiện dự án Cùng với đó là các phần thưởng cho cá nhân, đội nhóm, người đại diện khi hoàn thành tốt các công việc trong dự án, điều này được đánh giá bằng cách thiết lập các mục tiệu, sau đó các cuộc họp
Tính linh hoạt (Flexibility): benchmarking là linh hoạt và có thể được sử dụng liên ngành Nó có thể thực hiện ở các tổ chức, khu vực công cộng, tư nhân hay tổ chức phi lợi nhuận như Từ công ty đa quốc gia đến cửa hàng nhỏ, từ cơ quan chính phủ đến một ngôi làng nhỏ
Tính sáng tạo (Creativity): đôi khi một tổ chức xác định được mục đích của họ, nhưng con đường thực hiện là không rõ ràng Hơn nữa khi một tổ chức được xác định là thực hiện tốt nhất không có nghĩa là họ không thể thực hiện tốt hơn nữa Sau khi xác định
rõ các mục tiêu, nó cũng có thể dễ dàng đến với những cách thức mới sáng tạo hơn trong quá trình thực hiện benchmarking
Sự phát triển (Evolution): benchmarking thay đổi cùng với sự phát triển của thị trường và người tiêu dùng Khi mọi thứ trên thế giới thay đổi thì không ai là tốt nhất Bởi
Trang 28vì benchmarking là quá trình lặp đi lặp lại liên tục, đánh giá và thay đổi cùng với sự phát triển của thế giới
2.3.4.2 Các rào cản về Benchmarking
Đối với bất kỳ khái niệm mới nào cũng có người ủng hộ hay chỉ trích, phản đối Benchmarking không nên được xem là cách thiết lập mục tiêu, mà là cách thức để giúp những người thực hiện hiểu tất cả quy trình được yêu cầu để đưa mục tiêu thành hiện thực Một trong những chỉ trích về benchmarking vì nó được xem là gián điệp cạnh tranh Điều này không đúng vì benchmarking chỉ là theo kịp những gì ngành công nghiệp đang thực hiện Tại Nhật benchmarking là một phần trong quản lý của họ, giúp họ đuổi kịp và vượt qua các đối thủ cạnh tranh trong các ngành như ô tô, xe máy, điện tử [19]
Mặt khác nhiều người cho rằng benchmarking chỉ là sự bắt chước, là điều mà nhiều người nghĩ về kỹ thuật này Viêc bắt chước và benchmarking không phải là một và giống nhau, vì bắt chước làm giảm đi sự sáng tạo và lặp lại những ý tưởng cũ còn benchmarking giúp các nhà quản lý tạo ra sự sáng tạo và cải tiến [11]
Một số tổ chức lại không muốn áp dụng benchmarking vì họ cho rằng nếu không
có sự phá sản thì không có sự thay đổi Khi một công ty đang làm tốt vấn đề tài chính thì
có xu hướng chống lại sự thay đổi và không lo lắng về đối thủ cạnh tranh [22] Mặt khác một số tổ chức né tránh áp dụng vì họ không hiểu gì về kỹ thuật này và cho rằng không có lợi ích gì đạt được khi áp dụng benchmarking
2.3.5 Phương pháp thực hiện Benchmarking
Khi sử dụng kỹ thuật benchmarking, một tổ chức phải xem xét làm thế nào để các quy trình trong chuỗi giá trị được thực hiện [14], thực hiện theo các bước sau:
1 Xác định quy trình quan trọng cần cải thiện
2 Xác định tổ chức thực hiện tốt nhất quy trình này
3 Liên hệ với tổ chức cần nghiên cứu benchmarking, tiếp xúc và nghiên cứu quy trình hay hoạt động
4 Phân tích dữ liệu thu thập được
Trang 295 Cải tiến quy trình hoạt động của tổ chức
Hình 2.3: Sơ đồ thực hiện Benchmarking
Do lo ngại thực hiện benchmarking có thể có các hành vi không tốt, gây hại cho các tổ chức khác nên một bộ chuẩn về hành vi khi thực hiện được thiết lập [23], như sau:
Khi thực hiện benchmarking với đối thủ cạnh tranh cần thiết lập các quy tắc nhất định để như gián điệp thương mại để giúp công ty đó có lợi thế cạnh tranh Thiết lập mục đích cho hai bên cùng cải thiện hoặc đạt được lợi ích
Không được lấy các thông tin nhạy cảm
Sử dụng bên thứ 3 như thanh tra hay cố vấn pháp lý và không thiên vị cho lời khuyên đối thủ cạnh tranh
Tham khảo ý kiến của tư vấn nếu thấy thông tin là không chắc chắn
Luôn giữ bí mật thông tin thu thập được, không được chia sẻ với đơn vị khác
Cam kết thực hiện hiệu quả quá trình benchmarking, tạo ra sự tin cậy để duy trì mối quan hệ trung thực và chuyên nghiệp với đối tác
Xác định quy trình cần cải thiện
Xác định tổ chức thực hiện tốt nhất quy trình cần cải thiện
Nghiên cứu quy trình hoạt động của tổ chức tốt nhất
Phân tích dữ liệu thu thập được từ
tổ chức tốt nhất
Thực hiện cải tiến quy trình hoạt
động của tổ chức
Trang 30Mục tiêu của Benchmarking nhằm rút ngắn khoảng cách thực hiện Khoảng cách này có thể hiểu là sự khác nhau trong hoạt động, được xác định thông qua việc so sánh giữa những hoạt động đặc thù của tổ chức mình với tổ chức khác [24]
Hình 2.4: Quá trình và khoảng cách Benchmarking
2.4 Các nghiên cứu liên quan tới đề tài
2.4.1 Các nghiên cứu liên quan An toàn lao động
Teo và cs (2005) [25] giới thiệu mô hình tính toán chỉ số An toàn công trường (CSI), nó đóng vai trò như chỉ số đo lường việc quản lý và thẩm định an toàn các công trường xây dựng khác nhau Nghiên cứu được thực hiện thông qua khảo sát việc thực hiện
hệ thống quản lý an toàn lao động (SMS) của 420 nhà thầu tại Singapore, các nhân tố thuộc 4 nhóm thuộc tính được xem xét là: chính sách (policy), quy trình (process), nhân
sự (personnel), sự khuyến khích (incentive) Nếu CSI tại các công trường thấp thì SMS tại
đó không hiệu quả, từ đó nhà thầu phải thực hiện các bước cải tiến công trường trước khi
có các nguy hiểm xảy ra Mặc dù vậy mô hình còn một số hạn chế như: được thực hiện thông qua khảo sát các chuyên gia nên cũng mang tính chủ quan từ các chuyên gia, nghiên cứu thực hiện tại Singapore nên các nhân tố và tỷ trọng cũng bị ảnh hưởng bởi
Benchmarking
Khoảng cách
Công ty
kế hoạch hoạt động
Đạt được Benchmar Vượt
Qua Benchmark
Trang 31môi trường và văn hoá địa phương, mô hình có quá nhiều thuộc tính (590 thuộc tính) nên rất khó áp dụng cho các nghiên cứu tương tự
Bassioni và cs (2007) [26] thực hiện nghiên cứu an toàn lao động của các công ty
lớn ở Ai Cập thông qua việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu suất an toàn Có 63 nhân tố được xác định từ các nghiên cứu quốc tế trước đó được đưa vào bảng câu hỏi khảo sát phân thành 12 nhóm chính Một chỉ số quan trọng (importance Index) được giới thiệu để tính toán cho mỗi nhân tố và dùng xếp hạng các nhân tố đó Hệ số sự phù hợp Kendall được dùng để đánh giá độ tin cậy của bảng xếp hạng các nhóm công ty được khảo sát cho thấy là tin cậy với mức ý nghĩa 5% Nghiên cứu chỉ ra rằng những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự thực hiện an toàn lao động là nhận thức của lãnh đạo công
ty, của quản lý dự án về an toàn và việc kiểm tra an toàn Từ đó nghiên cứu đề xuất các biện pháp nâng cao nhận thức của quản lý và kiểm tra an toàn
Việc cải tiến để thực hiện các tiêu chuẩn an toàn trong hợp đồng là việc không thể tránh khỏi của các công ty xây dựng được giúp đỡ bằng cách giám sát liên tục và xem xét các hoạt động an toàn của họ Để đạt được điều này một khung đánh giá hiệu suất an toàn Safety Performance Evaluation (SPE) được giới thiệu bởi Thomas và cs (2005) [27] Mặc
dù có rất nhiều phương pháp SPE đã được đề xuất nhưng một khuôn khổ SPE toàn diện hơn, trong đó bao gồm các chỉ số thích hợp cho tổ chức và dự án vẫn chưa được thực hiện Việc xác định nhân tố SPE được thực hiện thông qua bảng câu hỏi khảo sát nhà thầu tại Hong Kong, từ đó xác định trọng số các nhân tố trong mô hình SPE và tính điểm trung bình các nhân tố SPE của hệ thống an toàn tại các công ty xây dựng và tại các công trường Mô hình nghiên cứu giúp nhà thầu nhận dạng các mối nguy hiểm tiềm năng ở giai đoạn ban đầu của dự án, từ đó đề ra các biện pháp nhằm giảm thiểu các thiệt hại trong chi phí tài chính và chi phí xã hội liên quan
Một phương pháp quản lý an toàn của các nhà thầu phụ trên công trường xây dựng
Ấn Độ bằng công cụ KPSI (Key Performance Safety Indicator) đã được giới thiệu bởi Chocklingam [28] Đây là công cụ đo lường hiệu suất an toàn thầu phụ, xác định các nguy
cơ mất an toàn, tìm ra chỉ số tích cực và tiêu cực, giao tiếp với công nhân trên công
Trang 32trường để cải tiến liên tục Công cụ KSPI dùng đánh giá tất cả các nhà thầu phụ đang thực hiện nhiều công việc khác nhau trên công trường, kết quả đánh giá được thảo luận trong cuộc họp an toàn của các nhà thầu phụ, thực hiện cải tiến bằng nhiều cách như thông qua các poster hướng dẫn hay bảng tóm tắt điểm số đặt ở những khu vực có nguy cơ mất an toàn cho công nhân nhận biết Sau khi thực hiện cải tiến liên tục trong 2 tháng và kiểm tra lại tại công trường kết quả giảm được 50% các nguy cơ hay điều kiện mất an toàn Điều này cho thấy KSPI là công cụ hiệu quả trong việc xác định các điều kiện và khu vực không an toàn, giúp giảm tỷ lệ tai nạn lao động, cải thiện thông tin liên lạc giữa thầu chính và thầu phụ Ngoài ra có thể áp dụng cho quá trình cải tiến chất lượng công trình xây dựng
Giải thích rằng việc sử dụng biểu đồ bao dữ liệu (DEA) để thực hiện chuẩn an toàn của nhà thầu xây dựng được thông qua nghiên cứu của Mashaleh và cs (2010) [29] thực hiện tại Jordan DEA đã được công nhận như là công cụ mạnh mẽ để đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức kinh doanh Phương pháp đề xuất được triển khai dựa trên dữ liệu thu thập được từ 45 công ty có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực xây dựng Có 70 nhà thầu đồng ý cho thực hiện nghiên cứu nhưng chỉ 45 nhà thầu cung cấp dữ liệu theo yêu cầu cho mô hình DEA, mô hình đánh giá theo điểm từ 0-1, dữ liệu đầu vào là các chi phí đầu tư cho an toàn và đầu ra là số vụ tai nạn thuộc 5 loại tai nạn trong xây dựng quy định bởi tổ chức bảo vệ xã hội SSO tại Jordan Phân tích DEA đánh giá hiệu quả các nhà thầu trong việc thực hiện an toàn lao động, đối với nhà thầu không hiệu quả thì DEA cung cấp định lượng các chỉ dẫn để giúp nhà thầu cải thiện hiệu quả hơn
Somsana [30] tập trung khảo sát nhận thức công nhân và kỹ sư xây dựng Lào trong việc thực hiện an toàn lao động, bằng cách dùng mô hình ARTCM để nhận dạng các nguyên nhân gốc gây tai nạn lao động Từ đó đề xuất các biện pháp để giảm tai nạn lao động trong công nghệp xây dựng Lào
Nghiên cứu của Tuấn [31] về an toàn lao động với các nội dung sau: Đo lường tần
suất xảy ra tai nạn theo giờ công lao động; Phân tích tương quan giữa đặc điểm nhân thân người công nhân và tình trạng an toàn; Phân tích tương quan giữa đặc điểm của người
Trang 33quản lý và vấn đền an toàn lao động Từ đó đưa ra kiến nghị giải pháp hạn chế tai nạn lao
động
Tùng [32] Xác định các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự thực hiện của hệ
thống an toàn lao động; Phân tích và nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến chương trình an toàn lao động; So sánh các yếu tố với các nước trong khu vực Đông Nam Á cụ thể là Thái Lan Tác giả tìm được 16 yếu tố ảnh hưởng đến sự thực hiện chương trình an toàn lao động trong đó có 9 yếu tố tác động mạnh nhất đến hệ thống an toàn lao động
2.4.2 Benchmarking trong xây dựng
Nghiên cứu của Bách [33] thực hiện đề tài ứng dụng phương pháp Benchmarking
để đánh giá và cải tiến chất lượng quá trình thiết kế và lắp dựng cho khung nhà tiền chế Thông qua đề tài ta chỉ ra được phương pháp Benchmarking và ứng dụng của nó Trong
đó, điểm nổi bật nhất của phương pháp là đưa ra được cách thức để cải tiến công ty nội bộ vượt qua công ty đối thủ về lĩnh vực mà mình cần Benchmarking
Nguyễn Hữu Anh [34] nghiên cứu vấn đề ―làm lại‖ trong giai đoạn thiết kế các công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp tại Việt Nam thông qua ứng dụng phương pháp Benchmarking Nhờ vào đánh giá thực trạng tại công ty và các công ty đối sách để tìm ra các giải pháp nâng cao chất lượng của công ty nghiên cứu Sau khi phân tích tác giả tìm ra được 4 nhóm nguyên nhân chính dẫn đến ―Làm lại‖ như: (1) nguyên nhân người quản lý thiết kế, công ty tư vấn thiết kế; (2) nguyên nhân từ đội ngũ thiết kế như
kỹ sư, kiến trúc sư, M; (3) nguyên nhân từ chủ đầu tư; (4) nguyên nhân từ nhà thầu phụ thiết kế tương ứng với bốn nhóm nguyên nhân này tác giả cũng đưa ra bốn nhóm giải pháp giảm nhẹ sự ―làm lại‖ nâng cao chất lượng thiết kế là: (1) đảm bảo sự phù hợp theo yêu câu, quản lý sự thay đổi của CĐT, khách hàng; (2) giải pháp xây dựng hệ thống quản lý chất lượng công ty; (3) giải pháp sự điều hành, phối hợp và trao đổi thông tin; (4) giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ thiết kế
Juikun Dai [35] xây dựng các chuẩn an toàn lao động dựa trên kết quả khảo sát do
Viện Công nghiệp xây dựng Hoa Kỳ (CII) tiến hành đối với 55 công ty thành viên (24 Chủ đầu tư và 31 nhà) thực hiện năm 2009, hoạt động nhiều lĩnh vực như công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, xây dựng hạ tầng kỹ thuật, xây dựng công trình Hai số liệu an
Trang 34toàn xác định từ khảo sát là TRIR và DART được trình bày, kết quả chỉ ra rằng tỷ lệ TRIR trung bình của một công ty xây dựng Hoa kỳ chỉ gần bằng 85% so với các thành viên CII, vì vậy nghiên cứu đề xuất sử dụng thành viên CII làm chuẩn an toàn thay cho các tỷ lệ an toàn của OSHA Từ đó áp dụng phương pháp Benchmarking một khảo sát các thuộc tính thực hành an toàn tốt nhất của thành viên CII với các nhà thầu khác Hoa Kỳ giúp cải thiện hoạt động an toàn, nghiên cứu thực hiện thông qua khảo sát việc áp dụng kỹ thuật Zero Accident Techniques (ZAT) tại các công ty Thông qua việc chia sẻ các thuộc tính liên quan đến ZAT, các công ty đều đánh giá cao giá trị của áp dụng ZAT, có đến 81% người được hỏi cho biết đơn vị họ áp dụng trên tất cả các dự án, tuy nhiên khó khăn khi áp dụng là thiếu nguồn lực về tài chính và nhân sự
Nghiên cứu về cách đo lường hiệu suất quản lý an toàn trên các công trường xây dựng bằng cách ứng dụng phương pháp Benchmarking [36] Họ đã xác định các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quản lý an toàn và đã phát triển một phương pháp để đo lường hiệu quả quản lý an toàn trên các công trường xây dựng Dựa trên số liệu điều tra và phỏng vấn thu thập các yếu tố quản lý an toàn trong 82 dự án xây dựng ở Trung Quốc, chỉ
số quản lý an toàn như một phương tiện để đánh giá hiệu quả quản lý an toàn Các yếu tố định lượng được so sánh với các chỉ số thường được chấp nhận là an toàn vật lý, các biên bản kiểm tra an toàn, tỷ lệ tai nạn và sự hài lòng của đội ngũ quản lý dự án Tiến hành phân tích hồi quy tuyến tính đa bội và kết quả cho thấy hiệu suất quản lý an toàn có liên quan chặt chẽ với yếu tố tổ chức, yếu tố kinh tế, yếu tố mối quan hệ giữa quản lý và lao động tại chỗ Dựa nghiên cứu Benchmarking, một phương pháp đánh giá an toàn thực tế được phát triển và sau đó đánh giá trên sáu dự án xây dựng Kết quả của họ đã chứng minh rằng phương pháp này có thể là một công cụ hiệu quả để đánh giá quản lý an toàn cho các dự án xây dựng
Lưu Trường Văn [37] đã giới thiệu ứng dụng phương pháp Benchmarking để cải tiến hiệu suất Quản lý dự án xây dựng (PMP) Việc thu thập dữ liệu được thực hiện tại 3
công ty xây dựng hàng đầu tại Việt Nam là CIC8, Hòa Bình, Coteccons Tác giả cung cấp chỉ số đo lường KPIs để đo lường PMP và đánh giá năng lực dự án của các nhà thầu
Trang 35thông qua chỉ số này Nghiên cứu đề nghị dùng Benchmarking để đánh giá thực trạng PMP các nhà thầu thông qua khảo sát phỏng vấn các kỹ sư, chuyên gia quản lý dự án của
3 công ty xây dựng trên tại 15 dự án được thực hiện tại thành phố Hồ Chí Minh Một bảng câu hỏi thang đo Likert 10 mức độ với các chỉ số là 9 KPIs để phân tích giúp thực hiện cải
tiến liên tục nhờ tiếp thu những cái tốt hơn của các công ty đối sách
Nhìn chung tất cả các nghiên cứu về an toàn lao động đều theo hướng xác định các nhân tố ảnh hưởng, từ đó phân tích và tìm giải pháp hạn chế các nhân tố ảnh hưởng đó Nhưng chưa đề cập đến các chỉ số thực hiện đo lường chính một hệ thống an toàn lao động của công ty áp dụng trên công trình từ việc lập kế hoạch đến thực hiện, kiểm tra, đánh giá và các chính sách áp dụng đối với công nhân trong việc đảm bảo an toàn lao động Đây là nội dung sẽ được xem, giải quyết trong đề tài
2.5 Giới thiệu về chỉ số đo lường hiệu suất thực hiện KPI
2.5.1 Định nghĩa chỉ số KPI
Theo F John Reh [38] thì chỉ số đo lường hiệu suất KPI (Key Performance Indicators) hoặc chỉ số thành công KSI (Key Success Indicators), giúp cho một tổ chức xác định và đo lường hiệu suất thực hiện của họ Khi một tổ chức đã xác định sứ mệnh của mình, xác định các bên liên quan và mục tiêu hoạt động thì cần phải có một cách đo lường tiến độ thực hiện mục tiêu đó và chỉ số KPI chính là điều mà họ cần Các chỉ số KPI có các đặc điểm sau:
KPI phản ánh mục tiêu của doanh nghiệp
KPI là những thước đo có thể lượng hoá được
Mỗi chỉ số KPI cần có mục tiêu rõ ràng
Những lợi ích thực áp dụng chỉ số KPI trong đánh giá công việc [39]:
Những quyết định được thực hiện nhanh hơn khi có những đo lường nhận thấy được
Trang 36 Đưa ra các chỉ tiêu có thể định lượng được, nên việc đánh giá thực hiện công việc sẽ
cụ thể hơn, rõ ràng và thực hiện đơn giản hơn Làm cho nhân viên ít có những kiến nghị, bất đồng, hoài nghi trong tổ chức góp phần tạo động lực phấn đấu cho nhân viên, đặc biệt
là các nhân viên giỏi
2.5.2 Ứng dụng chỉ số KPI
Các chỉ số KPI được áp dụng trong nhiều quy trình tại các doanh nghiệp như: KPI
về sản xuất, chất lượng, nhân sự, kinh doanh, tài chính, cung ứng nguyên vật liệu
Tại Việt Nam hướng tới sự chuyên nghiệp trong kỹ năng quản trị, một số doanh nghiệp như Giấy Sài Gòn, Tân Hiệp Phát, Kinh Đô đã áp dụng chỉ số KPI để đánh giá các
bộ phận như tiếp thị, bán hàng, dịch vụ khách hàng [40]
Trong lĩnh vực xây dựng có nhiều đề tài thực hiện nghiên cứu chỉ số đo lường KPI như: nghiên cứu đánh giá hệ thống quản lý chất lượng công trình của các nhà thầu xây dựng Việt Nam [37], đánh giá quản lý an toàn lao động của các nhà thầu phụ trên công trường Ấn Độ [28], đánh giá quản lý chất lượng trong thiết kế thi công các công trình thép Việt Nam [33]
Trang 37CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Giới thiệu cách thức lập bảng câu hỏi, kích thước mẫu, kiểm định thang đo 3.1.1 Giới thiệu cách thức lập bảng câu hỏi
Bảng câu hỏi là một trong những phương pháp thường được dùng để khảo sát, thu thập dữ liệu cho việc nghiên cứu Chính vì vậy, việc thiết kế bảng câu hỏi sẽ ảnh hưởng rất đáng kể đến kết quả nghiên cứu; việc thiết kế bảng câu hỏi không tốt có thể sẽ dẫn đến việc kết quả nghiên cứu bị sai lệch khác xa nhiều so với điều kiện thực tế, đôi khi gây ra một hậu quả rất nghiêm trọng
Khảo sát bằng bảng câu hỏi là một phương pháp hiệu quả để thu thập ý kiến của một số lượng lớn người về một số vấn đề cần quan tâm trong khoảng thời gian nhất định Tuy nhiên đối tượng trả lời bảng câu hỏi phải được chọn lọc để đảm bảo độ tin cậy của nội dung phản hồi, tránh trường hợp bị hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau dẫn đến kết quả
bị lệch lạc, bóp méo
Người nghiên cứu không nên áp đặt bất kỳ một ý kiến nào của riêng mình cho người khác trả lời, mà phải cố gắng khích lệ người trả lời nói lên những suy nghĩ của họ, bảng câu hỏi phải được thiết kế sao cho những người trả lời có quan tâm đến và sẵn sàng chia sẻ thông tin, kết quả nghiên cứu với họ để khuyến khích họ trả lời một cách tận tình
và đầy đủ hơn
Các bước tiến hành xây dựng bảng câu hỏi:
Nhận dạng các vấn đề cần khảo sát từ các nguồn thông tin: phỏng vấn các chuyên gia trong ngành, kết quả của các nghiên cứu trước, tra cứu thông tin và tài liệu tham khảo qua sách báo, phương tiện truyền thông, internet,…
Lựa chọn hình thức câu hỏi và thang đo: Một trong những hình thức đo lường các khái niệm trừu tượng được sử dụng phổ biến nhất trong nghiên cứu kinh tế xã hội là dạng thang đo do Rennis Likert (1932) giới thiệu Likert đã đưa ra loại thang đo năm mức độ phổ biến Thang đo 5 mức độ có thể trở thành 3 hoặc 7 mức độ và đồng ý hay không đồng
ý, và cũng có thể trở thành chấp nhận hay không chấp nhận, có thiện ý hay phản đối, tuyệt vời hay tồi tệ, nhưng quy tắc là như nhau Tất cả đều được gọi là thang đo Likert [41]
Trang 38Trong đề tài nghiên cứu này tác giả chọn loại thang đo năm (05) mức độ (five-scales):
Ngoài ra, khi thiết kế bảng câu hỏi cần phải lưu ý những vấn đề sau:
Cách tổ chức bảng câu hỏi: cách tổ chức có ảnh hưởng rất mạnh đến tỉ lệ trả lời và tác động rất nhiều đến chất lượng thu thập thông tin (sự chính xác của các câu trả lời)
Cách sử dụng từ trong câu hỏi, cách đặt câu hỏi cũng có tác động rất mạnh đến chất lượng thông tin
Thang đo lường dùng trong câu hỏi, điều này ấn đinh dạng thông tin mà ta thu thập
3.1.2 Xác định kích thước mẫu
Ta có thể tăng độ chính xác (giảm độ rộng của khoảng tin cậy) bằng cách đơn giản
là tăng kích thước mẫu, tuy nhiên độ chính xác chỉ tăng lên theo tỉ lệ với căn bậc hai của kích thước mẫu Nói cách khác, chi phí lấy mẫu tăng lên với tốc độ nhanh gấp nhiều lần
so với tốc độ tăng của độ chính xác Một trường hợp nghiên cứu đã chứng minh rằng, để giảm khoảng tin cậy đi một nửa, từ ± 20% xuống ± 10%, ta cần phải tăng kích thước mẫu lên 4 lần
Ta có thể suy ra công thức tính toán kích thước mẫu như sau:
Trang 39 (Công thức 3.1) Trong đó:
N : kích thước mẫu;
: độ lệch chuẩn của trị trung bình của mẫu
SX : độ lệch chuẩn của mẫu
E : sai số cho phép, khoảng tin cậy;
Z : giá trị của phân phối chuẩn được xác định theo hệ số tin cậy
Kích thước mẫu là hàm số phụ thuộc vào mức độ chấp nhận rủi ro (biểu thị bằng giá trị Z), độ biến thiên của đám đông (ước lượng bằng độ lệch chuẩn) và khoảng tin cậy (sai số cho phép)
Trên thực tế, việc tính toán kích thước mẫu phức tạp hơn nhiều so với công thức Trước hết, ta thường không biết độ lệch chuẩn khi chưa thực sự bắt tay vào lấy mẫu Nhưng lại cần biết độ lệch chuẩn đó để quyết định kích thước mẫu trước khi tiến hành khảo sát Thông thường, giá trị độ lệch chuẩn được sử dụng trong công thức trên chỉ là một con số phỏng đoán, đôi khi sử dụng từ các nghiên cứu trước đó, hoặc từ nghiên cứu thí điểm, hay từ việc phỏng vấn thử nghiệm bảng câu hỏi Hoặc có khi ta bắt đầu bằng một kích thước mẫu thử nghiệm, sau khi thu được một số dữ liệu, ta tính độ lệch chuẩn của mẫu ấy, thế giá trị này vào công thức tính ra kích thước mẫu
Nhìn chung, còn khá nhiều vướng mắc trong công thức tính kích thước mẫu, cho nên người ta ít sử dụng chúng nếu như mục tiêu dự án không đòi hỏi quá cao về độ chính xác cho các thông số dự đoán:
Quy luật phỏng đoán cho thấy bằng kinh nghiệm rằng cần ít nhất 30 phần tử trong một mẫu để giá trị thống kê có ý nghĩa
Theo Hoelter (1983), số lượng mẫu tới hạn là 200 mẫu
Theo Bollen (1989), số lượng mẫu tối thiểu phải là 5 mẫu cho một tham số cần ước lượng (tỷ lệ 5:1)
Thông thường, ta có thể xác đinh kích thước mẫu theo kiểu định tính Độ lớn của mẫu tối đa là 1000, hoặc đơn giản hơn lấy 10% của đám đông, kích thước tối thiểu của
2
2
).(
E
S Z
XS
Trang 40mẫu là 30, và tuỳ thuộc vào độ biến thiên của đám đông mà điều chỉnh cho phù hợp Trong khoảng kích thước tối đa và tối thiểu đó, quyết định thường được suy xét dựa vào ngân quỹ và thời gian
3.1.3 Kiểm định thang đo
Việc xây dựng và kiểm định thang đo có ý nghĩa rất quan trọng đến độ tin cậy của các câu hỏi cũng như các kết quả phân tích sau này Kiểm định thang đo là chúng ta kiểm tra xem các mục hỏi nào đã đóng góp vào việc đo lường một khái niêm lý thuyết mà ta đang nghiên cứu, và những mục hỏi nào không Điều này liên quan đến 02 phép tính toán: tương quan giữa bản thân các mục hỏi và tương quan giữa các điểm số của từng mục hỏi với điểm số toàn bộ các mục hỏi cho mỗi bảng câu hỏi
Hệ số Cronbach Alpha là một phép kiểm định thống kê về mức độ chặt chẽ mà các mục hỏi trong thang đo tương quan với nhau, một trong những phương pháp kiểm tra tính đơn khía cạnh của thang đo được gọi là kiểm định độ tin cậy chia đôi
Công thức tính hệ số Cronbach Alpha:
(Công thức 3.2) Trong đó: N : số lần đo;
Si2 : phương sai của lần đo thứ i;
St2 : phương sai của tổng các lần đo;
: có giá trị 0<<1; càng lớn thì độ tin cậy càng cao
Theo qui ước, một tập hợp các mục hỏi dùng để đo lường được đánh giá tốt phải
có hệ số >= 0.80 nhưng có giá trị nhỏ nhất chấp nhận được là 0.70 [41]
3.2 Mô tả phương pháp và sơ đồ nghiên cứu
Đây là đề tài nghiên cứu mang tính định lượng nhằm xác định chỉ các số thực hiện
đo lường hiệu quả hoạt động hệ thống quản lý an toàn lao động KPIs ở các công ty xây dựng ở Việt Nam, đồng thời ứng dụng phương pháp Benhmarking để đánh giá và đưa ra hướng cải thiện hệ thống quản lý an toàn lao động công ty xây dựng mà đề tài nghiên cứu
2
2
) 1
(
* ) 1
i
S
S n