Theo đó, mục tiêu của nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn của tổ chức, phát triển một mô hình tương tác giữa các nhân tố trong văn hóa an toàn của tổ chức,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
BÙI HOÀNG PHƯƠNG
KẾT HỢP MÔ HÌNH EFQM VÀ SYSTEM DYNAMICS
ĐỂ CẢI THIỆN VĂN HÓA AN TOÀN
Chuyên ngành : Công nghệ và Quản lý xây dựng
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA – ĐHQG – HCM
Cán bộ hướng dẫn khoa học:
Cán bộ chấm nhận xét 1:
Cán bộ chấm nhận xét 2:
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại Học Bách Khoa, ĐHQG Tp.HCM ngày 25 tháng 07 năm 2014 Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm: 1
2
3
4
5
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá luận văn và Trưởng Khoa quản lý chuyên ngành
Trang 3
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
1- TÊN ĐỀ TÀI: KẾT HỢP MÔ HÌNH EFQM VÀ SYSTEM DYNAMICS ĐỂ CẢI
THIỆN VĂN HÓA AN TOÀN
2- NHIỆM VỤ LUẬN VĂN:
Nhận dạng các nhân tố ảnh hưởng văn hóa an toàn trong ngành công nghiệp xây dựng
Phát triển mô hình đánh sự thành công về văn hóa an toàn
Xác định mối quan hệ nhân quả giữa các nhân tố trong văn hóa an toàn
Đề xuất mô hình lý thuyết động về văn hóa an toàn
3- NGÀY GIAO NHIỆM VỤ : 10-02-2014
4- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 20-06-2014
5- CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: TS LƯƠNG ĐỨC LONG
Tp HCM, ngày 10 tháng 02năm 2014
TRƯỞNG KHOA KỸ THUẬT XÂY DỰNG
Trang 4Luận văn tốt nghiệp cao học ngành Công nghệ và Quản lý xây dựng được hoàn thành tại trường Đại Học Bách Khoa Tp.HCM Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến TS Lương Đức Long, người đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ tôi với những chỉ dẫn khoa học quý giá trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu và hoàn thành đề tài
Xin chân thành cảm ơn các Giáo viên - Các nhà khoa học đã trực tiếp giảng dạy truyền đạt những kiến thức khoa học chuyên ngành cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến những cá nhân của các công ty, công trường đã giúp đỡ tôi nhiệt tình trong quá trình thực hiện luận văn
Xin ghi nhận công sức và những đóng góp quý báu và nhiệt tình của anh, chị, bạn bè và đồng nghiệp đã sát cánh cùng tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Và cuối cùng, cho phép tôi xin gởi những tình cảm yêu thương đến gia đình tôi Đặc biệt là Ba, Mẹ và Chị đã một lòng tin tưởng và là nguồn động lực lớn lao để tôi có thể hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Tp.Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 06 năm 2014
Trang 5An toàn và vệ sinh lao động trong lĩnh vực xây dựng những năm gần đây tiếp tục
là vấn đề nhức nhối Tại Việt Nam, thống kê năm 2013 cho thấy có đến 28.6% số vụ tai nạn lao động xảy ra liên quan đến lĩnh vực xây dựng Tai nạn lao động gây thiệt hại
về tính mạng, vật chất, hiệu suất, tiến độ thi công Mặc dù các công ty trong lĩnh vực xây dựng tại Việt Nam đã có những bước thực hiện cải tiến an toàn nhưng vẫn chưa mang lại nhiều hiệu quả Người lao động cũng như người sử dụng lao động vẫn chưa
có một nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng trong việc đảm bảo sức khỏe và làm việc
an toàn Do đó việc nâng cao nền văn hóa an toàn trong một tổ chức nói riêng được xem là có tầm quan trọng trong việc cải thiện an toàn Theo đó, mục tiêu của nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn của tổ chức, phát triển một mô hình tương tác giữa các nhân tố trong văn hóa an toàn của tổ chức, đề xuất mô hình lý thuyết động về văn hóa an toàn trong tổ chức
Đề tài này dựa trên luận văn tiến sĩ ‘A System Dynamics Approach to Construction Safety Culture’ của tác giả Thandawee Chinda, nay được thực hiện lại trong điều kiện thực tế tại Việt Nam Cùng với việc kết hợp các tài liệu, nghiên cứu khác đã được thực hiện và tham khảo ý kiến chuyên gia, một bộ khung để đánh giá sự tác động giữa các nhân tố trong văn hóa an toàn của tổ chức đã được đề xuất bao gồm
32 thuộc tính được chứa đựng trong 6 nhân tố (khái niệm) : lãnh đạo, con người, quan
hệ đối tác và nguồn tài nguyên, chính sách và chiến lược, quy trình, mục tiêu Phân tích EFA và SEM đã được thực hiện để kiểm tra sự phù hợp của các thuộc tính và xác định mối liên hệ nhân quả giữa các khái niệm trong văn hóa an toàn Cuối cùng một
mô hình lý thuyết động (System Dynamics) được đề xuất như là một mô hình sơ bộ về văn hóa an toàn trong điều kiện thực tế tại Tp Hồ Chí Minh
Kết quả phân tích mô hình SEM đã cho thấy Lãnh đạo là nhân tố tác động đến cả
ba nhân tố Con người, Quan hệ đối tác và nguồn tài nguyên và Chính sách và Chiến lược Ngoài ra các ảnh hưởng gián tiếp giữa các nhân tố với nhau cũng được chỉ ra trong mô hình
Trang 6In recent years, Occupational Safety and Health in the construction field continues to be disturbing problem In Vietnam 2013, the statistic reports state that 28.6% of the accidents occurred related to the construction field Labor accidents causing loss of life, physical, performance, schedule Although in the construction field in Vietnam, companies has caried out to improve safety but it hasn’t still effecttive Workers and employers who still do not have a full awareness of the importance of ensuring the health and safety work Thereby improving safety culture
in an organization is having particular importance in improving safety Accordingly, the objective of the study was to identify effective factors to the safety culture of the organization, developing a model of interaction between factors in the safety culture of the organization, finally propose model of theory model of safety culture in the organization
These thesis is mainly based on a master thesis ‘A System Dynamics Approach
to Construction Safety Culture’ finished by Thandawee Chinda which is redone in real conditions in Vietnam By the combination of documents, other studies was carried out and consult experts, a framework for assessing the interaction of factors of the safety culture in organization was proposed, it included 32 elements contained in the six factors (six contructs): leadership, people, partnerships and resources, policy and strategy, processes and objectives EFA and SEM analysis was conducted to test the suitability of the elements In addition, It also determined the causal relationship between the contructs of safety culture Finally, a theoretical dynamic model (System Dynamics) is proposed as a Preliminary model of the safety culture in real conditions
in Ho Chi Minh City
Result of analysing SEM model said that leadership factor affect all of three factors such that People, Partnerships and Resources, and Policy and Strategy In addition, the indirect effects between these factors also were indicated in the model
Trang 7Tôi, Bùi Hoàng Phương, xin cam đoan rằng trong quá trình thực hiện luận văn
“Kết hợp mô hình EFQM và SYSTEM DYNAMICS để cải thiện văn hóa an toàn”, các số liệu thu thập và kết quả nghiên cứu được thể hiện hoàn toàn trung thực
và chưa được công bố ở bất kỳ nghiên cứu nào khác
Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về nghiên cứu của mình
Tp HCM, ngày 20 tháng 06 năm 2014
Bùi Hoàng Phương
Trang 8MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.3 Mục tiêu (mục đích) nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
1.5 Đóng góp của đề tài 4
1.5.1 Đóng góp về học thuật 4
1.5.2 Đóng góp về thực tiễn 4
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 5
2.1 Giới thiệu văn hóa an toàn 5
2.1.1 Văn hóa an toàn 5
2.1.2 Văn hóa an toàn trong xây dựng 6
2.2 Các hệ thống đo lường hiệu suất 6
2.2.1 Một số hệ thống đo lường hiệu suất phổ biến 6
2.2.2 Mô hình EFQM 7
2.3 Đề xuất mô hình văn hóa an toàn 9
2.3.1 Lãnh đạo 10
2.3.2 Chính sách và Chiến lược 11
2.3.3 Con người 12
2.3.4 Quan hệ đối tác và nguồn tài nguyên 14
2.3.5 Quy trình 15
2.3.6 Mục tiêu 16
2.4 Mô hình cấu trúc tuyến tính SEM (Structure Equation Modeling) 19
Trang 92.4.1 Sơ lược về mô hình SEM 20
2.4.2 Các thành phần của SEM 20
2.4.3 Phân tích nhân tố khẳng định (Confirmation Factor Analysis) 21
2.4.4 Kiểm định sự phù hợp trong SEM 22
2.5 Mô hình động học hệ thống (System Dynamics) 23
2.5.1 Khái niệm mô hình động học hệ thống 23
2.5.2 Các thành phần của mô hình động học hệ thống 24
2.6 Tóm tắt 28
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Quy trình nghiên cứu 29
3.2 Quy trình thu thập dữ liệu 30
3.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 30
3.2.2 Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát 31
3.2.3 Kích thước mẫu 33
3.3 Nội dung bảng câu hỏi khảo sát 34
3.3.1 Phần A: Mở đầu 34
3.3.2 Phần B: Các thuộc tính ảnh hưởng 34
3.3.3 Phần C: Thông tin chung 36
3.4 Công cụ nghiên cứu 36
CHƯƠNG 4: THU THẬP VÀ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 37
4.1 Thống kê mô tả 37
4.2 Kiểm tra độ tin cậy của thang đo (Cronbach’s Alpha) 39
4.3 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 41
4.3.1 Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) 44
4.3.2 Xác định mô hình đo lường 44
4.3.3 Mô hình lý thuyết của văn hóa an toàn 49
4.3.4 Đánh giá và hiệu chỉnh mô hình 51
Trang 104.3.5 Kết luận SEM 58
CHƯƠNG 5: SYSTEM DYNAMICS 60
5.1 Mô hình động về lãnh đạo 60
5.2 Mô hình động về con người 61
5.3 Mô hình động về quan hệ đối tác và nguồn tài nguyên 62
5.4 Mô hình động về chính sách và chiến lược 64
5.5 Mô hình động về quy trình 64
5.6 Mô hình động của mục tiêu 65
5.7 Mô hình động về chỉ số văn hóa an toàn 66
CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN 68
6.1 Kết luận 68
6.2 Hạn chế của nghiên cứu 69
6.3 Kiến nghị hướng nghiên cứu trong tương lai 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC 75
Trang 11DANH SÁCH BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 – Một số định nghĩa về văn hóa an toàn (Choudhry et al., 2007) 5
Bảng 2.2 – Các thuộc tính sơ bộ được chọn lọc từ việc xem xét tài liệu nghiên cứu 18
Bảng 2.3.Tiêu chuẩn mô hình phù hợp (Schumacker, 2010) 22
Bảng 3.1.Kích thước mẫu phù hợp (Nguyễn and Nguyễn, 2011) 34
Bảng 3.2.Thang đo 5 mức độ đồng ý 34
Bảng 3.3.Các thuộc tính được đưa vào khảo sát chính thức 35
Bảng 3.4.Công cụ nghiên cứu được sử dụng 36
Bảng 4.1.Hệ số Cronbach’s Alpha 39
Bảng 4.2.Kết quả phân tích EFA năm nhân tố 42
Bảng 4.3.Kết quả phân tích EFA nhân tố”MỤC TIÊU” 44
Bảng 4.4 Kết quả CFA mô hình đo lường 45
Bảng 4.5.Bảng giá trị độ tin cậy tổng hợp và phương sai trích trung bình 47
Bảng 4.6.Hệ số tương quan giữa các khái niệm 49
Bảng 4.7.Chỉ số phù hợp của mô hình cấu trúc về văn hóa an toàn 51
Bảng 4.8.Kết quả ước lượng tham số mô hình đầu tiên 52
Bảng 4.9.Kết quả của mô hình chính thức: 53
Bảng 4.10.Kết quả ước lượng Bootstrap với cơ số mẫu là 1000 56
Trang 12DANH SÁCH HÌNH ẢNH
Hình 1.1.Tình hình ATLĐ năm 2013 tại Việt Nam (Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội, 2014) 1
Hình 1.2 Nguyên nhân dẫn đến tai nạn năm 2013 tại Việt Nam (Nguồn-Bộ lao động thương binh và xã hội Việt Nam) 2
Hình 2.1.Mô hình EFQM (nguồn - http://www.efqm.org) 8
Hình 2.2.Mô hình EFQM được đề xuất 10
Hình 2.3.Mô hình đo lường và mô hình cấu trúc (Byrne, 2010) 21
Hình 2.4.Mô hình hệ thống động (Garcia, 2012) 24
Hình 2.5.Vòng lặp âm dương (Garcia, 2012) 25
Hình 2.6.Hệ thống tăng trưởng hàm mũ (Trần, 2012) 26
Hình 2.7.Hệ thống suy giảm hàm mũ (Trần, 2012) 26
Hình 2.8.Hệ thống phản hồi âm tầm đích (Trần, 2012) 27
Hình 2.9.Trì hoãn bậc nhất, (Trần, 2012) đã trích dẫn 27
Hình 2.10.Trì hoãn vật chất bậc cao, (Trần, 2012) đã trích dẫn 28
Hình 3.1.Quy trình nghiên cứu 30
Hình 3.2 Các phương pháp thu thập dữ liệu (Kumar, 2011) 31
Hình 3.3.Quy trình thu thập dữ liệu (Đỗ, 2010) 33
Hình 4.1.Thuộc tính số năm kinh nghiệm 37
Hình 4.2.Thuộc tính kinh nghiệm dự án 37
Hình 4.3.Vị trí công tác 38
Hình 4.4.Mức độ an toàn so với mặt bằng chung 38
Hình 4.5.Mô hình đo lường chuẩn hóa 46
Hình 4.6.Mô hình phát biểu giả thuyết 49
Hình 4.7.Mô hình giả thuyết đầu tiên của văn hóa an toàn 54
Hình 4.8.Mô hình cuối cùng của văn hóa an toàn 55
Hình 5.1 Mô hình động đối với nhân tố “Lãnh đạo” 60
Hình 5.2.Mô hình động đối với nhân tố “Con người” 62
Hình 5.3 Mô hình động của nhân tố “quan hệ đối tác và nguồn tài nguyên” 63
Hình 5.4.Mô hình động của nhân tố”chính sách chiến lược (CS&CL)” 64
Trang 13Hình 5.5.Mô hình động của nhân tố “Quy trình” 65
Hình 5.6.Mô hình động của nhân tố “Mục tiêu” 65
Hình 5.7.Mô hình động chỉ số văn hóa an toàn (CS-VHAT) 66
Hình 5.8 Mô hình động học system dynamics về Văn Hóa An Toàn 67
Trang 14DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
EFQM : Quỹ quản lý chất lượng Châu Âu
SEM : Mô hình cấu trúc tuyến tính
EFA : Phương pháp phân tích nhân tố khám phá
CFA : Phương pháp phân tích nhân tố khẳng định
SD : Mô hình động học hệ thống
Trang 15CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1.1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây ngành công nghiệp xây dựng Việt Nam đã dành
sự chú ý nhiều hơn đến vấn đề an toàn lao động Mặc dù sự nhận thức về vấn đề an toàn lao động đã được nâng cao một cách đáng kể nhưng số vụ tai nạn lao động trong lĩnh vực công nghiệp xây dựng vẫn ở mức rất cao Căn cứ vào thông báo về
“Tình hình tai nạn lao động năm 2013” (Hình 1.1;1.2) của Bộ lao động thương binh
và xã hội Việt Nam, lĩnh vực xây dựng là ngành chiếm tỷ lệ số vụ tai nạn lao động cao nhất với mức 28.6 % Cao nhất trong các yếu tố chấn thương của những vụ tai nạn lao động vẫn là ngã từ trên cao với tỷ lệ 26.9% tổng số vụ (đứng thứ 2 là điện giật chiếm 21.7% tổng số vụ) Tuy nhiên, những con số trên đây có thể lớn hơn rất nhiều vì chỉ có 5.3 % số doanh nghiệp là thực hiện đầy đủ việc báo cáo tai nạn lao động và nghề nghiệp
Hình 1.1.Tình hình ATLĐ năm 2013 tại Việt Nam (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 2014)
Xây dựng Khai khoáng Sản xuất kinh doanh
điện Cơ Khí chế tạo
Số vụ tai nạn (%) Số người chết (%)
Trang 16Hình 1.2 Nguyên nhân dẫn đến tai nạn năm 2013 tại Việt Nam (Nguồn-Bộ lao động thương binh và xã hội
Việt Nam)
Từ những con số thông kê trên, có thể thấy ngành công nghiệp xây dựng là một trong các ngành công nghiệp nguy hiểm nhất, có tỷ lệ cao về chấn thương và tử vong liên quan đến tai nạn lao động Nhiều báo cáo cho thấy các nước đang phát triển luôn có một tỷ lệ cao về tai nạn lao động liên quan đến xây dựng Theo (Aksorn and Hadikusumo, 2008), tại Thái Lan năm 2003, tai nạn do ngành xây dựng chiếm 14% tổng số người chết trong khi làm việc Tỷ lệ công nhân xây dựng
có khả năng bị khuyết tật vĩnh viễn nhiều hơn năm lần so với những người trong ngành công nghiệp khác (Fang and Wu, 2013) chung quan điểm với (Mohamed, 1999) rằng tai nạn xây dựng gây tổn thất lớn về tài sản, làm gián đoạn hoạt động của công trường, tiến độ dự án chậm trễ, và ảnh hưởng xấu đến tổng chi phí, năng suất và uy tín của ngành công nghiệp xây dựng Theo công bố của Bộ lao động thương binh và xã hội Việt Nam thì thiệt hại về vật chất do tai nạn lao động xảy ra năm 2013 (chi phí tiền thuốc, mai táng, tiền bồi thường cho gia đình người chết và những người bị thương, ) là 71.85 tỷ đồng, thiệt hại về tài sản là 6.27 tỷ đồng Tổng số ngày nghỉ do tai nạn lao động là 153,658 ngày Tất nhiên đây chưa phải là con số cuối cùng vì như đã nói ở trên là chỉ có 5.3% số doanh nghiệp là thực hiện đầy đủ việc báo cáo an toàn định kỳ
Theo (Mohamed, 1999), ngành công nghiệp xây dựng có sự nghèo nàn
Trang 17trong văn hóa an toàn thì việc cố gắng cải tiến an toàn sẽ không hoàn toàn hiệu quả cho đến khi văn hóa an toàn xây dựng được cải thiện Theo (Fung et al., 2005), việc thực hiện tốt văn hóa an toàn chắc chắn có thể giúp các tổ chức để kiểm soát và giảm chi phí xây dựng, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức trong thời gian dài Những chương trình an toàn hiệu quả và nền văn hóa an toàn tốt có thể được áp dụng cho tổ chức bởi vì nó khuyến khích sự hợp tác giữa các nhà quản
lý và những công nhân (những người có nguy cơ cao về tai nạn) trong việc quyết định sự an toàn và sức khỏe của họ (Aksorn and Hadikusumo, 2008)
Cho đến nay việc thực hiện các nghiên cứu về vấn đề văn hóa an toàn tại Việt Nam còn khá hạn chế Các nghiên cứu về an toàn chủ yếu là xác định, sau đó xếp hạng các yếu tố gây tai nạn lao động hoặc ảnh hưởng đến việc thực hiện an toàn trên công trường Do đó việc kiểm tra mối tương quan và sự tương tác giữa các nhân tố trong văn hóa an toàn xây dựng là cần thiết, nó giúp các tổ chức xây dựng
có thể hiểu rõ hơn mức độ tác động của các nhân tố lên văn hóa an toàn, qua đó sẽ góp phần cải thiện vấn đề an toàn xây dựng nói chung
1.2 Câu hỏi nghiên cứu
Các yếu tố nào ảnh hưởng đến văn hóa an toàn xây dựng trong một tổ chức nhà thầu?
Các nhân tố văn hóa an toàn tương tác với nhau ra sao?
1.3 Mục tiêu (mục đích) nghiên cứu
Nhận dạng các nhân tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn trong các tổ chức nhà thầu
Phát triển mô hình đánh sự thành công về văn hóa an toàn
Xác định mối quan hệ nhân quả giữa các nhân tố trong văn hóa an toàn
Đề xuất một mô hình lý thuyết động về chỉ số văn hoá an toàn
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các tổ chức nhà thầu có tham gia hoạt động trong lĩnh vực xây dựng như
Trang 18thi công, tư vấn giám sát, tư vấn quản lý dự án
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Vì chi phí và thời gian bị hạn chế nên đề tài được thực hiện tại các tổ chức đang hoạt động tại Tp Hồ Chí Minh và các vùng phụ cận Những người tham gia nghiên cứu đang làm việc trong các tổ chức nhà thầu như giám đốc dự án, chỉ huy trưởng/phó, giám sát, tư vấn giám sát, cán bộ quản lý an toàn Họ được xem là những người có nhận thức tốt về vấn đề an toàn và có kinh nghiệm trong việc thực
Nghiên cứu kết hợp mô hình phân tích thống kê với mô hình động học hệ thống (System Dynamics) thành lập mô hình lý thuyết động cho văn hóa an toàn
1.5.2 Đóng góp về thực tiễn
Kết quả của đề tài sẽ giúp nhận biết sự tương tác giữa các nhân tố trong văn hóa an toàn Từ đó có thể giúp các nhà quản lý có thể đưa ra được các quyết định một cách chính xác hơn đối với văn hóa an toàn
Trang 19CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN
Đề tài này đi theo quy trình nghiên cứu của luận văn tiến sĩ “A System Dynamics Approach to Construction Safety Culture” do tác giả Thanwadee Chinda thực hiện tháng 10/2007 Do đó một số lý thuyết, các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa
an toàn đã được sử dụng lại, đồng thời cập nhật sao cho phù hợp với điều kiện thực
tế tại Tp Hồ Chí Minh
2.1 Giới thiệu văn hóa an toàn
2.1.1 Văn hóa an toàn
Theo (Edwards et al., 2013) thuật ngữ “Văn hóa an toàn” lần đầu tiên được
sử dụng trong báo cáo INSAG-7 của tổ chức nguyên tử quốc tế (IAEA) sau khi xảy
ra thảm họa nhà máy điện hạt nhân Chernobyl 1986 Một trong những nguyên nhân của thảm họa là việc thiếu văn hóa an toàn ở cấp độ nhà máy và quốc gia Báo cáo
từ tổ chức an toàn lắp đặt nguyên tử (ACSNI,1993) đã được (Wright et al., 1999), (Fang and Wu, 2013) trích dẫn đã định nghĩa “văn hóa an toàn của một tổ chức là sản phẩm của cá nhân và những giá trị tập thể, là sự nhận thức, thái độ, năng lực nhằm xác định sự cam kết, phong cách và trình độ quản lý về sức khỏe và an toàn của một tổ chức Những tổ chức với một nền văn hóa an toàn tích cực được đặc trưng bởi việc giao tiếp dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau, chia sẻ nhận thức về những vấn đề an toàn quan trọng và tự tin về hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa”
Bảng 2.1 – Một số định nghĩa về văn hóa an toàn (Choudhry et al., 2007)
Nguồn tham khảo Định nghĩa về văn hóa an toàn
(Hale, 2000) Văn hóa an toàn liên quan đến “thái độ, niềm tin và nhận thức được chia sẻ bởi một
nhóm người, nó xác định làm thế nào họ hành động và phản ứng trong mối quan hệ với rủi ro và hệ thống kiểm soát rủi ro.”
(Guldenmund, 2000) “Văn hóa an toàn được định nghĩa như là những khía cạnh của văn hóa tổ chức tác
động lên thái độ và hành vi liên quan đến việc tăng hoặc giảm những rủi ro” (Cooper Ph.D., 2000) Văn hóa là “sản phẩm của nhiều mục tiêu trực tiếp tác động lẫn nhau giữa con
người (tâm lý), công việc (hành vi) và tổ chức; Trong khi văn hóa an toàn là “quan sát mức độ cố gắng bằng cách nào đó tất cả những thành viên của tổ chức hướng
sự quan tâm và những hành động của họ đến việc cải thiện an toàn”
(Mohamed, 2003) Văn hóa an toàn là một mặt phụ của văn hóa tổ chức, nó ảnh hưởng thái độ và hành
vi của công nhân liên quan với hiệu suất an toàn của một tổ chức
Trang 202.1.2 Văn hóa an toàn trong xây dựng
Theo (Fang and Wu, 2013) trích dẫn từ (Fang et al., 2006) đã định nghĩa văn hóa an toàn xây dựng như là bộ các niềm tin và giá trị được chia sẻ trong toàn thể tổ chức, nó ảnh hưởng đến cuộc sống, và liên quan đến nhận thức, hành vi của tất cả nhân viên và các bên liên quan Thông qua việc xem xét các thiết lập của dự
án, sự thay đổi và cải tiến đã được thực hiện để định nghĩa cho một dự án xây dựng Những thuộc tính quan trọng của những dự án xây dựng cần được đề cập bao gồm thực hành quản lý, quy trình xây dựng, xây dựng tạm thời đội ngũ tổ chức dự án , thực hành các vấn đề môi trường và quản lý công trường,v.V… Văn hóa an toàn trong xây dựng do đó nên khác với văn hóa an toàn tổ chức về phạm vi và thành phần (Fang and Wu, 2013) Từ những lập luận trên tác giả đã cho rằng văn hóa an toàn xây dựng là sự pha trộn giữa thái độ, niềm tin, giá trị, hành vi và những tiêu chuẩn được nắm giữ bởi những cá nhân và nhóm từ những thành phần khác nhau trong một nhóm dự án xây dựng (công nhân và ban quản lý) Nó được hình thành dần dần và phát triển trong môi trường dự án xây dựng, nó sẽ ảnh hưởng đến sự cam kết, phong cách và trình độ, cho thấy làm thế nào tất cả các bên tham gia dự án
và nhân viên thực hiện an toàn
2.2 Các hệ thống đo lường hiệu suất
2.2.1 Một số hệ thống đo lường hiệu suất phổ biến
Hệ thống đo lường hiệu suất có thể được sử dụng trong việc đo lường hiệu quả của tổ chức (Wongrassamee et al., 2003) nhóm các hệ thống đo lường hiệu suất thành hai loại lớn: hệ thống nhấn mạnh sự tự đánh giá và hệ thống được thiết kế để giúp các nhà quản lý trong việc đo lường và cải tiến quy trình kinh doanh
Một số hệ thống nhấn mạnh sự tự đánh giá:
The Deming Prize (www.deming.org)
The Malcolm Baldrige National Quality Award (MBNQA) framework (www.quality.nist.gov)
The European Foundation for Quality Management (EFQM) Excellence model (www.efqm.org)
Trang 21Một số hệ thống được thiết kế để giúp các nhà quản lý trong đo lường và cải tiến quy trình kinh doanh:
The Capability Maturity Matrices (www.sei.cmu.edu)
The Performance Pyramid
The Effective Progress and Performance Measurement (EP2M)
The Balanced Scorecard (BSC) framework
Trong số các hệ thống đo lường được liệt kê ở trên, (Wongrassamee et al., 2003) quan sát thấy rằng mô hình thông minh EFQM và quy trình BSC đã nhận được sự quan tâm rộng rãi, và gần đây đã được chấp nhận bởi nhiều tổ chức trên toàn thế giới
2.2.2 Mô hình EFQM
Mô hình EFQM được thành lập ngày 15 tháng 09 năm 1988 bởi 14 doanh nghiệp hàng đầu Châu Âu Mô hình ra đời với mục tiêu để tăng khả năng cạnh tranh của các tổ chức Châu Âu và hỗ trợ sự phát triển bền vững của các nền kinh tế Châu
Âu Để phát triển mô hình EFQM, tổ chức này đã thành lập một nhóm các chuyên gia từ các ngành công nghiệp và học viện, kết quả đã đạt một công cụ toàn diện hơn
có thể được áp dụng cho bất kỳ tổ chức, bất kể quy mô hoặc vùng miền Nó đã lần đầu tiên được sử dụng để hỗ trợ việc đánh giá của các tổ chức trong giải thưởng chất lượng Châu Âu trong năm 1992 (http://www.efqm.org/about-us/our-history)
Theo (Phan, 2008), mô hình EFQM là một bộ khung tổng quát dùng để chuẩn đoán tình hình doanh nghiệp cũng như giúp lập kế hoạch và cải tiến những kết quả của tổ chức được tốt hơn Mô hình EFQM đáp ứng việc tự đánh giá thường xuyên, toàn diện và có hệ thống các hoạt động cũng như kết quả của các tổ chức Quá trình tự đánh giá cho phép tổ chức nhận biết rõ ràng điểm mạnh và phạm vi cần được cải tiến của tổ chức Đặc điểm của mô hình EFQM là có thể áp dụng đối với tất cả các tổ chức
Mô hình này bao gồm chín nhân tố, năm trong số đó là “Các khả năng” và bốn trong số đó là "Các mục tiêu" (xem hình 2.1) Các khả năng bao gồm lãnh đạo, chính sách và chiến lược, con người, quan hệ đối tác và nguồn tài nguyên, quy trình
Trang 22Các mục tiêu bao gồm mục tiêu về con người, khách hàng, xã hội và mục tiêu kinh doanh Một cách đơn giản, các khả năng là những gì một tổ chức đang làm, trong khi các mục tiêu là những gì một tổ chức nhắm tới để đạt được Mỗi nhân tố trong quan điểm về an toàn sẽ được mô tả ngắn gọn dưới đây:
Hình 2.1.Mô hình EFQM (nguồn - http://www.efqm.org)
Lãnh đạo: cho thấy làm thế nào các nhà lãnh đạo cam kết và tạo điều kiện cho việc hoàn thành các nhiệm vụ về sức khỏe và an toàn Làm thế nào các nhà lãnh đạo phát triển các giá trị cần thiết cho sự thành công lâu dài, đồng thời thực hiện chúng bằng những hành động và hành vi phù hợp Các cá nhân liên quan phải đảm bảo rằng hệ thống quản lý an toàn của tổ chức phải được phát triển và thực hiện
Chính sách và chiến lược: mô tả làm thế nào tổ chức thực hiện nhiệm vụ của mình về an toàn thông qua chiến lược tập trung vào các bên liên quan, họ được
hỗ trợ bởi các chính sách có liên quan, những kế hoạch, những mục tiêu, những mục đích, và quy trình
Con người: mô tả làm thế nào một tổ chức quản lý, phát triển, và giải phóng kiến thức và tiềm năng đầy đủ ở nhân viên của họ ở mức độ cá nhân, nhóm, hay rộng hơn là mức độ tổ chức Những kế hoạch cho các hoạt động này nhằm thúc đẩy các chính sách và chiến lược an toàn hoạt động hiệu quả
Quan hệ đối tác và nguồn tài nguyên: mô tả làm thế nào một tổ chức lên kế hoạch và quản lý các mối quan hệ đối tác bên ngoài, nguồn tài nguyên bên trong để
Trang 23thúc đẩy chính sách và chiến lược an toàn cũng như hiệu quả hoạt động của các quy trình liên quan đến an toàn
Quy trình: mô tả làm thế nào một tổ chức thiết kế, quản lý, thực hiện và cải thiện để hỗ trợ các chính sách và chiến lược của mình nhằm đáp ứng đầy đủ và tạo
ra giá trị gia tăng cho khách hàng, nhân viên và các bên liên quan
Kết quả về con người nhìn vào những gì một tổ chức đạt được trong mối quan hệ với nhân viên của mình
Kết quả khách hàng nhìn vào những gì một tổ chức đạt được trong mối quan hệ với khách hàng bên ngoài của tổ chức (ví dụ như khách hàng và những người tham gia dự án) và các bên liên quan
Kết quả xã hội nhìn vào những gì một tổ chức đạt được trong mối quan hệ với cộng đồng và xã hội địa phương
Kết quả hoàn thành chủ yếu là nhìn vào những gì một tổ chức đang đạt được liên quan đến việc thực hiện kế hoạch của mình
2.3 Đề xuất mô hình văn hóa an toàn
Như đã trình bày trước đó, mô hình EFQM bao gồm năm khả năng nhằm đạt được bốn kết quả Tuy nhiên, đề tài này tập trung chính vào việc cải tiến sự tương tác giữa các khả năng nhằm đạt được kết quả tốt hơn Do đó bốn tiêu chí kết quả (thể hiện trong hình 2.1) được kết hợp lại với nhau thành một nhân tố duy nhất được gọi là “Mục tiêu” Mô hình văn hóa an toàn xây dựng được đề xuất như trong hình 2.2
Mô hình văn hóa an toàn xây dựng được đề xuất với giả định rằng lãnh đạo tác động đến con người, chính sách và chiến lược, cũng như các nguồn tài nguyên
Và ba nhân tố này đều góp phần ảnh hưởng đến khả năng đạt được mục tiêu thông qua việc thực hiện và cải tiến quy trình (xem hình 2.2) Sáu nhân tố (khái niệm) trên đại diện cho các nhân tố sơ bộ của mô hình
Trang 24Hình 2.2.Mô hình EFQM được đề xuất
Mô hình văn hóa an toàn bao gồm sáu nhân tố Mỗi nhân tố của mô hình văn hóa an toàn bao gồm các tiêu chí liên quan Thông qua luận văn tiến sĩ “A System Dynamics Approach to Construction Safety Culture” của tác giả Thadawee Chinda, các tiêu chí ảnh hưởng đến văn hóa an toàn được liệt kê và cập nhật dưới đây
2.3.1 Lãnh đạo
Lãnh đạo có thể được bao gồm ba thuộc tính cụ thể là “Cam kết quản lý”,
“Giao tiếp hai chiều”, “Chia sẻ trách nhiệm quản lý” Các thuộc tính trên được giải thích ngắn gọn dưới đây:
Cam kết quản lý: Cam kết của ban lãnh đạo về an toàn được xem là một thành phần chính của một chương trình an toàn sức khỏe nghề nghiệp thuộc về một
tổ chức (Zohar, 1980) (A L Teo et al., 2005) cho rằng văn hóa an toàn xây dựng phụ thuộc vào cam kết an toàn của ban quản lý và người lao động hướng đến chiến lược và việc khuyến khích an toàn (Jaselskis et al., 1996) cho rằng sự cam kết của ban quản lý trong vấn đề an toàn là một nhân tố quan trọng nhất Mức độ lãnh đạo cam kết hướng đến an toàn càng cao thì vấn đề văn hóa an toàn càng tích cực (Mohamed, 2002)
Giao tiếp hai chiều: (Lardner, 2001) cho rằng để tiến lên những mức độ
Trang 25thành thục cao hơn về văn hóa an toàn, một tổ chức cần tăng cường việc giao tiếp bao gồm cả chính thức và không chính thức giữa ban quản lý và nhân viên làm việc trực tiếp Theo (Mohamed, 2002) thì việc giao tiếp đối với các vấn đề an toàn càng hiệu quả thì văn hóa an toàn càng tích cực (E A L Teo et al., 2005) cho rằng sự hiệu quả của sự giao tiếp và trao đổi thông tin giữa ban quản lý và nhân viên sẽ làm giúp đạt được các chính sách an toàn
Chia sẻ trách nhiệm quản lý: một chương trình an toàn không thể thành công dựa trên cá nhân, do đó trách nhiệm thực hiện các hoạt động an toàn phải được chuyển từ quản lý cao nhất cho các cá nhân ở cấp thấp hơn [(Aksorn and Hadikusumo, 2008) tổng hợp từ nhiều nguồn]
2.3.2 Chính sách và Chiến lược
“Chính sách và chiến lược” xem xét làm thế nào một tổ chức thực hiện nhiệm vụ và tầm nhìn của mình về an toàn thông qua các chiến lược tập trung vào các bên liên quan, chiến lược được hỗ trợ bởi các chính sách, kế hoạch, mục đích, mục tiêu, và quy trình Nó bao gồm bốn thuộc tính: “Thừa nhận và khuyến khích an toàn”; “Sự ưu tiên giữa năng suất và an toàn”, “Quy tắc và tiêu chuẩn an toàn”,
“Hoạch định an toàn” Những thuộc tính được mô tả sau đây:
Thừa nhận và khuyến khích an toàn (phần thưởng, sự công nhận, và hình phạt): (Molenaar et al., 2002) và (Molenaar et al., 2009) kết luận rằng việc khuyến khích an toàn (phần thưởng, sự công nhận, hình phạt) sẽ nâng cao hiệu suất an toàn (Lingard and Blismas, 2006) cho rằng những chương trình khuyến khích sẽ tăng cường sự mong muốn các hành vi liên quan đến sức khỏe và an toàn nghề nghiệp,
nó là một đặc trưng của những tổ chức có hiệu suất tốt về sức khỏe và an toàn nghề nghiệp (Vredenburgh, 2002) cho rằng một chương trình khuyến khích an toàn phải
là một phần của trong việc cải tiến an toàn
Sự ưu tiên giữa năng suất và an toàn: (Hinze and Raboud, 1988) khám phá
ra rằng tầng suất của các chấn thương được ghi nhận nhiều hơn ở các dự án vượt ngân sách và cách chọn nhà thầu bằng phương pháp đấu thầu cạnh tranh Do đó những quy định an toàn nên được tôn trọng ngay cả dưới áp lực sản xuất (Glendon
Trang 26and Litherland, 2001)
Quy tắc và tiêu chuẩn an toàn: theo (Mohamed, 2002), các quy tắc an toàn
là một phần thiết yếu của hệ thống quản lý an toàn (Zhou et al., 2011) kết luận rằng các quy tắc an toàn là một trong hai phương pháp quản lý hiệu quả nhất để cải tiến văn hóa an toàn (Aksorn and Hadikusumo, 2008) tổng hợp từ nhiều nghiên cứu khác nhấn mạnh rằng ban quản lý phải cung cấp các phương tiện bắt buộc người lao động thực hiện, đặc biệt là những người vi phạm phải tuân theo các quy tắc và quy định an toàn Bằng cách đưa ra một cơ chế thực thi hiệu quả, ban quản lý sẽ giảm được số trường hợp vi phạm của nhân viên
Hoạch định an toàn: (Ahmed et al., 2004) cho rằng an toàn là vấn đề cốt lõi của công ty, và nó phải bao gồm trong các mục tiêu của tổ chức (Williamson et al., 1997) chứng minh rằng các nhà quản lý nên dành sự quan tâm đến an toàn của mọi người bằng với lợi nhuận mà họ thu được
2.3.3 Con người
Theo (E A L Teo et al., 2005), những tai nạn có thể xảy ra bởi vì thái độ nghèo nàn và hành vi xấu của những công nhân, nó rất khó khăn để quan sát và kiểm soát Nhiều chuyên gia an toàn đã ước lượng có đến 80%-90% tất cả các vụ tai nạn trong các ngành công nghiệp đều được quy cho con người (Lardner, 2001) (Đ T V Nguyễn, 2011) cho rằng con người là lý do cơ bản đằng sau tai nạn Các tiêu chí đại diện cho nhân tố này là: “Chia sẻ nhận thức về an toàn”, “Chia sẻ trách nhiệm về an toàn”, “Môi trường hỗ trợ an toàn”, “Sự tham gia của người lao động”,
“Mối quan hệ giữa người lao động”, “khối lượng công việc” và “Áp lực công việc” Những thuộc tính này được trình bày dưới đây:
Chia sẻ nhận thức về an toàn: công nhân nhận thức được, hiểu được tầm quan trọng về an toàn lao động sẽ ý thức và kiểm soát được hành vi của mình sao cho an toàn (Siu et al., 2004), công nhân nhận thức tích cực về văn hóa an toàn trong khu vực làm việc của họ thì hiệu suất an toàn sẽ tốt hơn (số tai nạn hoặc chấn thương thấp) (Fang et al., 2006) cho rằng những nhân viên làm việc an toàn hơn một cách thường xuyên sẽ có nhận thức tốt hơn về khu vực làm việc an toàn của họ
Trang 27Chia sẻ trách nhiệm về an toàn: (Williamson et al., 1997) đã chứng minh rằng an toàn là trách nhiệm của cả ban quản lý và lực lượng công nhân (Cheyne et al., 1999) cho rằng trong một tổ chức sản xuất, những hành động và trách nhiệm của ban quản lý đối với vấn đề an toàn sẽ tác động đến những hành động và trách nhiệm của lực lượng lao động đối với vấn đề an toàn Theo (Geller, 2000), trong một môi trường văn hóa an toàn rõ ràng, các nhà lãnh đạo đưa ra một cơ sở hợp lý cho một kết quả được mong đợi, và sau đó trao quyền cho nhân viên tùy chỉnh các phương pháp để đạt được kết quả đó
Môi trường hỗ trợ an toàn: theo (Fang and Wu, 2013), sự hỗ trợ và giám sát tích cực sẽ giúp đỡ khá nhiều cho việc thực hiện thành công hệ thống quản lý an toàn (Teo and Fang, 2006) chỉ ra yếu tố cần thiết của một môi trường hỗ trợ tốt là đảm bảo rằng các công nhân không chỉ có trách nhiệm an toàn cho chính họ mà còn
có trách nhiệm an toàn và sức khỏe cho đồng nghiệp của họ
Sự tham gia của người lao động: (Cohen, 2013) kết luận rằng, sự hợp tác giữa ban quản lý, giám sát và công nhân là một nhân tố góp phần vào sự thành công của các chương trình an toàn (Mohamed, 2002) cho rằng sự tham gia của người lao động ở mức độ cao hơn sẽ làm cho môi trường an toàn tích cực hơn Theo (Aksorn and Hadikusumo, 2008) tổng hợp từ nhiều nguồn, các chương trình antoàn thành công phần lớn phụ thuộc vào sự tham gia của nhân viên, công nhân và
họ có xu hướng hỗ trợ các hoạt động mà chính họ tạo ra Người lao động nên có cơ hội để cung cấp thông tin đầu vào cho việc thiết kế và thực hiện chương trình an toàn Ví dụ như là một thành viên của ủy ban an toàn, báo cáo rủi ro và hành vi không an toàn cho người giám sát, xác định nhu cầu đào tạo, và điều tra tai nạn
Mối quan hệ giữa người lao động: (Langford et al., 2000) cho rằng một hệ thống quản lý an toàn đơn lẻ sẽ không đảm bảo an toàn trên công trường, thiết lập tốt những mối quan hệ hợp tác giữa các công nhân, công đoàn, cán bộ an toàn và các nhà thầu phụ là rất thiết yếu nếu như vấn đề an toàn cần phải cải thiện
Khối lượng công việc: (Glendon and Litherland, 2001) quan sát thấy rằng,
để phát triển một môi trường an toàn tích cực, khối lượng công việc nên được cân bằng hợp lý (Siu et al., 2004) trích dẫn khẳng định rằng nhận thức cao của công
Trang 28nhân về áp lực công việc sẽ dẫn đến sự gia tăng khuynh hướng làm việc không an toàn, vì khi đó họ chỉ tập trung vào cách làm thế nào để hoàn thành công việc mà coi nhẹ an toàn
Áp lực công việc: áp lực công việc là do căng thẳng, thời gian tiến độ không khả thi,… Theo (Siu et al., 2004) tổng hợp một vài nghiên cứu trước đã cho thấy mối liên quan tích cực giữa sự không hài lòng xuất phát từ áp lực công việc và các tai nạn, chấn thương Công nhân căng thẳng sẽ có thiên hướng gặp phải chấn thương, tai nạn (Glendon and Litherland, 2001) cho rằng lịch trình thời gian hoàn thành công việc cho các dự án nên hoàn toàn khả thi và thực tế để nâng cao môi trường an toàn
2.3.4 Quan hệ đối tác và nguồn tài nguyên
“Quan hệ đối tác và nguồn tài nguyên” mô tả làm cách nào một tổ chức lập
kế hoạch và quản lý quan hệ các đối tác bên ngoài với những người tham gia dự án
và các bên liên quan khác, tổ chức các nguồn lực để hỗ trợ chính sách và chiến lược
an toàn, cũng như hiệu quả hoạt động của các quy trình liên quan đến an toàn Các tiêu chí liên quan đến nhân tố này là: “Những người tham gia dự án và các bên liên quan” và “sự sẵn có của các nguồn tài nguyên cần thiết liên quan đến an toàn” Những thuộc tính này được mô tả ngắn gọn dưới đây:
Những người tham gia dự án và các bên liên quan: (Suraji et al., 2001) cho rằng mọi người liên quan trong dự án xây dựng đều khởi xướng, ảnh hưởng, và kiểm soát các nguy cơ an toàn thông qua việc quyết định chiến lược của dự án, thiết
kế dự án, lựa chọn công nghệ, quản lý dự án,… Hay theo (Wright et al., 1999) thì chuẩn mực văn hóa được xác định nhờ sự nhận thức rủi ro được nắm giữ bởi tất cả các bên liên quan chính, đồng thời chuẩn mực văn hóa còn đòi hỏi phải có biện pháp đối thoại tích cực với tất cả các bên liên quan (bao gồm cả nhân viên, cộng đồng)
Sự sẵn có của các nguồn tài nguyên cần thiết liên quan đến an toàn: theo (Aksorn and Hadikusumo, 2008) tổng hợp từ nhiều nguồn cho thấy các mục tiêu của những chương trình an toàn không thể thành công nếu thiếu nguồn lực an toàn
Trang 29Ban quản lý phải xem xét và phân bố có hiệu quả nguồn tài nguyên cho việc thực hiện các hoạt động hàng ngày nhằm đạt được cả hai mục tiêu ngắn hạn và dài hạn Nguồn lực dành cho các chương trình an toàn có thể bao gồm đủ số lượng nhân viên, thời gian, tiền bạc, thông tin, phương pháp làm việc an toàn, công cụ, máy móc thiết bị…
2.3.5 Quy trình
Nhân tố này mô tả làm thế nào một tổ chức thiết kế, quản lý, và cải thiện quy trình để hỗ trợ các chính sách và chiến lược của nó, mục đích cuối cùng của quy trình là đạt được các mục tiêu đã đề ra Những thuộc tính bao gồm: “Huấn luyện an toàn”, “Đánh giá rủi ro”, “Tiếp nhận thông tin phản hồi”, “Kế hoạch bố trí
và vệ sinh công trường”, “Lưu trữ tài liệu về an toàn”, “Thực hiện benchmarking”
Huấn luyện an toàn: (Zhou et al., 2011) cho rằng huấn luyện an toàn là một trong hai phương pháp quản lý hiệu quả nhất để cải thiện văn hóa an toàn, (Fang and Wu, 2013) cho rằng huấn luyện an toàn có thể giúp nâng cao nhận thức, năng lực của nhân viên và các bên liên quan để làm việc an toàn và trau dồi văn hóa an toàn trong tổ chức (Aksorn and Hadikusumo, 2008) tổng hợp từ nhiều nguồn cho rằng một chương trình an toàn có thể đạt được thành công nếu các nhân viên được cung cấp thường kỳ các chương trình giáo dục và huấn luyện an toàn
Đánh giá rủi ro: theo (Harvey et al., 2002), nhận biết và đánh giá rủi ro có liên quan nhiều đến văn hóa an toàn Thực tế các công ty có mức độ an toàn được đánh giá cao trong khu vực thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, việc đánh giá rủi ro luôn được thực hiện một cách triệt để Nó giúp người quản lý cũng như các bên liên quan có thể biết được những sự cố có thể xảy ra (tai nạn, môi trường, ) khi thi công các hạng mục, từ đó họ sẽ có biện pháp đảm bảo làm việc an toàn
Tiếp nhận thông tin phản hồi: Theo (Little, 2002), thông tin phản hồi cung cấp những bài học hữu dụng và những trọng tâm cụ thể ở những nơi cần nỗ lực ngăn chặn sự cố (Choudhry et al., 2007) cho rằng các công nhân được khuyến khích thực hiện các hành vi an toàn Việc cung cấp các thông tin phản hồi là rất cần thiết để tăng cường các hành vi an toàn mà tổ chức mong muốn (Tam et al., 2004)
Trang 30tổng hợp từ nhiều nghiên cứu cho rằng khi những mục tiêu được công bố và sự phản hồi được thực hiện thì điểm số an toàn trong một tổ chức sẽ cao hơn so với khi việc phản hồi thông tin không được thực hiện
Kế hoạch bố trí và vệ sinh công trường: (Cohen, 2013), cho rằng mức độ vệ sinh giữ ở mức cao, điều kiện khu vực làm việc gọn gàng, ngăn nắp và hiệu quả kiểm soát chất lượng môi trường là một trong những chương trình an toàn thành công (Suraji et al., 2001) cho rằng việc lập kế hoạch (trong đó có mặt bằng công trường) không phù hợp là điển hình của sự thiếu phân tích hoặc tính toán và nó sẽ
có mối quan hệ đến việc xảy ra các rủi ro ngoài ý muốn Nó có thể dẫn đến những chấn thương cho người lao động và cộng đồng, đồng thời có thể hủy hoại tài sản và môi trường
Lưu trữ tài liệu về an toàn (đánh giá rủi ro, kế hoạch an toàn, nhật ký tai nạn, và biên bản cuộc họp an toàn,…): Các tổ chức có hiệu suất an toàn cao luôn quản lý đầy đủ các báo cáo (Pasman, 2000) đưa ra các yếu tố chính của một hệ thống quản lý an toàn là quá trình học hỏi, tài liệu, hồ sơ của các tiêu chuẩn thiết kế,
và các hồ sơ các quyết định của ban quản lý (Aksorn and Hadikusumo, 2008) cho rằng việc lưu trữ hồ sơ an toàn là một trong những chương trình an toàn hiệu quả
Thực hiện Benchmarking: theo (Fang et al., 2004), việc thực hiện hiệu quả việc đo lường hoặc đưa ra chuẩn (benchmark) của hệ thống quản lý an toàn là một phần quan trọng cho việc cải tiến quản lý an toàn, giúp nâng cao văn hóa an toàn
2.3.6 Mục tiêu
Mục tiêu liên quan đến nhân viên, khách hàng, xã hội và hiệu quả kinh doanh, đại diện cho các mục tiêu cuối cùng của một tổ chức nỗ lực để đạt được Nó được đại diện bởi những tiêu chí cụ thể như: “Sự hài lòng trong công việc”, “Hành
vi làm việc an toàn “, “Giảm số vụ tai nạn và sự cố liên quan đến an toàn”, “Đáp ứng sự mong đợi của khách hàng”, “Cải thiện hình ảnh tổ chức”, “Nâng cao tinh thần người lao động”, và “Giảm chi phí liên quan đến tai nạn” Mỗi tiêu chí được
mô tả ngắn gọn dưới đây:
Sự hài lòng trong công việc: (Eskildsen and Dahlgaard, 2000) cho rằng nếu
Trang 31không có sự hài lòng của nhân viên thì không thể sản xuất ra được những sản phẩm chất lượng cũng như đạt được sự hài lòng và trung thành của khách hàng (Harvey
et al., 2002) tổng hợp từ nhiều nguồn cho thấy sự hài lòng trong công việc là một khía cạnh quan trọng trong văn hóa an toàn, đồng thời kết luận rằng sự hài lòng trong công việc rõ ràng là một yếu tố thích hợp trong việc nhận thức an toàn
Hành vi làm việc an toàn: (A L Teo et al., 2005) trích dẫn từ nguồn khác cho rằng những tai nạn có thể xảy ra bởi thái độ nghèo nàn và những hành vi không
an toàn của công nhân Chính việc này làm cho công nhân có xu hướng không trang
bị đầy đủ các thiết bị bảo hộ an toàn cho mình khi làm việc trên công trường (Mohamed, 2002) tuyên bố có mối quan hệ thích cực giữa hành vi làm việc an toàn
và môi trường an toàn
Giảm số vụ tai nạn và sự cố liên quan đến an toàn: hiển nhiên đây là một mục tiêu mà rất nhiều nghiên cứu về vấn đề an toàn đã đặt ra, bất kỳ ai tham gia vào hoạt động xây dựng đều muốn đạt được điều này bằng nhiều cách khác nhau Vấn
đề văn hóa an toàn được cải thiện sẽ dẫn đến nhận thức và hành vi tích cực của người lao động, do đó làm giảm số vụ tai nạn
Đáp ứng sự mong đợi của khách hàng: (Mohamed, 2003) cho rằng triển vọng khách hàng đại diện cho sản phẩm của văn hóa an toàn Nó có thể được sử dụng để đánh giá các nhân viên và tập thể bên ngoài nhận thức an toàn trên công trường như thế nào Khi khách hàng hài lòng chứng tỏ công tác an toàn tại công trường được thực hiện tốt, do đó những nhân viên và các bên liên quan sẽ nhận được một sự đánh giá tốt về an toàn
Cải thiện hình ảnh tổ chức: (Little, 2002) cho rằng quản lý an toàn nghèo nàn sẽ là mất đi danh tiếng và cơ hội kinh doanh
Nâng cao tinh thần người lao động: đây là một mục tiêu thiết thực bởi vì người lao động với tinh thần làm việc thoải mái sẽ đạt hiệu suất an toàn cao hơn Ngược lại khi họ cảm thấy căng thẳng, lo sợ sẽ không tập trung trong công việc gây mất an toàn (Mohamed, 2003) cho rằng tinh thần lực lượng lao động có thể được
đo lường bằng sự mở rộng công nhận và phần thưởng dành cho các cá nhân có một hiệu suất an toàn tốt
Trang 32Giảm chi phí liên quan đến tai nạn: (Fang and Wu, 2013) chung quan điểm với (Mohamed, 1999) rằng tai nạn xây dựng gây tổn thất lớn về tài sản, làm gián đoạn hoạt động của công trường, tiến độ dự án chậm trễ, và ảnh hưởng xấu đến tổng chi phí (Nadeem et al., 2009), đầu tư đầy đủ cho an toàn sẽ giúp giảm chi phí do tai nạn gây ra Chi phí này có thể rất lớn như thời gian nghỉ việc, thuốc men, trang thiết
bị máy móc bị tạm dừng, giảm năng suất,…
Các khái niệm ngắn gọn của sáu nhân tố (năm khả năng và mục tiêu) đã được trình bày Từ các nghiên cứu trước, đã chọn ra sơ bộ 28 thuộc tính liên quan đến văn hóa an toàn, các thuộc tính được trình bày trong bảng 2.2
Bảng 2.2 – Các thuộc tính sơ bộ được chọn lọc từ việc xem xét tài liệu nghiên cứu
2 L2 Giao tiếp hai chiều (Lardner, 2001); (Mohamed,
2002); (E A L Teo et al., 2005)
3 L3 Chia sẻ trách nhiệm quản lý (Aksorn and Hadikusumo, 2008)
5 S2 Sự ưu tiên giữa năng suất và an toàn
(Hinze and Raboud, 1988);
(Glendon and Litherland, 2001)
6 S3 Quy tắc và tiêu chuẩn an toàn
(Mohamed, 2002); (Zhou et al., 2011); (Aksorn and Hadikusumo, 2008)
7 S4 Hoạch định an toàn (Ahmed et al., 2004); (Williamson
Trang 33(Cheyne et al., 1999); (Geller, 2000)
10 C3 Môi trường hỗ trợ an toàn (Fang and Wu, 2013); (Teo and
Fang, 2006)
11 C4 Sự tham gia của người lao động (Cohen, 2013); (Mohamed, 2002);
(Aksorn and Hadikusumo, 2008)
12 C5 Mối quan hệ giữa người lao động (Langford et al., 2000)
13 C6 Khối lượng công việc (Glendon and Litherland, 2001);
(Siu et al., 2004)
14 C7 Áp lực công việc (Siu et al., 2004); (Glendon and
Litherland, 2001)
QUAN HỆ ĐỐI TÁC VÀ NGUỒN TÀI NGUYÊN
15 R1 Những người tham gia dự án và các bên
liên quan
(Suraji et al., 2001); (Wright et al., 1999)
16 R2 Sự sẵn có của các nguồn tài nguyên cần
thiết liên quan đến an toàn (Aksorn and Hadikusumo, 2008)
QUY TRÌNH
17 P1 Huấn luyện an toàn
(Zhou et al., 2011); (Fang and
Wu, 2013); (Aksorn and Hadikusumo, 2008)
18 P2 Đánh giá rủi ro (Harvey et al., 2002)
19 P3 Tiếp nhận thông tin phản hồi (Little, 2002); (Choudhry et al.,
25 G4 Đáp ứng mong đợi của khách hàng (Mohamed, 2003)
26 G5 Cải thiện hình ảnh tổ chức (Little, 2002)
27 G6 Nâng cao tinh thần người lao động (Mohamed, 2003)
28 G7 Giảm chi phí liên quan đến tai nạn (Fang and Wu, 2013); (Mohamed,
1999); (Nadeem et al., 2009)
2.4 Mô hình cấu trúc tuyến tính SEM (Structure Equation Modeling)
Trang 342.4.1 Sơ lược về mô hình SEM
Theo (Schumacker, 2010), Mô hình SEM sử dụng nhiều loại mô hình khác nhau để miêu tả mối quan hệ giữa các biến quan sát, với mục tiêu cơ bản là cung cấp các kiểm tra định lượng mô hình lý thuyết được giả thuyết bởi người nghiên cứu Đặc biệt hơn, nhiều mô hình lý thuyết khác nhau có thể được kiểm tra trong SEM và đảm bảo rằng làm thế nào những bộ biến định nghĩa các khái niệm và làm thế nào các khái niệm liên quan với nhau
Mục tiêu của phân tích SEM là xác định phạm vi mô hình lý thuyết được hỗ trợ bởi dữ liệu mẫu Nếu dữ liệu mẫu hỗ trợ mô hình lý thuyết thì nhiều mô hình lý thuyết phức tạp hơn sẽ được giả thuyết Nếu dữ liệu mẫu không hỗ trợ mô hình lý thuyết thì hoặc là mô hình gốc có thể được chỉnh sửa và kiểm tra, hoặc là những mô hình lý thuyết khác cần được phát triển và kiểm tra
kế để đo lường (biến tiềm ẩn) Mô hình đo lường vì thế còn được gọi là mô hình nhân tố khẳng định (Confirmation Factor Models) Ngược lại mô hình cấu trúc định nghĩa mối liên quan giữa các biến không quan sát Theo đó, nó chỉ rõ cách thức mà các biến tiềm ẩn riêng biệt ảnh hưởng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi các giá trị của một số biến tiềm ẩn khác trong mô hình
Trang 35Hình 2.3.Mô hình đo lường và mô hình cấu trúc (Byrne, 2010)
Biến tiềm ẩn (khái niệm, nhân tố): là biến không thể đo lường một cách
trực tiếp Biến tiềm ẩn được đại diện bởi các biến quan sát Trong phần mềm Amos được ký hiệu ở dạng hình tròn hoặc elip
Biến quan sát (biến đo lường): là biến có thể đo lường một cách trực
tiếp.Trong phần mềm Amos được ký hiệu ở dạng hình vuông hoặc chữ nhật
Đường nối trực tiếp từ biến tiềm ẩn đến biến quan sát: thể hiện mối liên
hệ giữa biến tiềm ẩn và biến quan sát Mối quan hệ này được hiểu là hệ số tải nhân
tố Trong phần mềm Amos được ký hiệu là mũi tên một chiều
Sai số đo lường: chỉ ra rằng một vài phần trong mỗi biến quan sát đo lường
cái gì đó khác so với nhân tố được giả thuyết Đánh giá sai số đo lường thông qua việc ước lượng phương sai sai số đo lường
Mối tương quan giữa các nhân tố: được biểu diễn bởi mũi tên nối hai
khái niệm, điều này cho thấy nó có đóng góp phương sai hoặc tương quan với nhau
2.4.3 Phân tích nhân tố khẳng định (Confirmation Factor Analysis)
Việc so sánh hai phương pháp EFA và CFA sẽ giúp hiểu rõ vấn đề hơn
Trang 36Theo (Schumacker, 2010), phân tích nhân tố EFA cố gắng xác định những bộ biến quan sát chia sẻ các đặc tính phương sai-hiệp phương sai để định nghĩa những cấu trúc lý thuyết hoặc những nhân tố lý thuyết Phân tích nhân tố EFA giả định rằng các nhân tố có số lượng nhỏ hơn số lượng các biến quan sát chịu trách nhiệm chia
sẻ phương sai-hiệp phương sai Trong thực tế, bộ dữ liệu thu thập trên các biến quan sát và việc sử dụng kỹ thuật phân tích nhân tố là để xác nhận một tập con của các biến quan sát định nghĩa các khái niệm hoặc nhân tố trích xuất được, hoặc để khám phá những biến quan sát có tương quan với các nhân tố Trong mô hình nhân tố khám phá, chúng ta theo đuổi việc tìm kiếm một mô hình phù hợp với dữ liệu Đây
là lý do căn bản của phân tích nhân tố khám phá EFA Trong phương pháp phân tích nhân tố khẳng định, chúng ta theo đuổi để kiểm tra về mặt thống kê ý nghĩa của
mô hình nhân tố giả thuyết Hơn nữa, dữ liệu mẫu phù hợp với mô hình sẽ tiếp tục xác nhận tính hợp lệ của mô hình giả thuyết Đây là lý do chính của phân tích nhân
tố khẳng định CFA
Trong CFA, nhà nghiên cứu xác định chắc chắn số lượng nhân tố, các nhân
tố có tương quan với nhau và các biến quan sát đại diện cho mỗi nhân tố Trong EFA, nhà nghiên cứu khám phá có bao nhiêu nhân tố, các nhân tố có tương quan hay không, và các biến quan sát có đo lường tốt nhất cho các nhân tố hay không Trong CFA, nhà nghiên cứu có một mô hình lý thuyết ưu tiên còn EFA thì không có một mô hình định sẵn
2.4.4 Kiểm định sự phù hợp trong SEM
Kiểm tra sự phù hợp của mô hình (Schumacker, 2010) đã đề xuất các chỉ
số cần thiết để xem mô hình là phù hợp
Bảng 2.3.Tiêu chuẩn mô hình phù hợp (Schumacker, 2010)
Tiêu chuẩn mô hình phù hợp Mức độ chấp nhận
Chi-square So sánh giá trị Chi-square đạt được với bảng giá trị
của bậc tự do Goodness-of-fit index (GFI) Giá trị gần trong khoảng [0.9;0.95]
Root-mean square residual Sự gần gũi của ma trận ∑ đến ma trận S
Trang 37Standardized RMR (SRMR) < 0.05
Root-mean-square error of
approximation (RMSEA) 0.05 <= RMSEA <= 0.08
Tucker–Lewis Index (TLI) Giá trị gần trong khoảng [0.9;0.95]
Normed fit index (NFI) Giá trị gần trong khoảng [0.9;0.95]
Parsimony fit index (PNFI) Càng gần 1 càng phù hợp Dùng để so sánh giá trị
trong các mô hình thay thế Akaike information criterion (AIC) Càng gần 0 càng phù hợp Dùng để so sánh giá trị
trong các mô hình thay thế
(Nguyễn and Nguyễn, 2011) hầu hết trong các nghiên cứu của mình đã sử dụng bốn chỉ số để đánh giá sự phù hợp của mô hình bao gồm: Chi-square; Chi-square/Df<=2; Root-mean-square error of approximation (RMSEA)<= 0.08; Tucker–Lewis Index (TLI) >=0.9; comparative fit index (CFI) >=0.9 Nếu đáp ứng được các tiêu chí này thì mô hình được xem là tương thích với dữ liệu thực tế (Phạm, 2013) đã trích dẫn trị tuyệt đối phần dư lớn nhất không được vượt quá 4 Nghiên cứu sẽ sử dụng năm chỉ số này để kiểm tra sự phù hợp của mô hình, vì nó
đã được sử dụng trong rất nhiều các nghiên cứu có sử dụng mô hình SEM
Kiểm định độ tin cậy của mô hình đo lường (Nguyễn and Nguyễn,
2011), (Phạm, 2013) đã đề xuất các chỉ tiêu đánh giá là hệ số tin cậy tổng hợp (composite reliability), tổng phương sai trích được (variance extracted), giá trị hội
tụ, và giá trị phân biệt (discriminant validity)
Kiểm định độ tin cậy trong việc ước lượng tham số (Phạm, 2013) đề
xuất sử dụng kiểm định bootstrap để chứng minh độ tin cậy của việc ước lượng tham số
2.5 Mô hình động học hệ thống (System Dynamics)
2.5.1 Khái niệm mô hình động học hệ thống
Mô hình động học hệ thống trong luận văn này được sử dụng để phát triển
mô hình điểm số văn hóa an toàn Mô hình này lần đầu tiên được giới thiệu vào
giữa những năm 1950 bởi giáo sư Jay Forrester thuộc học viện MIT (Wikipedia)
Động học hệ thống được phát triển để ứng dụng cho việc kiểm soát giả thiết trong
Trang 38việc phân tích các hệ thống công nghiệp, kinh tế, xã hội và môi trường khác nhau Một trong những tính năng mạnh mẽ nhất của động học hệ thống là khả năng cung cấp giải pháp phân tích những hệ thống phức tạp và phi tuyến theo thời gian
2.5.2 Các thành phần của mô hình động học hệ thống
Theo (Garcia, 2012), “System Dynamic là công cụ dùng để biết được các sự việc thay đổi theo thời gian bằng các phương trình hữu hạn hoặc phương trình vi phân Đó là tập hợp các yếu tố liên quan với nhau, mọi sự thay đổi của một mặt nào của một yếu tố cũng làm thay đổi toàn bộ hệ thống Để nghiên cứu hệ thống, chúng
ta phải biết các yếu tố cấu thành và các mối liên hệ giữa chúng”
Hình 2.4.Mô hình hệ thống động (Garcia, 2012)
Theo (Q T Nguyễn, 2011) cho rằng: System Dynamic mô tả hiện thực bằng cách sử dụng những vòng quay lặp phản hồi nội tại, với những biến “stocks” (Kho) và tiến trình “flows” (Dòng) Những nhân tố này sẽ giúp cho việc mô tả hệ thống một cách đơn giản ngay cả đối với hệ phi tuyến
2.5.2.1 Các quy ước trong vòng lặp phản hồi
Trang 39Dấu + trong mũi tên nghĩa là khi A thay đổi thì B sẽ thay đổi cùng chiều với A Khi A tăng thì B tăng và ngược lại
đổi ngược chiều với A Khi A tăng thì B giảm và ngược lại
Trong vòng lặp phản hồi, vòng lặp được gọi là vòng lặp dương ( + ) nếu trong vòng lặp có tổng số dấu âm là số chẵn Vòng lặp được gọi là vòng lặp âm nếu trong vòng lặp có tổng sốdấu âm là số lẻ (Garcia, 2012)
Hình 2.5.Vòng lặp âm dương (Garcia, 2012)
2.5.2.2 Kho và dòng
Kho: dùng để diễn tả một đại lượng có tính chất tích lũy, nó thường diễn tả
trạng thái nào đó của hệ thống Bằng cách quan sát kho, chúng ta có thể suy đoán tình hình hoạt động của hệ thống, xác định xem hệ thống có thể sẽ trở thành như thế nào trong tương lai Trong phần mềm Vensim, kho được biểu thị bằng hình chữ nhật (Trần, 2012) Ký hiệu:
Kho vật chất: tích lũy những đại lượng vật chất, vật lý như sản phẩm, con
người Vật chất là cái cụ thể, đo được và tuân theo định luật bảo toàn khi nó trải qua những quá trình vật lý
Kho phi vật chất: tích lũy những đại lượng phi vật chất như tình yêu, tình
bạn, lòng tham là các đại lượng không thể so sánh chính xác được
Dòng: là khái niệm để chuyển một đại lượng nào đó vào kho Dòng liên
quan chặt chẽ với kho Có hai loại dòng: dòng vào và dòng ra Dòng thể hiện các hoạt động liên quan đến kho Ký hiệu:
Trang 402.5.2.3 Quan hệ giữa Kho và Dòng
Hệ thống phản hồi dương - tăng trưởng hàm mũ:
Một hệ phản hồi bậc nhất chỉ có một biến trạng thái (kho) ký hiệu S, là biến tích lũy tốc độ “Dòng” vào (dS/dt), đồng thời tốc độ “Dòng” vào lại phụ thuộc vào trạng thái s được xác định bằng biểu thức: gS Phương trình vi phân cho hệ phản hồi bậc nhất là ds/dt=gS Hay có thể viết lại dưới dạng
Hệ thống phản hồi âm tầm đích: là một quá trình liên tục tạo ra các hành
động để duy trì điều kiện theo đuổi các mục tiêu trong các điều kiện đó
Trong hệ thống tầm đích, “Kho” được dùng để diễn tả một điều kiện (S), dòng hoạt động được dùng để điều chỉnh điều kiện (Dòng vào) Dòng hoạt động được điều khiển bởi sai biệt giữa điều kiện (Khoảng cách) và đích (S*)