NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG: Lựa chọn một số vi sinh vật để đánh giá khả năng gây bệnh đường ruột có trong nước ngập lụt đô thị; đánh giá mối tương quan giữa môi trường ngập lụt và bệnh đường
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
HUỲNH THỊ THẢO NGUYÊN
ĐÁNH GIÁ RỦI RO VỀ SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG DO ẢNH HƯỞNG CỦA NGẬP LỤT ĐÔ THỊ TRONG
ĐIỀU KIỆN MỰC NƯỚC BIỂN DÂNG
NGHIÊN CỨU TẠI QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Chuyên ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Mã số: 608510
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Trường Đại học Bách Khoa –ĐHQG-HCM
Cán bộ hướng dẫn khoa học: T.S NGUYỄN HỒNG QUÂN
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị và chữ ký)
Cán bộ chấm nhận xét 1 :
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị và chữ ký) Cán bộ chấm nhận xét 2 :
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị và chữ ký) Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Bách Khoa, ĐHQG Tp.HCM ngày tháng năm
Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm: (Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ luận văn thạc sĩ) 1
2
3
4
5
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV và Trưởng Khoa quản lý chuyên ngành sau khi luận văn đã được sửa chữa (nếu có) CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG TRƯỞNG KHOA…………
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: Huỳnh Thị Thảo Nguyên MSHV: 12260669
Ngày, tháng, năm sinh: 08/6/1989 Nơi sinh: Bình Định
Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên và môi trường Mã số : 608510
I TÊN ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ RỦI RO VỀ SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG DO ẢNH HƯỞNG CỦA NGẬP LỤT ĐÔ THỊ TRONG ĐIỀU KIỆN MỰC NƯỚC BIỂN DÂNG NGHIÊN CỨU TẠI QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:
Lựa chọn một số vi sinh vật để đánh giá khả năng gây bệnh đường ruột có trong nước ngập lụt đô thị; đánh giá mối tương quan giữa môi trường ngập lụt và bệnh đường ruột; tính toán định lượng rủi ro lây nhiễm các bệnh này ứng với điều kiện hiện tại và đánh giá định tính trong điều kiện mực nước biển dâng trong tương lai; đề xuất một số cảnh báo rủi ro sức khỏe cộng đồng liên quan đến bệnh đường ruột tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
III NGÀY GIAO NHIỆM VỤ : 20/01/2014
IV NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 30/06/2014
V CÁN BỘ HƯỚNG DẪN : T.S NGUYỄN HỒNG QUÂN
Trang 4TRƯỞNG KHOA….………
(Họ tên và chữ ký)
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu Trường Đại học Bách Khoa đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện luận văn, tất cả Quý Thầy Cô khoa Môi trường của trường Đại học Bách Khoa, những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức hữu ích trong chương trình học Cao học làm cơ sở cho tôi thực hiện tốt luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Hồng Quân, Thầy đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn để tôi có thể hoàn thành tốt bài làm của mình
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Trung tâm Y tế dự phòng thành phố Cần Thơ đã nhiệt tình cung cấp tài liệu cho tôi trong thời gian thực hiện luận văn
Sau cùng, tôi gửi lời biết ơn sâu sắc tới gia đình luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học cũng như làm luận văn
Thời gian thực hiện có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn còn nhiều thiếu sót, tôi rất mong nhận được những đóng góp ý kiến của Quý Thầy Cô và các anh chị học viên để luận văn này được hoàn thiện hơn
Tp, Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2014
Học viên
Huỳnh Thị Thảo Nguyên
Trang 6TÓM TẮT
Ngập lụt đô thị đang đặt ra một thách thức lớn cho đời sống của cộng đồng, đặc biệt là những đô thị của các nước đang phát triển Khi nước ngập sẽ hòa tất cả các chất bẩn từ hệ thống cống, nước ô nhiễm trong sông, hồ, kênh thải ra từ hoạt động sản xuất và sinh hoạt…, những nguồn này chứa lượng lớn vi sinh vật gây bệnh ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân
Trong đề tài này đánh giá rủi ro về sức khỏe cộng đồng, cụ thể là bệnh do một số vi sinh vật đường ruột gây ra khi tiếp xúc nước ngập lụt ở quận Ninh Kiều, Cần Thơ Đề tài đã
sử dụng phương pháp Đánh giá rủi ro định lượng vi sinh vật (Quantitative Microbial Risk Assessment - QMRA) và dựa trên nồng độ vi sinh vật phân tích được từ mẫu nước ngập lụt thu thập được tại một số vị trí trên địa bàn nghiên cứu để định lượng rủi ro lây nhiễm bệnh tật khi ngập lụt xảy ra cho hai đối tượng là người lớn và trẻ em, đánh giá định tính rủi ro lây nhiễm trong điều kiện nước biển dâng trong tương lai, từ đó đưa ra một số cảnh báo về rủi ro bệnh tật cho cộng đồng Các vi sinh vật được lựa chọn là E.coli, Salmonella, Cryptosporidium, Campylobacter và Rotavirus; trong đó phân tích nồng độ E.coli và Salmonella trong mẫu nước còn các vi sinh vật còn lại xác định nồng độ dựa trên tỉ lệ E.coli:vi sinh vật Qua đó cho thấy, đối với người lớn, xác suất lây nhiễm trung bình Salmonella là 1,4 x 10-2, của E.coli là 4,03 x 10-4, của Campylobacter là 3,51 x 10-5, của Cryptosporidium là 7,36 x 10-7, Rotavirus là 1,09 x10-3; tương tự đối với trẻ em xác suất lây nhiễm trung bình ít nhất là: 1,21 x 10-3, 3,96 x 10-2, 1,05 x10-4, 3,24 x 10-3 và 2,21 x
10-6
Ngoài ra, còn so sánh liều lượng tiếp nhận E.coli với liều lượng cho phép từ Tiêu chuẩn nước tắm Châu Âu 2006, so sánh nồng độ và liều lượng tiếp nhận Coliform với Quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam về chất lượng nước biển ven bờ dành cho hoạt động giải trí QCVN 10:2008/BTNMT
Bên cạnh đó, sử dụng phần mềm SPSS để xét mối tương quan giữa ngập lụt đô thị và bệnh tật do ngập lụt gây ra với p = 0,001 < 0,01 và số ô mong đợi 86,7%, kết quả dựa trên dữ liệu của điều tra khảo sát một số hộ dân trên địa bàn quận Ninh Kiều
Dựa vào các đánh giá rủi ro để đưa ra một số cảnh báo về rủi ro sức khỏe cho người dân
Trang 7Từ khóa: Quận Ninh Kiều, ngập lụt đô thị, quan trắc, đánh giá rủi ro định lượng vi sinh vật,bệnh tật lây qua nước ngập lụt.
Trang 8ABSTRACT
Urban flooding poses a range of threats to human life, health and well-being, particularly the residents of the rapidly expanding towns and cities in developing countries Urban flood water dissolves wastewater in sewer systerm, polluted surface water (river, canal,…) from domestic, industrial activities… These flood waters are likely to be contaminated and may pose potential health risks to citizens exposed to pathogens in these waters This thesis focuses on health risk assessment related with intestinal microorganism in Ninh Kieu district of Can Tho Quantitative Microbial Risk Assessment (QMRA) was used to estimate the public health risk This method uses ingested doses of pathogenic organisms for the calculation of infection probabilities Ingested dose estimations are based on pathogen measurements and E.coli :pathogen ratio These samples have been analysed for concentrations of E.coli, Salmonella, Cryptosporidium, Campylobacter and Rotavirus Dose-response relations from literature are used to calculate infection probabilities for floodevents The results show that mean probabilities of Salmonella, E.coli, Campylorbacter, Cryptosporidium infection when contact with urban flood water are 1,4 x 10-2 , 4,03 x 10-4,3,51 x 10-5, 7,36 x 10-7 per event respectively for adults and at least 1,21 x 10-3, 3,96 x 10-2, 1,05 x10-4, 3,24 x 10-3 và 2,21 x 10-6 per event for children, respectively
In addition, comparing ingested doses of E coli with allowed doses from European bathing water standards in 2006, comparing ingested doses of coliform with Technical Regulations Vietnam Coastal Water Quality for recreational activities QCVN10:2008/BTNMT
Besides, using Statistical Package for the Social Sciences (SPSS) software to calculate the relationship between urban flooding and disease caused by flooding with p = 0.001
<0.01 and 86.7% expect cells, based on survey data from households in Ninh Kieu District
Based on the risk assessment to give some warning about the health risks to people
Keyword : Ninh Kieu district, urban flooding, monitoring, quantitative microbial risk
Trang 9LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là sản phẩm nghiên cứu của tôi, số liệu trong luận văn được điều tra trung thực, tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên
Huỳnh Thị Thảo Nguyên
Trang 10MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 1
DANH MỤC HÌNH ẢNH 2
DANH MỤC BẢNG BIỂU 3
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Mục tiêu nghiên cứu 6
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 6
5 Tính mới/Tính khả thi của đề tài 7
6 Phương pháp nghiên cứu 7
Chương 1: TỔNG QUAN 9
1.1 Điều kiện tự nhiên – kinh tế – xã hội quận Ninh Kiều, Cần Thơ 9
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 9
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 15
1.2 Ngập lụt đô thị ở Ninh Kiều – Cần Thơ 16
1.2.1 Thực trạng 16
1.2.2 Nhận xét chung về các nguyên nhân gây ngập 18
1.3 Tình hình bệnh tật do ảnh hưởng ngập lụt đô thị trong những năm gần đây tại quận Ninh Kiều, Cần Thơ 19
1.3.1 Tác động của biến đổi khí hậu, mực nước biển dâng đối với sức khoẻ con người 19
1.3.2 Tình hình sức khỏe người dân Tp Cần Thơ trong những năm gần đây 21
1.3.3 Tình hình phòng chống bệnh tật, ứng phó BĐKH ở Cần Thơ những năm gần đây 23
1.4 Sơ lược quá trình phát triển của đánh giá rủi ro vi sinh 25
1.5 Tình hình nghiên cứu 27
1.5.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 27
1.5.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 31
Chương 2: CƠ SỞ KHOA HỌC ĐÁNH GIÁ RỦI RO SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG 34
2.1 Các khái niệm, định nghĩa 34
2.2 Phương pháp nghiên cứu 36
2.2.1 Khung nghiên cứu 36
Trang 112.2.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 39
2.3 Đặc điểm hình thái và ảnh hưởng của các vi sinh vật 54
2.4 Một số kịch bản ngập lụt đô thị do ảnh hưởng của mực nước biển dâng tại Ninh Kiều, Cần Thơ 58
Chương 3: KẾT QUẢ - BÀN LUẬN 62
3.1 Đánh giá mực nước ngập lụt và nước cống 62
3.1.1 Điều kiện ngập lụt lúc lấy mẫu 62
3.1.2 Kết quả đo mực nước 62
3.2 Kết quả phỏng vấn hộ dân và đánh giá mối tương quan giữa tiếp xúc nước ngập lụt và sức khỏe cộng đồng 63
3.2.1 Kết quả phỏng vấn các hộ dân 63
3.2.2 Kết quả đánh giá tương quan 69
3.3 Đánh giá rủi ro định lượng vi sinh vật 70
3.3.1 Nhận diện mối nguy hại 70
3.3.2 Đánh giá phơi nhiễm 75
3.3.3 Phân phối xác suất nồng độ của vi sinh vật gây bệnh 78
3.3.4 Phân phối xác suất lây nhiễm (Infection probability distribution – Pinf) 81
3.4 Đánh giá rủi ro sức khỏe cộng đồng do ảnh hưởng của ngập lụt đô thị trong điều kiện ảnh hưởng của mực nước biển dâng 87
Chương 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91
4.1 Kết luận 91
4.2 Kiến nghị 91
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 98
LÝ LỊCH TRÍCH NGANG 4
Trang 12DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT BĐKH Biến đổi khí hậu
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
NBD Nước biển dâng
ProACC Programme on Adaptation to Climate change
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
QMRA Quantitative Microbial Risk Assessment – Đánh giá rủi ro định
lượng vi sinh vật
US EPA United States Environmental Protection Agency – Cơ quan bảo vệ
môi trường Mỹ VSMT Vệ sinh môi trường
WACC Center of Water managerment and Climate Change – Trung tâm
quản lý nước và biến đổi khí hậu WHO World Health Organization: Tổ chức y tế thế giới
Trang 13DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1 1 Bản đồ hành chính thành phố Cần Thơ 9
Hình 1 2 Vị trí quận Ninh Kiều 10
Hình 1 3 Khung nghiên cứu của đề tài 37
Hình 2 1 Hình ảnh minh họa cho thiết bị đo mực nước tự động 41
Hình 2 2 Các thành phần của đánh giá rủi ro vi sinh 45
Hình 3 1 Biểu đồ thể hiện kết quả đo đạc mực nước ngập lụt trên đường Trần Văn Khéo, Quang Trung, Phan Văn Trị 62
Hình 3 2 Biểu đồ thể hiện kết quả phân tích vi sinh vật trong nước ngập lụt 72
Hình 3 3 Biểu đồ thể hiện nồng độ vi sinh vật và mực nước ngập lụt một số thời điểm trên đường Trần Văn Khéo 73
Hình 3 4 Biểu đồ thể hiện nồng độ vi sinh vật và mực nước ngập lụt một số thời điểm trên đường Phan Văn Trị 73
Hình 3 5 Biểu đồ thể hiện kết quả phân tích vi sinh trong nước cống tại các thời điểm 74
Hình 3 6 Biểu đồ thể hiện hàm phân phối nồng độ của Salmonella trong nước ngập lụt 79
Hình 3 7 Biểu đồ thể hiện Hàm phân phối nồng độ của E.coli trong nước ngập lụt 79
Hình 3 8 Phân phối xác suất nồng độ của Salmonella, E.coli, Coliform, Escherichia, Campylobacter, Rotavirus và Cryptosporidium trong nước ngập lụt 81
Hình 3 9 Phân phối xác suất lây nhiễm Cryptosporidium của người đi đường và trẻ em khi phơi nhiễm nước ngập lụt 84
Trang 14DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1 1 Độ ẩm và bốc hơi trung bình tháng tại Cần Thơ (%) 12
Bảng 1 2 Lượng mưa bình quân nhiều năm (mm) tại Cần Thơ 13
Bảng 1 3 Coliform trong nước mặttại một số địa điểm ở Tp Cần Thơ 14
Bảng 1 4 Các bệnh truyền nhiễm có số mắc cao nhất (M/100.000 dân) 21
Bảng 1 5 Tình hình một số bệnh truyền nhiễm trong năm 2011, 2012, 2013 22
Bảng 2 1 Tọa độ các vị trí lấy mẫu vi sinh vật 41
Bảng 2 2 Tổng quan về các mẫu nước 42
Bảng 2 3 Phương pháp phân tích nồng độ vi sinh vật 43
Bảng 2 4 Tỉ lệ của E.coli:vi sinh vật 46
Bảng 2 5 Lượng nước trung bình đi vào cơ thể (v) trong các trường hợp phơi nhiễm khác nhau 48
Bảng 2 6 Thông số r củaCryptosporidium trong vật chủ con người 49
Bảng 2.7 Thông số μ và N50 của Salmonella, E.coli, Campylobacter và Rotavirus trong vật chủ con người 50
Bảng 2 8 Bảng so sánh % diện tích ngập theo triều và mưa theo hai phương án (so sánh với tần suất mưa hiện tại) 59
Bảng 3 1 Bảng thống kê mực nước ngập lụt cao nhất 63
Bảng 3 2 Đặc tính mẫu nghiên cứu (n=34) 64
Bảng 3 3 Tần suất và độ sâu nước ngập vào nhà trong năm 65
Bảng 3 4 Bệnh thường gặp và đối tượng dễ mắc bệnh 67
Bảng 3 5 Bảng thống kê biện pháp giảm thiểu bệnh tật khi ngập lụt xảy ra 68
Trang 15Bảng 3 6 Bảng kết quả đánh giá tương quan bằng kiểm định Chi-square giữa việc tiếp xúc nước ngập lụt và bệnh tật 69 Bảng 3 7 Bảng thống kê chéo giữa tần suất mắc bệnh do ngập lụt gây ra và tần suất tiếp xúc nước ngập 70 Bảng 3 8 Nồng độ trung bình vi sinh vật trong nước ngập lụt 71 Bảng 3 9 Nồng độ trung bình vi sinh vật trong nước cống 74 Bảng 3 10 Kết quả tính liều lượng tiếp nhận trung bình vi sinh vật của trẻ em và người lớn - D (MPN) 75 Bảng 3 11 Bảng kết quả liều lượng tiếp nhận trung bình Coliform trong một lần tiếp xúc nước ngập 76 Bảng 3 12 Bảng kết quả liều lượng tiếp nhận trung bình E.coli trong một lần tiếp xúc nước ngập 77 Bảng 3 13 Hằng số lna, b và kết quả liều lượng tiếp nhận trung bình E.coli đã chuyển đơn vị (CFU) 77 Bảng 3 14 Xác suất lây nhiễm trung bình trong một lần tiếp xúc nước ngập lụt đô thị 81
Trang 16MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự phát triển của đô thị Việt Nam trong thế kỷ 21 đang đối mặt với nhiều thách thức mang tính toàn cầu về kinh tế, môi trường, năng lượng…đặc biệt là tác động của Biến đổi khí hậu (BĐKH) và những thảm họa thiên nhiên do BĐKH gây ra, trong đó
có tác động đến đời sống, sinh hoạt và sức khỏe con người
Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế, Việt Nam là một trong những quốc gia
có mức độ dễ bị tổn thương, ảnh hưởng nặng nề nhất do BĐKH Với trên 3.200 km bờ biển, hệ thống đô thị Việt Nam chủ yếu tập trung dọc theo các vùng ven biển và các vùng đồng bằng, hàng năm, luôn đứng trước nguy cơ của bão, lũ lụt và nước biển dâng
Theo đánh giá của World Bank, Tp Cần Thơ hiện là một trong những địa phương của khu vực ĐBSCL đang bị ảnh hưởng lớn do biến đổi khí hậu và nước biển dâng Tình hình lũ lụt tại Tp Cần Thơ có diễn biến bất thường trong những năm gần đây, bên cạnh ngập lụt do lũ thượng nguồn tràn về, hiện Tp Cần Thơ đang phải đối mặt với ngập lụt do triều cường Trong 10 đến 15 năm qua, mức thủy triều tại Tp.Cần Thơ đã tăng lên khoảng 20 đến 30cm, do đó, nguy cơ lũ lụt trong khu vực đô thị phụ thuộc rất nhiều vào thủy triều… Đồng thời, Cần Thơ lại nằm ở hạ lưu ĐBSCL nên thường xuyên chịu tác động xấu của thiên tai Khi triều cường lên, lượng nước trong khu vực đô thị của thành phố không được thu gom hết bởi hệ thống nước thoát nước không đủ năng lực làm cho tình trạng ngập lụt càng trở nên xấu đi; những tác động có thể kể đến là tổn thương về cơ sở hạ tầng, ảnh hưởng hình ảnh đô thị, hoạt động kinh doanh, sinh hoạt và đặc biệt là sức khỏe của người dân
Vì vậy,cần có những đánh giá về những tác động đến sức khỏe cộng đồng khi ngập lụt xảy ra, đồng thời có những biện pháp phòng ngừa, bảo vệ sức khỏe cộng
đồng Đó là lý do đề tài luận văn “Đánh giá rủi ro sức khỏe cộng đồng do ảnh hưởng
của ngập lụt đô thị trong điều kiện ảnh hưởng mực nước biển dâng Nghiên cứu tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ” được học viên quan tâm và đề xuất thực hiện
Trang 172 Mục tiêu nghiên cứu
Dựa trên cơ sở khoa học và thực tế tại quận Ninh Kiều, Tp Cần Thơ:
- Lựa chọn một số vi sinh vật để đánh giá khả năng gây bệnh đường ruột có trong nước ngập lụt đô thị;
- Đánh giá mối tương quan giữa môi trường ngập lụt và bệnh đường ruột;
- Định lượng rủi ro lây nhiễm các bệnh này ứng với điều kiện hiện tại và đánh giá định tính rủi ro trong điều kiện kịch bản mực nước biển dâng;
- Đề xuất một số cảnh báo rủi ro về sức khỏe do ngập lụt gây ra tại Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sức khỏe của cộng
đồng dân cư thuộc quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ
- Phạm vi nghiên cứu: Không gian: phạm vi giới hạn của quận Ninh Kiều thành
phố Cần Thơ
- Thời gian: Từ tháng 09/2013 đến tháng 06/2014
Đề tài tập trung vào vấn đề ngập lụt do ảnh hưởng triều, phù hợp với thời điểm lấy mẫu vào tháng 10/2013
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Đề tài được nghiên cứu, thực hiện trên cơ sở khoa học và
thực tiễn đáng tin cậy làm cơ sở khoa học cho cơ quan địa phương trong công tác phòng ngừa, bảo vệ sức khỏe cộng đồng trong điều kiện ngập lụt đô thị
- Ý nghĩa thực tiễn: Việc điều tra, khảo sát tình hình ngập lụt và sức khỏe cộng
đồng trong những năm gần đây của khu vực giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những rủi ro mà người dân đang gặp phải do ngập lụt đô thị gây ra Dựa trên một số kịch bản nước biển dâng và kết quả phân tích vi sinh của mẫu nước khi ngập lụt xảy ra dùng để tính toán khả năng lây nhiễm do các tác nhân gây bệnh làm cơ sở
dự báo những ảnh hưởng do ngập lụt gây ra cho sức khỏe cộng đồng, giảm thiểu
Trang 18đồng Đề tài nghiên cứu ứng dụng vào thực tế nhằm quản lý chặt chẽ những sự
cố, rủi ro có thể xảy ra trên địa bàn,làm cơ sởcho việc đề xuấtnhững phương án ứng phó kịp thời khi có ngập lụt đô thị xảy ra, đưa ra những giải pháp cho các vấn đề hiện tại về sức khỏe cộng đồng do ảnh hưởng ngập lụt và biện pháp phòng ngừa, bảo vệ sức khỏe cộng đồng trong tương lai
5 Tính mới/Tính khả thi của đề tài
Trên cơ sở phối hợp thực hiện với các nội dung nghiên cứu trong hợp phần
“Quá trình đô thị hóa tại châu thổ sông Mê Kông và giải pháp thích ứng Biến đổi khí hậu” thuộc khuôn khổ chương trình nghiên cứu “Thích ứng biến đổi khí hậu” (Programme on Adaptation to Climate change - PRoACC), Trung tâm Quản lý Nước
và Biến đổi khí hậu (WACC) – Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh và các đối tác Hà Lan cùng một số cán bộ nghiên cứu phối hợp thực hiện
Đề tài tiếp tục nghiên cứu đưa ra những tính toán bước đầu về khả năng lây nhiễm bệnh tật, đánh giá về rủi ro sức khỏe cộng đồng do ngập lụt đô thị trong điều kiện nước biển dâng tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ Xây dựng cơ sở dữ liệu, ứng dụng phương pháp đánh giá rủi ro định lượng vi sinh vật (Quantiatives Microbial Risk Assessment – QMRA) để tính toán khả năng lây nhiễm bệnh tật, qua đó đánh giá định tính những rủi ro do ngập lụt đô thị trong điều kiện nước biển dâng Kết quả của
đề tài đạt được sẽ là tài liệu khoa học cho công tác bảo vệ sức khỏe cộng đồng tại địa phương;đồng thời đề tài còn đưa ra một số cảnh báo nguy cơ rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng do ngập lụt đô thị
6 Phương pháp nghiên cứu
Sau đây là các phương pháp chính được sử dụng trong nghiên cứu:
6.1 Phương pháp thu thập, đánh giá, tổng hợp tài liệu
Trên cơ sở thu thập, phân tích và tổng hợp các tài liệu về địa phương từ các cơ quan quản lý nhà nước, mạng internet, sách báo
6.2 Phương pháp điều tra xã hội học
Chuẩn bị nội dung cho mẫu phiếu điều tra; tiến hành đi phỏng vấn thực tế
Trang 196.3 Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng phương pháp thống kê với sự trợ giúp của phần mềm hỗ trợ thống kê SPSS để
xử lý số liệu điều tra phỏng vấn
6.4 Phương pháp đánh giá rủi ro định lượng vi sinh
Đánh giá rủi đo định lượng vi sinh vật - Quantiative Microbial Risk Assessment (QMRA) được áp dụng để định lượng rủi ro sức khỏe con người do ngập lụt đô thị thông qua việc tính toán xác suất lây nhiễm (Probability infection) dựa trên nồng độ tác nhân vi sinh vật gây bệnh được tìm thấy trong nước ngập lụt
Nội dung cụ thể của từng phương pháp được trình bày trong chương 2 – cơ sở khoa học để đánh giá rủi ro sức khỏe cộng đồng
Trang 20Chương 1: TỔNG QUAN 1.1 Điều kiện tự nhiên – kinh tế – xã hội quận Ninh Kiều, Cần Thơ
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
a Vị trí địa lý
Thành phố Cần Thơ nằm trên bờ phải sông Hậu, cách biển Đông 75km và cách thành phố Hồ Chí Minh 169 km, diện tích tự nhiên 1.408,95 km2, thành phố ở trung tâm Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL),tọa độ địa lý 105013’38” - 105050’35” kinh độ Đông và 9055’08” - 10019’38” vĩ độ Bắc.[10]
- Phía Bắc giáp tỉnh An Giang;
- Phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp và tỉnh Vĩnh Long;
- Phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang;
- Phía Nam giáp tỉnh Hậu Giang
Đơn vị hành chính của thành phố Cần Thơ gồm 5 quận: Ninh Kiều, Cái Răng, Bình Thủy, Ô Môn, Thốt Nốt và 4 huyện: Phong Điền, Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh, Thới Lai với 85 đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn (5 thị trấn, 36 xã, 44 phường).[10]
Hình 1 1 Bản đồ hành chính thành phố Cần Thơ
Trang 21Quận Ninh Kiều là quận trung tâm của Thành phố Cần Thơ, có tọa độ 10°01′58″B 105°45′34″Đ, diện tích 29,2 km², bao gồm 13 phường là: An Phú, An Nghiệp, An Hội, An Lạc, An Hoà, An Cư, An Bình, An Khánh, Hưng Lợi, Cái Khế, Xuân Khánh, Thới Bình, Tân An Ninh kiều tiếp giáp với các vùng sau:[10]
- Phía đông giáp tỉnh Vĩnh Long, được ngăn cách bởi dòng sông Hậu
- Phía tây giáp huyện Phong Điền
- Phía nam giáp huyện Phong Điền và quận Cái Răng cách bởi sông Cần Thơ
- Phía bắc giáp quận Bình Thủy
Hình 1 2 Vị trí quận Ninh Kiều
b Địa hình – Địa mạo
Về địa hình: thành phố Cần Thơ có cao độ trung bình khoảng 1 – 2m dốc từ đất giồng ven sông Hậu, sông Cần Thơ, thấp dần về phía nội đồng (từ Đông Bắc sang Tây Nam) Đây là vùng đất có hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, cao độ mặt đất phổ biến từ 0,6 – 0,8 m so với mực nước biển (mốc quốc gia Hòn Dấu) Vùng nội ô gồm các quận: Ninh Kiều, Bình Thuỷ, Cái Răng, Thốt Nốt đất đai tương đối cao có cao
độ từ 1,4 đến 2,5m, các huyện ngoại thành Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ, Thới Lai, Phong Điền
Trang 22Về địa mạo: Đối với vùng nội đô như Ninh Kiều, mặt bằng đất đã được san lấp
để xây dựng công trình công cộng, nhà ở, trụ sở, đường giao thông với cao trình +1,5
m đến +2,5m Do thời gian xây dựng không đồng thời đã tạo nên những khoảnh đất cao, khoảnh đất trũng (tạo nên vùng ngập nước tạm thời khi có mưa hoặc triều cường).[10]
c Đặc điểm trầm tích, thổ nhưỡng
Vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung và khu vực Tp.Cần Thơ nói riêng được hình thành chủ yếu qua quá trình bồi lắng trầm tích biển và phù sa của sông Cửu Long Các loại trầm tích nằm trên nền đá gốc Mezoic xuất hiện từ độ sâu gần mặt đất
ở phía Bắc đồng bằng cho đến khoảng 1.000m ở gần bờ biển Các dạng trầm tích có thể chia thành những tầng chính sau:
+ Tầng Holocene (QIV): nằm trên mặt, thuộc loại trầm tích trẻ, bao gồm sét và cát Thành phần hạt từ mịn đến trung bình
+ Tầng Pleitocene (QI-III): có chứa cát sỏi lẫn sét, bùn với trầm tích biển + Tầng Pliocene (N-2): có chứa sét lẫn cát hạt trung bình
+ Tầng Miocene (N-1): có chứa sét và cát hạt trung bình
Do được sông Cửu Long bồi đắp nhiều năm nên thổ nhưỡng TP.Cần Thơ chủ yếu gồm
2 nhóm đất chính là nhóm đất phù sa chiếm 84% diện tích tự nhiên và nhóm đất phèn chiếm 16% [10]
d Đặc điểm hệ thống sông rạch
Mật độ sông rạch tại Tp Cần Thơ khoảng 1,8 km/km2, vùng ven sông Hậu thuộc quận Ninh Kiều, Ô Môn, Cái Răng và huyện Thốt Nốt lên tới trên 2 km/km2
Hệ thống sông rạch:
Sông Hậu: là nhánh phía Tây của sông Mekong trong lãnh thổ Việt Nam, vừa
là nguồn cung cấp nước ngọt chính cho ĐBSCL và Cần Thơ, vừa là ranh giới
tự nhiên của thành phố Cần Thơ với 02 tỉnh Đồng Tháp và Vĩnh Long Đây là con sông lớn nhất của vùng với tổng chiều dài chảy qua Cần Thơ là 60 km
Trang 23Rạch Cần Thơ: còn gọi là sông Cần Thơ, dài 16 km nối với sông Hậu tại bến Ninh Kiều có chiều rộng khoảng 150 – 250 m, sâu 8 – 10 m Rạch chạy dài theo quận Ninh Kiều, Cái Răng và huyện Phong Điền Ngoài ra, còn có rạch Trà Nóc, rạch Ô Môn, rạch Thốt Nốt.[10]
Hệ thống kênh trục :
Hệ thống kênh trục phân bố khá đều ở TP Cần Thơ, trung bình khoảng 4 – 5
km có một kênh Các kênh này có chiều dài khoảng từ 30 đến 60km, bề rộng
từ 10 đến 30m, độ sâu đáy khoảng từ -2,0 đến -5,0 m Mỗi kênh trục có hàng chục kênh nhánh nối vào Tổng chiều dài hệ thống kênh trục khoảng trên 300 km.[10]
e Đặc điểm khí hậu
Thành phố Cần Thơ nói chung và khu vực quận Ninh Kiều nói riêng nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, khí hậu điều hòa, ít bão, quanh năm nóng ẩm, không có mùa lạnh, nền nhiệt độ cao và ít thay đổi trong năm
Nhiệt độ hàng năm cao và thay đổi từ 26,5-27,50C Tháng IV nóng nhất, nhiệt
độ bình quân tháng biến đổi từ 27,6-28,60C Tháng I lạnh nhất, nhiệt độ bình quân từ 24,9-25,20C Số ngày có nhiệt độ trung bình từ 260-280C là 206 ngày/năm [10]
(Nguồn: Đài KTTV khu vực Nam bộ_2010)
Trang 24 Gió
Gió mùa Đông Bắc thường được gọi là Gió Chướng, thường hoạt động mạnh vào thời kỳ đầu mùa khô, vận tốc gió trung bình từ 1,0÷4,0m/s, vận tốc gió lớn nhất từ 12,0÷20,0m/s Gió mùa Tây Nam thường bắt đầu từ tháng V ở phía biển Tây, vận tốc gió trung bình 1,2÷2,5m/s, vận tốc gió lớn nhất từ 12÷29m/s.[10]
ĐBSCL nói chung và Tp Cần Thơ nói riêng có số giờ nắng khá cao Số giờ nắng bình quân cả năm 7,0-7,5giờ/ngày Tháng II-IV, số giờ nắng cao nhất (trung bình 8-10 giờ/ngày) Tháng VIII-X, số giờ nắng thấp nhất (trung bình 5-
6 giờ/ngày) [10]
Bảng 1 2 Lượng mưa bình quân nhiều năm (mm) tại Cần Thơ
Lượng mưa 5,5 2,2 12,3 40,5 167,9222,2218,7234,1258,8283,0154,8 35,9 1.636
(Nguồn: Đài KTTV khu vực Nam bộ_2010)
Qua phân tích tài liệu thống kê mưa thời đoạn thì mưa tại Tp Cần Thơ chủ yếu
là những trận mưa thời đoạn ngắn, xảy ra những trận mưa kéo dài khoảng 30 phút; 45 phút hay 60 phút, 90 phút, rất ít khi mưa kéo dài tới 180 phút hay 240 phút.[10]
f Đặc điểm thủy văn
- Triều biển Đông: Do Tp Cần Thơ nằm cạnh sông Hậu, cách không xa nguồn triều từ Biển Đông (khoảng 80km), nên thuỷ triều ảnh hưởng rất mạnh Đối với khu vực Tp Cần Thơ, diễn biến mực nước triều trong những năm gần đây luôn
có xu thế tăng lên, quá trình này thường xảy ra vào thời điểm lũ thượng nguồn
đổ về hạ lưu khá lớn
- Triều biển Tây: là triều hỗn hợp thiên về nhật triều, thời gian triều lên và
Trang 25xuống xấp xỉ bằng nhau, kéo dài 11,3÷12 giờ, các ngày triều cường thời gian triều lên kéo dài thêm1,0÷1,5 giờ Nhìn chung, Tp.Cần Thơ ít chịu ảnh hưởng của triều biển Tây.[10]
Theo kết quả giám sát chất lượng nước của Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam trong những năm qua cho thấy sông Hậu, một nhánh của sông Mê Kông chảy qua ĐBSCL trong đó có Tp.Cần Thơ, có chất lượng nước khá tốt
Là nguồn nước ngọt có pH và độ dẫn điện (EC) biến thiên ổn định qua các năm với pH trong khoảng 6,5 đến 7,2 và EC trong khoảng 13-16 mS/m Hàm lượng chất rắn lơ lửng nhỏ hơn 300 mg/l, có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây
Hàm lượng COD biến thiên trong khoảng 2- 5mg/l có xu hướng gia tăng thấy
rõ từ năm 2006 đến nay [15] Các kết quả giám sát chất lượng nước trong giai đoạn 2000-2008 của Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường thuộc Sở TNMT Tp Cần Thơ cho thấy một số kênh rạch bị ô nhiễm khá cao
Hàm lượng Coliform khá cao luôn vượt giới hạn của tiêu chuẩn nước mặt trong QCVN 08:2008/BTNMT Bảng sau đây thể hiện nồng độ trung bình Coliform trong nước mặt qua các năm tại một số vị trí sông rạch ở thành phố Cần Thơ: Bảng 1 3 Coliform trong nước mặttại một số địa điểm ở Tp Cần Thơ(MPN/100ml)
Trang 261.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
(a) Dân số
Tổng số dân trung bình năm 2011 của thành phố Cần Thơ là 1.209.192 người, chiếm 6,5% dân số vùng ĐBSCL và bằng 1,4% dân số cả nước Dân số thành thị chiếm 66,1 % tổng dân số và nông thôn là 33,9%
Quận Ninh Kiều là khu đô thị trung tâm và có lịch sử phát triển đô thị lâu đời nhất
và có số dân đông nhất của Tp Cần Thơ dân số khoảng 249 ngàn người [10]
Đối với quận Ninh Kiều nói riêng, định hướng phát triển quận Ninh Kiều thành
đô thị trung tâm của thành phố Cần Thơ tạo điều kiện thuận lợi để quận có sự bức phá
về kinh tế xã hội Mục tiêu của Ninh Kiều trong giai đoạn 2006 - 2020phấn đấu xây dựng và phát triển quận Ninh Kiều trở thành đô thị văn minh, hiện đại, là trung tâm chính trị- hành chính, kinh tế- xã hội, là đầu mối đối nội, đối ngoại quan trọng của thành phố Cần Thơ[12] Sau đây là một số tóm tắt về tình hình kinh tế - xã hội của quận Ninh Kiều trong quý I năm 2014: [8]
b1 Kinh tế
Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp duy trì ổn định, giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp ước tính 789 tỷ đồng, đạt 30,35 % chỉ tiêu kế hoạch
b2 Xây dựng cơ bản- kiến thiết thị chính
Tổng vốn xây dựng cơ bản theo kế hoạch năm 2014 là 112.956 triệu đồng, giải ngân được 12.340 triệu đồng, đạt 10,93% kế hoạch Điển hình là xây dựng Hệ thống thoát nước đường Mậu Thân (nối dài)
b3 Quản lý Đô thị - Tài nguyên Môi trường
Trang 27Quận chỉ đạo xây dựng phương án khai thác đất công mặt tiền đường Nguyễn Văn Cừ, tổ chức các đoàn đi kiểm tra đất công, kiểm tra các kênh rạch bị ô nhiễm, kiểm tra vệ sinh môi trường, cấp 25 giấy chứng nhân cam kết bảo vệ môi trường
b4 Văn hoá - xã hội
- Giáo dục: Quận tiếp tục được công nhận đạt chuẩn chống mù chữ - phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và PCGD Trung học cơ sở năm 2013, đồng thời, tích cực chuẩn bị cho công tác tiếp Đoàn kiểm tra về phổ cập mầm non 5 tuổi;trường THCS An Hòa 1 được công nhận trường đạt chuẩn quốc gia, hiện quận có 18 trường đạt chuẩn
- Y tế - dân số - KHHGĐ: Các chương trình y tế quốc gia, công tác phòng chống dịch bệnh được triển khai thực hiện tốt, đặc biệt là các dịch bệnh trên người liên quan đến gia cầm, công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Tình hình dịch bệnh nhìn chung ổn định, trong quý I xảy ra 33 ca sốt xuất huyết (tăng
07 ca so cùng kỳ) và 41 ca tay chân miệng (giảm 21 ca)
- Công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em: Quan tâm thực hiện tốt công tác chăm sóc bảo vệ trẻ em, nhất là công tác chăm sóc sức khoẻ, phòng chống suy dinh dưỡng, tiêm ngừa miễn dịch đầy đủ, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6
Trang 28Theo đánh giá của các cơ quan chức năng nhiều năm qua mỗi khi có triều cường hầu hết các quận huyện của thành phố Cần Thơ đều rơi vào cảnh ngập lụt Tại quận Ninh Kiều, do nước triều cường dâng cao nên một số tuyến đường nội ô Tp.Cần Thơ: như đại lộ Hòa Bình, Lý Tự Trọng, Nguyễn Trãi, Hai Bà Trưng… ngập sâu từ 30-50cm gây cản trở giao thông, đi lại.Tình trạng ngập triều trong nội thành xảy ra trên những vùng rộng lớn – các vùng địa hình thấp ven sông rạch, bắt đầu xuất hiện từ mức đỉnh triều trên +1.5 m trở lên và hiện tại có thể ngập với mức nước đỉnh triều cao nhất
là +2.15 m.[15]
Kết quả quan trắc các giá trị mực nước triều cao nhất hàng năm tại trạm Cần Thơ (sông Hậu) trong thời kỳ 1978 - 2011 cho thấy: các giá trị mực nước cực đại hàng năm từ năm 2000 cho đến nay đều xấp xỉ hoặc cao hơn so với mực nước ứng với tần suất 20% (tương đương +1.79 m) Có thể kết luận rằng việc gia tăng tình trạng ngập úng trong thời kỳ gian gần đây chịu ảnh hưởng nhất định của việc xuất hiện thời kỳ triều cường theo chu kỳ nhiều năm trên sông Hậu.[15]
Kết quả điều tra năm 2009 của Viện QHTL Miền Nam thì chỉ tính riêng trên khu vực quận Ninh Kiều đã có 20 điểm ngập do triều cường Qua phân tích số liệu thống kê cho thấy tình hình ngập triều ở thành phố Cần Thơ ngày một nghiêm trọng; với sự biến đổi khí hậu, nước biển dâng làm cho biên độ triều ngày một dâng cao thành phố Cần Thơ càng phải chịu những đợt ngập úng khi triều lên vào tháng IX và tháng X hàng năm.[16]
Đặc biệt, năm 2011 được coi là có đỉnh triều cao nhất, chỉ tính riêng Quận Ninh Kiều đã có 22 điểm ngập do mưa, 56 điểm ngập do triều cường (đỉnh triều 2,15m) và
43 điểm ngập khi mưa lớn kết hợp với triều cường (mưa 80mm-triều 1,87m) Thời gian ngập kéo dài 2 – 3 giờ, thậm chí có nhiều nơi gần 1 ngày, riêng hẻm 232 đường 30/4 ngập từ 2 – 3 ngày
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đều chỉ ra khả năng mực nước biển có thể dâng cao từ 30 cm - 70 cm so với hiện nay do hậu quả của hiện tượng nóng dần toàn cầu Khi đó tình trạng ngập do triều chắc chắnsẽ trở thành một thảm họa thực sự cho Thành
Trang 29phố Cần Thơ nếu không có những giải pháp tương ứng Các kết quả nghiên cứu gần đây trên thế giới đều thống nhất với cảnh báo rằng Đồng bằng sông Cửu Long (và khu vực lân cận có điều kiện địa hình tươngtự như Cần Thơ) là những khu vực có nguy cơ cao nhất khi mực nước biển tăng lên trong tương lai
Do vậy, kiểm soát triều và giải quyết tình trạng ngập do triều phải trở thành một trong những nội dung quan trọng nhất của chương trình xóa, giảm ngập trên địa bàn Thành phố Cần Thơ
1.2.2 Nhận xét chung về các nguyên nhân gây ngập
Nhìn chung, có hai thành phần chính gây ngập cho Tp.Cần Thơ là thành phần tự nhiên và thành phần do con người, bên cạnh đó, đáng chú ý là tác động của yếu tố Biến đổi khí hậu, mực nước biển dâng
a Ngập do tác động của con người[15]
Các yếu tố gây ngập do con người tạo ra như:
+ Ngập do thiếu kênh rạch thoát nước (chiều dài, tiết diện) mất hồ điều tiết nước, mất vùng đệm và gia tăng do việc san lấp, lấn chiếm kênh rạch và quá trình đô thị hóa không theo quy hoạch
+ Ngập nước do thiếu công trình tiêu thoát (thiếu số lượng, thiếu về quy mô) hoặc do chưa có công trình thu và thoát nước mưa (do các khu dân cư mới phát triển quá nhanh so với cơ sở hạ tầng về thoát nước)
+ Ý thức bảo vệ hệ thống tiêu thoát của cộng đồng chưa cao đặc biệt là xả rác bừa bãi làm tắc nghẽn hệ thống thu gom nước từ mặt đường xuống hố ga và các đường ống tiêu thoát nước đô thị…
b Ngập do điều kiện tự nhiên [15]
+ Ngập do địa hình trũng thấp và việc phát triển đô thị mới trên các vùng có cao độ thấp, trên 99,6% đất đai thành phố có cao trình thấp dưới ≤2m, những vùng trũng thấp là những vùng ngập lũ trực tiếp hoặc gián tiếp chịu ảnh hưởng
lũ
Trang 30+ Ngập do lượng mưa trận có xu hướng gia tăng làm cống tiêu bị quá tải Lượng mưa năm của Cần Thơ không lớn (1.636 mm) nhưng thường lại có những trận mưa lớn trên 50mm thậm chí trên 100mm trên ngày
+ Ngập do các tổ hợp: Mưa + Triều; Triều + Lũ; Mưa + Triều + Lũ
Ngoài những yếu tố ngập xảy ra đơn lẻ như lũ sông Hậu, mưa lớn, còn có các tổ hợp gây ngập bất lợi khác như mưa lớn khi triều cao, lũ trên sông Hậu kết hợp triều cường và đặc biệt là tổ hợp lũ sông Hậu với mưa lớn kết hợp triều cường + Ngập do ảnh hưởng của Biến đổi khí hậu – Nước biển dâng
Hiện nay, việc ngập do triều còn có tác động không nhỏ của BĐKH, theo nghiên cứu của Trung tâm Khí tượng Thủy văn biển thì sự biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng đến biến đổi mực nước biển Tại Hòn Dấu (Hải Phòng) trong vòng hơn 40 năm qua (1960 – 2011), mực nước biển dâng lên khoảng 10 – 15 cm theo giá trị trung bình và khoảng 15 – 20 cm đối với giá trị cực trị Sự ảnh hưởng mạnh của thủy triều đã tác động mạnh lên nhiều khu vực ở Tp Cần Thơ trong nhiều năm qua, đặc biệt trong mùa khô hàng năm với biên độ triều lớn nhất 2,5-3,0 m Trong mùa mưa, tuy biên độ triều giảm còn khoảng 1,5-2,0 m nhưng trùng với thời gian mùa nước lũ trên sông Mekong và nhất là vào những ngày có triều cường gây ngập úng cho nhiều vùng và gián tiếp làm tăng mực nước lũ
1.3 Tình hình bệnh tật do ảnh hưởng ngập lụt đô thị trong những năm gần đây tại quận Ninh Kiều, Cần Thơ
1.3.1 Tác động của biến đổi khí hậu, mực nước biển dâng đối với sức khoẻ con người
(a) Các tác động chung
Dưới tác động của BĐKH, sự gia tăng của các hiện tượng khí hậu cực đoan sẽ làm cho môi trường sống của con người bị thay đổi là quy luật tất yếu không thể tránh khỏi Riêng trong lĩnh vực y tế, BĐKH gây lũ ngập làm ô nhiễm môi trường đất, nước
bề mặt từ đó dẫn đến phát sinh các bệnh truyền nhiễm, bệnh phụ nữ… ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng Theo WHO, sức khỏe là một trong những lĩnh vực bị tác động
Trang 31nhiều nhất của biến đổi khí hậu Sự thay đổi của khí hậu sẽ kéo theo nhiều dịch bệnh, trong đó có những dịch bệnh có liên quan với con người
Nước sạch và vệ sinh môi trường bị ảnh hưởng do bão lũ làm phát tán các loại chất thải sinh hoạt và chăn nuôi vào môi trường, gây ô nhiễm cục bộ, đặc biệt là môi trường đất, nước Hàm lượng các chất độc hại, cặn lơ lửng,vi sinh vật trong nước tăng cao vào mùa lũ, sức khỏe bị ảnh hưởng và có thể phát sinh các đợt dịch bệnh mới Cụ thể, lượng mưa tăng cùng với mực nước biển dâng cao vào mùa mưa lũ sẽ phá hủy hệ thống nước thải và các nhà vệ sinh tại các vùng trũng thấp chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh gây ảnh hưởng đến sức khỏe người dân vùng trũng Điều đó tạo ra môi trường sinh sôi cho các loại vi khuẩn là những tác nhân trực tiếp gây ra những loại bệnh tật thường gặp như tiêu chảy, bị bệnh về đường hô hấp, thành phần vật truyền nhiễm có giai đoạn sống trong nước thay đổi, cùng với các bệnh lây lan theo nguồn nước khác, bao gồm cả các bệnh của động vật, bệnh có ổ dịch tự nhiên, bệnh từ nơi khác đến làm ảnh hưởng đến sức khỏe người dân trong vùng và các vùng lân cận.[11]
(b) Tác động đến thành phố Cần Thơ
Cần Thơ là một địa phương chịu ảnh hưởng của Biến đổi khí hậu, do đó, việc đối mặt với các vấn đề về ngập lụt và các hệ quả kéo theo tác động đến sức khỏe con người là điều không thể tránh khỏi Các đối tượng chính chịu tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của BĐKH về lĩnh vực sức khỏe con người trên địa bàn thành phố Cần Thơ:
- BĐKH làm tăng khả năng xảy ra một số bệnh: sốt rét, sốt xuất huyết, làm tăng tốc độ sinh trưởng và phát triển nhiều loại vi khuẩn và côn trùng, làm ô nhiễm môi trường, suy dinh dưỡng, các chỉ tiêu của kế hoạch dân số không thực hiện được
- Do hầu hết diện tích bị ngập lũ do đó hầu hết lao động nông nghiệp, người nhập cư không có việc làm dẫn đến thu nhập thấp, có nguy cơ tái nghèo, điều kiện tiếp cận nhu cầu khám, chữa bệnh bị hạn chế
- Lũ ngập hầu hết các công trình, cơ sở hạ tầng (trong đó có trạm y tế) bị hư hỏng nặng, hạn chế sử dụng
Trang 32- Trẻ em không đến trường học được do ngập lũ, ảnh hưởng đến chất lượng học tập cũng như sự phát triển toàn diện của trẻ; có nguy cơ cao về trẻ em chết đuối, suy dinh dưỡng, hoặc trẻ em phải lội nước đi học, dễ phơi nhiễm với nước ngập lụt chứa nhiều mầm bệnh, chất ô nhiễm
- Người dân vẫn phải sinh hoạt, đi lại trong điều kiện nước ngập do đó làm tăng nguy
cơ tiếp xúc với nước ngập ô nhiễm
Ngoài ra, lũ lụt lâu ngày ảnh hưởng đến cung cấp lương thực, thực phẩm tạo nguy cơ thiếu đói, suy dinh dưỡng trong một bộ phận người già, người lớn và trẻ em
Tóm lại, do ảnh hưởng của biến đổi khái hậu sẽ tác động đến tất cả các đối tượng, trong đó các đối tượng dễ bị tổn thương nhất: nhóm hộ nghèo; hộ nhập cư (do chưa có hoặc không có đất/nhà hợp pháp) – nhà trên kênh rạch – ven sông; phụ nữ; trẻ em; người già; người tàn tật.[11]
1.3.2 Tình hình sức khỏe người dân Tp Cần Thơ trong những năm gần đây
Theo thống kê, các bệnh thường gặp những năm gần đây ở địa bàn các quận huyện của Tp Cần Thơ bao gồm các bệnh do muỗi truyền (sốt xuất huyết, viêm não, sốt rét…) và bệnh đường ruột (tả, tiêu chảy, lỵ, thương hàn) Các bệnh có tỉ lệ mắc cao nhất được thể hiện trong bảng sau:[11]
Bảng 1 4 Các bệnh truyền nhiễm có số mắc cao nhất (M/100.000 dân)
Trang 33Theo số liệu thống kê trong Báo cáo công tác y tế dự phòng năm 2011, 2012,
2013 của Trung tâm Y tế dự phòng Tp Cần Thơ cho thấy tình hình mắc bệnh truyền nhiễm như sau:
Bảng 1 5 Tình hình một số bệnh truyền nhiễm trong năm 2011, 2012, 2013
Trang 341.3.3 Tình hình phòng chống bệnh tật, ứng phó BĐKH ở Cần Thơ những năm gần đây
Công tác Sức khỏe cộng đồng
Trung tâm Y tế dự phòng Tp Cần Thơ thường xuyên thực hiện kiểm tra vệ sinh các nhà máy nước, thu mẫu kiểm định hàng tháng theo chỉ tiêu kế hoạch, kiểm tra các công trình công cộng: bãi rác, hồ bơi, chợ Ngoài ra còn hỗ trợ xây dựng nhà tiêu ở các xã trong Chương trình mục tiêu Quốc gia năm 2013 – 2015 Trung tâm Y tế dự phòng còn phối hợp Trung tâm Truyền thông-Giáo dục-Sức khỏe làm phóng sự về thực trạng nước sạch VSMT Bên cạnh đó, thường xuyên kiểm tra lượng chlor dư ở đầu và cuối hệ thống cấp nước của nhà máy nước Cần Thơ 1, Cần Thơ 2 và Trà Nóc, phối hợp Trung tâm YTDP huyện kiểm tra các nhà máy nước tại các huyện đặc biệt là 2 huyện đầu nguồn (Thốt Nốt, Ô Môn).[7]
- Sở Y tếCần Thơ
Để nâng cao khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu của ngành y tế nhằm góp phần giảm thiểu những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới sức khoẻ của người dân thành phố Cần Thơ trong giai đoạn 2010 – 2025, trong năm 2011 Sở Y tế
Tp Cần Thơ đã lên Kế hoạch hành động ứng phó sự biến đổi khí hậu.[11]
Trang 35Theo đó, kế hoạch này nhằm mục tiêu đánh giá phạm vi ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu tới sức khỏe và mô hình bệnh tật của thành phố; nâng cao nhận thức của cán bộ y tế, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội và của cộng đồng trong việc bảo vệ sức khoẻ và thích ứng trước các tác động của sự biến đổi khí hậu Đồng thời, xác định các giải pháp ứng phó với sự biến đổi khí hậu của ngành Y tế thành phố; hoàn thiện cơ chế chính sách; kiện toàn tổ chức chỉ đạo, thực hiện kế hoạch ứng phó với sự biến đổi khí hậu Bên cạnh đó còn tăng cường năng lực của cán bộ y tế trong công tác ứng phó với sự biến đổi khí hậu và lồng ghép các hoạt động ứng phó với sự biến đổi khí hậu vào các kế hoạch hoạt động hàng năm của ngành Y tế Cần Thơ
- Trung tâm Y tế dự phòng Tp Cần Thơ
Đối với Trung tâm Y tế dự phòng Tp Cần Thơ cũng có những hoạt động hàng năm nhằm ứng phó với BĐKH; cụ thể như, trong 2011 đã hoàn chỉnh kế hoạch
y tế về biến đổi khí hậu trong dự án chống biến đổi khí hậu Rokeffele
2011-2014 Hiệu chỉnh bộ chỉ số đánh giá biến đổi khí hậu trong dự án chống biến đổi
khí hậu[5].Năm 2012, khảo sát đánh giá tình hình ngập lụt tại TPHCM, Cần
Thơ để xây dựng kế hoạch do biến đổi khí hậu[6].Năm 2013, họp Ban Quản lý
dự án Sốt xuất huyết – Biến đổi khí hậu Bên cạnh đó, phối hợp Văn phòng Biến đổi khí hậu Cần Thơ, phòng Nghiệp vụ Y viết đề cương dự án “Nâng cao năng lực hệ thống y tế cơ sở nhằm ứng phó với dịch bệnh trong tình huống khí hậu và thời tiết bất thường” xin Hà Lan tài trợ.[7]
Nhìn chung, qua các chương trình ứng phó BĐKH cho thấydo môi trường sống chưa được cải thiện; tỷ lệ hộ gia đình sử dụng cầu tiêu hợp vệ sinh tại khu vực nông thôn còn thấp, chất thải sinh hoạt thải trực tiếp ra sông, rạch…là những điều kiện thuận lợi
để dịch bệnh bùng phát Do đó, trong điều kiện ảnh hưởng của BĐKH, mực nước biển dâng thì Cần Thơ càng đối mặt với nhiều nguy cơ về bệnh tật lây truyền qua đường nước, nếu không có những đánh giá, phân tích và giải pháp kịp thời sẽ ảnh hưởng
Trang 361.4 Sơ lược quá trình phát triển của đánh giá rủi ro vi sinh
Kể từ đầu những năm 1970, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh (Centers for Disease Control and Prevention-CDC)và Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (EPA) đã thu thập dữ liệu dịch bệnh liên quan đến môi trường nước
Trong thời gian đầu, người ta dựa trên các số liệu thống kê về bệnh tật liên quan đến vi sinh vật gây bệnh có thể cho biết số lượng người nhiễm bệnh trong một khoảng thời gian nhất định, ví dụ trong một năm Các con số này phụ thuộc vào số lượng các cuộc điều tra, khảo sát, các báo cáo Tuy nhiên, cách đánh giá này khó có thể phản ánh được rủi ro trong tương lai khi chỉ đưa ra các rủi ro trong quá khứ, khó đánh giá được mức độ của bệnh tật trong một cộng đồng; ngoài ra, còn không chắc chắn về các tác nhân gây bệnh mới do không kiểm tra trên người bệnh, không xác định phơi nhiễm và con đường lây nhiễm.[17]
Khoảng những năm 1853-1858, kể từ khi bệnh dịch tả lần đầu được xác định liên quan đến lây truyền do môi trường nước xảy ra gần một vòi cấp nước trên phố Broad, Luân Đôn, nước cấp bị nhiễm bẩn do ở gần một hầm chứa phân và gây ra bệnh dịch tả cho người dân sử dụng nước, lúc này, dịch tễ học mới được xem là một khoa học chính để nghiên cứu về con đường lây truyền bệnh và vai trò của môi trường
“Dịch tễ học có thể được định nghĩa như một nghiên cứu về sự xuất hiện và phân bố của dịch bệnh và tổn thương lên con người, địa điểm và thời gian xác định” Đây là phương pháp truyền thống để nghiên cứu dịch bệnh, tập trung vào ảnh hưởng thực sự đến sức khỏe con người thay vì các giả thuyết, các dữ liệu mang giá trị khoa học hơn Tuy nhiên, chỉ áp dụng dịch tễ học mà không kết hợp với các ngành khác không đáp ứng đầy đủ yêu cầu của đánh giá rủi ro Dịch tễ học bị giới hạn do thiếu dữ liệu về phơi nhiễm, nồng độ vi sinh vật, các chiến lược quản lý rủi ro chưa được phát triển.[17]
Trong những năm 1983 đến 1991, phương pháp đánh giá rủi ro chỉ sử dụng giới hạn trong phạm vi đánh giá tác nhân vi sinh vật gây bệnh trong môi trường nước và chưa tính toán được con số cụ thể về xác suất lây nhiễm, do thiếu dữ liệu về quan hệ liều lượng – phản ứng, phơi nhiễm và khung nghiên cứu để phân tích rủi ro.[17]
Trang 37Charles N.Haas là người tiên phong trong việc tìm ra phương pháp đánh giá rủi
ro vi sinh vật định lượng liên quan đến nước uống dựa vào mô hình liều lượng – phản ứng Haas đã kiểm chứng các mô hình toán học thích hợp với xác suất lây nhiễm từ các
dữ liệu có được từ thử nghiệm phơi nhiễm trên người Ông đã tìm ra virus có mô phỏng beta-Poisson thể hiện phù hợp nhất cho xác suất lây nhiễm, và mô phỏng này sử dụng để ước tính rủi ro lây nhiễm bệnh tậthàng năm do virus trong nước gây ra[17]
Sau đó, Rose và cộng sự [28] dùng phân phối theo số mũ để tính toán rủi ro hàng ngày và hàng năm do lây nhiễm Giardia từ việc phơi nhiễm nước ô nhiễm Sử dụng các mô phỏng “xác suất lây nhiễm” để tính toán cho tiêu chuẩn của vi khuẩn, virus, và động vật nguyên sin trong nước, ngoài ra, nó còn dùng trong tính toán Quy tắc Xử lý nước mặt nhằm cụ thể hoá mục tiêu mức độ tối đa chất gây ô nhiễm đối với các virút nhóm Giardia, Legionella và công bố những quy định về quá trình lọc và khử trùng đối với hệ thống cấp nước công cộng có sử dụng nguồn nước mặt hoặc nguồn nước ngầm
Một trong những giới hạn chính trong thời gian đầu ứng dụng đánh giá rủi ro vi sinh vật là thiếu dữ liệu và thiếu phân tích các bước trong đánh giá rủi ro, các ảnh hưởng đến sức khỏe, mối quan hệ liều lượng – phản ứng và đánh giá phơi nhiễm Sobsey và cộng sự đã xuất bản Báo cáo Nước uống và sức khỏe năm 2000 trình bày khung nhận thức về các dữ liệu cần thiết để xác định vi sinh vật Đánh giá rủi ro vi sinh cần sự xác định rõ loại vi sinh vật, đánh giá ảnh hưởng sức khỏe con người, dữ liệu về quan hệ liều lượng – phản ứng, mối tương tác giữa vật chủ - vi sinh vật và tài liệu dịch
Trang 38vong, nhưng chúng khác nhau về đặc tính, sự tồn tại trong môi trường, quá trình gây nhiễm trùng Cuối cùng mục tiêu trong việc đánh giá rủi ro là để phát triển và thực hiện các chiến lược có thể theo dõi và kiểm soát rủi ro, có thể ứng phó với các bệnh mới bùng phát và trong các trường hợp khẩn cấp ảnh hưởng đến sự an toàn của nước, thực phẩm, không khí.[17]
Năm 2001-2002, ở Mỹ đã có 15 người chết và hơn 95 vụ dịch liên quan đến hơn 3.500 người, những dịch bệnh này có liên quan đến nước uống hoặc các nguồn nước giải trí (nước hồ bơi, khu vui chơi…) Hơn một nửa số vụ dịch có liên quan đến phơi nhiễm từ nguồn nước ngầm, hồ bơi, hoặc lội tiếp xúc bể, số còn lại một phần là do tiếp xúc với nước ngập lụt đô thị Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính rằng trên toàn thế giới có 3,4 triệu ca tử vong liên quan đến nước, một tỷ lệ lớn trong số 2,1 triệu ca tử vong mỗi năm vì bệnh tiêu chảy là do thực phẩm hoặc nước bị ô nhiễm chủ yếu xảy ra
ở các nước đang phát triển Rõ ràng, tác nhân gây bệnh của vi sinh vật là một vấn đề sức khỏe lớn trên toàn cầu [22][26]
Do đó, đánh giá rủi ro định lượng vi sinh vật là phương pháp có tiềm năng ứng dụng rộng rãi, việc thiếu dữ liệu và tính gián đoạn không liên tục của vi sinh vật dẫn đến quá trình đánh giá rủi ro thường phải lựa chọn một số vi sinh vật đại diện để tham khảo, đánh giá Vi sinh vật tham khảo là những loại gây ảnh hưởng nhiều nhất, thường xuyên xuất hiện trong nước và việc kiểm soát vi sinh đó sẽ kiểm soát được những rủi
ro đến sức khỏe con người.[37]
1.5 Tình hình nghiên cứu
1.5.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
a Đặng Ngọc Chánh, Lê Ngọc Diệp, Ngô Khần, “Biến đổi khí hậu và tình
hình sức khỏe của người dân tại một số xã ven biển tỉnh Bến Tre”.[1]
Đề tài này nhằm mục đích đánh giá mức độ biến đổi thời tiết và tình trạng sức khoẻ của người dân tại các huyện ven biển tỉnh Bến Tre Bằng phương pháp điều tra xã hội học, phỏng vấn thông qua bảng câu hỏi kết hợp với thu thập số liệu tại trạm khí tượng thủy văn tỉnh Bến Tre Số liệu cung cấp từ trạm khí tượng thủy văn tỉnh Bến Tre
Trang 39cho thấy mức nhiệt trung bình của tỉnh Bến Tre hiện nay cao hơn 5 năm trước từ 0,2 – 0,50C (tính tại thời điểm nghiên cứu là năm 2012) Mực nước tại 2 khu vực sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên đang có khuynh hướng dâng lên và mức độ nhiễm mặn gia tăng rõ rệt Tỷ lệ mắc các bệnh có liên quan hay chịu ảnh hưởng do tình trạng biến đổi khí hậu tại các xã đều chiếm trên 80%, đặc biệt ở một số bệnh như tiêu chảy, cảm và tai mũi họng Thông qua đánh giá mối tương quan giữa bệnh tật và tình hình biến đổi khí hậu cho thấy: Kết quả phân tích khí tượng thủy văn cho thấy diễn biến của khí hậu thời tiết có sự thay đổi qua các năm, tỷ lệ mắc các bệnh có liên quan hay chịu ảnh hưởng do tình trạng biến đổi khí hậu tại các xã ven biển tại đây khá cao
b “Báo cáo đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và tính tổn thương lên
thành phố Cần Thơ”, chương trình “Mạng lưới chống chịu sự thay đổi khí hậu
các đô thị châu Á” (Asian Cities Climate Change Resilience Network - ACCCRN), Viện nghiên cứu biến đổi khí hậu – Đại học Cần Thơ [14]
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu về biến đổi khí hậu của Viện Khí tượng – thủy văn và Môi trường (IMHEM) và đánh giá ngập của Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam (SIWRR) ở Tp Cần Thơ cũng như hiện trạng sử dụng đất và qui hoạch chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Tp Cần Thơ đến năm 2010, các tác động và tổn thương đến nông nghiệp, thủy sản và cơ sở hạ tầng chính đã được đánh giá trong báo cáo này Các khả năng ngập lụt được xem là không gắn với biến thời gian, vì không biết tương lai sẽ xảy ra theo kịch bản nào Vì vậy việc đánh giá ảnh hưởng theo các mức này để biết được ảnh hưởng có thể đến Tp Cần Thơ để có giải pháp ứng phó trước mắt và sự chuẩn bị cho tương lai trong chương trình phát triển kinh tế xã hội của thành phố nói chung Tương tự, nghiên cứu lựa chọn năm lũ lớn 2000 để đánh giá thay đổi diễn biến ngập ở Tp Cần Thơ trong điều kiện tương tự, có thêm ảnh hưởng của biến đổi khí hậu
- nước biển dâng như các kịch bản lựa chọn: kịch bản thứ nhất là triều lên cao 30cm so với triều năm 2000 (lũ năm 2000 là lũ lớn), kịch bản thứ hai là lên cao 50cm, kịch bản thứ ba là lên cao 100cm
Trang 40c Báo cáo tổng hợp – Tập 1 “Quy hoạch thủy lợi chống ngập úng thành phố
Cần Thơ”, Viện Quy hoạch thủy lợi Miền Nam.[16]
Thành phố Cần Thơ, nằm ở trung tâm ĐBSCL, có chế độ thủy văn-thuỷ lực nói chung và tình hình ngập nói riêng chịu ảnh hưởng của chế độ dòng chảy thượng nguồn sông Mekong, chế độ thủy triều biển Đông, mưa nội vùng, các hoạt động kiểm soát lũ của các vùng lân cận và các hoạt động phát triển của Thành phố Bên cạnh đó, các phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt cơ sở hạ tầng liên quan đến ngập úng và tiêu thoát nước của Tp Cần Thơ cũng có những tác động ngược lại lên chế độ thuỷ văn - thuỷ lực, kể
cả chất lượng nước của vùng xung quanh Báo cáo đề cập đến quy hoạch thủy lợi chống ngập cho Tp Cần Thơ đến năm 2020, quy hoạch này có nhiệm vụ nghiên cứu,
đề xuất các giải pháp thủy lợi, giải quyết cơ bản tình trạng ngập úng trên địa bàn Tp Cần Thơ, góp phần cải tạo môi trường nước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống nhân dân Quy hoạch cũng nhằm làm cơ sở cho việc triển khai các nghiên cứu, dự án chi tiết tiếp theo, các dự án đầu tư, xây dựng kế hoạch phát triển hàng năm và dài hạn để từng bước giải quyết vấn đề ngập úng và tiêu thoát nước cho
Tp Cần Thơ thông qua đánh hiện trạng hệ thống các công trình, năng lực tiêu thoát nước, tình trạng ngập úng trên địa bàn trung tâm và vùng phụ cận Tp Cần Thơ Bên cạnh đó, xác định nguyên nhân cơ bản của tình trạng ngập úng, các nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp, nội tại và ngoại lai; đề xuất các giải pháp (công trình, phi công trình) trên cơ sở đồng bộ mà trọng tâm là các khung trục tiêu, cổng ngăn triều, trạm bơm, khu vực trữ, điều tiết nước chính cũng như các giải pháp khác để tiêu thoát cho các vùng, khu vực ngập riêng lẻ trong nội thành, các khu dân cư, khu công nghiệp v.v của thành phố; đề xuất giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch, trình tự thực hiện quy hoạch,
kế hoạch đầu tư, xây dựng các công trình theo quy hoạch
d Lưu Quốc Toản, Nguyễn Việt Hùng, Bùi Mai Hương, “Đánh giá nguy cơ
thịt lợn nhiễm Salmonella ở Hà Nội”, Tạp chí Y học dự phòng[3]
Bài báo đã áp dụng khung đánh giá định lượng nguy cơ vi sinh vật (QMRA – Quantitative Microbial Risk Assessment) để đánh giá nguy cơ nhiễm Salmonella của