Địa tầng thạch học giếng khoan Hình 1.6: Mẫu thạch học thành hệ Biển Đông với sự xen kẹp hóa thạch lẫn cát sét * Cát kết hạt thô là chủ yếu, cát có mầu nâu sáng, nâu đỏ, sám sáng.. * Đá
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
Cán bộ hướng dẫn khoa học 1: TS Trần Văn Xuân
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị và chữ ký)
Cán bộ chấm nhận xét 1: TSDD Ngô Thường San
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị và chữ ký)
Cán bộ chấm nhận xét 2: TS Cù Minh Hoàng
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị và chữ ký)
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Bách Khoa, ĐHQG Tp HCM ngày
……… tháng ……… năm ………
Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm: (Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ luận văn thạc sĩ) 1 ………
2 ………
3 ………
4 ………
5 ………
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá luận văn và Bộ môn quản lý chuyên ngành sau khi luận văn đã được sửa chữa (nếu có)
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG TRƯỞNG KHOA
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHIÃ VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc
-oOo -
Tp HCM, ngày tháng năm 2014
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ và tên học viên: Huỳnh Ngọc Lam Hằng MSHV:10360629
Chuyên ngành : Địa chất dầu khí ứng dụng
Khoá (Năm trúng tuyển) : 2010
1- TÊN ĐỀ TÀI:Đánh giá tầng chứa dựa vào kết quả thử vỉa DST
2- NHIỆM VỤ LUẬN VĂN:
- Nghiên cứu các phương pháp đánh giá tầng chứa, áp dụng DVLGK, DST để đánh giá thông số tầng chứa giếng khoan
- Minh giải tài liệu DVLGK, kết hợp kết quả đo MDT nhằm xác định khoảng thử vỉa
toàn diện về tầng chứa
- Ứng dụng kết quả minh giải DST vào dự báo khai thác
3- NGÀY GIAO NHIỆM VỤ :
4- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ :
5- HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: TS Trần Văn Xuân
Nội dung và đề cương Luận văn thạc sĩ đãđược Hội Đồng Chuyên Ngành thông qua
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô Khoa Kỹ Thuật Địa Chất – Dầu Khí nói chung và Bộ Môn Địa Chất – Dầu Khí nói riêng đã tận tình hướng dẫn em trong suốt những năm cao học
Em xin chân thành cám ơn TS Trần Văn Xuân đã hướng dẫn em làm đề tài này Bên cạnh đó em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến ThS Nguyễn Anh Đức, ThS Nguyễn Ngọc Thanh Huy cùng các anh chị Ban Tìm Kiếm Thăm Dò và Ban Công Nghệ Mỏ thuộc Tổng Công Ty Thăm Dò Khai Thác Dầu Khí(PVEP), đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho em trong thời gian thực tập tại xí nghiệp
XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN !
Tp Hồ Chí Minh, 07/2014
Huỳnh Ngọc Lam Hằng
Trang 5Tóm tắt luận văn
Luận văn dài 133 trang gồm 3 chương,5 biểu bảng, 55 hình vẽ
Chương 1:Sơ lược về vị trí địa lý bồn trũng Cửu Long và giếng khoan CT-1X:
Nêu khái quát về vị trí địa lý giếng khoan, lịch sử thăm dò, đặc điểm địa tầng-cấu trúc giếng
Chương 2:Cơ sở lý thuyết và phương pháp minh giải thử vỉa DST:
Các phương pháp đánh giá tầng chứa cơ bản, giới thiệu về phương pháp thử vỉa, cách xác định các thông số thử vỉa bằng phần mềm
Chương 3: Đánh giá tầng chứa giếng khoan dựa vào kết quả thử vỉa DST: Minh giải
số liệu DST bằng phần mềm, có được các thông số tầng chứa kết hợp với PVT,CCE,CVD xây dựng mô hình thủy động lực học nhằm dự báo khai thác
Trang 6SUMMARY
The dissertation consists of three chapters with 135 pages, 5 tables, 55 figures
Chapter 1: Overview of geographic location Cuu Long basin and CT-1X wells:
Outlining wells geographical location, historical exploration and stratigraphic
characteristics-structure wells
Chapter 2: Theoretical basis and methods of interpretation DST reservoir testing:
The evaluation method floors contain basic introduction to reservoir testing methods, how to determine the reservoir parameters in software testing
Chapter 3: Assessment of stories containing wells based on reservoir testing results
DST: DST data interpretation software, there are stories containing parameters
associated with PVT, CCE, CVD constructed hydrodynamic models to mining
forecasting
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Huỳnh Ngọc Lam Hằng
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 3
TÓM TẮT 4
LỜI CAM ĐOAN 6
MỤC LỤC 7
MỞ ĐẦU 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 11
1.1.Vị trí địa lý- đặc điểm tự nhiên: 11
1.1.1.Vị trí địa lý: 11
1.1.2.Đặc điểm khí hậu: 11
1.1.3 Đặc điểm kinh tế: 12
1.1.4 Các thành tạo địa chất: 12
1.2.Thông tin giếng khoan: …17
1.2.1.Sơ lược lịch sử thăm dò: 18
1.2.2.Địa tầng thạch học: 20
1.2.3.Ranh giới địa tầng giếng: 32
1.2.4 Các bản đồ cấu tạo và bản đồ tầng chứa sản phẩm: 35
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT - PHƯƠNG PHÁP MINH GIẢI DST 40
2.1.Các phương pháp đánh giá tầng chứa: 40
2.1.1.Địa vật lý giếng khoan: 41
2.1.2.Phân tích mẫu lõi: 50
2.1.3 Phương phápthử vỉa: 58
2.2.Cơ sở lý thuyết về minh giải thử vỉa: 61
2.2.1.Khái niệm: 61
2.2.2.Mục đích quá trình thử vỉa: 61
2.2.3.Phạm vi ứng dụng: 62
2.2.4.Các phương pháp thử vỉa: 63
2.2.5 Các thông số thu được: 65
2.2.6 Cơ sở lý thuyết của phương pháp thử vỉa: 66
2.2.7.Phương pháp minh giải tài liệu thử vỉa truyền thống: 76
2.3.Phương pháp minh giải tiên tiến: 91
2.3.1 Tổng quanvề minh giải thử vỉa tiên tiến: 91
2.3.2 Các giai đoạn trong minh giải thử vỉa tiên tiến: 91
2.3.3 Một số phần mềm minh giải DST: 93
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ TẦNG CHỨA DỰA VÀO KẾT QUẢ DST 99
Trang 93.1.Cơ sở tiến hành thử vỉa: 99
3.1.1 Tài liệu giếng khoan CT-1X: 99
3.1.2 Các phương pháp phân tích thông số vỉa: 100
3.1.3 Biện luận các giá trị tới hạn: 104
3.1.4 Quy trình minh giải tài liệu ĐVLGK: 105
3.1.5 Kết quả minh giải: 105
3.2.Qúa trình thử giếng: 111
3.2.1.Qúa trình thử vỉa tập E: 111
3.2.2.Qúa trình thử vỉa tập F: 118
3.3.Ứng dụng kết quả DST trong quá trình dự báo khai thác : 126
KẾT LUẬN 132
KIẾN NGHỊ: 133
TÀI LIỆU THAM KHẢO 133
LÝ LỊCH TRÍCH NGANG 134
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết
Ngành công nghiệp dầu khí nước ta hiện nay đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ, luôn là ngành mũi nhọn đóng góp nhiều cho ngân sách nhà nước
Với tầm quan trọng đó, nhiệm vụ đặt ra là làm sao để có thể tìm kiếm, phát hiện
và đánh giá một cách chính xác nguồn tài nguyên quý giá này Việc tìm kiếm thăm dò dầu khí mang tính rủi ro rất cao Nên một câu hỏi luôn được đặt ra là: trước khi đầu tư khai thác vào một mỏ dầu, liệu nguồn tài nguyên tìm được có trữ lượng đủ lớn để khai thác thương mại hay không Và kế hoạch khai thác như thế nào là hợp lý đối với nguồn tài nguyên quý không phục hồi này Để giải quyết vấn đề này các thông tin về vỉa, tầng chứa sản phẩm phải có độ tin cậy cao
Các thông tin về tầng sản phẩm của vỉa từ các nhà địa chất, địa vật lý chỉ cung cấp các thông số khi vỉa ở trạng thái tĩnh Còn khi vỉa ở trạng thái động nghĩa là đang khai thác thì sao? Đánh giá tiềm năng vỉa dựa vào các thông số đó liệu còn đáng tin cậy không Thông qua đề tài:
“ĐÁNH GIÁ TẦNG CHỨA GIẾNG KHOAN CT-1X DỰA VÀO KẾT QUẢ
THỬ VỈA DST”
tác giả sẽ góp phần làm sáng tỏ các vấn đề đã nêu
2 Mục tiêu luận văn:
Xác định các thống số vỉa qua kết quả thử vỉa theo phương pháp Drill Stem Test (DST) kết hợp với minh giải tài liệu DVLGK, MDT Từ đó minh giải tài liệu thử vỉa
và đánh giá tầng chứa
3 Nhiệm vụ của luận văn:
cứu
vỉa
Trang 114 Giới hạn vùng nghiên cứu
Mỏ CTT thuộc lô 15.1 bồn trũng Cửu Long
5 Cơ sở tài liệu nghiên cứu:
Luận văn được thực hiện dựa trên tài liệu địa vật lý giếng khoan(master log, composite log…) được sự cho phép của Tổng Công Ty Thăm Dò Khai Thác Dầu Khí Việt Nam(PVEP), cùng 1 số tài liệu do bộ môn Địa Chất Dầu Khí, trường Đại Học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh cung cấp.Ngoài ra còn sử dụng các sách, tài liệu, bài báo chuyên ngành trong và ngoài nước đã công bố
6 Các phương pháp nghiên cứu:
- Minh giải tài liệu địa vật lý giếng khoan CT-1X nhằm xác định khoảng thử vỉa
- Minh giải tài liệu thử DST bằng phần mềm Ecrin nhằm đánh giá tầng chứa
- Ứng dụng kết quả DST trong dự báo khai thác bằng cách sử dụng phần mềm Eclipse
7 Ý nghĩa khoa học- thực tiễn:
Ý nghĩa khoa học:Minh giải tài liệu DST nhằm xác định các thông số tầng chứa(
K,SPi,,Cs…), từ đó có cái nhìn toàn diện về khả năng chứa của giếng khoan
Ý nghĩa thực tiễn: Từ kết quả minh giải DST kết hợp với các dữ liệu PVT,
CCE,CVD xây dựng mô hình khai thác phát triển lâu dài cho toàn mỏ, đề xuất các biện pháp tối ưu hóa nhằm đem lại lợi nhuận cao nhất
Luận văn được hoàn thành không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Tác giả nhận thấy rằng còn nhiều vấn đề cần giải quyết để luận văn trọn vẹn hơn Đồng thời những nhận định chủ quan có thể chưa đúng với thực tiễn Kính mong nhận được sự thông cảm và góp ý của quý thầy cô và các bạn
Trang 12CHƯƠNG 1: SƠ LƯỢC VỀ VỊ TRÍ ĐỊA LÝ BỒN TRŨNG CƯU LONG VÀ GIẾNG KHOAN CT-1X
1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên của bồn trũng Cửu Long
1.1.1 Vị trí địa lý
Bồn trũng Cửu Long nằm ở phía Đông Bắc thềm lục địa Việt Nam, có tọa độ
kinh độ Đông, kéo dài 400 Km dọc bờ biển
Về mặt hình thái, bồn trũng Cửu Long có dạng bầu dục kéo dài theo phương Đông Bắc – Tây Nam Giới hạn phía Đông của bồn là biển Đông Việt Nam, phía Nam và Đông Nam ngăn cách với trũng Nam Côn Sơn bởi khối nâng Côn Sơn, phía Tây là châu thổ sông Cửu Long, phía Bắc là những đới nhô cao của địa khối Đà Lạt
Hình 1.1: Vị trí bể Cửu Long
1.1.2 Đặc điểm khí hậu
Thềm lục địa Việt Nam có khí hậu cận xích đạo, được đặc trưng bởi nhiệt độ trung bình cao vào mùa đông là 240 – 280C, vào mùa hè là 270 – 290C, độ ẩm trung bình là 60% Một năm chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 trong năm, mùa khô bắt đầu từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau Lượng mưa phân bố không đều, vào các tháng mưa chiếm khoảng 85% – 90%
Trang 131.1.3.Đặc điểm kinh tế xã hội
Thành phố Vũng Tàu có khoảng trên 4 vạn dân, đây là nguồn nhân lực hùng hậu đáp ứng đầy đủ cho quá trình xây dựng và phát triển thành phố Vũng tàu là thành phố công nghiệp dầu khí và du lịch nên giao thông vận tải phát triển khá phong phú và
đa dạng về cả đường bộ và đường thủy Vũng tàu nối liền với thành phố Hồ Chí Minh bởi quốc lộ 51, dài 120 Km và đường thủy dài 80Km Ngoài ra ở đây còn có sân bay
và cảng
1.1.4 Các thành tạo địa chất
Địa tầng trầm tích Kainozoi ở bồn trũng Cửu Long đã được nghiên cứu bởi nhiều nhà địa chất: Ngô Thường San, Hồ Đắc Hoài, Lê Định Thẩm, Lê Văn Cự, Nguyễn Giao… Với các phương pháp địa chấn, địa tầng, cổ sinh địa tầng, thạch địa tầng, phân tích địa vật lí giếng khoan… Ngày nay, với nhiều tài liệu mới về phân tích mẩu vụn, mẫu lỏi và các tài liệu phân tích cổ sinh thu thập được từ các giếng khoan, địa tầng trầm tích Kainozoi ở bồn trũng Cửu Long được phân chia thành 6 phân vị địa tầng và phủ bất chỉnh hợp lên móng được thành tạo do hoạt động macma tạo móng trước Kainozoi
Trang 14Hình 1.2: Cột địa tầng bồn trũng Cửu Long
Trang 151.1.5.Đặc điểm cấu - kiến tạo
Phân vùng cấu trúc
Bồn trũng Cửu Long chia thành 4 yếu tố cấu trúc chính như sau:
Phụ bồn trũng Tây Nam Cửu Long (hoặc phụ bồn Tây Bạch Hổ): có đặc điểm cấu trúc chủ yếu là phương Đông – Tây và sâu dần về phía Đông
Phụ bồn trũng Đông-Nam Cửu Long (hoặc phụ bồn Đông Bạch Hổ): được đặc trưng bởi một trũng chính có ranh giới phía Bắc là hệ thống đứt gãy Nam
TP, phía Tây là hệ thống đứt gãy Đông Bạch Hổ và phía Đông tiếp giáp với một sườn dốc của khối nâng Côn Sơn, tại đây các hệ thống đứt gãy phương Đông – Tây và Bắc – Nam chiếm ưu thế
Đới nâng trung tâm (hoặc đới nâng Rồng – Bạch Hổ): ngăn cách phụ bồn trũng Tây Nam Cửu Long với phụ bồn trũng Đông – Nam Cửu Long Đới nâng này nối với khối nâng Côn Sơn ở phía Nam, phát triển theo hướng Bắc Đông Bắc và kết thúc ở phía Bắc mỏ Bạch Hổ
Phụ bồn trũng Bắc Cửu Long bao gồm toàn bộ lô 15 – 1, 15 – 2 và phần phía Tây của lô 01 và 02 Các yếu tố cấu trúc chính có hướng Đông Bắc – Tây Nam
Trang 16Hình 1.3:Các cấu trúc chính của bồn trũng Cửu Long
Hệ thống đứt gãy
Bồn trũng Cửu Long tồn tại nhiều hệ thống đứt gãy có phương kéo dài và biên độ khác nhau, hoạt động mạnh trong móng và trầm tích Oligocen và yếu dần theo thời gian Hệ thống đứt gãy bồn trũng Cửu Long chủ yếu là các đứt gãy thuận kế thừa
từ móng và phát triển đồng sinh với các quá trình lắng đọng trầm tích, hình thành các địa hào, địa lũy
Trên cơ sở tổng hợp tài liệu địa chất, địa vật lý đã cho thấy bồn trũng Cửu Long tồn tại bốn hệ thống đứt gãy: Đông – Tây, Đông Bắc – Tây Nam, Bắc – Nam và nhóm các đứt gãy khác Trong đó, hệ thống đứt gãy Đông Bắc – Tây Nam là hệ thống đứt gãy sâu có vai trò quan trọng hơn cả
Trang 17Hình 1.4: Mặt cắt địa chất bồn trũng Cửu Long
Với điều kiện tự nhiên thuận lợi như trên bồn trũng Cửu Long hiện nay là bồn trũng có sản lượng lớn nhất Việt Nam với các mỏ: Bạch Hổ, Rồng, Rạng Đông, Ruby… đang được thăm dò, khai thác bởi các công ty dầu: Vietsovpetro, JVPC, PCV, Conoco, Cửu Long JOC, Hoàng Long, Hoàn Vũ, Lam – Sơn JOC, VRJ
Trang 181.2 Thông tin chung về giếng khoan CT-1X
Tên giếng khoan: 15.1-CT-1X
Lô, Cấu tạo: lô 15.1 – MỏCTT
Loại giếng khoan: Thăm dò, thẳng đứng trong trầm tích, lệch trong Móng
Tọa độ giếng khoan:
Công ty điều hành: Cuu Long Joint Operating Company (Cửu Long JOC)
Cổ phần hội viên : PVEP có 50%, CONOCO: 23.25%, KNOC: 14.25%, SK: 9%
và GEOPETROL: 3.5%
Tên giàn khoan: Galveston Key
Loại giàn khoan: tự nâng
Chiều sâu giếng khoan thiết kế : 5061 m TMD / 4548m (TVD) RTE
Chiều sâu giếng khoan thực tế : 4428 m (TVD 4051.10 m) BRT
Chiều sâu nước biển: 55.7m
Khoảng cách bàn Rotor- mặt nước biển: 29.7m
Khoảng cách bàn Rotor- đáy biển: 85.4 m
Tình trạng giếng khoan: Hủy giếng
Các đối tượng chính: - Tầng Móng granit nứt nẻ
- Các tầng cát kết BI, C, D, E, F
Tổng số ngày khoan : 87.83
Trang 191.2.1Sơ lƣợc về lịch sử thăm dò
Công ty liên doanh điều hành chung Cửu Long (Cuu Long JOC) lô 15-1 được thành lập vào ngày 26/10/1998 với 3 năm đầu là giai đoạn thăm dò, sau đó được gia hạn thêm 1 năm đến 25/10/2002 Các cam kết tối thiểu của giai đoạn thăm dò gồm xử
địa chấn 3D và
và
giếng thăm dò và thẩm lượng Quá trình khoan tìm kiếm thăm dò của lô được tóm tắt như sau :
này có nhiều biểu hiện dầu khí trong trầm tích Miocene và Oligocene nhưng không
đủ sâu để đánh giá đầy đủ tầng chứa trong móng
Sư Tử Đen Giếng khoan đã thử được 5655 th/ng từ tầng móng, 1366 th/ng từ Oligocene và 5600 th/ng từ Miocene dưới
khoan để thẩm lượng phần Tây Nam cấu tạo CTD
rộng vị trí sang CD-2XCT Kết quả thử vỉa từ móng của SD-2XCT là 13223 th/ng
Miocene dưới
Tử Đen Giếng khoan cho ra dòng với lưu lượng 2763 th/ng từ móng và 4662 th/ng
từ Miocene dưới Giếng khoan này đã xác nhận sự có mặt của dầu ở cả hai bên đứt gãy lớn chia đôi cấu tạo CTD
phép công bố phát hiện thương mại CTD ngày 8/8/2001
này thử được 11388 th/ng từ móng
PetroVietnam
“yên ngựa “ giữa hai cấu tạo CTD và CTV với TD lớn hơn độ sâu của điểm tràn
Trang 20Kết quả khảo sát ở giếng này cho thấy không có sự thông nhau giữa hai cấu tạo trên
Hình 1.5 Sơ đồ vị trí lô 15.1
tạo CV Kết quả thử vỉa: 7774 th/ng từ móng
quả thử vỉa: 7576 th/ng từ móng và 14000 th/ng từ Oligocene trên (C30)
quả thử vỉa: 7576 th/ng từ móng và 14000 th/ng từ Oligocene trên (C30)
Trang 211.2.2 Địa tầng thạch học giếng khoan
Hình 1.6: Mẫu thạch học thành hệ Biển Đông với sự xen kẹp hóa thạch lẫn cát sét
* Cát kết hạt thô là chủ yếu, cát có mầu nâu sáng, nâu đỏ, sám sáng Kích thước hạt thay đổi từ rất mịn tới rất thô, bán góc cạnh tới bán tròn cạnh, độ chọn lọc kém tới trung bình, gồm các hạt thạch anh sạch đến trong mờ, thường có Glauconit và nhiều hóa thạch, gắn kết yếu, xi măng sét- cacbonat
* Sét có mầu trắng, chứa nhiều vôi, mềm, chứa than Đá vôi nguồn gốc hữu cơ
có mầu nâu xám sáng, chứa hạt quartz, feldspar và một số khoáng vật khác Than có mầu nâu đen
* Đá vôi màu xanh xám tới xánh đen, màu xám tới xám sáng, gắn kết yếu, bở rời tới dễ vỡ vụn, dạng tinh thể nhỏ, trong tập chứa ít cát, độ lỗ rỗng không nhìn thấy bằng mắt thường
* Các tập than màu đen nâu, mềm bở tới cứng, dạng khối tới bán khối, hạt nhỏ vừa, vỡ vụn dạng đất có dấu vết của Pyrit, gỗ trong tập, thỉnh thoảng còn có các thể tù bùn đất, các lớp bùn mỏng
Trang 22 Miocene muộn: Thành hệ Đồng Nai / tập “BIII”
* Sét kết loại 2 có nhiều màu sắc, xám sáng, đỏ nâu, vàng nâu, rất mềm, vô định hình, dính và có khả năng hòa tan cao
* Đá vôi có màu trắng nhạt, hơi xám sáng tới xám vàng, cứng (chắc tới rất cứng, nói chung dễ vỡ vụn, đôi khi giòn thường có cát và Glauconit, thường ở dưới dạng mảnh vỏ sò ốc, có cấu tạo muDSTone, wackeCTone tới grainCTone, độ rỗng trông thấy từ rất kém tới khá
Trang 23 Miocene giữa: Thành hệ Côn Sơn / tập “BII”
Từ 1401mMD (1371mTVD) đến 1974mMD(1944mTVD)
Thành hệ Thành hệ Côn Sơn / tập “BII” chủ yếu là cát kết chiếm từ 15-100% xen kẹp các lớp sét kết loại 2 , loại 1 cùng các lớp vôi mỏng
Hình 1.8: Mẫu thạch học của thành hệ Côn Sơn
* Thành phần cát kết chủ yếu là thạch anh có mầu xám sáng, trắng đục tới trong suốt, phần lớn có màu xám sáng, sáng xanh tới xám, đôi khi xen kẽ các hạt màu trắng đục, đôi khi có những mảnh đá nhiều màu (xám, xám xanh, nâu đỏ, vàng cam) độ hạt
từ mịn tới thô, góc cạnh đến tròn cạnh Cát kết có mầu nâu, gồm những hạt thạch anh trong mờ, độ hạt từ mịn tới trung bình, thỉnh thoảng có hạt thô, hình dạng từ góc cạnh đến bán góc cạnh, độ hạt mịn tới thô, bán góc cạnh tới tròn cạnh, bở rời thỉnh thoảng
có gắn kết với xi măng là cacbonat, những mảnh đá phiến silic, các vết pyrit, đôi khi gặp cát hạt mịn tới thô, trong tập thỉnh thoảng gặp matrix bột sét, có dấu vết mica, muscovit độ gắn kết bở rời tới cứng, độ rỗng không thấy được bằng mắt thường kém, cát kết xen kẽ với những lớp sét kết mỏng vài một vài lớp than Cát kết hầu như được thấy ở dạng hạt gắn kết yếu, dấu vết vật liệu cacbonat Không có biểu hiện dầu khí
* Sét kết loại 1 có nhiều màu sắc, đỏ nâu, màu cam, vàng nâu, xám oliu sáng, rất mềm, vô định hình
* Sét kết loại 2 có xanh sáng tới xám xanh, xám sáng, cấu trúc phân phiến, xen kẹp các lớp sét kết loại I, mềm tới tương đối cứng, dính, có cấu tạo khối, dính và có khả năng hòa tan cao
Trang 24 Miocene sớm: Thành hệ Bạch Hổ / tập “BI”
Từ 1974mMD (1944mTVD) đến 2520mMD (2474mTVD)
Thành hệ Bạch hổ / tập “BI” có thể chia thành hai phần: Bạch Hổ trên từ nóc BI đến bất chỉnh hợp trong Miocene dưới và Bạch Hổ dưới từ bất chỉnh hợp trong Miocene dưới đến nóc tập C
* Bột kết màu xám sáng, xám xanh, mềm tới cứng, vô định hình tới á phân khối, thỉnh thoảng có Mica
* Cát kết trong tầng này chủ yếu là cát Acko, một ít là Lithic Acko và Greywack giàu felspat, màu xám nâu sáng tới màu xám sáng Kích thước hạt từ rất mịn, mịn tới trung bình Độ chọn lọc từ trung bình tới tốt, từng phần cục bộ có nơi độ chọn lọc kém hoặc rất kém Độ mài tròn thay đổi từ góc cạnh, á góc cạnh, á tròn cạnh tới tròn cạnh Hầu hết cát kết đều rất sạch, có chứa một lượng nhỏ mica Cát kết hầu như gắn kết yếu, độ rỗng nhìn thấy tốt và có nhiều biểu hiện dầu khí, thỉnh thoảng có cát kết gắn kết tốt bằng ximăng sét hoặc ximăng dolomic có độ rỗng nhìn thấy kém
Bột kết có màu xám sáng, xám vàng, xanh xám, mềm tới cứng, vô định hình tới á phân khối, thỉnh thoảng lẫn vi tinh mica, cát mịn và vôi
Trang 25Hình 1.9: Mẫu thạch học của thành hệ Bạch Hổ trên với thành phần là sét kết
Sét kết có màu xám xanh, xám sáng, xám sẫm (loại II), thỉnh thoảng lốm đốm màu nâu đỏ, xám đỏ (loại I), mềm tới cứng, vô định hình tới á phân khối, thỉnh thoảng có dạng tấm, từng phần có bột và vôi
Bạch Hổ dưới gồm những lớp xen kẽ cát kết, bột kết và sét kết từ bất chỉnh hợp trong Miocene dưới tới nóc tập C
* Cát kết chủ yếu là loại Geywack giàu felspat, Litic Acko và Acko, nhìn chung có màu xám nâu sáng, xám xanh sáng, hạt rất mịn tới trung bình, và thô tới rất thô (cỡ hạt rất tương phản), góc cạnh tới á tròn cạnh, chọn lọc kém tới trung bình, gồm các hạt thạch anh sáng tới trong mờ, thỉnh thoảng có màu trắng sữa, phổ biến Biotit, vết Muscovit, Pyrit và Clorit Mẫu cát kết trong mùn khoan hầu hết ở dạng hạt rời rạc, thỉnh thoảng có cát kết gắn kết yếu bằng Kaolin
* Bột kết màu xám sáng tới xám vàng, xám xanh, mềm, vô định hình hoặc dạng khối, nhiều Kaolin và Biotit
Trang 26Hình 1.10: Mẫu thạch học của thành hệ Bạch Hổ dưới
* Sét kết nhiều màu thay đổi từ nâu đỏ đến xám đỏ, xám và xám xanh, mềm tới cứng, vô định hình hoặc dạng khối, thỉnh thoảng có bột và những lớp vôi mỏng gần đáy tập
Oligocene muộn: Thành hệ Trà Tân trên / tập “C”
Từ 2520mMD (2474.3mTVD) đến 2635mMD (2570.3mTVD)
Thành hệ Thành hệ Trà Tân trên / tập “C” chủ yếu là cát kết, sét kết và ít bột kết xen kẹp lẫn nhau
Hình1.11: Mẫu thạch học của thành hệ Trà Tân trên
* Cát kết chủ yếu là loại Acko, nhìn chung có màu xám nhạt đến nâu vàng tới nâu nhạt, xám xanh gồm các hạt thạch anh sạch tới trong mờ, độ hạt từ rất mịn tới trung bình, thỉnh thoảng có hạt thô, góc cạnh tới tròn cạnh, chọn lọc kém đến trung bình Thỉnh thoảng có cát kết gắn kết bằng matrix sét hoặc vôi, đọ rỗng nhìn thấy khá
* Bột kết màu xám sáng, xám xanh sáng, rất mềm tới mềm, vô định hình
* Sét kết màu vàng nâu, thỉnh thoảng có màu xám sáng, xám xanh, mềm tới cứng,
vô định hình hoặc phân khối, thỉnh thoảng có bột và mảnh nhỏ Mica
Trang 27 Oligocene muộn: Thành hệ Trà Tân giữa / tập “D”
Từ 2635mMD (2570.3mTVD) đến 4035mMD (3726.6mTVD)
Thành hệ Thành hệ Trà Tân giữa / tập “D” chủ yếu là cát kết xen kẹp lớp sét kết loại 3
Hình 1.12: Mẫu thạch học của thành hệ Trà Tân giữa
* Thành phần cát kết chủ yếu là thạch anh có mầu xám sáng, trắng đục tới trong suốt, phần lớn có màu xám sáng, sáng xanh tới xám, đôi khi xen kẽ các hạt màu trắng đục, góc cạnh đến tròn cạnh Cát kết có mầu nâu, gồm những hạt thạch anh trong mờ,
độ hạt từ mịn tới trung bình, thỉnh thoảng có hạt thô, hình dạng từ góc cạnh đến bán góc cạnh, độ hạt mịn tới thô, bán góc cạnh tới tròn cạnh, đôi khi gặp cát hạt mịn tới thô, trong tập thỉnh thoảng gặp matrix bột sét, có dấu vết mica, muscovit độ gắn kết bở rời tới cứng, độ rỗng không thấy được bằng mắt thường kém, xen lớp đá phun trào, bị sét hóa, kaolinit hóa, dolomitit hóa mạnh
* Sét kết loại 3 có xanh sáng tới xám xanh, xám sáng, đôi chỗ feldpar bị biến đổi thành kaolinit Sét kết mầu nâu, nâu đen, xám đen, xám xanh, phân phiến, dễ vỡ, giàu vật chất hữu cơ
Đá phun trào có thành phần là tuff-anderit, tuff-dacite và andesite, mầu xám, xám xanh, đá phun trào này, có biểu hiện dầu khí trong khoảng (2655-2695mTVD) Kết quả khoan các giếng CT – 1X, 2X và 3X cho thấy có nhiều biểu hiện hydrocacbon Kết quả DST ở giếng khoan CT – 1X cho thấy phần trên của tầng D có thể là một tầng chứa tiềm năng (609 BOPD dầu và 1,2 Mscf khí) Nhưng vỉa chứa dầu này chỉ phát hiện được trong giếng CT – 1X mà không có trong giếng CT – 2X và 3X
Ở giếng CT – 2X và CT – 3X, trong phạm vi tầng D, dựa vào tài liệu log giếng khoan cũng phát hiện thấy có 2 tập cát có thể chứa khí Tập cát chứa khí gặp ở giếng CT – 2X và tập cát chứa dầu ở giếng CT – 1X tuy có đặc trưng log gần giống nhau nhưng có
Trang 28thể là 2 thân cát độc lập vì tập cát chứa khí ở giếng CT – 2X nằm sâu hơn tập cát chứa dầu ở giếng CT – 1X
Oligocene muộn: Thành hệ Trà Tân dưới / tập “E”
Phụ hệ tầng này có chiều dày thay đổi mạnh từ khoảng 200m ở phần đỉnh cấu tạo đến khoảng 1000 m ở các vùng trũng Trên mặt cắt địa chấn có thể thấy bề mặt nóc của tầng này có sự bào mòn ở phần nâng cao của cấu tạo Phụ hệ tầng này bao gồm cát kết hạt rất thô và góc cạnh xen kẹp với sét kết màu đen nâu sẫm giàu hữu cơ, sét kết giàu kaolinite màu xám nhạt đến xám nâu, bột kết Ở các giếng, khi khoan qua nóc tầng E, hàm lượng C1 – C5 trong khí matrix tăng lên đáng kể cho thấy khả năng chứa rất tốt của tầng D bên trên Việc liên kết phụ hệ tầng này tại phần đỉnh cấu tạo gặp nhiều khó khăn do hoạt động đứt gãy mạnh CT – 1X là giếng đầu tiên ở lô 15.1 khoan hết tầng
E Trong các cấu tạo khác của lô 15.1 như Sư Tử Đen và Sư Tử Vàng, tập E thường rất mỏng hoặc vắng mặt và chỉ xuất hiện ở sườn các cấu tạo phủ lên trên móng phong hoá Phụ hệ tầng này được chia làm 2 tập: E2 bên trên và E1 bên dưới Tập E2 chỉ phát triển ở các vùng trũng, không gặp trong 3 giếng khoan Phân tích mẫu lõi của 2 giếng
CT – 2X và 3X cho thấy môi trường trầm tích của tầng này thay đổi từ đầm hồ (lacustrine) đến lòng sông (channel), trầm tích vỡ đê (overbank) và sông dạng dòng bện (braided fluvial)
Tập E1 gồm sét kết giàu hữu cơ màu đen nâu sẫm, xen kẹp bột kết, cát kết Kiến trúc của sét kết cho thấy có dị thường áp suất Tầng E1 cho thấy các biểu hiện của đá sinh loại tốt Cát kết xám đen đến xám nâu, trở nên gắn kết hơn theo độ sâu, kiến trúc arkose, có bột, độ hạt từ mịn đến trung bình, đôi khi thô, thường thấy dạng thô dần lên trên, độ chọn lọc kém đến trung bình, đôi khi gặp matrix vôi với các vết calcite Trong tập E1 thường gặp fenspar trong matrix của cát kết bị phong hoá thành kaolinit Hàm lượng sét thay đổi, đáng chú ý là thành phần kaolinite và vôi, đôi khi có matrix giàu silic đã làm cho độ rỗng thay đổi từ kém đến tốt Bột kết xám trung bình đến xám nâu, thường rắn chắc, đôi khi cứng đến rất cứng, đôi khi bị nén ép và bị kaolinite hóa ở từng phần Trong khi khoan gặp nhiều biểu hiện khí, condensate và dầu nhẹ Trong cát kết có các vết dầu màu đen nâu và mùi hydrocarbon mạnh Theo kết quả phân tích mẫu lõi, chất lượng vỉa của tầng E1 thuộc loại trung bình với độ rỗng chủ yếu thay đổi
từ khoảng 2% đến hơn 16%, độ thấm thay đổi trong khoảng 0,01 đến khoảng 600mD
Trang 29Về cấu tạo, tầng E1 có dạng bán vòm kề đứt gãy kéo dài theo phương đông bắc – tây nam, cắm về phía tây nam, thừa hưởng cấu trúc nâng của móng và tầng F bên dưới
Hình 1.13: Mẫu thạch học thành hệ Trà Tân dưới với thành phần sét kết giàu hữu cơ
Kết quả đo MDT cho thấy gradient áp suất vỉa của tầng E (ở chiều sâu 3777 – 3877m TVDSS) ở giếng CT – 3X (0,24 psi/ft) khác so với gradient áp suất vỉa cũng của tầng
E (ở chiều sâu 3600 – 3642 mTVDSS) ở giếng CT – 1X (0,165 psi/ft) Điều đó chứng
tỏ vỉa chứa thuộc tầng E1 ở đỉnh và cánh cấu tạo có chế độ áp suất khác nhau có nghĩa
là không có sự liên thông giữa chúng Sự không liên thông này có thể bị gây ra bởi đứt gãy hướng ĐB – TN nằm giữa giếng CT – 1X – 2X và giếng 3X Đứt gãy này chia
ở giếng CT – 1 X cho 3900 thùng condensate 1 ngày và 37,9 Mscf khí, ở giếng CT – 3X cho 1118 thùng dầu/condensate 1 ngày và 10,8 Mscf khí
Phân vị mới: tầng F
Ở cấu tạo CTT lần đầu tiên ở lô 15-1 khoan đến tập F và được xem như là 1 tầng mới Theo báo cáo phân tích cổ sinh của VPI cho giếng CT – 1X, tầng này được xếp vào hệ tầng Trà Cú tuổi Oligocene sớm Ở giếng COD – 1X (lô 09-2) cũng bắt gặp một tầng đá tương tự Hoàn Vũ J.O.C xếp tầng này vào tuổi Oligocene sớm, hệ tầng Trà Tân dưới Ở mỏ CTT, chiều dày tầng này thay đổi trong khoảng hơn 200 m ở phần đỉnh cấu tạo đến gần 1000 m ở các vùng trũng Tầng F bao gồm sét kết argillite cứng, giàu hữu cơ màu đen nâu sẫm xen với các tập cát kết dày, một ít bột kết Sét kết tầng F màu xám đen đến đen nâu, cứng đến rất cứng, á phân khối đến phân khối, có
Trang 30dấu hiệu của dị thường áp suất Sét và bột kết của tầng này giàu vật chất hữu cơ Riêng ở giếng CT -1X, bắt gặp một tập mỏng (khoảng 10 m) đá núi lửa kết tinh rất cứng, có thể là basalt Trong mẫu mùn khoan thấy có các vết dầu màu đen nâu Trong cát và bột kết dưới đáy của tập basalt này có dấu hiệu của biến chất tiếp xúc (bị biến đổi từng phần thành quarzite biến chất) và có chứa các mảnh vụn đá núi lửa Trong tầng F có nhiều biểu hiện khí, condensate và dầu Đây là một đối tượng chính tại cấu tạo CTT Tầng này cũng được coi là một tầng đá sinh tốt Theo kết quả phân tích mẫu lõi lấy trong tầng F của giếng CT – 2X và CT – 3X, môi trường trầm tích của tầng này là sông dạng dòng bện (braided fluvial), lòng sông, lòng sông thoái hóa (abandoment channel), trầm tích do vỡ đê (overbank)
Cát kết của tầng F có kiến trúc arkose, độ hạt mịn đến rất mịn, đôi khi hạt trung, thường thấy hiện tượng hạt thô dần lên trên, độ chọn lọc kém đến trung bình, có biểu hiện tái trầm tích, đôi chỗ vôi hóa và dolomite hóa, thường bị kaolinite hóa Felspar trong matrix của cát kết thường bị phong hóa thành kaolinite Theo kết quả phân tích mẫu lõi, chất lượng vỉa của tầng F thuộc loại trung bình kém với độ rỗng chủ yếu thay đổi từ khoảng 3% đến 13%, độ thấm thay đổi chủ yếu trong khoảng 0,01 đến khoảng 10mD
Hình1.14: Mẫu thạch học của tầng F
Về cấu tạo, tầng F có dạng bán vòm kề đứt gãy kéo dài theo phương đông bắc – tây nam, cắm về phía tây nam, thừa hưởng cấu trúc nâng của móng bên dưới Tầng F có đường khép kín là 5150 m Trong các tập cát kết của tầng này, đã gặp nhiều biểu hiện của dầu nhẹ, condensate và khí Kết quả thử DST trong cát kết tầng F cho 3673 thùng condensate 1 ngày và 32 Mscf khí ở giếng CT – 1X, 960 thùng dầu/condensate 1 ngày và 8,7 Mscf khí
Trang 31 Móng trước Đệ Tam
Từ 4316mMD (3939mTVD)
Chỉ có giếng CT – 2X đã khoan sâu 834 mTVD xuống móng Các giếng CT – 1X và
CT – 3X chỉ khoan tới nóc móng thì dừng khoan (giếng CT – 1X khoan được 86 mTVD vào trong móng thì phải dừng khoan do mất dung dịch)
Móng trước Đệ Tam ở cấu tạo CTT có dạng khối đứt gãy kéo dài theo phương đông bắc – tây nam, cắm về phía tây nam, hình thành bởi một đứt gãy thuận lớn ở phía đông nam cấu tạo Theo bản đồ cấu trúc, móng có đường khép kín ở 5920 m Chất lượng vỉa của tầng móng được xác định dựa trên tài liệu đo log vì mẫu lõi không được lấy trong móng Độ rỗng trong móng dao động trong khoảng 0.04 % đến khoảng 2,9 % Chiều sâu khoan trong móng ở giếng 1X là 86mTVD, ở giếng 2X là 834mTVD Móng phong
hóa kết hợp với các khe nứt kiến tạo tạo ra khả năng chứa dầu khí
Móng có thành phần chủ yếu là granodiorit, granit Phần trên là đá phong hóa weather granit Granit, Granodiorit có mầu xám xanh đến xám, dạng khối, bán tinh thể Thành phần có quartz, feldpa, mica Trong móng có gặp các đứt gãy, thỉnh thoảng feldpar
biến đổi thành kaolinite
Thành phần khoáng vật của móng Granit gồm 1-15% thạch anh, 30-35% felspat K (chủ yếu là Octhocla, thỉnh thoảng có Microlin) 20-30% Plagiocla (Albit tới Oligocla)
và 2 - 20% Mica (Biotit và Muscovit) Khoáng vật thứ sinh thường là Clorit, Epidot, Zeolit, Canxit và khoáng vật không thấu quang như Pyrit và Oxyt sắt
Thạch anh Monzodiorit và Monzodiorit gồm từ 60-100% Thạch anh, 15 - 20% Felspat Kali, 40 - 50% Plagiocla (chủ yếu là Oligocla) và 1 - 3% Mica (Biotit và Muscovit) Thành phần khoáng vật thứ sinh tương tự như móng Granit
Bazan/Andezit gồm từ 5 - 25% tinh thể (Plagiocla và Octocla) và 75 - 85% nền (gồm vi tinh Plagiocla, một ít vi tinh Octocla, Pyroxen và thủy tinh)
Trong mẫu vụn, Granit tươi thường đặc trưng bởi những khối trong mờ, rất cứng
có những mảnh Biotit đen bóng Granit biến đổi thường gồm có Kaolinit (thay đổi từ 10% trong Granit tươi đến 30% trong Granit bị biến đổi mạnh) và các khoáng vật mafic bị biến đổi
Đới biến đổi mạnh thường thấy ở vùng lân cận các đai xâm nhập, có thể đó là kết quả của hoạt động nhiệt dịch đi kèm
Sự có mặt của các nứt nẻ bên trong tầng móng ở giếng khoan này được suy từ các
dị thường của tốc độ khoan và mất dung dịch trong giếng khoan Các biểu hiện của vi
Trang 32nứt nẻ thường thấy được trong những mẫu vụn lớn, đặc biệt là khi cĩ những vệt dầu dọc theo khe nứt
Hình 1.15: Cột địa tầng giếng khoan CT-1X
TUỔI
CỘT THẠCH HỌC
TẦNG SẢN PHẨM
CHƯƠNG TRÌNH
MÔ TẢ THẠCH HỌC
TRÀ TÂN DƯỚI(E) TẬP MỚI
Thành hệ Đồng Nai / tập "BIII" chủ yếu là cát kết chiếm từ 10-100% xen kẹp các lớp sét kết loại 2 và các lớp vôi mỏng.
* Cát kết chủ yếu là thạch anh, trắng đục tới trong suốt, phần lớn có màu xám sáng, các vết pyrit, vật liệu cacbonat và mảnh vỡ vỏ sò ốc, cát kết hạt vừa trong tập thỉnh thoảng gặp matrix bột sét và Glauconite, muscovit và mica độ gắn kết bở rời tới cứng, độ rỗng không thấy được bằng mắt thường kém
* Sét kết loại 2 có nhiều màu sắc, xám sáng, đỏ nâu, vàng nâu, rất mềm, vô định hình, dính và có khả năng hòa tan cao.
* Đá vôi có màu trắng nhạt, hơi xám sáng tới xám vàng, cứng, thường ở dưới dạng mảnh vỏ sò ốc, có cấu tạo mudstone, wackestone tới grainstone, độ rỗng trông thấy từ rất kém tới khá.
Thành hệ Côn Sơn / tập "BII" chủ yếu là cát kết chiếm từ 15-100% xen kẹp các lớp sét kết loại 2 , loại 1 cùng các lớp vôi mỏng.
* Thành phần cát kết chủ yếu là thạch anh hình dạng từ góc cạnh đến bán góc cạnh, độ hạt mịn tới thô, bán góc cạnh tới tròn cạnh, bở rời thỉnh thoảng có gắn kết với xi măng là cacbonat, những mảnh đá phiến silic, các vết pyrit, cát kết xen kẽ với những lớp sét kết mỏng vài một vài lớp than.
* Sét kết loại 1 có nhiều màu sắc, đỏ nâu, màu cam, vàng nâu, xám oliu sáng, rất mềm, vô định hình.
* Sét kết loại 2 có xanh sáng tới xám xanh, xám sáng, cấu trúc phân phiến mềm tới tương đối cứng, dính, có cấu tạo khối, dính và có khả năng hòa tan cao.
Tập sét Bạch Hổ (sét chứa Rotalia) nằm trên cùng có thành phần chủ yếu là sét và phần còn lại gồm cát kết, sét kết và bột kết xen kẽ.
Thành phần thạch học chủ yếu là sét kết với một ít bột kết Sét Bạch Hổ có màu xám xanh, xám sáng, mềm tới cứng chắc, vô định hình hoặc có dạng khối, thỉnh thoảng có vi tinh mica, bột và vôi, hơi cứng và có thể tách được thành lớp Sét này được mô tả là sét loại II, đôi khi có một ít sét loại I màu nâu đỏ, xám đỏ.
* Bột kết màu xám sáng, xám xanh, mềm tới cứng, vô định hình tới á phân khối, thỉnh thoảng có Mica.
Thành hệ Trà Tân trên / tập "C" chủ yếu là cát kết, sét kết và ít bột kết xen kẹp lẫn nhau Thành phần thạch học của cát kết, sét kết, như trên
Thành hệ Trà Tân giữa / tập "D" chủ yếu là cát kết xen kẹp lớp sét kết loại 3.
* Thành phần cát kết chủ yếu là thạch anh có mầu xám sáng, trắng đục tới trong suốt, phần lớn có màu xám sáng, sáng xanh tới xám, đôi khi xen kẽ các hạt màu trắng đục, góc cạnh đến tròn cạnh, đôi khi gặp cát hạt mịn tới thô, trong tập thỉnh thoảng gặp matrix bột sét, có dấu vết mica, muscovit độ gắn kết bở rời tới cứng, độ rỗng không thấy được bằng mắt thường kém, xen lớp đá phun trào, bị sét hóa, kaolinit hóa, dolomitit hóa mạnh Đá phun trào có thành phần là tuff- anderit, tuff-dacite và andesite, mầu xám, xám xanh, đá phun trào này, có biểu hiện dầu khí trong khoảng (2655-2695mTVD).
* Sét kết loại 3 có màu xanh sáng tới xám xanh, xám sáng, đôi chỗ feldpar bị biến đổi thành kaolinit Sét kết mầu nâu, nâu đen, xám đen, xám xanh, phân phiến, dễ vỡ, giàu vật chất hữu cơ.
*Thành phần cát kết chủ yếu là thạch anh có mầu xám sáng, trắng đục tới trong suốt Sét kết loại 3 có xanh sáng tới xám xanh, xám sáng, đôi chỗ feldpar bị biến đổi thành kaolinit., phân phiến, dễ vỡ, giàu vật chất hữu cơ.
* T/P thạch học chủ yếu là cát kết, sét kết loại 2, loại 3, đá vôi và ít bột kết xen kẹp lẫn nhau Thành phần thạch học của chúng không có khác biệt nhiều với các tập ở trên.
Móng có thành phần chủ yếu là granodiorit, granit Phần trên là đá phong hóa weather granit Granit, Granodiorit có mầu xám xanh đến xám, dạng khối, bán tinh thể Thành phần có quartz, feldpa, mica Trong móng có gặp các đứt gãy, thỉnh thoảng feldpar biến đổi thành kaolinite.
Thành phần khoáng vật của móng Granit gồm 1-15% thạch anh, 30-35% felspat
K (chủ yếu là Octhocla, thỉnh thoảng có Microlin) 20-30% Plagiocla (Albit tới Oligocla) và 2 - 20% Mica (Biotit và Muscovit) Khoáng vật thứ sinh thường là Clorit, Epidot, Zeolit, Canxit và khoáng vật không thấu quang như Pyrit và Oxyt sắt.
Trang 331.2.3.Xác định ranh giới địa tầng giếng khoan CT-1X
Sử dụng địa chấn 3D trong miền thời gian kết hợp với tài liệu ĐVLGK cũng như tài liệu VSP/checkshot để tiến hành xây dựng các mặt cắt địa chấn tổng hợp của các giếng khoan và từ đó đánh giá được sự sai khác về liên kết giữa địa chấn và địa chất giếng khoan đối với các ranh giới địa tầng chính Dựa vào đặc trưng của các đường cong ĐVLGK như sonic, mật độ, gamaray, điện trở… để xác định các ranh giới địa tầng chính (Địa chất/địa chấn chính) Ở đây đặc trưng của các đường cong sonic mật độ được xem là các tiêu chí chính để xác định các ranh giới này Đồng thời các ranh giới địa chất-địa chấn cũng được xác định trên tài liệu địa chấn trong miền thời gian dựa vào đặc trưng địa chấn địa tầng của tập cũng như quan hệ giữa các phản xạ với các ranh giới này
Hình 1.16: Vùng phủ sóng địa chấn
Các ranh giới địa chất-địa chấn (từ nông đến sâu) được xác định để liên kết bao gồm:
C: Tương ứng với nóc của Oligocene ( bất chỉnh hợp Oli/Mio)
D: Tương ứng là nóc của tập sét sinh dầu chính ở bồn trũng Cửu Long có tuổi Oligocene trên
Tập E được chia thành 2 phụ tập:
Trang 34E2: Là nóc của phụ tập E trên có tuổi Oligocene sớm
F: Là nóc của tập phản xạ trầm tích có tuổi cổ nhất (Eocene?) được phát hiện ở bồn trũng Cửu Long nằm kề trên móng trước Đệ Tam
Cuối cùng là nóc tầng móng trước Đệ Tam
Hình 1.17:Kết quả liên kết các ranh giới địa chất – địa chấn chính giếng CT-1X
được xác định và liên kết không khác so với kết quả nghiên cứu trước đây, còn các
JOC) có sự thay đổi đáng kể
- Nóc tầng D: trên tài liệu địa chấn nó được xác định là nóc của tập phản xạ có biên độ thấp đến trung bình, độ liên tục thay đổi, tần số cao đặc trưng cho tướng trầm tích hạt mịn; đồng thời nó cũng là đáy của một tầng phản xạ có biên độ cao đến trung bình, độ liên tục tốt, tần số thấp (tập C) Có thể quan sát được sự bào mòn cắt xén các phản xạ
Trang 35tập D (bên dưới) và onlap thoải của các phản xạ tập trên hoặc song song Đặc trưng này cho phép xác định nó là một bất chỉnh hợp của bồn trũng Cửu Long Trên tài liệu ĐVLGK nó được xác định với sự thay đổi phông chung của đường DT mật độ còn gamaray thì không thay đổi Vì thế ranh giới nóc D được đưa xuống sâu hơn so với kết quả minh giải của Cửu Long JOC ( lưu ý Cửu Long JOC xác định nóc D với sự thay đổi gamaray còn DT mật độ thì không thay đổi phông chung)
hợp góc và dễ dàng quan sát được trên hầu khắp khu vực nghiên cứu Nó cũng là đỉnh của một tầng phản xạ có đặc trưng như tập D nghĩa là biên độ thấp, phân lớp kém, độ liên tục kém, tần số thấp-tướng hạt mịn Sự bào cắt các phản xạ bên dưới, onlap của phản xạ bên trên hoặc là á song song là đặc trưng chính của ranh giới phản xạ này Do đặc trưng bào mòn mạnh mẽ nên tầng này vắng mặt theo dải nâng trên đỉnh của cấu tạo theo trục ĐB-TN và vị trí các giếng khoan CT-1X, 2X, và 3X thuộc dải này nên trên mặt cắt ĐVLGK tập này không tồn tại ( Lưu ý Cửu Long JOC cho rằng tập này phân bố trên toàn khu vực mỏ, chỉ “fault out” ở một vài khu vực trên đứt gãy chính ĐB-TN
bình đến cao, tần số thấp, độ liên tục thay đổi có lẽ liên quan nhiều đến tướng hạt thô Ngoài việc xác định rõ ràng là mặt bất chỉnh hợp bị bào mòn của tầng bên dưới, thì
.Trên tài liệu ĐVLGK ranh giới này được xác định chủ yếu dựa trên sự thay đổi về tốc
trầm tích hạt thô
Trang 36Hình 1.18 Mặt cắt địa chấn qua giếng khoan CT-1X
Cũng lưu ý rằng các tầng phản xạ khác (C, F, và Móng) khi xác định theo tài liệu ĐVLGK không khác với Cửu Long JOC nhưng trong quá trình liên kết vẽ bản đồ cũng phải chỉnh sửa để phù hợp với mô hình được xác định Với những khác biệt trên, việc minh giải tài liệu địa chấn được tiến hành cho các tầng có sự khác biệt (3 tầng) và hiệu chỉnh một số tầng khác cho phù hợp ( C, F, Móng) Do thời gian có hạn nên việc liên kết mới các tầng chỉ đạt đến lưới tuyến 20*20 và thưa hơn Kết quả minh giải và
với khu vực liên quan đến các hệ đứt gãy hoă c là cánh sụt, tầng móng liên kết với độ tin cậy thấp còn ở khu vực đới nâng chính độ tin cậy cao hơn
1.2.4.Các bản đồ cấu tạo và bản đồ tầng chứa sản phẩm
c n c tạo
Các bản đồ cấu tạo của các tầng địa chất-địa chấn chính được xây dựng dựa vào kết quả liên kết các tầng này trên cube địa chấn 3D trong miền độ sâu Việc xác định các ranh giới địa chất-địa chấn trên cube độ sâu hoàn toàn dựa vào sự đồng dạng tầng phản xạ khi so sánh với cube địa chấn trên miền thời gian Do mô hình vận tốc khi
Trang 37chuyển đổi từ PCTM sang PSDM không hoàn toàn trùng với mô hình vận tốc dựa vào tài liệu các giếng khoan nên để có bản đồ cấu tạo phù hợp với kết quả giếng khoan, cần phải thực hiện một bước hiệu chỉnh sai số mô hình vận tốc của xử lý địa chấn – các sai số này được xác định tại vị trí các giếng khoan Thực chất sai số này đã bao gồm cả sai số giữa liên kết địa chấn với tài liệu ĐVLGK
c n tầng ch a n ph m
và tập F là chủ yếu, ngoài ra còn có tầng chứa móng nứt nẻ và những thân cát mỏng trong tập D
tầng cát chứa sản phẩm trong tập F, khi liên kết các giếng khoan có thể thấy rằng tồn tại một tập sét dày liên tục nằm sát ngay dưới nóc tập F với sự thay đổi chiều dày qua các giếng khoan theo xu hướng tầng F càng dày thì tập sét dưới nóc tầng F càng dày Xây dựng mối quan hệ giữa chiều dày tập sét này với chiều dày tập F cho thấy hàm logarit là tương đối phù hợp hơn Sử dụng quan hệ này và chiều dày tầng F ta có thể
dự đoán được phân bố chiều dày của tập cát chứa sản phẩm F và bản đồ nóc tập cát chứa sản phẩm F được xây dựng trên cơ sở bản đồ nóc tập F Đối với các vỉa cát mỏng trong tập D, do nóc tập D là bề mặt bào mòn nên không thể dùng nó như một bản đồ
định vỉa chứa dầu ở khu vực giếng khoan CT – 1X bằng cách hiệu chỉnh giá trị sai
Đặc iểm c trúc mỏ
Đứt gãy chính có hướng ĐB-TN phân chia khu vực CTT thành hai phần: phía Tây có dạng một bán địa lũy còn phía đông có dạng bán địa hào
Trang 38Hình 1.19: Mặt cắt địa chất qua giếng khoan CT-1X
Đứt gãy này có khả năng hoạt động ngay từ thời kỳ thành tạo bồn vì trên một
số tuyến địa chấn thấy có biểu hiện đồng trầm tích trong tầng F Hình dạng này bị biến đổi hoàn toàn ở khu vực đông bắc của giếng do hoạt động nén ép tạo nên một đới nghịch đảo kiến tạo kèm theo là một hệ thống đứt gãy nghịch chờm có hướng ĐB-TN
á vĩ tuyến của hệ thống đứt gãy trên bản đồ tập D và C, cấu tạo D-inversion có liên quan đến hoat động nén ép này Hình dạng bán địa hào/địa lũy của khu vực trung tâm được kế thừa và phát triển cho đến cuối thời kỳ Oligocene sớm Mỏ bắt đầu được hình thành vào cuối thời kỳ này và tiếp tục tồn tại và phát triển cho đến cuối Oligocene (tập C) với nhiều pha hoạt động kiến tạo (kề lấn/đảo kiến tạo) và đứt gãy thể hiện ở các đặc điểm đứt gãy đồng trầm tích, các mặt bào mòn trên nóc các tập D, C, cấu tạo D-inversion và đứt gãy nghịch ở phía ĐB mỏ
Trang 39, chiều sâu đến đỉnh cấu tạo trong móng là khoảng 3800 m, cao độ của cấu trúc khoảng 2100m Đường
sâu đến đỉnh cấu tạo 3680 m, cao độ của cấu trúc 1470 m Tầng E bao gồm 2 tập E1 và E2 Trong phạm vi mỏ chỉ gặp E1, tập E2 chỉ thấy ở các vùng trũng xung quanh mỏ Tập E1 chia làm 2 khu vực không liên thông về mặt thủy lực với nhau được đặt tên là E1crest và E1flank Đường khép kín của tầng E1crest là 4500 m Diện tích khép kín của
trúc là 330 m
Trang 40Hình 1.21: Bản đồ cấu trúc cho toàn mỏ CTT