Đề tài “Đề xuất chương trình hỗ trợ nâng cao năng lực giao tiếp của sinh viên khối kỹ thuật trường Đại Học Bách Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh” được hình thành do nhận thấy được tầm quan tr
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
NGUYỄN MINH HUY
ĐỀ XUẤT CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ NÂNG CAO
NĂNG LỰC GIAO TIẾP CHO SINH VIÊN KHỐI KỸ THUẬT
TRƯỜNG ĐHBK –ĐHQG TPHCM
CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
KHÓA LUẬN THẠC SĨ
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 04 NĂM 2013
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Khóa luận thạc sĩ được bảo vệ/ nhận xét tại HỘI ĐỒNG CHẤM BẢO VỆ KHÓA LUẬN THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA, ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ngày 07 tháng 05 năm 2013
Thành phần hội đồng đánh giá khóa luận thạc sĩ gồm:
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá khóa luận và bộ môn quản lý chuyên ngành sau khi khóa luận đã được sửa chữa
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM CỘNG HÒA XA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
-ooo -
TP HCM, ngày 01 tháng 04 năm 2013
NHIỆM VỤ KHÓA LUẬN THẠC SĨ
Khóa (Năm trúng tuyển): 2011
1- TÊN ĐỀ TÀI: ĐỀ XUẤT CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ NÂNG CAO NĂNG LỰC GIAO TIẾP CHO SINH VIÊN KHỐI KỸ THUẬT TRƯỜNG ĐHBK
- ĐHQGTPHCM
2- NHIỆM VỤ KHÓA LUẬN
Đánh giá năng lực giao tiếp của sinh viên khối kỹ thuật trường ĐHBKTPHCM Nhận dạng các yếu tố thuộc các khía cạnh năng lực giao tiếp của sinh viên cần cải
thiện
Đề xuất chương trình hỗ trợ nâng cao năng lực giao tiếp cho sinh viên
4- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 01/04/2013
5- HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: TS TRƯƠNG THỊ LAN ANH
Nội dung và đề cương Khóa luận thạc sĩ đã được Hội Đồng Chuyên Ngành thông qua
TS Trương Thị Lan Anh
LỜI CẢM ƠN
Trang 4Tôi chân thành cảm ơn TS Trương Thị Lan Anh, người đã tận tụy hướng dẫn tôi trong quá trình làm khóa luận Cô cũng đã không quản ngại thời gian và công sức phân tích , góp ý và chỉ dẫn từng giai đoạn của đề tài, nhờ đó tôi có thể hoàn thành khóa luận đạt hiệu quản như ý muốn Ngoài ra tôi cũng chân thành cám ơn các Thầy/ Cô đã truyền đạt những kiến thức kinh nghiệm cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và công tác sau này
Tôi cũng trân trọng cảm ơn quý lãnh đạo và quý Thầy/ Cô Khoa Quản Lý Công Nghiệp trường Đại Học Bách Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh đã tổ chức và đào tạo rất chất lượng khóa học cao học này, để chúng tôi có cơ hội học tập nâng cao kiến thức nhằm phục vụ tốt hơn trong ngành nghề của chính mình
Chân thành gởi lời cảm ơn đến các bạn bè cùng lớp, những người đã cùng tôi chia sẻ và trải qua những ngày tháng học tập khó khăn nhưng thật vui và đầy bổ ích Những tranh luận và góp ý của các bạn giúp tôi có thêm nhiều kiến thức để hoàn thiện minh và gợi
mở nhiều ý tưởng mới
Sau cùng, tôi muốn cảm ơn những người thân trong gia đình tôi, những bạn bè bên cạnh những lúc khó khăn, trở ngại để hoàn thành khóa luận này
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 04 năm 2013
Nguyễn Minh Huy
TÓM TẮT
Trang 5Đề tài “Đề xuất chương trình hỗ trợ nâng cao năng lực giao tiếp của sinh viên khối
kỹ thuật trường Đại Học Bách Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh” được hình thành do
nhận thấy được tầm quan trọng và sự thiếu hụt năng lực giao tiếp của hầu hết sinh viên khối kỹ thuật trên thế giới và cả Việt Nam, việc đánh giá và nâng cao năng lực giao tiếp của sinh viên trong môi trường giáo dục là rất cần thiết, đặc biệt cho trường Đại Học Bách Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh, một trong những trường kỹ thuật hàng đầu
Đề tài được thực hiện với mục tiêu đánh giá năng lực giao tiếp của sinh viên khối kỹ thuật trường Đại Học Bách Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh từ nhiều góc nhìn (sinh viên, nhà quản lý, nhà tuyển dụng); nhận dạng các các yếu tố thuộc các khía cạnh năng lực giao tiếp của sinh viên cần cải thiện; đề xuất cho sinh viên và nhà trường các giải pháp nâng cao năng lực giao tiếp cho sinh viên; giúp sinh viên học tập tốt hơn, dễ dàng xin việc tốt hơn, làm việc hiệu quả hơn, giúp nhà trường đào tạo được những kỹ sư với năng lực giao tiếp tốt Đề tài mang lại giá trị thực tiễn giúp sinh viên trong việc tự đánh giá năng lực giao tiếp của mình bằng các công cụ tự đánh giá, trả lời câu hỏi mình đang
ở đâu trong thang điểm năng lực giao tiếp Đồng thời, giúp họ tìm cách nâng cao năng lực giao tiếp của mình bằng những giải pháp đề xuất mà đề tài đưa ra, để họ học tập hiệu quả hơn và làm việc tốt hơn, mang lại cho nhà trường một vài công cụ đánh giá năng lực giao tiếp được ứng dụng tốt cho các trường học, có thể áp dụng thường xuyên
để đánh giá thang điểm giao tiếp của chính sinh viên mình Đề tài cũng cung cấp những giải pháp có thể thực hiện thực tiễn để nâng cao năng lực giao tiếp này, tạo uy tín cho nhà trường khi cung cấp cho các nhà tuyển dụng những kỹ sư được đào tạo không chỉ những năng lực kỹ thuật mà cả những kỹ năng mềm
Sau quá trình tiến hành thảo luận và khảo sát, đề tài đã kết luận được năng lực giao tiếp
tự nhận thấy của sinh viên khối kỹ thuật trường đại học Bách Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh ở mức trung bình và cần cải thiện Bên cạnh đó, đề tài đã đưa ra được các yếu tố
cần cải thiện thuộc 3 khía cạnh: động lực giao tiếp, kiến thức giao tiếp và kỹ năng giao
tiếp Đề tài cũng đã đề xuất một chương trình nâng cao năng lực giao tiếp cho sinh viên
gốm 4 khóa học: Khóa học 1: Giao tiếp đa tình huống; Khóa học 2: Kỹ năng trình bày;
Khóa học 3: Kỹ năng nghe hiểu; Khóa học 4: Kỹ năng giao tiếp phi ngôn ngữ
Từ khóa: nâng cao, đánh giá, năng lực giao tiếp …
ABSTRACT
Trang 6The topic "Propose solutions to improve Engineering students' communicative competence in Ho Chi Minh City University of Technology" formed by perceiving the importance and the lack of communication competence of the most students of Engineering in the world and Vietnam, evaluating and improving the communicative competence of students in the educational environment is essential, especially for the
Ho Chi Minh City University of Technology, one of the top engineering schools The topic are made with the goal of assessing of communicative competence of Engineering students in Ho Chi Minh City University of Technology from multiple perspectives (students, administrators, employers); identify the elements of aspects communicative competence of students in need of improvement; suggest for students and school solutions to improve communication competence for students; to help students learn better, to seek job easily, to work more efficiently, to help schools train engineers with the ability to communicate well Topic also provide practical solutions can make to improve communication, create prestige for the school to provide for the recruitment of trained engineers not only the technical capacity but also the soft skills After the process of discussion and survey, the topic concluded that the self-perceived communication competence of Engineering students of Ho Chi Minh City University of Technology is average and needs to be improved In addition, the topic were given the factors which need to improve in three aspects: communicative motivation, communicative knowledge, interpersonal communicative skills Topic has also proposed a program of improving communication competence for students, includes four courses: Course 1: Communication in every situations; Course 2: Presentation skills; Course 3: Listening Skills ; Course 4: non-verbal communication skills
Tag: improvement, assessment, self – perceived, communication competence
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
Tôi, Nguyễn Minh Huy, xin cam đoan: Khóa luận “Đề xuất chương trình hỗ trợ nâng cao năng lực giao tiếp của sinh viên khối kỹ thuật trường Đại Học Bách Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các
số liệu nêu ra và trích dẫn trong Khóa luận là trung thực Toàn bộ kết quả của khóa luận chưa từng được công bố tại bất cứ công trình nào khác
TP Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 04 năm 2013
Tác giả khóa luận
Nguyễn Minh Huy
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
ABSTRACT iv
LỜI CAM ĐOAN vi
MỤC LỤC vii
DANH MỤC BẢNG, HÌNH, ĐỒ THỊ x
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT xii
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1
1.1 Lý do hình thành đề tài 1
1.2 Mục tiêu đề tài 3
1.3 Phạm vi thực hiện 3
1.4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
1.5 Quy trình thực hiện khóa luận 4
1.6 Tóm tắt chương 1 6
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 7
2.1 Năng lực giao tiếp 7
2.2 Thang đo năng lực giao tiếp 8
2.3 Thang đo năng lực giao tiếp tự nhận thấy (SPCC) 9
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng năng lực giao tiếp (Mô hình Spitzberg – thang đo Wiemann) 10
2.5 Các nhận định của các nhà quản lý, các nhà tuyển dụng tại Việt Nam 12
2.6 Tóm tắt phần cơ sở lý thuyết 13
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 15
3.1 Phỏng vấn - khảo sát 15
3.1.2 Thiết kế việc lấy thông tin 15
3.1.3 Xử lý thông tin 15
3.1.4 Mục đích sử dụng kết quả 15
3.1.5 Thảo luận 16
Trang 93.2 Khảo sát: 16
3.2.1 Nhu cầu thông tin: 16
3.2.2 Thiết kế việc lấy thông tin: 16
3.2.3 Xử lý thông tin: 17
3.2.4 Mục đích sử dụng kết quả: 18
3.2.5 Khảo sát 18
3.3 Tóm tắt phần phương pháp thực hiện 18
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ – KẾT LUẬN 19
4.1 Kết quả thảo luận với nhà quản lý - nhà tuyển dụng 19
4.1.1 Kết quả: 19
4.1.2 Kết luận: 20
4.2 Kết quả khảo sát năng lực giao tiếp 20
4.2.1 Kết quả: 20
4.2.2 Kết luận 37
4.3 Tóm tắt chương 4 40
CHƯƠNG 5: ĐỀ XUẤT CÁC CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ NÂNG CAO NĂNG LỰC GIAO TIẾP CHO SINH VIÊN 43
5.1 Khóa học 1: Giao tiếp đa tình huống 46
5.1.1 Lý do hình thành: 46
5.1.2 Mục tiêu: 46
5.1.3 Nội dung: 47
5.1.4 Cách triển khai: 47
5.2 Khóa học 2: Kỹ năng trình bày 48
5.2.1 Lý do hình thành: 48
5.2.2 Mục tiêu: 48
5.2.3 Nội dung: 48
5.2.4 Cách triển khai: 48
5.3 Khóa học 3: Kỹ năng nghe hiểu 49
5.3.1 Lý do hình thành: 49
5.3.2 Mục tiêu: 49
Trang 105.3.3 Nội dung: 49
5.3.4 Cách triển khai: 49
5.4 Khóa học 4: Kỹ năng giao tiếp phi ngôn ngữ 50
5.4.1 Lý do hình thành: 50
5.4.2 Mục tiêu: 50
5.4.3 Nội dung: 50
5.4.4 Cách triển khai: 50
CHƯƠNG 6: TỔNG KẾT VÀ KIẾN NGHỊ 51
6.1 Tổng kết 51
6.2 Kiến nghị 51
6.3 Hạn chế và hướng đề xuất nghiên cứu tiếp theo 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
PHỤ LỤC A: THANG ĐO NLGT TỰ NHẬN THẤY 56
PHỤ LỤC B: CÁC KHÍA CẠNH NLGT THEO MÔ HÌNH SPITZBERG 57
PHỤ LỤC C: THANG ĐO CCS WIEMANN 60
PHỤ LỤC D: KẾT QUẢ THẢO LUẬN TAY ĐÔI 62
PHỤ LỤC E: BẢNG KHẢO SÁT 67
PHỤ LỤC F: KẾT QUẢ KHẢO SÁT VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU 70
LÝ LỊCH TRÍCH NGANG 80
Trang 11DANH MỤC BẢNG, HÌNH, ĐỒ THỊ
DANH MỤC HÌNH
Hình 11: Các năng lực cần có của một người kỹ sư lý tưởng 1
Hình 2.1: Các khía cạnh năng lực giao tiếp 11
DANH MỤC BẢNG Bảng 3.1: Thang đánh giá NLGT tự nhận thấy của Mc Croskey 17
Bảng 4.1: Tóm tắt kết quả về việc đánh giá NLGT tự nhận thấy 29
Bảng 4.2: Tóm tắt kết luận từ NLGT tự nhận thấy 38
Bảng 4.3: Tóm tắt chương 4 41
Bảng 5.1: Chương trình hỗ trợ nâng cao NLGT 43
Bảng 5.2: Các đối tượng giao tiếp và ngữ cảnh giao tiếp cần được quan tâm nhiều ở các khoa 47
DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1: Quy trình thực hiện khóa luận 5
Trang 12DANH MỤC ĐỒ THỊ
Đồ thị 4.1: NLGT tự nhận thấy của sinh viên và kỹ sư khi đối tượng người nhận là
người lạ 22
Đồ thị 4.2: NLGT tự nhận thấy của sinh viên và kỹ sư khi đối tượng người nhận là người quen 23
Đồ thị 4.3: NLGT tự nhận thấy của sinh viên và kỹ sư khi đối tượng người nhận là bạn bè 24
Đồ thị 4.4: NLGT tự nhận thấy của sinh viên và kỹ sư trong ngữ cảnh giao tiếp là cộng đồng 25
Đồ thị 4.5: NLGT tự nhận thấy của sinh viên và kỹ sư trong ngữ cảnh giao tiếp là cuộc họp 26
Đồ thị 4.6: NLGT tự nhận thấy của sinh viên và kỹ sư trong ngữ cảnh giao tiếp là nhóm 27
Đồ thị 4.7: NLGT tự nhận thấy của sinh viên và kỹ sư trong ngữ cảnh giao tiếp là cuộc họp 28
Đồ thị 4.8: Sự khác nhau giữa các khía cạnh của NLGT của SV và KS 31
Đồ thị 4.9: Đồ thị đánh giá các khía cạnh NLGT giữa nam và nữ, giữa các khoa của SV 32
Đồ thị 4.10: Các khía cạnh NLGT của SV 33
Đồ thị 4.11: Các khía cạnh NLGT của KS 34
Đồ thị 4.12: Các yếu tố thể hiện NLGT cao đối với kỹ sư 35
Đồ thị 4.13: Các yếu tố thể hiện NLGT cao đối với sinh viên 36
Trang 13DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ĐHBK – ĐHQGTPHCM Đại Học Bách Khoa – Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ
tiếp tự nhận thấy
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Lý do hình thành đề tài
Trong một nghiên cứu được thực hiện bởi Duyen Q Nguyen (1998) tác giả cho rằng một người kỹ sư lý tưởng phải sở hữu những kiến thức nền tảng về kỹ thuật, công nghệ và phải có thể ứng dụng những kiến thức đó, chuyển hóa nó vào trong thực tế, phải có kỹ năng và rèn luyện trong lĩnh vực đã chọn Bên cạnh đó là những kỹ năng
và thuộc tính mong muốn của kỹ sư, quan trọng là khả năng giao tiếp hiệu quả cả nói và viết, với đồng nghiệp, đối tác, khách hàng, các cấp nhân viên, quản lý, công đồng và giỏi về ngoại ngữ Do đó một người kỹ sư lý tưởng được mong đợi phải sở hữu cả những năng lực kỹ thuật và năng lực không kỹ thuật Tác giả cũng đi đến kết luận những người làm giáo dục cũng cần biết điều này để cung cấp những người kỹ
sư với những thuộc tính và năng lực cần thiết
Hình 1.1: Các năng lực cần có của một người kỹ sư lý tưởng
(Nguồn: Duyen Q Nguyen (1998), The Essential Skills and Attributes of an
Engineer: Comparative Study of Academics, Industry Personnel and Engineering Students, Global of Engineer Education, vol 2, no.1, Australia.)
Theo chủ nhiệm khoa kỹ thuật trường đại học Duke, Úc, cho rằng những người kỹ
sư mà giỏi về giao tiếp có những thuận lợi rất đáng kể hơn những người mà không
Trang 15giỏi Theo Marc J Riemer (2002) “Kỹ năng giao tiếp rất cần thiết cho những kỹ sư
mà muốn rèn luyện tính chuyện nghiệp trong môi trường toàn cầu”
Tuy nhiên, theo một cuộc khảo sát được thực hiện bởi S.A Male, M.B Bush và E.S Chapman (2010), nhận thức về sự thiếu hụt năng lực của kỹ sư khi ra trường Đối tượng tham dự là các kỹ sư (chương trình học ít nhất 4 năm) có từ năm đến 20 năm kinh nghiệm Khảo sát trên 2542 đối tượng từ năm 1985 đến 2001, đã đưa ra kết luận năng lực giao tiếp là một trong ba năng lực thiếu hụt được xem là quan trọng nhất, khi so sánh với nhu cầu của môi trường công nghiệp toàn cầu Điều này tương tự với những nghiên cứu của WCEC (2004), Ashman và công sự (2008), H.P Jensen (2000), N Grunwald (1999)
Anh Minh Đức, giám sát kinh doanh công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại Đức Hợp kể lại “… lúc ra trường …, tôi choáng ngợp bởi công việc Thiếu khả năng thuyết trình, lúng túng khi làm việc nhóm… Vì vậy, làm chưa được một năm tôi phải xin nghỉ việc” (Website văn phòng đào tạo quốc tế ĐHBKTPHCM, 2010) Nhận biết được tầm quan trọng của các kỹ năng mềm và nhu cầu của nó trong công việc, bản thân những nhân viên kỹ thuật luôn muốn có thêm những năng lực mới, với một nhấn mạnh về việc nâng cao kỹ năng giao tiếp và kỹ năng ngoại ngữ giỏi (H.P Jensen, 2000, trích dẫn trong Marc J Riemer, 2002)
Ở Việt Nam, theo vieclambank's HR consultant (2012) “Bạn thử đặt mình trong địa
vị của một người phỏng vấn bạn sẽ chọn ai giữa một người có khả năng giao tiếp tốt
và một người không biết cách ứng xử cho hợp hoàn cảnh? Chưa tính đến khả năng ngoại ngữ, công việc sẽ suôn sẻ hơn chỉ cần bạn là người biết cách ứng xử và linh hoạt trong giao tiếp Buổi phỏng vấn với nhà tuyển dụng có thành công hay không cũng phụ thuộc vào tài ăn nói, và sự thể hiện của bạn Nói đúng, đủ, và trả lời một cách thông minh sẽ giúp bạn bước tiếp vào vòng trong Tùy từng đối tượng mà cần
có cách giao tiếp khác nhau”
Chị Lê Thị Hồng Thảo, cán bộ phòng nhân sự của Công ty Yung Chang Việt Nam, qua nhiều lần phỏng vấn ứng viên, chị Thảo nhận xét “sinh viên ngày nay đa số vẫn còn nhút nhát, thiếu tự tin và chưa biết cách giao tiếp, đó là một nhược điểm lớn cần khắc phục để giúp cho công việc thuận lợi, trôi chảy” “Giữa một sinh viên giỏi chuyên môn và một sinh viên vừa giỏi chuyên môn, vừa biết nhiều ngoại ngữ, nhanh nhẹn, hoạt bát, biết cách tạo ra các mối quan hệ tốt thì dĩ nhiên chúng tôi sẽ tuyển bạn thứ hai”, đại diện một doanh nghiệp khẳng định (website thanhnienonline, 2012) Chị Dương Thị Hoài Trang, Quản lý bộ phận dự án của Công ty Giải pháp phần mềm và dịch vụ Robert Bosch cũng cho rằng “Một người giỏi phải hiểu được người khác và giúp người khác hiểu mình Đó chính là giao tiếp
Trang 16Các em vẫn còn thiếu tự tin khi giao tiếp, không thể hiện được bản thân mình trước người khác”
Nhận thấy được tầm quan trọng và sự thiếu hụt năng lực giao tiếp của hầu hết sinh viên khối kỹ thuật trên thế giới và cả Việt Nam, việc đánh giá và nâng cao năng lực giao tiếp của sinh viên trong môi trường giáo dục là rất cần thiết S Beder đưa ra nhận định “các kỹ năng như là giao tiếp, giải quyết vấn đề… nên được khuyến khích
và thúc đẩy trong môi trường giáo dục cho kỹ sư, không chỉ bởi vì nâng cao chất lượng cho các nhà tuyển dụng tìm kiếm mà còn bởi vì chúng nên được xem như là một phần của bất kỳ môi trường giáo dục đại học nào”
Trường ĐHBKTPHCM là trung tâm đào tạo nghiên cứu khoa học - chuyển giao công nghệ hàng đầu Việt Nam, có nhiều năm danh tiếng trong việc cung cấp những
kỹ sư đầu ra chất lượng Để giúp chính những người sinh viên kỹ thuật trường ĐHBKTPHCM tổng kết, đánh giá về năng lực giao tiếp của mình cũng như để trả lời câu hỏi của nhà trường liệu năng lực giao tiếp của sinh viên mình có đáp ứng được nhu cầu của các nhà tuyển dụng thuộc các công ty bên ngoài hay không và tìm
ra các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực giao tiếp để đề xuất những giải pháp giúp
nâng cao năng lực giao tiếp, tác giả đã thực hiện đề tài ĐỀ XUẤT CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ NÂNG CAO NĂNG LỰC GIAO TIẾP CỦA SINH VIÊN KHỐI KỸ THUẬT TRƯỜNG ĐHBK - ĐHQGTPHCM
1.2 Mục tiêu đề tài
Đánh giá năng lực giao tiếp của sinh viên khối kỹ thuật trường ĐHBKTPHCM từ
nhiều góc nhìn (sinh viên, nhà quản lý, nhà tuyển dụng)
Nhận dạng các các yếu tố thuộc các khía cạnh năng lực giao tiếp của sinh viên cần
cải thiện
Đề xuất chương trình hỗ trợ nâng cao năng lực giao tiếp cho sinh viên; giúp sinh
viên học tập tốt hơn, dễ dàng xin việc tốt hơn, làm việc hiệu quả hơn, giúp nhà trường đào tạo được những kỹ sư với năng lực giao tiếp tốt
1.3 Phạm vi thực hiện
Các khối kỹ thuật, trường Đại Học Bách Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh (ĐHBKTPHCM)
1.4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đối với sinh viên khối kỹ thuật: Đề tài sẽ giúp sinh viên trong việc tự đánh giá năng
lực giao tiếp của mình bằng các công cụ tự đánh giá, trả lời câu hỏi mình đang ở đâu trong thang điểm năng lực giao tiếp Đồng thời, giúp họ tìm cách nâng cao năng lực
Trang 17giao tiếp của mình bằng những biện pháp hỗ trợ mà đề tài đưa ra, để họ học tập hiệu quả hơn và làm việc tốt hơn
Đối với nhà trường: Đầu tiên đề tài mang lại cho nhà trường một vài công cụ đánh
giá năng lực giao tiếp được ứng dụng tốt cho các trường học, có thể áp dụng thường xuyên để đánh giá thang điểm giao tiếp của chính sinh viên mình Thứ hai, đề tài cũng cung cấp những giải pháp có thể thực hiện thực tiễn để nâng cao năng lực giao tiếp này, tạo uy tín cho nhà trường khi cung cấp cho các nhà tuyển dụng những kỹ
sư được đào tạo không chỉ những năng lực kỹ thuật mà cả những kỹ năng mềm
1.5 Quy trình thực hiện khóa luận
Tổng quan các cơ sở lý thuyết liên quan đến năng lực giao tiếp, để tìm hiểu khái niệm, các thang đo đang tồn tại để đánh giá, đo lường nó Từ đó tìm ra một thang đo
thích hợp để áp dụng trong đề tài, tiến hành khảo sát Và trả lời câu hỏi cho mục tiêu 1
Phỏng vấn một số nhà tuyển dụng để tìm hiểu họ cần gì ở môi trường công việc đối với những sinh viên kỹ thuật mới ra trường, và các kỹ năng cần có để hình thành năng lực giao tiếp Tiếp theo đó, thực hiện khảo sát theo một mô hình có sẵn, được chấp nhận như một tài liệu thứ cấp, để nhận dạng ra các yếu tố ảnh hưởng, cũng như mức độ quan trọng của từng yếu tố ảnh hưởng đến năng lực giao tiếp của chính
người sinh viên Việc đó giúp trả lời cho câu hỏi ở mục tiêu 2
Từ các công cụ được thực hiện, các kết quả ở mục tiêu 1 và mục tiêu 2, tạo cơ sở nền tảng để đề xuất chương trình hỗ trợ nâng cao năng lực giao tiếp, giúp sinh viên
học tập hiệu quả hơn và làm việc tốt hơn sau khi ra trường, và hoàn thành mục tiêu
3, một mục tiêu thực tiễn quan trọng của đề tài
Từ đó, tác giả xây dựng nên các bước thực hiện để hoàn thành đề tài bao gồm các bước:
- Bước 1: Hình thành đề tài và mục tiêu đề tài
- Bước 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết - mô hình - thang đo
Trang 18Sơ đồ 1.1: Quy trình thực hiện khóa luận
Hướng đề xuất của khóa luận này nhắm vào các chương trình ngoại khóa hỗ trợ sinh viên Chương trình sẽ bao gồm đầy đủ nội dung, thời gian tiến hành …
Mục tiêu đề tài Hình thành đề tài
Tổng quan
Cơ sở lý thuyết
Mô hình – thang đo
Thu thập - tổng hợp và tính toán kết quả
Tiến hành Phỏng vấn Khảo sát đối tượng
Viết, chỉnh sửa và hoàn thành đề cương
Trang 191.6 Tóm tắt chương 1
Trong phần mục tiêu, tác giả đã hình thành nên 3 mục tiêu từ các vấn đề phát sinh ở phần hình thành đề tài, và sẽ được giải đáp toàn bộ trong suốt khóa luận, bao gồm đánh giá thực trạng năng lực giao tiếp của sinh viên, nhận dạng các nguyên nhân vì sao sinh viên ngành kỹ thuật không được đánh giá cao về năng lực giao tiếp, và đề xuất chương trình để nâng cao năng lực này Từ mục tiêu sẽ xác định được các bước cần làm để giải quyết nó
Trong phần ý nghĩa thực tiễn của đề tài, tác giả trả lời câu hỏi đề tài này giúp cho ai?
để ứng dụng trong vấn đề gì? Giúp cho sinh viên và nhà trường trong việc tự đánh giá, đánh giá khách quan, và nâng cao năng lực giao tiếp để sinh viên học tập tốt hơn, dễ dàng tìm được công việc tốt hơn, làm việc hiệu quả hơn, để nhà trường có thể đào tạo hiệu quả hơn, cung cấp những đầu ra chất lượng hơn
Trang 20CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
Chương 2 giới thiệu về các lý thuyết liên quan đến năng lực giao tiếp: bao gồm các khái niệm năng lực giao tiếp; thang đo năng lực giao tiếp; năng lực giao tiếp tự nhận thấy của Mc Croskey; các yếu tố thuộc các khía cạnh của năng lực giao tiếp của Brian Spitzberg, Viemann
2.1 Năng lực giao tiếp
Bản chất của năng lực giao tiếp đã và đang là một trong những chủ đề của những cuộc tranh luận đáng kể đến trong những thập niên vừa qua (McCroskey, 1982,1984; Spitzberg, 1983; Spitzberg & Cupach, 1984; Wiemann, 1977)
Kỹ năng giao tiếp: khả năng trao đổi thông tin với người khác trong tổ chức hoặc
cộng đồng (Duyen Q Nguyen, 1998) “Năng lực giao tiếp là khả năng đầy đủ để
cung cấp hay tiếp nhận thông tin; khả năng để tạo nên hiểu biết bằng việc nói và viết” (James C McCroskey, Linda L McCroskey,1988)
“Năng lực giao tiếp là một khái niệm rộng lớn để chỉ việc người ta nhận được
những lợi ích đầu ra mong muốn thông qua việc giao tiếp có thể chấp nhận được trong 1 tình huống” (Brian H Spitzberg, trích dẫn trong Larry A Samovar, Richard
E Porter, Edwin R McDaniel, 2009) Khi nhắc đến năng lực giao tiếp, Spitzberg đề cập đến 3 khía cạnh: động lực giao tiếp, kiến thức giao tiếp và kỹ năng giao tiếp
“Động lực tiêu cực là cảm giác lo lắng khi thực hiện những hành động giao tiếp
hoặc nhận thức về lợi ích tiềm năng kém trong một tình huống giao tiếp thực sự
hoặc tưởng tượng; ngược lại, động lực giao tiếp tích cực là nhận thức về giá trị lợi ích tiềm năng trong việc cho phép một chuỗi hành động giao tiếp Kiến thức giao tiếp hướng dẫn chúng ta những gì để nói và làm và cho chúng ta thủ tục để chúng ta
có thể làm nó Kỹ năng là những hành vi trực tiếp, có mục tiêu, có thể lặp lại Kỹ
năng giao tiếp có cả 2 mức độ thông thường và đặc biệt, ở mức độ thông thường, ví
dụ, bất kể văn hóa, người ta cần có khả năng đặt câu hỏi, thể hiện những biểu hiện gương mặt chắc chắn như vui, buồn, hờn, giận, thể hiện những lễ nghi chào hỏi (như bắt tay, cúi chào, vẫy tay chào mừng), ở mức độ đặc biệt, với mọi tình huống trong mỗi sự kiện giao tiếp sẽ có những tương tác đặc thù”
Nghiên cứu của Harris và Cronen (1979) chỉ ra rằng năng lực giao tiếp cá nhân không chỉ phải đạt được mục tiêu của họ (có hiệu quả) mà còn phải làm một cách thích hợp Năng lực giao tiếp được định nghĩa bao gồm các yếu tố kiến thức, động lực, kỹ năng, hành vi và hiệu quả (Spitzberg, 1983) Spitzberg và Cupach (1981) cho rằng, “năng lực giao tiếp có thể được xem như là một hình thức ảnh hưởng đến quan hệ các nhân, trong đó cá nhân phải đối mặt với nhiệm vụ thực hiện giao tiếp
Trang 21chức năng và mục tiêu (một cách hiệu quả) trong khi duy trì đàm thoại và quan hệ
cá nhân (sự phù hợp)”
2.2 Thang đo năng lực giao tiếp
Cuối những năm 80, nhiều học giả về giao tiếp đã công bố những bài báo về những cách nhìn khác nhau về bản chất của năng lực giao tiếp, và có rất nhiều nỗ lực để phát triển một thước đo Trong một nỗ lực để giải thích sự hỗn loạn của các khái niệm khác nhau, McCroskey và McCroskey (1988) đã phát triển một cái nhìn rộng
về bản chất của năng lực giao tiếp Họ kết luận có 4 cách nhìn khác nhau về năng
lực giao tiếp, xuất hiện trong các tài liệu: quan sát chủ quan, quan sát khách quan, tự báo cáo, báo cáo người nhận Trong một thế giới hoàn hảo, tất cả 4
phương phát này sẽ cho ra cùng một kết quả Dĩ nhiên, chúng ta không sống trông một thế giới hoàn hảo, những nhà nghiên cứu phải chọn ra phương pháp mà họ nghĩ rằng nó phù hợp trong ngữ cảnh được cho
Cách tiếp cận khách quan đã được thực hiện tốt nhất bởi Power và Lowry năm
1984 Trong cách tiếp cận này, được biết như độ tin cây giao tiếp căn bản (BCF – Basic Communication Fidelity), Người khảo sát được phân công một nhiệm vụ là giao tiếp một thông tin đặc biệt đến một người nhân khác, người nhận này sẽ được hỏi để tái sản xuất thông tin này Mức độ trung bình về sự chính xác của việc tái sản xuất thông tin của người nhận được đánh giá như một thước đo năng lực giao tiếp của người được khảo sát Cách tiếp cận này thuộc giai đoạn sớm của sự phát triển và hiện tại nó khá hạn chế trong việc ứng dụng nó Nó đánh giá trực tiếp khả năng của
cá nhân để tạo hiểu biết cho người khác bằng việc nói và viết
Cách tiếp cận chủ quan hay cách tiếp cận tỉ lệ điểm đã và đang được sử dụng để
đánh giá năng lực giao tiếp trong nhiều thập kỉ qua Công cụ đánh giá kỹ năng giao tiếp (CCAI – The Communication Competency Assessment Instrument – Rubin,
1982, 1985) được xem như là những minh họa tốt nhất cho cách tiếp cận này trong hiện tại Việc sử dụng cách tiếp cận này liên quan đến việc giao một nhiệm vụ giao tiếp tới một người nói và có một người quan sát được huấn luyện hay nhiều người quan sát cho điểm hành vi của người nói trong việc hoàn thành nhiệm vụ trên thang điểm được thiết kế để phản ánh những khía cạnh của năng lực giao tiếp
Trong những năm gần đây, phương pháp đo lường năng lực giao tiếp được sử dụng
thường nhất đó là cách tiếp cận tự báo cáo (Duran, 1983; Rubin, 1985; Spitzberg,
1983; Spitzberg và Cupach, 1984; Wiemann, 1977) Trong cách tiếp cận này, một chuỗi các vấn đề được xác định bởi người nghiên cứu dựa trên một cơ bản tiền nghiệm liên quan đến năng lực giao tiếp được trình bày tới chủ thể cho sự tự đánh giá Mặc dù cách tiếp cận này được sử dụng thường ngày nay nhưng nó không
Trang 22tương thích với định nghĩa về năng lực giao tiếp Tự báo cáo có giá trị như một chất chỉ thị của sự thể hiện năng lực giao tiếp nhưng cũng có thể đáp ứng như một thước
đo tự nhận thức vô cùng hữu dụng – tiền thân của sự lựa chọn giao tiếp Thang đo năng lực giao tiếp tự nhận thấy được đề nghị như một thước đo có thể được sử dụng cho nhiều mục đích
Cách tiếp cận báo cáo của người nhận nói chung rút ra từ cách tiếp cận tự báo
cáo Công cụ tự báo cáo được thay đối một ít và được hoàn thành bởi một nhóm 2 người với sự tham khảo của thành viên còn lại hơn là chỉ có chính họ Cách tiếp cận này cũng tương tự với cách tiếp cận người quan sát chủ quan, ngoại trừ việc người quan sát là một thành viên tương tác khác hơn một người quan sát được huấn luyện
2.3 Thang đo năng lực giao tiếp tự nhận thấy (SPCC)
McCroskey (1988) đã nhìn thấy rằng phương pháp tự nhận thấy như là một phương pháp hợp lý nhất để sử dụng, bởi vì người ta lựa chọn cách giao tiếp dựa vào năng lực giao tiếp tự nhận thấy của họ, như là nhận thức xác định thái độ, hành vi giao tiếp của họ Dựa vào những khái niệm tổng hợp này, họ đã tạo ra thước đo SPCC SPCC được hình thành từ 12 chủ đề Những chủ đề được chọn để phản ánh 4 ngữ cảnh giao tiếp căn bản: trò chuyện trước công chúng, nói chuyện trong một cuộc họp lớn, nói chuyện trong một nhóm nhỏ, nói chuyện với tay đôi và 3 loại người nhận: người lạ, người quen và bạn bè Đối với mỗi sự kết hợp của ngữ cảnh và nhóm người nhận giao tiếp, mỗi người được hỏi để ước lượng năng lực giao tiếp của mình trên thang điểm từ 1-100 Tính tổng điểm, điểm trên mỗi ngữ cảnh giao tiếp, mỗi loại người nhận
Theo Daly và công sự (1997) (trích dẫn trong Gordon và cộng sự, 2001), thước đo tốt nhất cho năng lực giao tiếp là thang đo NLGT tự nhận thấy Đã có rất nhiều nghiên cứu ứng dụng thang đo năng lực giao tiếp tự nhận thấy (SPCC) để đánh giá năng lực giao tiếp: Jason J Teven và công sự (2010), Nancy F Burroughs và cộng
sự (1989), William Dulaney và cộng sự (2007), Gordon W.Blood và cộng sự (2001), Jelisaveta Šafranj và cộng sự (2009) Cuộc khảo sát của William Dulaney đã đánh giá năng lực giao tiếp của học viên trước và sau khi tham gia khóa học kỹ năng giao tiếp và ngoại ngữ của một học viên từ năm 2006 – 2007 Đặc biệt, trong nghiên cứu của Jelisaveta Šafranj, ông đã dùng thang đo 12 tình huống của Mc Croskey ứng dụng trên đối tượng là sinh viên ngành quản lý kỹ thuật và một cuộc khảo sát khác cho sinh viên ESP (English for specific Purpose), để đánh giá năng lực giao tiếp của sinh viên thay đổi như thế nào từ năm nhất, năm hai, năm ba trong các ngữ cảnh và các nhóm người tiếp cận khác nhau
Trang 23Trong hầu hết tất cả các nghiên cứu đó, đều cho ra kết quả với độ tin cậy khá cao
Và đều kết luận thang do SPCC của Mc Croskey tốt, có thể ứng dụng để đo lường, đánh giá năng lực giao tiếp Và trên những điều đó cho thấy, thang đo SPCC phù hợp với cuộc khảo sát tự nhận thấy về năng lực giao tiếp trong đề tài khóa luận này Thang đo năng lực giao tiếp tự nhận thấy (SPCC) của James Mc Croskey được trình bày ở phụ lục A
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng năng lực giao tiếp (Mô hình Spitzberg – thang đo Wiemann)
Brian H Spitzberg, một trong những người nổi tiếng trong việc nghiên cứu các vấn
đề liên quan đến năng lực giao tiếp, đã đưa ra một mô hình các yếu tố tác động đến năng lực giao tiếp Nghiên cứu này của Spitzberg đã được Larry A Samovar, Richard E Porter, Edwin R McDaniel viết trong chương 7 của sách Intercultural Communication năm 2009 Trong một nghiên cứu của Wiemann (1977), đã đưa ra một thang đo năng lực giao tiếp (CCS – Communicative Competence Scale) Theo Wiemann, nó phù hợp với mô hình của Spitzberg
Để xác định các yếu tố ảnh hưởng, tác giả đã xét đến 3 nhóm yếu tố nhận thức (kiến thức giao tiếp) thái độ (động lực giao tiếp) Hành vi (kỹ năng giao tiếp) Và xây dựng thang đo cho từng yếu tố này
Trang 24Hình 2.1: Các yếu tố ảnh hưởng năng lực giao tiếp (Nguồn: Larry A Samovar,
Richard E Porter, Edwin R McDaniel (2009), A Model of Intercultural
Communication Competence, Chapter 7 Communicating Interculturally: Becoming
(identity and role diversity)
Sự tự tin giao tiếp
(communicator confidence)
Các niềm tin hiệu quả liên quan
đến thưởng (reward-relevant
efficacy beliefs)
Tỉ lệ chi phí/ lợi nhuận liên quan
của một tình huống (the relative
cost/ benefit ratio of a situation)
Khuynh hướng tiếp cận giao tiếp
Sự thích nghi nói chuyện
Năng lực giao tiếp Communication Competence
Kiến thức giao tiếp Communicative knowledge
(nhận thức)
Động viên giao tiếp Communicative motivation
(Thái độ)
Trang 25Trong khuôn khổ của một khóa luận, tác giả chấp nhận kết quả như một tài liệu tham khảo thứ cấp, mà không thực hiện các bước kiểm định lại, chỉ xét lại tính phù hợp và đơn giản hóa dựa vào phỏng vấn và định tính
2.5 Các nhận định của các nhà quản lý, các nhà tuyển dụng tại Việt Nam
Theo ông Trần Hinh, Phó trưởng khoa văn phòng Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại Học Quốc Gia Hà Nội, thường trong quá trình học, sinh viên rất ít được sinh hoạt tập thể, mở rộng quan hệ xã hội nên các kiến thức về kỹ năng sống rất hạn hẹp Trong khi đó, việc lồng ghép các kỹ năng mềm vào giảng đường hiện nay chưa hiệu quả do chủ yếu được lồng trong các môn như Triết, Tiếng Anh và chỉ khi hết chương giáo viên mới cho sinh viên làm việc nhóm để thuyết trình nên sinh viên còn rất yếu về kỹ năng giao tiếp Ông Vũ Thế Bình, tổng giám đốc công ty NetNam cho rằng, các trường đại học cần đẩy mạnh việc lồng ghép kỹ năng mềm vào giảng đường, bên cạnh đó, bản thân sinh viên cần chịu khó tự học hỏi, rèn luyện các kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp và tham gia các hoạt động xã hội nhiều hơn “Sinh viên nên nhận thức là các kỹ năng sống đôi khi quan trọng hơn các kiến thức trong sách vở” (Website văn phòng đào tạo quốc tế Đại Học Bách Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh, 2010) Những kỹ năng cần thiết cho sinh viên mới ra trường: giao tiếp linh hoạt, suy nghĩ tích cực, tư tưởng cầu tiến (Website phòng công tác sinh viên trường Đại Học Xây Dựng Miền Trung, 2012)
Theo các tài liệu thứ cấp ở Việt Nam (Website phòng giáo dục và đào tạo quận 3, 2011), năng lực giao tiếp bao gồm:
Khả năng thích ứng: Là khả năng đánh giá tình hình và khi cần thiết thay đổi
hành vi, mục tiêu để đáp ứng nhu cầu của sự tương tác Nó là tín hiệu cao nhận thức về quan điểm, lợi ích, mục tiêu và phương pháp giao tiếp của người khác, luôn sẵn sàng để sửa đổi những hành vi và mục tiêu của chính mình để thích ứng với các tình huống tương tác Bằng sự quan tâm theo dõi những gì đang diễn ra trong tình huống giao tiếp, cả hai bên có thể thay đổi hành vi của mình bằng lời nói hoặc không bằng lời nói (cử chỉ, hành động, trạng thái, biểu cảm,…) để ăn khớp với nhau nhiều hơn trong quá trình giao tiếp Nó bao gồm sáu yếu tố: Kinh nghiệm xã hội - sự tham gia trong tương tác xã hội khác nhau; giữ bình tĩnh (trước đám đông) - đề cập đến việc luôn giữ bình tĩnh trong suốt quá trình nhận thức một cách chính xác; thừa nhận xã hội - đề cập đến sự thừa nhận các mục đích (mục tiêu) của đối tác; thích hợp công bố - là nhạy cảm với số lượng và loại thông tin; phát âm - khả năng diễn đạt ý tưởng thông qua ngôn ngữ; hóm hỉnh (dí dỏm, hài hước) - khả năng sử dụng tính hài hước trong những tình huống giao tiếp thích hợp để giảm bớt sự căng thẳng
Trang 26Tham gia đàm thoại (giao tiếp): Tương tác trong giao tiếp là một yếu tố xác
định mức độ mà các cá nhân tham gia vào đàm thoại (giao tiếp) với người khác.Cụ thể là những người tham gia trong giao tiếp không giống nhau về sự chăm chú và khả năng nhận thức, khả năng cảm thụ
Quản lý đàm thoại: Quản lý đàm thoại về bản chất là cách điều chỉnh về sự
tương tác của những người tham gia đàm thoại Đây là một vấn đề hiểu biết về các quy tắc giao tiếp, trao đổi với nhau Các quy tắc giao tiếp cũng giống như hành vi xã hội khác có điều kiện và đạt được theo cùng một cách Những quy tắc nào là những quy tắc thủ thuật mà những người tham gia quản lý đàm thoại cần phải biết tinh ý nắm bắt được?
Đồng cảm: Đồng cảm là khả năng để minh chứng sự hiểu biết và sự chia sẻ các
ý kiến trong bất kỳ hoàn cảnh nào Nó là một khả năng bẩm sinh của con người cho rằng khả năng để hiểu được những kinh nghiệm độc đáo của người khác
Hiệu quả: Hiệu quả đề cập đến mức độ mà những người giao tiếp chia sẻ cùng
có ý nghĩa và mục tiêu thích hợp liên quan đến kết quả Tương tác có hiệu quả chỉ được đạt nhiều ý nghĩa khi được tham dự vào sự chia sẻ đúng đắn và khi cả hai bên mong muốn đạt được mục tiêu tương tác Tương tác kém hiệu quả xảy ra khi ý nghĩa nội dung hoặc mối quan hệ đang không tốt đẹp và liên quan đến tiếng ồn cũng như sự xung đột bế tắc giữa các kênh giao tiếp Giao tiếp hiệu quả
có thể cải thiện năng suất công việc
Phù hợp: Phù hợp hành vi giao tiếp có thể được đánh giá thông qua sự hiểu biết
các giá trị tiềm ẩn, định mức, xã hội, vai trò, mong đợi, và kịch bản tình tiết tương tác với nhau
Các yếu tố bên trên tại Việt Nam hoàn phù hợp với các yếu tố ảnh hưởng trong mô hình của Spitzberg Do đó, tác giả rút ra rằng có thể áp dụng lý thuyết của Spitzberg khi tiến hành khảo sát tại Việt Nam Tuy nhiên, thang đo và bảng khảo sát sẽ được hiệu chỉnh cụ thể, đơn giản hóa và tạo thành sau bước tổng hợp lại và phỏng vấn các nhà tuyển dụng, các nhà quản lý đã từng tuyển dụng, làm việc trực tiếp với kỹ sư tốt nghiệp Đại Học Bách Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh
2.6 Tóm tắt phần cơ sở lý thuyết
Trong phần này, tác giả đã đưa ra các vấn đề sau:
Khái niệm về năng lực giao tiếp, các định nghĩa được đưa ra của một số tác giả,
từ đó, chọn ra định nghĩa phù hợp theo hướng thực hiện của khóa luận
Các cách tiếp cận để đo lường năng lực giao tiếp (có 4 cách tiếp cận: tiếp cận khách quan, cách tiếp cận chủ quan, cách tiếp cận tự báo cáo, và cách tiếp cận
Trang 27báo cáo của người nhận), từ đó chọn ra cách tiếp cận phù hợp để đo lường năng lực giao tiếp phù hợp với khóa luận này (cách tiếp cận tự báo cáo)
Thang đo SPCC – thang đo năng lực giao tiếp tự nhận thấy, minh chứng rằng nó được áp dụng rất tốt trong hầu hết mọi môi trường, và nó phù hợp với khóa luận này
Các yếu tô ảnh hưởng đến năng lực giao tiếp, tiếp cận 3 nhóm yếu tố ảnh hưởng là: kiến thức giao tiếp, động lực giao tiếp, kỹ năng giao tiếp Kết hợp với thang
đo CCS của Wiemann
Các nhận định về năng lực giao tiếp ở Việt Nam
Trên cơ sở tham khảo các tài liệu trên, tác giả sẽ hiệu chỉnh đưa ra các thang đo cho các yếu tố, đơn giản hơn, phù hợp thực tế ở Việt Nam hơn sau khi tiến hành phỏng vấn các nhà tuyển dụng, các quản lý
Trang 28CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
Chương 3 bao gồm các nội dung:
- Hoạch định việc thực hiện thảo luận và khảo sát
- Quy trình thực hiện đề tài
3.1 Phỏng vấn - khảo sát
Sau khi hình thành được bảng khảo sát thô từ các mô hình, các bảng câu hỏi trong phần cơ sở lý thuyết, để bảng khảo sát mang tính thực tế hơn, ứng dụng tốt hơn cho môi trường Việt Nam, tác giả đã tiến hành phần thảo luận tay đôi
3.1.1 Nhu cầu thông tin
Tìm hiểu ý kiến của các nhà quản lý tại các doanh nghiệp ở Việt Nam xung quanh các vấn đề về năng lực giao tiếp của các kĩ sư tốt nghiệp từ Bách Khoa mà các nhà quản lý đã từng tiếp xúc, đã từng làm việc chung hay đã từng tuyển dụng
3.1.2 Thiết kế việc lấy thông tin
Việc đầu tiên là thiết kế dàn bài thảo luận Dàn bài câu hỏi được xây dựng tập trung chủ yếu vào 3 phần Phần 1 là nhận xét về tầm quan trọng của giao tiếp trong công việc hiện tại tại phòng ban, tại công ty nơi các người thảo luận làm việc Phần 2 xoáy sâu vào vấn đề năng lực giao tiếp của các kỹ sư đã từng tốt nghiệp từ trường Đại Học Bách Khoa TP HCM, bao gồm đánh giá trên một thang điểm nhất định,các khía cạnh thể hiện một người kỹ sư có năng lực giao tiếp thấp hoặc cao, và những lợi ích, những thiệt hại ảnh hưởng từ giao tiếp tại công ty Phần 3 tập trung vào những lời khuyên mà những người được thảo luận đưa ra giúp nâng cao năng lực giao tiếp
Sau khi có dàn bài thảo luận và được tham khảo với ý kiến của giáo viên hướng dẫn, tiến hành liên hệ các nhà quản lý dựa trên các mối quan hệ, sắp xếp cuộc hẹn
Sau đó, thực hiện cuộc thảo luận tay đôi trên dàn bài được xây dựng sẵn với tinh thần cần học hỏi và chia sẻ
3.1.3 Xử lý thông tin
Ghi nhận lại các thông tin thô từ cuộc thảo luận tay đôi
Tổng hợp định tính các đánh giá về năng lực giao tiếp và gợi ý cho đề xuất nâng cao năng lực giao tiếp
Kết luận tổng hợp
3.1.4 Mục đích sử dụng kết quả
Trang 29Kiểm tra lại tính cần thiết có nên nâng cao năng lực giao tiếp trong môi trường giáo dục trên góc nhìn của nhà quản lý Việt Nam
Chỉnh sửa bảng khảo sát thô trên cơ sở hình thành từ phần cơ sở lý thuyết sao cho
nó có tính thực tế, và ứng dụng tốt tại Viêt Nam
Là cơ sở cho việc đề xuất các chương trình hỗ trợ
3.1.5 Thảo luận
Đối tượng: 3 - 4 nhà tuyển dụng và quản lý thuộc khoảng 3 - 4 công ty đã từng
tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp các ngành kỹ thuật của trường Đại Học Bách Khoa
Phương pháp: Phỏng vấn, gởi mail khảo sát trong các forum nhân sự của
HCMgroups, BDgroups, DNgroups
3.2 Khảo sát:
3.2.1 Nhu cầu thông tin:
Để hoàn thành mục tiêu thứ 2: đánh giá năng lực giao tiếp tự nhận thấy và các khía cạnh về năng lực giao tiếp và chuẩn bị một cơ sở chặt chẽ cho mục tiêu thứ 3: đề xuất chương trình nâng cao năng lực giao tiếp
3.2.2 Thiết kế việc lấy thông tin:
Điều đầu tiên là xây dựng bảng khảo sát trên nền tảng kiến thức từ cơ sở lý thuyết
và thực tế từ quá trình thảo luận Bảng khảo sát được thiết kế gồm có 3 phần chính
và cho 2 nhóm đối tượng sinh viên kỹ thuật còn ngồi trên ghế nhà trường ĐH Bách Khoa TPHCM và những kỹ sư đã tốt nghiệp:
- Phần 1 là năng lực giao tiếp tự đánh giá: để các đối tượng tham gia khảo sát tự đánh giá về năng lực giao tiếp của chính họ trên thang điểm 100 từ 0 là hoàn toàn không có năng lực đến 100 là có năng lực hoàn toàn trong 12 tình huống có thể gặp trong giao tiếp (3 nhóm đối tượng giao tiếp: người lạ, người quen, bạn bè và 4 nhóm
Trang 30ngữ cảnh giao tiếp: cộng đồng (trình bày một bài nói chuyện), cuộc họp, nhóm, 2 người) Bảng khảo sát năng lực giao tiếp tự nhận thấy này dựa trên bảng câu hỏi của
Mc Croskey
- Phần 2: Tự đánh giá NLGT trên các khía cạnh của NLGT theo mô hình của Spitzberg: đối tượng khảo sát cho điểm về đánh giá của mình ở các khía cạnh động lực giao tiếp, kiến thức giao tiếp và kỹ năng giao tiếp trên thang điểm 5
- Phần 3: Người có NLGT cao: đối tượng được khảo sát đánh giá yếu tố thể hiện một người nào đó là người có năng lực giao tiếp cao trên thang điểm 5
Sau khi có bảng khảo sát và được sự đồng ý của giáo viên hướng dẫn, phát trực tiếp đến các lớp học và gởi mail đến các forum của các lớp thông qua google docs
Phần điểm cho năng lực giao tiếp tự nhận thấy sẽ được tính cho 4 nhóm ngữ cảnh và
3 nhóm người tiếp nhận và được đánh giá theo gợi ý của Mc Croskey (số 112 là
Bảng 3.1: Thang đánh giá NLGT tự nhận thấy của Mc Croskey
Người
nhận
Người quen (Acquaintance)
Trang 31Điểm ở phần 2 giúp chọn ra những yếu tố cần cải thiện Điểm ở phần 3 giúp chọn ra những yếu tố để tạo nên một người có năng lực giao tiếp cao dưới góc nhìn của 2 nhóm đối tượng
3.2.4 Mục đích sử dụng kết quả:
Kết quả ở phần 1 giúp cho đối tượng khảo sát và người thực hiện khảo sát nhìn nhận lại, và tổng kết lại năng lực giao tiếp của chính đối tượng khảo sát, từ đó đưa ra cái nhìn tổng thể về sự cần thiết để đối tượng khảo sát tự tìm cách nâng cao và người thực hiện khảo sát đề xuất các giải pháp giúp nâng cao năng lực giao tiếp này trong những tình huống giao tiếp cụ thể
Kết quả ở phần 2 và phần 3 giúp tìm ra các yếu tố cần cải thiện ở các khía cạnh của năng lực giao tiếp và cải thiện thành như thế nào? Tất cả kết quả này sẽ là nền tảng cho phần đề xuất
3.2.5 Khảo sát
Đối tượng:
Sinh viên năm cuối của 6 nhóm ngành kỹ thuật trường Đại Học Bách Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh (Hóa – Sinh Học –Vật Liệu, Điện – Điện Tử, Công Nghệ Thông Tin, Xây Dựng, Cơ Khí - Kỹ Thuật Giao Thông, Môi Trường – Địa Chất Dầu Khí)
Kỹ sư tốt nghiệp Đại Học Bách Khoa TP HCM
Phương pháp: Từ cơ sở lý thuyết, kết hợp với kết quả phỏng vấn để đưa ra bảng
khảo sát Tiến hành khảo sát trên các đối tượng, so sánh năng lực giao tiếp giữa sinh viên của các ngành, giữa sinh viên còn ngồi trên ghế nhà trường và kỹ sư đã tốt
nghiệp, tìm ra các yếu tố cần cải thiện
3.3 Tóm tắt phần phương pháp thực hiện
Ở phần này, tác giả hoạch định quy trình các bước thực hiện khóa luận này để giải quyết đầy đủ ba mục tiêu Trong có một cuộc phỏng vấn các nhà quản lý, các nhà tuyển dụng và một cuộc khảo sát trên đối tượng sinh viên vừa mới ra trường Phần này sẽ giúp cho tác giả và người đọc có cái nhìn đầy đủ hơn về việc tác giả có đáp ứng đầy đủ các mục tiêu của khóa luận hay không
Trang 32CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ – KẾT LUẬN
4.1 Kết quả thảo luận với nhà quản lý - nhà tuyển dụng
4.1.1 Kết quả:
Về tầm quan trọng: Tất cả những người được thảo luận đều cho rằng mỗi công
việc đều có những đặc thù riêng, tuy nhiên không thể thiếu một công cụ quan trọng
là giao tiếp, công việc không thể thực hiện đơn lẻ mà phải kết hợp nhiều cá nhân, nhiều bộ phận, nhiều phòng ban, giao tiếp tốt sẽ khiến công việc được thực hiện trôi chảy, hiệu quả, và khả năng thăng tiến cao Giao tiếp được xem như là bộ mặt, là những đặc điểm đầu tiên khi người khác nhìn vào
Về
việc đánh giá năng lực giao tiếp của kỹ sư: hầu hết đều đều đánh giá ở thang điểm
50 -65 /100, tăng dần trong suốt quá trình làm việc từ giai đoạn tuyển dụng
Năng lực giao tiếp cao hay thấp thường thể hiện ở các khía cạnh:
Tự tin, không nhút nhát: gặp cấp trên thì không dám nói
Giao tiếp hiệu quả hơn trong môi trường quen thuộc, trong nội bộ
Tạo mối quan hệ tốt không chỉ ở thời điểm hiện tại mà còn qua các thời kỳ Khả năng ngoại ngữ cần thiết cho các công ty nước ngoài, báo cáo chho các sếp người nước ngoài
Nắm chắc vấn đề và kiến thức đang nói, và có kiến thức để hiểu người khác nói gì
Sáng tạo, tìm tòi và năng động trong cách tạo quan hệ thông qua giao tiếp Nói chuyện lưu lót cả Việt và Anh
Âm lượng, giọng điệu, ngữ điệu, điệu bộ, cử chỉ câu cú trong văn nói … phù hợp
Kỹ năng lắng nghe tốt, tiếp thu và phản hồi ý kiến của khách hàng nhanh nhẹn
Kỹ năng đặt câu hỏi, trong trường hợp không hiểu, không rõ phải hỏi lại, tình trạng thường gặp là không hiểu vẫn không nói, đến khi thực hiện thì sai Khả năng nhớ và tóm tắt, nhớ tên mọi người tiếp cận trong buổi họp hay gặp khách hàng sẽ tạo cảm giác hòa đồng, quen thuộc và gây thiện cảm tốt
Về lời khuyên để nâng cao năng lực giao tiếp:
Trang 33Bài tập nhóm, tương tác, thảo luận nhóm
Rèn luyện sự tự tin bằng cách va chạm nhiều, ra ngoài làm thêm, tham gia thật nhiều công tác đoàn hội, hoạt động ngoại khóa, tình nguyện lúc còn ngồi trên ghế nhà trường
Tập thói quen tự phát biểu ý kiến đặt lại câu hỏi, chứ không phải việc gì cũng đúng và nghe theo
Chuẩn bị trước về nội dung trước khi trình bày, tập trình bày thử
Tham gia các lớp đào tạo kỹ năng mềm
Nên được bồi dưỡng từ thời phổ thông
4.1.2 Kết luận:
Kết quả thảo luận với các nhà quản lý cho thấy bên cạnh việc đánh giá cao về kiến thức về công việc thì năng lực giao tiếp của các kỹ sư tốt nghiệp từ trường ĐH Bách Khoa TP HCM chỉ được đánh giá ở mức độ trung bình thấp Chính vì việc này, một lần nữa nhấn mạnh tính tính quan trọng để thực hiện đề tài và việc cải thiện, nâng cao NLGT của sinh viên là cần thiết
Thực trạng được nhìn nhận là, các sinh viên khi còn ngồi trên ghế nhà trường tiếp cận với quá ít đối tượng, quá ít môi trường khác nhau, và cơ bản là chưa rèn luyện được tính sẵn sàng hòa nhập vào môi trường mình tiếp cận Điều này khiến cho tác giả nhìn thấy một hướng đề xuất cho chương trình hỗ trợ là vẽ ra những viễn cảnh, những tình huống cho những môi trường công việc, những đối tượng cần tiếp xúc trong công việc khác nhau để những kỹ sư sau khi ra trường không còn quá nhiều
Ở đối tượng kỹ sư, với 200 bảng khảo sát được phát trực tiếp, thu về 112 bảng, sau khi loại bỏ các bảng khảo không hoàn chỉnh thì còn 102 bảng, và kết hợp với kết
Trang 34quả thu về từ chia sẻ trên google docs, tổng cộng thu được 159 bảng khảo sát Trong
đó, số đối tượng nam là 86, nữ là 73; 26 đối tượng tốt nghiệp từ khoa hóa – sinh học – vật liệu, 18 đối tượng tố nghiệp từ khoa điện điện tử, 32 đối tượng tốt nghiệp từ khoa công nghệ thông tin, 25 đối tượng tốt nghiệp từ khoa xây dựng, 26 đối tượng tốt nghiệp từ khoa cơ khí – kỹ thuật giao thông, 32 đối tượng tốt nghiệp từ khoa môi trường – vật liệu
Sau khi tổng hợp từ kết quả thô thì thu được kết quả Kết quả bảng khảo sát được trình bày thành 3 phần chính:
- Kết quả đo lường năng lực giao tiếp tự nhận thấy ở các đối tượng giao tiếp và ngữ cảnh giao tiếp khác nhau
- Kết quả các khía cạnh thể hiện năng lực giao tiếp
- Kết quả các đặc điểm của người có NLGT cao trong góc nhìn của sinh viên và kỹ sư Các sinh viên và kỹ sư cho điểm trên các đặc điểm được cho sẵn khi trả lời câu hỏi: “Theo bạn, S là một người có năng lực giao tiếp cao, S
sẽ có những đặc điểm?”
đối tượng giao tiếp và ngữ cảnh giao tiếp khác nhau:
Trang 35Đồ thị 4.1: NLGT tự nhận thấy của sinh viên và kỹ sư khi đối tượng người nhận là người lạ
Nhận xét: Nhìn vào đồ thị 4.1 nhận thấy:
- Theo thang đánh giá của Mc Croskey, trong ngữ cảnh này, NLGT tự nhận thấy của sinh viên và kỹ sư đều ở mức trung bình
- Không có sự khác nhau có nghĩa về NLGT của nam và nữ ở mức ý nghĩa 5% (do p>0.05, T-test ở phụ lục 2)
- Không có sự khác biệt có nghĩa giữa SV và KS ở mức ý nghĩa 5%
- Có sự khác biệt về NLGT của SV ở các khoa với nhau ở mức ý nghĩa 5%, trong đó, NLGT của SV khoa xây dựng, điện - điện tử là thấp nhất
Hóa - Sinh Học
- Vật Liệu
Điện - Điện Tử
Công Nghệ Thông Tin
Xây Dựng
Cơ Khí -
Kỹ Thuật Giao Thông
Môi Trường - Địa chất Dầu Khí
Trang 36Đồ thị 4.2: NLGT tự nhận thấy của sinh viên và kỹ sư khi đối tượng người nhận là người quen
Nhận xét: Nhìn vào đồ thị 4.2 nhận thấy:
- Theo thang đánh giá của Mc Croskey, trong ngữ cảnh này, NLGT tự nhận thấy của sinh viên và kỹ sư đều ở mức trung bình, tuy nhiên các cột điểm rất gần đến giá trị NLGT thấp
- Không có sự khác nhau có nghĩa về NLGT của nam và nữ ở mức ý nghĩa 5% (do p>0.05, T-test ở phụ lục 2)
- Không có sự khác biệt có nghĩa về NLGT giữa SV và KS ở mức ý nghĩa 5%
- Có sự khác biệt về NLGT của SV ở các khoa với nhau ở mức ý nghĩa 5%, trong đó, NLGT của SV khoa công nghệ thông tin là thấp nhất đối với đối tượng giao tiếp này
Hóa - Sinh Học - Vật Liệu
Điện - Điện Tử
Công Nghệ Thông Tin
Xây Dựng
Cơ Khí -
Kỹ Thuật Giao Thông
Môi Trường - Địa chất Dầu Khí
Tổng cộng
Sinh viên 72.28 70.44 74.58 71.71 66.45 71.68 70.29 72.08 71.57
Kỹ sư 71.12 70.36 71.59 74.17 74.22 68.95 68.03 68.40 70.77SPCC thấp 62.00 62.00 62.00 62.00 62.00 62.00 62.00 62.00 62.00SPCC cao 92.00 92.00 92.00 92.00 92.00 92.00 92.00 92.00 92.00
Trang 37Đồ thị 4.3: NLGT tự nhận thấy của sinh viên và kỹ sư khi đối tượng người nhận là bạn bè
Nhận xét: Nhìn vào đồ thị 4.3, nhận thấy:
- Theo thang đánh giá của Mc Croskey, trong ngữ cảnh này, NLGT tự nhận thấy của sinh viên và kỹ sư ở mức trung bình hoặc thấp, tuy nhiên các cột điểm rất gần đến giá trị NLGT thấp
- Không có sự khác nhau có nghĩa về NLGT của nam và nữ ở mức ý nghĩa 5% (do p>0.05, T-test ở phụ lục 2)
- Có sự khác biệt có nghĩa về NLGT giữa SV và KS ở mức ý nghĩa 5%, trong đó, NLGT tự nhận thấy của kỹ
sư thấp hơn so với của sinh viên
- Có sự khác biệt về NLGT của SV ở các khoa với nhau ở mức ý nghĩa 5%, trong đó, NLGT của SV khoa môi trường – địa chất dầu khí là thấp nhất đối với đối tượng giao tiếp này
Hóa - Sinh Học - Vật Liệu
Điện - Điện Tử
Công Nghệ Thông Tin
Xây Dựng
Cơ Khí -
Kỹ Thuật Giao Thông
Môi Trường - Địa chất Dầu Khí
Tổng cộng
Sinh viên 78.10 77.73 80.51 76.79 76.32 78.51 78.46 74.58 77.95
Kỹ sư 67.04 68.03 72.09 65.65 65.79 66.47 66.22 66.67 67.42SPCC cao 99.00 99.00 99.00 99.00 99.00 99.00 99.00 99.00 99.00SPCC thấp 76.00 76.00 76.00 76.00 76.00 76.00 76.00 76.00 76.00
Trang 38Đồ thị 4.4: NLGT tự nhận thấy của sinh viên và kỹ sư trong ngữ cảnh giao tiếp là cộng đồng
Nhận xét: Nhìn vào đồ thị 4.4, nhận thấy:
- Theo thang đánh giá của Mc Croskey, trong ngữ cảnh này, NLGT tự nhận thấy của sinh viên và kỹ sư đều ở mức trung bình
- Không có sự khác nhau có nghĩa về NLGT của nam và nữ ở mức ý nghĩa 5% (do p>0.05, T-test ở phụ lục 2)
- Có sự khác biệt có nghĩa về NLGT giữa SV và KS ở mức ý nghĩa 5%, trong đó, NLGT tự nhận thấy của kỹ
sư thấp hơn so với của sinh viên
- Có sự khác biệt về NLGT của SV ở các khoa với nhau ở mức ý nghĩa 5%, trong đó, NLGT của SV môi trường- đại chất dầu khí là thấp nhất trong ngữ cảnh giao tiếp này
Hóa - Sinh Học - Vật Liệu
Điện - Điện Tử
Công Nghệ Thông Tin
Xây Dựng
Cơ Khí -
Kỹ Thuật Giao Thông
Môi Trường - Địa chất Dầu Khí
Tổng cộng
Sinh viên 75.74 75.81 80.30 74.31 75.77 75.15 77.45 72.03 75.77
Kỹ sư 68.60 66.62 70.58 71.85 69.95 64.60 64.49 65.78 67.69SPCC cao 86.00 86.00 86.00 86.00 86.00 86.00 86.00 86.00 86.00SPCC thấp 51.00 51.00 51.00 51.00 51.00 51.00 51.00 51.00 51.00
Trang 39Đồ thị 4.5: NLGT tự nhận thấy của sinh viên và kỹ sư trong ngữ cảnh giao tiếp là cuộc họp
Nhận xét: Nhìn vào đồ thị 4.5, nhận thấy:
- Theo thang đánh giá của Mc Croskey, trong ngữ cảnh này, NLGT của sinh viên và kỹ sư đều ở mức trung bình, thiên về cận thấp
- Không có sự khác nhau có nghĩa về NLGT của nam và nữ ở mức ý nghĩa 5% (do p>0.05, T-test ở phụ lục 2)
- Không có sự khác biệt có nghĩa về NLGT giữa SV và KS ở mức ý nghĩa 5%
- Có sự khác biệt về NLGT của SV ở các khoa với nhau ở mức ý nghĩa 5%, trong đó, NLGT của SV các khoa hóa – sinh học - vật liệu, điện điện tử là cao hơn so với các khoa khác trong ngữ cảnh giao tiếp này
Hóa - Sinh Học - Vật Liệu
Điện - Điện Tử
Công Nghệ Thông Tin
Xây Dựng
Cơ Khí -
Kỹ Thuật Giao Thông
Môi Trường - Địa chất Dầu Khí
Tổng cộng
Sinh viên 64.05 64.23 68.60 64.20 61.40 61.47 62.69 62.78 64.12
Kỹ sư 64.26 64.63 69.09 66.67 66.35 61.40 63.01 60.99 64.43SPCC cao 85.00 85.00 85.00 85.00 85.00 85.00 85.00 85.00 85.00SPCC thấp 51.00 51.00 51.00 51.00 51.00 51.00 51.00 51.00 51.00
Trang 40Đồ thị 4.6: NLGT tự nhận thấy của sinh viên và kỹ sư trong ngữ cảnh giao tiếp là nhóm
Nhận xét: Nhìn vào đồ thị 4.6, nhận thấy:
- Theo thang đánh giá của Mc Croskey, trong ngữ cảnh này, NLGT tự nhận thấy của sinh viên và kỹ sư đều ở mức trung bình, thiên về cận thấp
- Không có sự khác nhau có nghĩa về NLGT của nam và nữ ở mức ý nghĩa 5% (do p>0.05, T-test ở phụ lục 2)
- Không có sự khác biệt có nghĩa về NLGT giữa SV và KS ở mức ý nghĩa 5%
- Có sự khác biệt về NLGT của SV ở các khoa với nhau ở mức ý nghĩa 5%, trong đó, NLGT của SV các khoa hóa – sinh học - vật liệu là cao hơn so với các khoa khác trong ngữ cảnh giao tiếp này
Hóa - Sinh Học - Vật Liệu
Điện - Điện Tử
Công Nghệ Thông Tin
Xây Dựng
Cơ Khí -
Kỹ Thuật Giao Thông
Môi Trường - Địa chất Dầu Khí