1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ quy trình chiếu plasma cho sản phụ sau sinh có vết thương của điều dưỡng, hộ sinh bệnh viện phụ sản hà nội năm 2020

135 70 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 2,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Sau hai năm học tập tại trường Đại học Y tế Công cộng Hà Nội, giờ đây khi đã hoàn thành chương trình cao học và hoàn thành quyển luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Quản lý bệnh viện

Trang 1

TRƯỜNG ÐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

TRẦN THỊ THUỲ LINH

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TUÂN THỦ QUY TRÌNH CHIẾU

PLASMA CHO SẢN PHỤ SAU SINH CÓ VẾT THƯƠNG

CỦA ĐIỀU DƯỠNG, HỘ SINH BỆNH VIỆN PHỤ SẢN

HÀ NỘI NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802

Hà Nội, 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ÐÀO TẠO - BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ÐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

TRẦN THỊ THUỲ LINH

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TUÂN THỦ QUY TRÌNH CHIẾU

PLASMA CHO SẢN PHỤ SAU ĐẺ CÓ VẾT THƯƠNG

CỦA ĐIỀU DƯỠNG, HỘ SINH BỆNH VIỆN PHỤ SẢN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau hai năm học tập tại trường Đại học Y tế Công cộng Hà Nội, giờ đây khi

đã hoàn thành chương trình cao học và hoàn thành quyển luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Quản lý bệnh viện, trong sự vui mừng xúc động, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến:

Các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Y tế Công cộng đã tập tình giảng dậy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và hoàn thành luận văn này

Tiến sĩ Lê Thị Kim Ánh, một giáo viên luôn tận tình theo sát tôi trong suốt quá trình NC với lòng nhiệt huyết và sự tận tình đã hướng dẫn hỗ trợ tôi xác định vấn đề nghiên cứu, xây dựng đề cương chia sẻ thông tin giúp tôi hoàn thành luận văn này

Lãnh đạo viện, lãnh đạo các khoa, điều dưỡng trưởng, điều dưỡng viên của các khoa D4, D5, C3, A3 bệnh viện Phụ Sản Hà Nội

Xin được cảm ơn bạn bè và đồng nghiệp – những người đã luôn bên cạnh động viên và giúp đỡ tôi khi tôi thực hiện luận văn này

Tập thể lớp Cao học Quản lý bệnh viện 11-1B đã cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập

Cuối cùng với những kết quả trong nghiên cứu này, tôi xin chia sẻ với tất cả các đồng nghiệp trên mọi miền đất nước

Tôi xin trân trọng cản ơn!

Hà Nội, ngày 26 tháng 11 năm 2020

Trần Thị Thùy Linh

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 4

1.2 Lịch sử ứng dụng tia plasma trong điều trị y khoa 6

1.3 Quy trình sử dụng tia plasma trong điều trị vết thương sau đẻ 9

1.4 Thực trạng thực hiện quy trình kỹ thuật hỗ trợ điều trị vết thương bằng máy PlasmaMed và các yếu tố ảnh hưởng 12

1.5 Một số thông tin về địa bàn nghiên cứu 17

1.6 Khung lý thuyết 19

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Đối tượng nghiên cứu 21

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21

2.3 Thiết kế nghiên cứu 21

2.4 Cỡ mẫu 22

2.5 Phương pháp chọn mẫu 23

2.6 Biến số nghiên cứu 24

2.7 Phương pháp thu thập thông tin 25

2.8 Tiêu chuẩn đánh giá 29

2.9 Phương pháp phân tích số liệu 30

2.10 Đạo đức của nghiên cứu 30

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31

3.1 Một số thông tin chung về điều dưỡng, hộ sinh tại các Khoa nghiên cứu 32

3.2 Kiến thức về việc thực hiện quy trình và tác dụng chiếu tia plasma cho sản phụ sau đẻ có vết thương của điều dưỡng, hộ sinh tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2020…… 33

Trang 5

3.3 Thực trạng tuân thủ quy trình chiếu tia plasma cho sản phụ sau đẻ có vết thương

của điều dưỡng, hộ sinh Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội năm 2020 37

3.4 Một số yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng tuân thủ quy trình chiếu tia plasma cho sản phụ sau đẻ của điều dưỡng, hộ sinh Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội năm 2020 …… 45

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 58

4.1 Kiến thức về việc thực hiện quy trình và tác dụng chiếu tia plasma cho sản phụ sau đẻ có vết thương của điều dưỡng, hộ sinh tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2020 …… 58

4.2 Thực trạng tuân thủ quy trình chiếu tia plasma cho sản phụ sau đẻ có vết thương của điều dưỡng, hộ sinh Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội năm 2020 61

4.3 Một số yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng tuân thủ quy trình chiếu tia plasma cho sản phụ sau đẻ có vết thương của điều dưỡng, hộ sinh Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội năm 2020 …… 64

4.4 Một số ưu điểm, hạn chế của nghiên cứu 69

KẾT LUẬN 72

KHUYẾN NGHỊ 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

PHỤ LỤC 1: BẢNG BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 80

Phụ lục 2: BẢNG KIỂM QUAN SÁT THỰC HIỆN QUY TRÌNH KỸ THUẬT HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ VẾT THƯƠNG BẰNG MÁY PLASMA MED 86

Phụ lục 3: TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CÁC THAO TÁC THỰC HIỆN QUY TRÌNH KỸ THUẬT HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ VẾT THƯƠNG BẰNG MÁY PLASMA MED 90

Phụ lục 4: PHIẾU PHỎNG VẤN KIẾN THỨC CỦA ĐIỀU DƯỠNG, HỘ SINH VỀ QUY TRÌNH CHIẾU TIA PLASMA CHO SẢN PHỤ 95

Phụ lục 5: ĐÁP ÁN PHIẾU ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC CỦA ĐIỀU DƯỠNG, HỘ SINH 100

Phụ lục 6: HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU LÃNH ĐẠO BỆNH VIỆN VÀ PHÒNG ĐIỀU DƯỠNG 102

Phụ lục 7: HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM LÃNH ĐẠO CÁC KHOA C3, D5, A3, D4 104

Phụ lục 8: HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM ĐIỀU DƯỠNG, HỘ SINH 106

Trang 6

Phụ lục 9: KINH PHÍ THỰC HIỆN 108 Phụ lục 10: KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU 109 Phụ lục 11: QUY TRÌNH KỸ THUẬT HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ VẾT THƯƠNG BẰNG MÁY PLASMAMED (ban hành ngày 15 tháng 3 năm 2017 theo Quyết định số 898/QĐ-BYT) 111

Trang 7

PVS Phỏng vấn sâu

TLN Thảo luận nhóm

WHO World Health Organization (Tổ chức y tế thế giới)

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Một số thông tin chung của điều dưỡng, hộ sinh tại các Khoa nghiên cứu (N=80) 32 Bảng 3.2: Tỷ lệ điều dưỡng, hộ sinh có kiến thức đúng về khái niệm, cơ chế và tác dụng của tia plasma tạo ra từ máy PlasmaMed (N = 80) 33Bảng 3.3: Tỷ lệ điều dưỡng, hộ sinh có kiến thức đúng về các trường hợp được chỉ định chiếu tia plasma (N = 80) 34Bảng 3.4: Tỷ lệ điều dưỡng, hộ sinh có kiến thức đúng về trường hợp chống chỉ định chiếu tia plasma (N = 80) 35Bảng 3.5: Tỷ lệ điều dưỡng, hộ sinh có kiến thức đúng về đối tượng được phép thực hiện chiếu tia plasma cho sản phụ (N = 80) 35Biểu đồ 3.2: Tổng điểm kiến thức về thực hiện quy trình chiếu tia plasma cho sản phụ sau đẻ của điều dưỡng, hộ sinh 37 Bảng 3.6: Tỷ lệ các lượt thực hiện chiếu tia plasma cho sản phụ sau đẻ có vết thương của điều dưỡng, hộ sinh theo các thao tác chuẩn bị điều dưỡng 37Bảng 3.7: Tỷ lệ các lượt thực hiện chiếu tia plasma cho sản phụ sau đẻ của điều dưỡng,

hộ sinh theo các thao tác chuẩn bị dụng cụ và chuẩn bị người bệnh 38Bảng 3.8: Tỷ lệ các lượt thực hiện chiếu tia plasma cho sản phụ sau mổ đẻ của điều dưỡng, hộ sinh theo các thao tác kỹ thuật (N=89) 40Bảng 3.9: Tỷ lệ các lượt thực hiện chiếu tia plasma cho sản phụ sau đẻ thường của điều dưỡng, hộ sinh theo từng thao tác kỹ thuật (N=69) 42Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ số lượt chiếu tia plasma cho sản phụ sau đẻ có vết thương của điều dưỡng, hộ sinh thực hiện đạt theo quy trình 45

Trang 9

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Năm 2017, Bộ Y tế ban hành hướng dẫn quy trình hỗ trợ điều trị vết thương bằng máy PlasmaMed Ngay sau đó, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội đã xây dựng và thực hiện quy trình dành cho sản phụ sau đẻ từ tháng 6/2017 Tính đến thời điểm hiện tại, chưa

có nghiên cứu nào được tiến hành nhằm đánh giá việc thực hiện quy trình tại Việt Nam nói chung và tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội nói riêng Nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh, đảm bảo dịch vụ tại bệnh viện ngày càng tốt hơn, nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu mô tả kiến thức, thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng tuân thủ quy trình chiếu tia plasma cho sản phụ sau đẻ có vết thương của điều dưỡng,

hộ sinh Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội năm 2020

Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp định lượng và định tính Thông tin định lượng thu thập qua phỏng vấn kiến thức 80 điều dưỡng, hộ sinh của 4 Khoa lâm sàng và quan sát thực hành quy trình đối với 158 lượt chiếu tia plasma Công cụ định lượng được xây dựng dựa trên Quyết định số 898/QĐ-BYT của Bộ Y tế

về việc ban hành hướng dẫn quy trình kỹ thuật hỗ trợ điều trị vết thương bằng máy Plasmamed Thông tin định tính thu thập song song với nghiên cứu định lượng qua phỏng vấn sâu Lãnh đạo Bệnh viện, Lãnh đạo Phòng Điều dưỡng, 01 cuộc thảo luận nhóm các Lãnh đạo Khoa và 01 cuộc thảo luận nhóm với điều dưỡng, hộ sinh

Nghiên cứu chỉ ra, không có điều dưỡng, hộ sinh nào đạt điểm kiến thức tối đa

về việc thực hiện quy trình Điểm kiến thức trung bình của đối tượng nghiên cứu là 11,8 điểm, tương đương 62,1% tổng điểm kiến thức tối đa Tỷ lệ lượt chiếu tia plasma được thực hiện đúng quy trình đối với các trường hợp đẻ thường có vết khâu tầng sinh môn và đẻ mổ lần lượt là 79,7% và 92,1% Các thao tác thực hiện không đạt đa phần là

do không đạt về quy định thời gian hoặc thực hiện chưa đủ yêu cầu của thao tác Một

số yếu tố khiến điều dưỡng, hộ sinh thực hiện chưa đúng quy trình bao gồm kiến thức

về quy trình chiếu tia plasma cho sản phụ sau đẻ của điều dưỡng, hộ sinh còn có những khoảng trống; một số điều dưỡng, hộ sinh nhận thức chưa đúng đắn về tầm quan trọng của việc thực hiện đầy đủ và chuẩn xác quy trình; chất lượng máy không tốt như kỳ vọng dẫn đến việc gia tăng áp lực chạy đua với khối lượng công việc của điều dưỡng,

hộ sinh; nhiều sản phụ yêu cầu được thực hiện cùng một khung giờ tạo áp lực công việc quá lớn và dồn dập vào một thời điểm cho NVYT;…

Nghiên cứu khuyến nghị, Bệnh viện cần tập huấn lại kiến thức cho điều dưỡng,

hộ sinh, duy trì các chế tài hiện có, đồng thời rà soát, cải thiện hệ thống máy chiếu, xem xét bổ sung hoạt động thăm dò thường quy với người bệnh Điều dưỡng, hộ sinh cần chủ động xem lại tài liệu, hướng dẫn thực hiện quy trình, nâng cao ý thức, trách nhiệm

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo thống kê của Bệnh viện Từ Dũ, tỷ lệ mổ lấy thai ở một số nước châu

Âu như Đức, Pháp là 20%, Tây Ban Nha là 26%, Ý là 33% Cá biệt, tỷ lệ này ở một số nước châu Mỹ lên tới trên 60% (Mexico là 60%; Venezuela là 70%) Theo một số nghiên cứu, tỷ lệ mổ lấy thai ở Việt Nam những năm gần đây chiếm trên 50% tổng số ca sinh Trong số những ca đẻ thường còn lại, tỷ lệ có can thiệp bằng việc cắt – khâu tầng sinh môn trên thế giới là 85% – 90% (1) Tại Việt Nam, theo thống kê của Bộ Y Tế năm 2018, tỷ lệ này là 55 – 60% (1) Tính riêng tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, 95% số ca sinh là mổ lấy thai hoặc có can thiệp cắt tầng sinh môn Các kết quả trên cho thấy, đa số sản phụ sau sinh đều mang trên mình những vết thương do can thiệp y tế trong quá trình sinh nở

Nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) là hậu quả không mong muốn thường gặp nhất đối với sản phụ có vết thương sau sinh (2,3) Những sản phụ bị NKVM sau sinh phải chịu thêm gánh nặng bệnh tật mới, đồng thời có khả năng trở thành nguồn lây nhiễm trong bệnh viện (4) Bên cạnh đó, NKVM, nhiễm khuẩn tầng sinh môn (NKTSM) làm tăng thời gian nằm viện, gây tốn kém, người phụ nữ sau sinh phải cần thêm người chăm sóc con và chăm sóc chính bản thân mình NKVM cũng gây sẹo xấu, ảnh hưởng tới thẩm mỹ và chức năng thành bụng (5) Tuy gây ra nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng đối với người bệnh nói chung và sản phụ nói riêng nhưng NKVM, NKTSM có thể được phòng ngừa và điều trị hiệu quả bằng nhiều phương pháp Trong bối cảnh tình trạng kháng kháng sinh ngày càng gia tăng gây khó khăn trong điều trị, việc nghiên cứu những ứng dụng có khả năng diệt vi sinh vật để hỗ trợ hay thay thế một phần cho điều trị kháng sinh là xu hướng được quan tâm (6,7) Một trong những phương pháp mới đã được chứng minh hiệu quả là việc sử dụng tia plasma lạnh trong hỗ trợ điều trị vết thương Loại tia này là có tác dụng phá vỡ hoặc xâm nhập qua màng tế bào, tiêu diệt hoặc ức chế hoạt động của vi khuẩn, virut và nấm; kích thích tăng sinh tế bào, tái sinh mô, hình thành tân mạch trong khi hạn chế tối đa nguy cơ do dùng kháng sinh và các tác hại khác trên người bệnh (8)

Với những ưu điểm trên, năm 2017, Bộ Y tế đã ban hành hướng dẫn quy trình hỗ trợ điều trị vết thương bằng máy PlasmaMed, áp dụng cho các cơ sở khám

Trang 11

bệnh, chữa bệnh trong cả nước (8) Cho đến nay, PlasmaMed là máy phát ra tia plasma lạnh đầu tiên và duy nhất được kiểm chứng về hiệu quả trong điều trị vết thương và được cấp giấy đăng ký bản quyền trong nước Ngay sau quyết định của

Bộ được ban hành, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội đã xây dựng quy trình riêng dành cho sản phụ sau đẻ và sau mổ đẻ để đưa quy trình này vào thực hiện từ tháng 6 năm 2017 (9) Cho đến nay, quy trình đã được sửa đổi 2 lần nhằm tối ưu hóa tác dụng của việc thực hiện quy trình đối với sản phụ sau đẻ Quy trình này cũng đã được đưa vào gói dịch vụ của Bệnh viện, được tư vấn triển khai gần như 100% trên những sản phụ có vết thương sau sinh không có các vấn đề chống chỉ định (1) Theo báo cáo của Phòng Điều dưỡng Bệnh viện năm 2018, 95,7% sản phụ sau đẻ, sau mổ tại Bệnh viện được chiếu tia plasma (khoảng 22.000 sản phụ sau mổ và

17000 sản phụ đẻ thường có cắt tầng sinh môn)

Mặc dù đã trở thành một dịch vụ phổ biến tại Bệnh viện, tuy nhiên, từ khi triển khai thực hiện quy trình đến nay, tại Bệnh viện chưa có bất kỳ khảo sát, đánh giá nào ghi nhận cụ thể việc thực hiện quy trình chiếu tia plasma đối với nhân viên

y tế (NVYT) Bên cạnh đó, dù đã nỗ lực tìm kiếm, nghiên cứu chưa tìm kiếm được các tài liệu hoặc các nghiên cứu đã được công bố đề cập tới các yếu tố ảnh hưởng tới việc thực hiện quy trình kỹ thuật hỗ trợ điều trị vết thương bằng máy PlasmaMed Trong khi đó, nhiều nghiên cứu đánh giá về thực trạng tuân thủ và các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ quy trình trong lĩnh vực y tế đã chỉ ra, việc tuân thủ các quy trình chuẩn đã được ban hành có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đảm bảo sức khỏe cho người sử dụng dịch vụ cũng như đảm bảo việc phát triển dịch vụ

của cơ sở y tế Do vậy việc tiến hành nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ quy trình chiếu tia plasma cho sản phụ sau đẻ có vết thương của điều dưỡng, hộ sinh Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội năm 2020” là cần

thiết để nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh, đảm bảo dịch vụ tại bệnh viện ngày càng tốt hơn

Trang 12

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả kiến thức về việc thực hiện quy trình và tác dụng chiếu tia plasma cho sản phụ sau đẻ có vết thương của điều dưỡng, hộ sinh tại Bệnh viện Phụ sản

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu

1.1.1 Vết thương sau đẻ của sản phụ

1.1.2.1 Vết đau tầng sinh môn

Trong một số trường hợp, bác sĩ sẽ thực hiện cắt tầng sinh môn nhằm mở rộng đường ra cho thai nhi khi sinh qua âm đạo, ngăn ngừa một số tổn thương và chấn thương nghiêm trọng cho âm đạo, âm hộ khi sinh Bác sĩ thực hiện thủ thuật này bằng cách: gây tê vùng âm hộ và dùng kéo cắt một đường dài từ 3 - 5cm (từ mép âm hộ đi thẳng xuống vùng hậu môn hướng 6 giờ, hoặc một đường chéo hướng 7 giờ) khi có cơn gò và đầu thai nhi áp sát vào vùng tầng sinh môn Sau khi sinh em bé, bác sĩ sẽ khâu lại vết cắt

Rạch tầng sinh môn giúp cho việc chuyển dạ nhanh và dễ dàng hơn Tuy nhiên, sau sinh, vị trí này có thể bị đau trong vài ngày hoặc vài tuần, nhất là khi sản phụ phải chuyển động hay có các hoạt động đơn giản khác

1.1.2.2 Mổ lấy thai

Mổ lấy thai là phẫu thuật lấy thai nhi, nhau và màng ối qua một vết mổ ở thành bụng vào tử cung đang nguyên vẹn So với sinh ngả âm đạo, mổ lấy thai được áp dụng trong những trường hợp cấp bách, cần thiết phải lấy thai ra nhằm làm giảm những nguy hiểm cho thai nhi và người mẹ (11)

1.1.2 Chăm sóc vết thương sau đẻ

Chăm sóc vết thương là thực hiện chăm sóc chuyên môn y tế để phòng ngừa biến chứng gây ra cho vết thương và cải thiện sự lành vết thương Chăm sóc vết thương là một trong những kỹ thuật cơ bản trong sóc người bệnh của điều dưỡng Chăm sóc vết thương tốt đúng quy trình giúp cho người bệnh phục hòi sức khỏe nhanh chóng, kiểm soát nhiễm khuẩn, giảm thời gian nằm viện, giảm chi phí điều

trị, tăng niềm tin của người bệnh vào chăm sóc y tế và NVYT (1,12)

Chăm sóc vết thương bao gồm chăm sóc các lại vết thương từ đơn giản đến phức tạp như vết thương sạch, vết thương nhiễm khuẩn, hoại tử, loét ép, (loét tỳ), vết thương có chỉ khâu, vết thương có ống dẫn lưu, vết thương ghép da Bên cạnh hiểu biết cơ chế liền thương, hiểu biết và nắm chắc kỹ năng thực hành quy trình thay băng , người điều dưỡng, hộ sinh cần phải hiểu biết tính năng và sử dụng các

Trang 14

loại sản phẩm chăm sóc vết thương như băng, gạc để che chở và bảo vệ vết thương hoặc sử dụng kỹ thuật mới bằng máy như máy plasmaced để hỗ trợ cho việc lành vết thương diễn ra một cách tốt nhất

Việc chăm sóc tầng sinh môn và vết khâu sau đẻ phải hết sức chu đáo Nên giữ cho vết khâu luôn được sạch và khô giúp tầng sinh môn, vết thương liền tốt Phải đóng khố sạch, thay khố 3 - 4 lần trong ngày bằng nước chín, lau sạch và thấm khô vùng âm hộ tầng sinh môn nhất là sau mỗi lần đại tiểu tiện Tại vết khâu không nên dùng các loại thuốc nước hay thuốc mỡ Kiểm tra vết khâu hàng ngày

nếu khô liền tốt thì cắt chỉ vào ngày thứ 5 (trong trường hợp khâu chỉ line)

1928 bởi Irving Langumir, là một hỗn hợp nhiều thành phần của khí bị ion hóa gồm: các diện tích dương và âm cân bằng và không kết hợp với nhau, các gốc tự

do, tia cực tím, điện từ trường, ánh sáng nhìn thấy và nhiệt độ (14)

1.1.4 Quy trình và ý nghĩa của việc tuân thủ quy trình

Theo Tổ chức tiêu chuẩn hóa Quốc tế ISO, quy trình (Procedure) “là một phương pháp cụ thể để thực hiện một hoặc nhiều các hoạt động có tương tác nhằm biến đổi đầu vào thành đầu ra” Các quy trình luôn được thiết lập trong các cơ

quan đơn vị, được thể hiện và ban hành bằng văn bản nhằm thực hiện và kiểm soát các quá trình của công việc, để công việc mang lại nhiều hiệu quả hơn, ít xảy ra sai sót cũng như hạn chế các sự cố ngoài ý muốn

Trong lĩnh vực y tế, quy trình còn thể hiện thước đo đánh giá chất lượng của cơ sở y tế, là cơ sở để kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện công việc cũng

Trang 15

như là bằng chứng khi xảy ra các sự cố y khoa Theo Điều 37 Luật Khám bệnh

chữa bệnh năm 2009, nghĩa vụ đối với nghề nghiệp của các y bác sĩ bao gồm: “1 Thực hiện đúng quy định chuyên môn kỹ thuật 2 Chịu trách nhiệm về việc khám bệnh, chữa bệnh của mình” (15)

Tuy chưa có văn bản hay nghiên cứu nào định nghĩa cụ thể khái niệm “tuân thủ quy trình” nhưng căn cứ từ khái niệm, nội hàm và ý nghĩa của việc thực hiện quy trình nêu trên, có thể hiểu tuân thủ quy trình là việc thực hiện quy trình một cách trình tự theo các hoạt động, phương pháp với trách nhiệm, quyền hạn, năng lực, thời gian, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị cần thiết, tiêu chuẩn vận hành, hoạt động kiểm soát và ghi chép báo cáo theo đúng quy định

1.2 Lịch sử ứng dụng tia plasma trong điều trị y khoa

1.2.1 Các ứng dụng của tia plasma trong điều trị y khoa

Dựa vào nhiệt độ tạo thành, người ta chia plasma thành plasma nóng và plasma lạnh Nhờ vào hiệu quả diệt khuẩn cao plasma nóng được sử dụng khử trùng thiết bị y tế và bao bì thực phẩm (13) Plasma lạnh không làm tổn thương các mô khỏe mạnh xung quanh nhưng tạo nhiều phản ứng khác nhau trong mô, được biết đến hơn 10 năm nay bới các giáo sư của Viện Plasma Drexel thuộc Đại học Drexel, đây là một chuyên ngành rất mới và phát triển rất nhanh của khoa học

và công nghệ hiện đại Vào năm 2013, nhà xuất bản Elsevier đã xuất bản tạp chí Plasma y học lâm sàng (Clinical Plasma Medicinine) Một tạp chí có uy tín khác

đã công bố những chuyên đề đặc biệt dành riêng cho chủ đề này, nhiều hội thảo khoa học thế giới về plasma trong y học đã được tổ chức tại Mỹ, Đức, Pháp, Hàn Quốc, Nhật bản, Trung Quốc và các nước khác (16)

Mặc dù khí ion hóa có tác dụng diệt khuẩn đã được biết đến trong một thời gian dài tuy nhiên ứng dụng plasma áp suất khí quyển có tác dụng diệt khuẩn lần đầu tiên được báo cáo năm 1996 bởi Laroussi (16) Trước đó, năm 1970, Robson

và các đồng nghiệp đã nhận thấy rằng hơn 105 dòng liên cầu khuẩn tan huyết, tụ cầu vàng và trực khuẩn mủ xanh ảnh hưởng đến sự liền thương Quá trình lành thương cũng bị trì hoãn nếu có nhiều hơn 4 loại vi khuẩn khác Vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh, đặc biệt chủng tụ cầu vàng, có thể trở thành mói đe dọa một mối

đe dọa toàn cầu, đang xảy ra với tần số ngày càng tăng ở những vết thương mãn

Trang 16

tính Nghiên cứu nuôi cấy tế bào chứng minh rằng sau chiếu tia plasma không chỉ diệt vi khuẩn mà còn thúc đẩy sự ành vết thương bởi tác động trực tiếp trên biểu

bì và các tế bào da Mẫu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên đầu tiên trên thế giới sử dụng mã MicroPlaster đã dược thực hiện, chiếu tia plasma lạnh vào vết thương 2 phút mỗi ngày (17)

Plasma lạnh không làm tổn hại tế bào lành trong điều trị, có rất ít tổn thương được phát hiện nếu tế bào da tiếp xúc quá lâu Các nghiên cứu các tác giả Poml, Daeschlein và cộng sự đã chứng minh sử dụng plasma lạnh giúp giảm thời gian điều trị và làm giảm đáng kể lượng vi khuẩn (18,19) Kamgang – Youbi và cộng

sự đã chứng minh nước cất được chiếu tia Plasma lạnh trong 5 phút có tác dụng kháng khuẩn (16) Nồng độ cao của Nitric Oxide (NO) được tạo ra trong quá trình chiếu plasma the Shekhter (1998) có tác dụng diệt khuẩn trực tiếp, cải thiện tốc độ dẫn truyền thần kinh, kích thích các nguyên bào sợi và tăng sinh mạch máu (17)

Shuluko (2004) trong 1 nghiên cứu không có nhóm chứng với 65 bệnh nhân tiểu đường có tổn thương hoại tử ở chân điều trị với plasma nồng độ NO tạo ra hỗ trợ vết thương liền nhanh (20)

Nghiên cứu sử dụng khí NO trong điều trị vết thương phần mềm nhiễm trùng của Lipatov (2002) ở 40 bệnh nhân đã chứng minh khả năng tăng tốc của quá trình liền vết thương so với nhóm chứng bằng các xét nghiệm vi khuẩn, tế bào học và hình thái học Khảo sát bằng Laser Doppler Flowmetry cho thấy sự cải thiện đáng kể các vi tuần hoàn trong khu vực vết thương Phương pháp này giúp tổ chức hạt mọc nhanh và giảm đến 5 ngày thay băng để đóng vết thương

Isbary (năm 2010) nghiên cứu trên 150 bệnh nhân có vết thương nhiễm trùng mãn tính được điều trị với plasma argon hàng ngày từ 2-5 phút, đã kết luận điều trị argon plasma lạnh là một kỹ thuật điều trị mới an toàn, không đau, làm giảm vi khuẩn vết thương mãn tính và thúc đẩy quá trình liền thương (21)

Trong một nghiên cứu không có nhóm chứng của Fetykov (2009) và cộng

sự được tiến hành trên 48 bệnh nhân bị hội chứng chân tiểu đường bằng cách sử dụng một nguồn plasma nhiệt độ thấp với một phần lớn của bức xạ tia cực tím đôi khi nhanh chóng hoàn thành chữa bệnh vết thương và giảm đau trong vòng 5 ngày (22)

Trang 17

Năm 2014, phòng thí nghiệm công nghệ plasma, Viện vật lý , Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam hoàn thành 2 đề tài: “thiết kế, chế tạo nguồn plasma phục vụ nghiên cứu plasma y sinh”, “Nghiên cứu khả năng điều trị một số bệnh da liễu bằng plasma lạnh” Máy phát tia plasma lạnh PlasmaMed dựa trên nguyên lý hồ quan trượt để chế tạo trong khuôn khổ đề tài, cho tia plasma lạnh có khả năng ứng dụng cao trong da liễu (16)

Năm 2018, trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ tại Đại học Y Hà Nội, nghiên cứu của Nguyễn Văn Diệu về tác dụng phối hợp của Plasma lạnh trong điều trị NKVM nông thành bụng tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương đã chỉ ra: nhóm điều trị vết thương hở bằng plasma lạnh có thời gian lên tổ chức hạt trung bình là 4,5 ngày (+/- 1,3 ngày) Trong khi đó thời gian này ở nhóm không chiếu plasma là 5,7 ngày (+/- 1,1 ngày) Kết quả trên cho thấy thời gian lên tổ chức hạt ở vết thương ở nhóm có chiếu plasma nhanh hơn nhóm không chiếu plasma Sự khác biệt này có

ý nghĩa thống kê với p<0,05 Kết hợp với việc tổng quan các nghiên cứu trước đó, nghiên cứu đã chỉ ra nguyên nhân của sự khác biệt này là do tác dụng của tia plasma làm giảm số lượng các vi sinh vật ở vết mổ, đồng thời kích thích phát triển mạch máu nuôi dưỡng, phát triển các sợi collagen làm cho quá trình phát triển tổ chức hạt tốt hơn nhóm không chiếu plasma Bên cạnh đó, nhóm chiếu plasma cũng

có thời gian vết mổ được khâu lại ngắn hơn so với nhóm không chiếu, thời gian nằm viện ở nhóm chiếu plasma cũng ngắn hơn so với nhóm không chiếu (các sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05) Các kết quả nghiên cứu này cũng tương đồng với các nghiên cứu về công dụng của việc chiếu tia plasma của Nguyễn Thị Phương Thảo năm 2016 và Vũ Bá Quyết năm 2017 (16,23)

1.2.2 Các ứng dụng của tia plasma trong điều trị vết thương sau sinh đẻ

Các kết quả nghiên cứu lâm sàng đều chỉ ra rằng tia Plasma lạnh là một kỹ thuật mới trong điều trị vết thương Nó tác động trực tiếp lên vết thương hở biến đổi môi trường chất lỏng của các tế bào và mô dẫn đến những tác động sinh học và các chất chứa oxy (ROS) và tác động sinh học các hoạt chất chứa nitơ (RNS/RONS) tác dụng giúp các vết thương liền nhanh hơn Nhờ những ưu điểm đó, tia plasma lạnh lần đầu tiên được đưa vào hỗ trợ điều trị vết thương hở năm 2005 tại nước Đức (16)

Trang 18

Kết quả thử nghiệm cho thấy cơ chế hỗ trợ chữa lành vết thương của tia plasma được thực hiện qua hai giai đoạn Giai đoạn đầu, tia phá hỏng DNA của vi khuẩn để tiêu diệt chúng, mà không gây hại cho mô Sau đó, nó tiếp tục kích thích tái tạo mô làm liền vết thương Ổ loét, vết thương hở thường giảm khuẩn ngay từ lần đầu tiên, sạch khuẩn sau 2-3 lần, liền lại sau khoảng 5-10 lần Tác giả nghiên cứu trên cũng đã đưa máy phát plasma vào thử nghiệm tiền lâm sàng tại Viện Bỏng Quốc gia và thử nghiệm lâm sàng trên 33 bệnh nhân tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương cho thấy: sau khi xử lý bằng công nghệ mới, vết bỏng, vết loét nhanh liền hơn,

để lại sẹo phẳng và chỉ bị co kéo nhẹ Thiết bị trên với tên gọi PlasmaMed đã được

Bộ Y tế cấp phép lưu hành; Bộ Khoa học Công nghệ cấp bằng sáng chế độc quyền (24)

Đến năm 2017, Bộ Y tế ban hành Quyết định số 898/QĐ-BYT về việc ban hành hướng dẫn quy trình kỹ thuật hỗ trợ điều trợ vết thương bằng máy Plasma Med (8) Hiện nay, nhiều Bệnh viện ở Việt Nam như Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, Bệnh viện Bưu Điện, Bệnh viện đa hoa Hồng Ngọc, Bệnh viện Thu Cúc,… đã triển khai áp dụng dịch vụ chiếu tia Plasma lạnh giúp giảm đau, điều trị sau sinh thường

và mổ (24) Các nghiên cứu chỉ ra, các gốc hoạt tính như NO được hình thành khi tiếp xúc với không khí, có tác dụng cải thiện vi tuần hoàn, kích thích quá trình liền thương Do đó, Plasma được dùng để điều trị các vết thương chậm lành như vết

mổ đẻ, vết khâu tâng sinh môn, vết thương lâu lành, vết thương nhiễm trùng, tổn thương vùng áp xe vú,… (16)

Chưa có bất kỳ nghiên cứu nào trên thế giới cũng như tại Việt Nam chứng minh được hạn chế trong ứng dụng plasma lạnh đối với sản phụ sau sinh Phương pháp này giúp vết mổ/vết khâu tâng sinh môn giảm đau nhanh chóng, vận động của người mẹ sau sinh cũng nhẹ nhàng hơn mà không ảnh hưởng đến việc tiết sữa cho con bú như khi sử dụng kháng sinh để giảm đau khiến sữa mẹ về chậm hơn

1.3 Quy trình sử dụng tia plasma trong điều trị vết thương sau đẻ

1.3.1 Quy trình hỗ trợ điều trị vết thương bằng máy PlasmaMed

Quy trình kỹ thuật hỗ trợ điều trị vết thương bằng máy PlasmaMed được

Bộ Y tế ban hành ngày 15 tháng 3 năm 2017 theo Quyết định số 898/QĐ-BYT Theo đó, PlasmaMED là máy phát tia Plasma lạnh dùng trong y tế và thẩm mỹ

Trang 19

được nghiên cứu, phát triển và sản xuất tại Việt Nam, đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới ứng dụng thành công công nghệ plasma lạnh điều trị trong y tế và thẩm mỹ Máy PlasmaMED là công cụ điều trị mới trong liền thương và da liễu, làm sạch và khử trùng bề mặt vết thương, có tác dụng diệt khuẩn bao gồm cả vi khuẩn kháng thuốc Ngoài ra, nó cũng mang đến tác dụng giảm đau, giảm ngứa, giảm phù nề và khó chịu tại chỗ; kích thích và tăng tốc làm lành vết thương như tái sinh mô, tăng sinh tế bào, hình thành mạch

Hướng dẫn quy trình kỹ thuật hỗ trợ điều trị vết thương bằng máy PlasmaMed được áp dụng cho tất cả các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có đủ điều kiện thực hiện theo quy định Hướng dẫn thực hiện quy trình quy định rõ các mục Chỉ định – Chống chỉ định, Đối tượng thực hiện, Thuốc – Vật tư y tế cần thiết để thực hiện quy trình và các bước tiến hành quy trình chuẩn

Quy trình chiếu tia plasma gồm 6 bước, bao gồm:

- Bước 1: Tư thế người bệnh và thầy thuốc:

+ Người bệnh nằm hoặc ngồi để có tư thế thuận lợi cho việc thay băng và làm thủ thuật

+ Bác sỹ lựa chọn tư thế thuận lợi để làm thủ thuật, máy PlasmaMed cùng bên bác sỹ

- Bước 2: Bộc lộ vết thương: thực hiện như kỹ thuật thay băng thông thường

- Bước 3: Làm sạch vết thương

+ Dùng gạc mềm vô khuẩn tẩm dung dịch natriclorid 0,9% để rửa vết thương, + Lấy bỏ giả mạc, dị vật, cắt lọc hoại tử (nếu có),

+ Dùng gạc vô khuẩn thấm khô vết thương,

+ Nếu vết thương sâu, bị che phủ: phải bộc lộ vết thương vùng định chiếu tia plasma

- Bước 4: Chiếu tia plasma:

+ Bật công tắc nguồn,

+ Chọn chế độ điều trị tự động hoặc bán tự động của máy PlasmaMed

+ Ấn Pedal để khởi động hoặc phát tia plasma,

Trang 20

+ Đưa đầu chiếu tia Plasma vào vùng vết thương theo nguyên tắc vùng sâu chiếu trước, vùng nông chiếu sau, chiếu từ trung tâm vết thương ra ngoài + Thời gian chiếu và cách di chuyển đầu chiếu: ít nhất 10 giây trên điểm tổn thương: dịch chuyển chậm (5mm/s) đầu chiếu tia Plasma trên vết thương theo hình xoáy trôn ốc hoặc theo hình chữ chữ chi, hoặc đường thẳng tùy theo hình thể vết thương Tần suất chiếu: 1 lần/ngày

- Bước 5: Băng vết thương và đưa người bệnh về giường

+ Tùy theo tính chất từng vết thương mà sau khi chiếu tia plasma băng kín hay để hở Nếu băng kín thì không băng quá chặt ảnh hưởng đến sự lưu thông tuần hoàn

- Bước 6: Thu dọn, vệ sinh dụng cụ, rửa tay

Kết thúc quy trình, nhân viên y tế thực hiện việc theo dõi và xử trí tai biến nếu có bao gồm việc theo dõi tình trạng toàn thân (hô hấp, mạch, huyết áp, nhiệt độ) và các biểu hiện tại chỗ như chảy máu trong khi làm sạch vết thương hoặc rát, đau, ngứa mặc dù những biểu hiện này là hiếm gặp

1.3.2 Quy trình hỗ trợ điều trị vết thương sau đẻ bằng bằng máy PlasmaMed

Dựa trên quy trình kỹ thuật hỗ trợ điều trị vết thương bằng máy PlasmaMed

do Bộ Y tế ban hành, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội đã xây dựng quy trình hỗ trợ điều trị vết thương sau đẻ bằng bằng máy PlasmaMed Cho đến nay, quy trình đã được sửa đổi 2 lần nhằm tối ưu hóa tác dụng của việc thực hiện quy trình đối với sản phụ sau đẻ và sau mổ đẻ

Tất cả các nội dung trong Quy trình hỗ trợ điều trị vết thương sau đẻ bằng bằng máy PlasmaMed đều tuân thủ theo hướng dẫn của Bộ Y tế, tuy nhiên được chi tiết hóa trên đối tượng sử dụng đặc thù là sản phụ sau đẻ thường và đẻ mổ

Về đối tượng sử dụng dịch vụ: Các đối tượng sản phụ có những dấu hiệu

chống chỉ định như đang sử dụng máy tạo nhịp tim hoặc máy khử rung tim hoặc

có chống chỉ định thay băng thông thường (đang có dấu hiệu suy hô hấp hoặc trụy tim mạch, sốc…) không được áp dụng thực hiện quy trình

Về đối tượng thực hiện cung cấp dịch vụ: căn cứ chức năng, nhiệm vụ và

phạm vi hành nghề của NVYT, ngoài 2 đối tượng được Bộ Y tế hướng dẫn bao

Trang 21

gồm bác sĩ và điều dưỡng, quy trình của Bệnh viện Phụ sản Hà Nội bổ sung thêm đối tượng hộ sinh

Về các phương tiện cần sử dụng: được chi tiết hóa phù hợp với từng trường

hợp chỉ định chiếu trên vết mổ hay vết khâu tầng sinh môn Đặc biệt, NVYT cần phải sử dụng kính bảo hộ trong một số trường hợp thực hiện quy trình với vết khâu tầng sinh môn

Về các bước tiến hành trong quy trình: vẫn bao gồm 6 bước cơ bản như

hướng dẫn của Bộ Y tế Bên cạnh đó, một số thao tác được bổ sung nhằm tối ưu hóa dịch vụ đối với người bệnh bao gồm:

- Bổ sung thao tác tháo găng, sát khuẩn tay, thay găng sạch, trải săng có lỗ sau khi thực hiện Bước 3: Làm sạch vết thương

- Điều chỉnh tần suất chiếu tia plasma trên sản phụ từ 1 lần/ngày theo hướng dẫn của Bộ thành 1 – 2 lần/ngày tùy tình trạng thực tế

- Bổ sung hướng dẫn băng vết thương đối với vết khâu tầng sinh môn ở Bước

+ Đối với trường hợp vết khâu tầng sinh môn: bỏ qua các bước áp dụng đối với trường hợp vết mổ, thực hiện các thao tác làm sạch vết khâu tầng sinh môn, trải săng có lỗ trước khi chiếu, sát khuẩn tay nhanh, đi găng trước khi sát khuẩn đầu chiếu máy Plasma bằng bông cồn

Các thay đổi nêu trên được thông qua Hội đồng chuyên môn của Bệnh viện, xuất phát từ đề xuất thay đổi do yêu cầu quá trình thực tế từ các Phòng chức năng

và đã được Sở Y tế Hà Nội phê duyệt

1.4 Thực trạng thực hiện quy trình kỹ thuật hỗ trợ điều trị vết thương bằng máy PlasmaMed và các yếu tố ảnh hưởng

1.4.1 Thực trạng thực hiện quy trình

Trang 22

Sau khi Quyết định số 898/QĐ-BYT của Bộ Y tế được ban hành nhiều Bệnh viện đã triển khai áp dụng dịch vụ chiếu tia Plasma lạnh giúp giảm đau, điều trị sau sinh thường và mổ Trong đó, có cả những cơ sở khám chữa bệnh công lập và

tư nhân như Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, Bệnh viện Bưu Điện, Bệnh viện đa hoa Hồng Ngọc, Bệnh viện Thu Cúc,… Tuy nhiên, chưa có bất cứ nghiên cứu hay báo cáo nào liên quan tới việc thực hiện quy trình kỹ thuật hỗ trợ điều trị vết thương bằng máy PlasmaMed được công bố

Riêng tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội công tác chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật, sau đẻ trong đó chiếu tia plasma chăm sóc vết thương là một trong những lĩnh vực được chú trọng và quan tâm do những ưu điểm và hiệu quả của kỹ thuật mang lại như sự liền thương nhanh, tăng thu nhập cho nhân viên, sự hài lòng của người bệnh Vì thế các quy trình điều dưỡng nói chung và quy trình chiếu tia plasma luôn được ban lãnh đạo bệnh viện và Phòng Điều dưỡng tập trung chú trọng phát triển về chất lượng nhân lực cũng như trang thiết bị y tế Là bệnh viện với đặc thù là chuyên nghành sản phụ khoa nên hầu hết bệnh nhân là mổ đẻ, mổ phụ khoa (mổ mở, mổ nội soi), đẻ thường (có vết cắt tầng sinh môn) đều có những vết thương lớn nhỏ trên cơ thể cần được chăm sóc theo quy trình thống nhất Bên cạnh việc điều trị theo dõi tình trạng người bệnh thì vấn đề chăm sóc vết thương cần được chú ý

Theo báo cáo hàng năm của Bệnh viện số lượng trung bình là hơn 40.000

ca bao gồm cả đẻ thường và mổ đẻ vì vậy công tác chăm sóc vết thương cần được quan tâm đúng mức Bên cạnh đó việc hướng tới thay đổi phong cách thái độ phục

vụ người bệnh thì công tác chăm sóc người bệnh nói chung mà cụ thể là chăm sóc vết thương cho người bệnh sau mổ, sau đẻ không chỉ chú ý đến việc điều dưỡng

hộ sinh thực hiện đúng quy trình chiếu tia plasma mà còn quan tâm nhiều hơn đến

kỹ năng mềm, đó là giao tiếp của điều dưỡng, hộ sinh khi thực hiện các kỹ thuật chăm sóc Sự phối hợp tốt với người bệnh và điều dưỡng, hộ sinh không chỉ giúp cho việc điều trị đạt kết quả tốt mà còn làm giảm áp lực trong công việc cho NVYT

và đem lại sự hài lòng tin tưởng cho người bệnh khi nằm viện

Để đảm bảo những yêu cầu trên, công tác điều dưỡng luôn nhận được sự quan tâm của lãnh đạo Bệnh viện Đặc biệt là vai trò quản lý của Phòng Điều dưỡng

Trang 23

trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh Hằng năm, Phòng Điều dưỡng đều có kế hoạch đào tạo cho nhân mới được tuyển dụng Công tác kiểm tra các quy trình chuyên môn được thực hiện định kỳ và đột xuất Các cán bộ của được phân công phụ trách theo khối về công tác điều dưỡng nhằm kiểm tra, phát hiện

và điều chỉnh các vấn đề về tuân thủ quy trình kỹ thuật điều dưỡng trong đó có quy trình hỗ trợ điều trị vết thương bằng máy Plasma Med Tuy nhiên vẫn có nhiều khó khăn trong quá trình đào tạo, kiểm tra giám sát như năng lực của người đi giám sát còn hạn chế, còn có hình thức chiếu cố, nể nang; điều dưỡng, hộ sinh làm đối phó khi có người giám sát nhưng khi không có thì làm tắt và không tuân thủ quy trình;

áp lực công việc hàng ngày luôn trong tình trạng quá tải khiến việc giao tiếp giữa NVYT và người bệnh còn hạn chế; v.v…

1.4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng tới việc thực hiện quy trình

Nghiên cứu chưa tìm kiếm được các tài liệu hoặc các nghiên cứu đã được công bố đề cập tới các yếu tố ảnh hưởng tới việc thực hiện quy trình kỹ thuật hỗ trợ điều trị vết thương bằng máy PlasmaMed Tuy nhiên, một số nghiên cứu liên quan tới thực hành của điều dưỡng, hộ sinh trong bệnh viện đã cho thấy, có những yếu tố ảnh hưởng tới việc thực hiện các quy trình chuyên môn kỹ thuật của điều dưỡng, hộ sinh Trong đó, các yếu tố có ảnh hưởng nhiều nhất bao gồm kiến thức, trình độ, kinh nghiệm, thái độ và khối lượng/áp lực công việc

1.4.2.1 Các yếu tố cá nhân

a) Kiến thức, trình độ chuyên môn

Năm 2011, Sessa và cộng sự đã tiến hành một cuộc điều tra về kiến thức, thái độ và thực hành về chống nhiễm khuẩn trong các bệnh truyền nhiễm liên quan đến sức khỏe của các điều dưỡng bệnh viện ở Ý Kết quả cho thấy những điều dưỡng có có trình độ giáo dục cao hơn và nhận thức cao hơn về nguy cơ lây bệnh truyền nhiễm trong khi làm việc có nhiều khả năng thực hành các biện pháp chống nhiễm khuẩn khi chăm sóc vết thương phẫu thuật, rửa tay trước và sau khi sử dụng thuốc cao hơn (25)

Trong một nghiên cứu năm 2001, điều dưỡng có trình độ đại học có kiến thức và thực hành chăm sóc tốt hơn so với nhóm có trình độ cao đẳng Nghiên cứu của Lê Thanh Hải và cộng sự (2011) cũng cho thấy việc thực hiện công tác chuyên

Trang 24

môn, nghiệp vụ của điều dưỡng không đạt ở nhóm có trình độ trung cấp và cao đẳng cao gấp 3, 89 lần nhóm đại học và sau đại học (26) Những kết quả trên cho thấy việc đào tạo nâng cao trình độ cho NVYT có ý nghĩa lớn trong việc đảm bảo chất lượng thực hành chuyên môn Nghiên cứu của Phan Thị Dung tại bệnh viện Việt Đức qua can thiệp 9 tháng sau đào tạo cho thấy trình độ và kiến thức về chăm sóc vết thương của điều dưỡng được cải thiện rõ rệt góp phần nâng cao chất lượng thực hành (27)

Một nghiên cứu khác tại Việt Nam cũng cho thấy, kiến thức chưa đầy đủ của NVYT (bao gồm điều dưỡng, hộ sinh) về vệ sinh tay dẫn đến thực tế là khi thực hiện thăm khám và chăm sóc người bệnh, đôi lúc NVYT chỉ dùng một đôi găng từ đầu đến cuối buổi, điều đó không đảm bảo được yêu cầu chăm sóc sạch,

và chỉ có tác dụng phòng ngừa cho NVYT mà không đảm bảo an toàn cho người bệnh Kết quả nghiên cứu chỉ ra, có 30,81% đối tương nghiên cứu (ĐTNC) cho rằng mang găng có thể thay thế được vệ sinh tay Điều đó có thể dẫn đến việc lạm dụng và ngộ nhận khi mang găng Bên cạnh đó, 57,70% NVYT không nêu chính xác được 5 thời điểm vệ sinh tay (hoặc trả lời thiếu, hoặc trả lời sai, hoặc không trả lời) Điều này cho thấy NVYT chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của vệ sinh tay, chưa hiểu rõ các thời điểm cần vệ sinh tay (28) Có 79,11% NVYT thực hiện vệ sinh tay bằng nước và xà phòng, và cho rằng hiệu quả tốt hơn sử dụng dung dịch chứa cồn Điều này cho thấy các NVYT vẫn chưa đánh giá đầy đủ về vai trò và hiệu quả của vệ sinh tay bằng dung dịch chứa cồn, mặc dù đây cũng là một phương pháp vệ sinh tay có hiệu quả và nhanh Theo nhận thức và thói quen, NVYT thường coi việc vệ sinh tay bằng nước và xà phòng là hiệu quả nhất Tuy nhiên, tuân thủ vệ sinh tay bằng nước và xà phòng rất khó đạt tỷ lệ cao theo quy định vì thiếu trang bị, mất thời gian và không thực tế Trên thực tế, khi thực hành chăm sóc người bệnh, không phải chỗ nào cũng có lavabo nước và xà phòng để thực hiện việc vệ sinh tay Ngay cả khi có đầy đủ trang thiết bị thì người NVYT cũng không thể cứ khám hoặc tiêm truyền xong một người bệnh lại đến lavabo vệ sinh tay một lần (28)

Một nghiên cứu khác về kiến thức, thực hành Tiêm an toàn của điều dưỡng viên và các yếu tố liên quan tại 3 bệnh viện trực thuộc Sở Y tế Hà Nội năm 2014”

Trang 25

cho thấy thời gian thực hành tiêm, trình độ học vấn và kiến thức tiêm an toàn có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với thực hành tiêm an toàn của điều dưỡng (29) Kiến thức và nhất là thực hành tiêm an toàn của điều dưỡng tại các bệnh viện còn nhiều hạn chế, tỷ lệ mũi tiêm đạt đầy đủ các tiêu chí mũi tiêm an toàn chỉ dao động

từ 2,88% đến 35,3% (29)

b) Kinh nghiệm

Kinh nghiệm có liên quan đến việc thời gian NVYT thực hành tại cơ sở khám chữa bệnh, thời gian công tác, làm việc càng lâu thì kiến thức và việc thực hành các kỹ năng, thủ thuật chuyên môn càng nhiều và từ đó thành thạo hơn (30) Nghiên cứu của Hassan và cộng sự năm 2009 khi tiến hành nghiên cứu nhận thức của 92 điều dưỡng về những thiếu sót trong thực hiện thuốc ở Malaysia cho thấy

có 93,75 % điều dưỡng cho rằng thiếu sót thường xảy ra trong 5 năm làm việc đầu tiên của họ Kiến thức được cải thiện dần ở những nhóm có thâm niên làm việc lâu hơn (31) Tuy nhiên cũng có nghiên cứu lại chỉ ra điều ngược lại khi Nghiên cứu của Wu và cộng sự năm 2007 cho thấy, điều dưỡng hành nghề hơn 10 năm lại thực hành ngăn ngừa kiểm soát NKVM kém hơn những điều dưỡng mới vào nghề Nguyên nhân được cho rằng, có thể do nhân viên cũ hay chủ quan và những ảnh hưởng của gia đình đã làm đối tượng sao nhãng công việc (32)

Các nghiên cứu trong nước cũng cho thấy, mặc dù công việc hàng ngày của điều dưỡng chủ yếu là thực hành, tuy nhiên vẫn có một tỷ lệ các điều dưỡng viên thực hiện các thủ thuật, kỹ thuật vẫn chưa đủ các bước trong nhiều quy trình chuyên môn kỹ thuật (26,28) Việc thực hành của điều dưỡng tại các bệnh viện cũng rất khác nhau và một trong số những sự khác biệt đến từ kiến thức và kinh nghiệm Việc thiếu kiến thức về phân loại chất thải sau tiêm: sau khi tiêm xong, dùng tay

để tháo bơm kim tiêm bằng tay; bẻ cong kim tiêm; đậy nắp kim tiêm; không rửa tay sau khi tiêm; không lường trước được những phản ứng bất ngờ của người bệnh đặc biệt là đối với những bệnh nhi, người bệnh có những rối loạn về tâm thần hay những người bệnh bất hợp tác dẫn đến thực hành tiêm của điều dưỡng tại các bệnh viện rất khác nhau và một số thực hành chưa phù hợp (26) Cũng theo nghiên cứu của Lê Thanh Hải và cộng sự (2011), nhóm điều dưỡng kinh nghiệm dưới 5 năm

có nguy cơ thực hành chưa phù hợp cao gấp 2,17 lần nhóm kinh nghiệm trên 5

Trang 26

năm (26) Trong nghiên cứu tại bệnh viện Việt Đức (2012) về tuổi và ảnh hưởng chăm sóc thay băng của điều dưỡng, tuổi điều dưỡng càng cao thì tỷ lệ thay băng đạt yêu cầu càng cao (33)

c) Thái độ

Kết quả nghiên cứu của Lê Thanh Hải và cộng sự (2011) cho thấy, khi so sánh mối liên quan giữa việc thực hành chuyên môn với một số yếu tố cho thấy yếu tố sự phù hợp nghề nghiệp với kỹ năng của bản thân, lòng yêu nghề có ảnh hưởng đến việc thực hành chuyên môn của điều dưỡng viên Ở những điều dưỡng viên được khảo sát mà có cảm nhận nghề điều dưỡng không phù hợp với bản thân thì điểm thực hành thấp hơn nhiều so với những người càm nhận rằng bản thân phù hợp với công việc điều dưỡng (26)

Việc hiểu biết và nắm được các nội dung về y đức, đạo đức trong hành nghề

y, chuẩn đạo đức nghề nghiệp của điều dưỡng viên cũng tác động không nhỏ tới việc thực hiện các công việc chăm sóc bệnh nhân của điều dưỡng tại bệnh viện Những điều dưỡng không hiểu đầy đủ về y đức có tỷ lệ thực hành không đạt cao gấp 2,37 lần những người hiểu đầy đủ về y đức (26)

1.4.2.4 Các yếu tố công việc

Môi trường chăm sóc y tế có nhiều áp lực do quá tải, ca kíp trái với sinh lý bình thường (trong khi mọi người ngủ thì NVYT phải trực) Nơi làm việc chật chội nhiều tiếng ồn, NVYT nhiều khoa/bệnh viện phải làm việc với cường độ rất cao

và áp lực tâm lý luôn căng thẳng Những yếu tố này tác động không nhỏ không chỉ đến bản thân sức khỏe của người điều dưỡng mà còn làm ảnh hưởng đến chất lượng công tác chăm sóc bệnh nhân của điều dưỡng (28)

Nghiên cứu của Blake-Mowalt C và cộng sự (2013) về ghi chép hồ sơ cho thấy yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng ghi chép hồ sơ của điều dưỡng là do khối lượng công việc và tỷ lệ điều dưỡng/người bệnh (36,37) Nghiên cứu của Phan Thị Dung và cộng sự cũng chỉ ra áp lực công việc, bệnh nhân quá tải… làm ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc của điều dưỡng Do vậy người điều dưỡng có kinh nghiệm cần biết sắp xếp công việc hợp lý để đảm bảo chất lượng chăm sóc tốt nhất

có thể trong điều kiện bệnh viện quá tải người bệnh (27)

1.5 Một số thông tin về địa bàn nghiên cứu

Trang 27

Theo báo cáo thống kê của Phòng Kế hoạch tổng hợp, năm 2018 Bệnh viện Phụ sản Hà Nội đã khám và điều trị cho 619.001 lượt người bệnh, tổng số điều trị nội trú là 75.040 người, tổng số sinh là 41.604 sản phụ, trong đó mổ lấy thai là 23.851 sản phụ, mổ phụ khoa 4.957 ca (1.747 ca mổ mở, 3.210 ca mổ nội soi) Tổng số điều dưỡng, hộ sinh tại bệnh viện là 850 người (1)

Với vai trò là Bệnh viện đầu ngành về lĩnh vực sản – phụ khoa trên địa bàn thành phố, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội luôn là cơ sở triển khai áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật hàng đầu về chuyên môn trong cả nước Ngay sau khi Bộ Y tế ban hành Quyết định số 898/QĐ-BYT ngày 15 tháng 3 năm 2017 về hướng dẫn quy trình kỹ thuật hỗ trợ điều trị vết thương bằng máy PlasmaMed, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội đã xây dựng quy trình riêng dành cho sản phụ sau đẻ và sau mổ đẻ để đưa quy trình này vào thực hiện Hiện nay, việc thực hiện quy trình được thực hiện tại 04 Khoa lâm sàng: C3, A3, D4, D5 của Bệnh viện Trong đó:

- Khoa C3 là khoa sản nhiễm trùng điều trị, chăm sóc sản phụ nhiễm trùng,các bệnh lây nhiễm và sơ sinh sau đẻ, với 32 giường bệnh, tổng số nhân viên

là 36 người trong đó có 26 điều dưỡng, hộ sinh

- Khoa A3 là khoa Sản thường, chăm sóc sản phụ và sơ sinh sau đẻ, với 63 giường bệnh, tổng số nhân viên là 39 người trong đó có 27 điều dưỡng, hộ sinh

- Khoa D4 là khoa Dịch vụ chăm sóc, điều trị theo yêu cầu cho người bệnh sau đẻ thường, sau mổ đẻ, chăm sóc sơ sinh với 59 giường bệnh, tổng số nhân viên

là 40 người với 27 điều dưỡng, hộ sinh

- Khoa D5 là khoa Dịch vụ chăm sóc và điều trị theo yêu cầu cho người bệnh sau đẻ thường, sau mổ đẻ, chăm sóc sơ sinh, với 66 giường bệnh, tổng số nhân viên là 39 người trong đó có 28 điều dưỡng, hộ sinh

Từ khi triển khai thực hiện quy trình đến nay, tại Bệnh viện chưa có bất kỳ khảo sát, đánh giá nào ghi nhận cụ thể việc thực hiện quy trình chiếu tia plasma đối với NVYT (1) Trong khi đó, với những ưu điểm của phương pháp này đem lại, nhu cầu sử dụng dịch vụ của người bệnh ngày càng lớn Quy trình này đã được đưa vào gói dịch vụ của Bệnh viện, được tư vấn triển khai gần như 100% trên những sản phụ đẻ thường và đẻ mổ không có các vấn đề chống chỉ định Theo báo cáo của Phòng Điều dưỡng Bệnh viện năm 2018, 95,7% sản phụ sau đẻ tại Bệnh

Trang 28

viện được chiếu tia plasma (khoảng 23.000 sản phụ đẻ thường và 4.500 sản phụ đẻ mổ)

1.6 Khung lý thuyết

Khung lý thuyết được xây dựng dựa trên tổng quan tài liệu và tham khảo Quyết định Số 898/QĐ-BYT của Bộ Y tế ngày 15/3/2017 về việc ban hành hướng dẫn quy trình kỹ thuật hỗ trợ điều trị vết thương bằng máy Plasmamed, Quyết định

số 959/QĐ-BVPSHN Ngày 05 tháng 7 năm 2018 của Bệnh viện Phụ sản Hà Nội

về “Quy trình kỹ thuật chuyên môn chăm sóc phục vụ người bệnh” Các cấu phần trong khung lý thuyết được sắp xếp theo lý thuyết về mô hình hệ thống y tế tại Việt Nam, bao gồm các nhóm chỉ số đầu vào (nhân lực, tài chính, thông tin y tế, dược-

trang thiết bị-công nghệ, quản lý và quản trị), chỉ số quá trình (cung ứng dịch vụ)

và chỉ số đầu ra (ảnh hưởng đối với người sử dụng dịch vụ)

Trang 29

Nhân lực

(điều dưỡng, hộ sinh)

- Kiến thức về việc thực hiện

- Đào tạo, tập huấn

Dược, trang thiết bị, công

nghệ

Điều kiện cơ sở vật chất,

trang thiết bị

Quản lý và quản trị

- Cơ chế quản lý, giám sát

- Cơ chế khen thưởng, xử

phạt

Người sử dụng dịch vụ

- Nhu cầu sử dụng dịch vụ

- Sự hợp tác trong quá trình thực hiện quy trình

Thực trạng tuân thủ quy trình chiếu plasma của điều dưỡng, hộ sinh

Trang 30

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Với cấu phần nghiên cứu định lượng

- Số lượt thực hiện quy trình chiếu tia plasma cho sản phụ sau đẻ Tiêu chí lựa

chọn:

+ Lượt thực hiện quan sát được sự chấp nhận của sản phụ

+ Lượt thực hiện chiếu tia plasma do điều dưỡng hoặc hộ sinh 04 khoa C3, D5, D4, A3 tiến hành

- NVYT thực thiện quy trình chuyên môn: điều dưỡng, hộ sinh làm việc tại 04

khoa lâm sàng: C3, D5, D4, A3 của Bệnh viện Phụ sản Hà Nội tham gia thực hiện quy trình chiếu tia plasma

+ Tiêu chí lựa chọn:

✓ Đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu

✓ Đối tượng có mặt tại Bệnh viện vào thời điểm tiến hành nghiên cứu + Tiêu chuẩn loại trừ: Đối tượng nghỉ sinh con, đi học trên 30 ngày,… không

có mặt tại Bệnh viện vào thời điểm tiến hành nghiên cứu

2.1.2 Với cấu phần nghiên cứu định tính

- NVYT thực thiện quy trình chuyên môn: điều dưỡng, hộ sinh làm việc tại 04

khoa lâm sàng: C3, D5, D4, A3 của Bệnh viện Phụ sản Hà Nội tham gia thực hiện quy trình chiếu tia plasma

- Cán bộ quản lý: Phó Giám đốc Bệnh viện phụ trách điều dưỡng, hộ sinh; Lãnh

đạo Phòng Điều dưỡng; Lãnh đạo cácKhoa C3, D5, D4, A3

- Tiêu chí lựa chọn cho các đối tượng tham gia nghiên cứu định tính: Đối

tượng đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: Nghiên cứu tiến hành từ tháng 10/2019 đến hết tháng 10/2020 Thời

gian thu thập thông tin diễn ra từ tháng 03/2020 đến hết tháng 05/2020

- Địa điểm: Bệnh viện Phụ sản Hà Nội

2.3 Thiết kế nghiên cứu

- Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp song song phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính

Trang 31

- Nghiên cứu định lượng được sử dụng nhằm đáp ứng mục tiêu 1 và mục tiêu 2 của nghiên cứu

- Nghiên cứu định tính được tiến hành song song với nghiên cứu định lượng nhằm đáp ứng mục tiêu 3 là phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng tuân thủ quy trình chiếu tia plasma cho sản phụ sau đẻ của điều dưỡng, hộ sinh Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội năm 2020

2.4 Cỡ mẫu

2.4.1 Cỡ mẫu cấu phần định lượng

2.4.1.1 Khảo sát kiến thức của điều dưỡng, hộ sinh về quy trình chiếu tia plasma: toàn bộ điều dưỡng, hộ sinh tham gia thực hiện quy trình chiếu tia plasma

tại 04 khoa lâm sàng: C3, D3, D4, A3 thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn ở trên tham

gia vào nghiên cứu Tổng cộng có 80 nhân viên được khảo sát

2.4.1.2 Quan sát việc thực hiện quy trình chiếu tia plasma cho sản phụ sau

đẻ của điều dưỡng, hộ sinh

Số lượt quan sát được tính bằng công thức ước tính cỡ mẫu 1 tỷ lệ trong điều tra mô tả cắt ngang:

2

2

) 2 / 1 (

) 1

(

d

p p

cỡ mẫu tối thiểu cần có

+ d = 0,08

Thay vào công thức trên ta tính được cỡ mẫu n = 150 Nghiên cứu dự kiến

có khoảng 5% số quan sát không đủ thông tin, do đó cỡ mẫu được cộng thêm 5%

và làm tròn số là 158

Trên thực tế, nghiên cứu tiến hành quan sát đủ 158 lượt so với cỡ mẫu dự kiến

Trang 32

2.4.2.1 Phỏng vấn sâu: có 2 cuộc PVS, bao gồm:

- 01 cuộc PVS Phó Giám đốc Bệnh viện phụ trách điều dưỡng, hộ sinh

- 01 cuộc PVS Trưởng/Phó trưởng Phòng Điều dưỡng

2.4.2.2 Thảo luận nhóm: có 2 cuộc TLN, bao gồm:

- 01 cuộc TLN với Trưởng, Phó các Khoa: C3, D5, A3, D4

- 01 cuộc TLN với các điều dưỡng, hộ sinh thực hiện quy trình

2.5 Phương pháp chọn mẫu

2.5.1 Phương pháp chọn mẫu trong nghiên cứu định lượng

2.5.1.1 Khảo sát kiến thức của điều dưỡng, hộ sinh về quy trình chiếu tia plasma: chọn mẫu toàn bộ

2.5.1.2 Quan sát việc thực hiện quy trình chiếu tia plasma cho sản phụ sau

đẻ, sau mổ của điều dưỡng, hộ sinh: chọn mẫu nhiều giai đoạn

Giai đoạn 1: chọn mẫu phân tầng Mẫu NC được chia làm 2 tầng: đẻ mổ và đẻ thường có vết khâu tầng sinh môn Cỡ mẫu chung phân bổ vào từng tầng theo tỷ lệ

Theo báo cáo tổng kết công tác năm 2018 của Phòng Kế hoạch Tổng hợp của Bệnh viện, tỷ lệ đẻ thường chiếm 43,33%, tỷ lệ mổ đẻ là 56,67% Do đó, số lượt quan sát trên sản phụ đẻ thường sẽ là khoảng 69 trường hợp Số lượt quan sát trên sản phụ đẻ mổ là khoảng 89 trường hợp

Giai đoạn 2: Chọn trường hợp – lượt quan sát (đẻ mổ và đẻ thường có vết khâu tầng sinh môn):

- Bước 1: Phân bổ số lượt quan sát về 4 Khoa nghiên cứu theo tỷ lệ Căn

cứ số liệu thống kê năm 2018 của Phòng Kế hoạch Tổng hợp, tỷ lệ bệnh nhân tại

4 khoa trên tổng số bệnh nhân của 4 Khoa trong năm lần lượt là Khoa C3 chiếm 14,5%; khoa A3 chiếm 28,6%; khoa D4 chiếm 26,8%, khoa D5 chiếm 30,1% Nhân tỷ lệ này với là số lượt đẻ thường và số lượt đẻ mổ cần quan sát, số lượt quan sát ở mỗi khoa cụ thể như sau:

Địa điểm Số lượt đẻ thường (n=69) Số lượt mổ đẻ (n=89)

Trang 33

Khoa D4 18 24

- Bước 2: Tại mỗi Khoa, chọn mẫu thuận tiện các lượt thực hiện chiếu tia Plasma thỏa mãn tiêu chí lựa chọn của nghiên cứu cho đến khi đủ số lượng theo

cỡ mẫu đẻ thường và đẻ mổ như dự kiến

Trên thực tế, nghiên cứu quan sát đủ số lượt đẻ thường và đẻ mổ ở từng Khoa theo đúng cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu nêu trên

2.5.2 Phương pháp chọn mẫu trong nghiên cứu định tính

2.5.2.1 Phỏng vấn sâu: chọn mẫu chủ đích

Nghiên cứu tiến hành 2 cuộc PVS với các đối tượng thuộc nhóm cán bộ quản lý bao gồm Phó Giám đốc Bệnh viện phụ trách điều dưỡng, hộ sinh và Trưởng Phòng Điều dưỡng Bệnh viện

2.5.2.2 Thảo luận nhóm

- TLN với lãnh đạo các Khoa: C3, D5, A3, D4: chọn mẫu chủ đích

- TLN với các điều dưỡng, hộ sinh: chọn mẫu ngẫu nhiên Mỗi khoa chọn

1 điều dưỡng/hộ sinh tham gia thảo luận Tổng cộng có 4 điều dưỡng và hộ sinh tham gia TLN

2.6 Biến số nghiên cứu

Biến số, nội dung nghiên cứu được xây dựng để trả lời các mục tiêu nghiên

- Các biến số thể hiện thực hiện quy trình chiếu tia plasma của điều dưỡng,

hộ sinh: các biến số về công tác chuẩn bị điều dưỡng (2 biến số), các biến số về công tác chuẩn bị dụng cụ (4 biến số), các biến số về công tác chuẩn bị người bệnh (1 biến số), các biến số về kỹ thuật thực hiện (25 biến số)

Trang 34

- Các biến số thể hiện kiến thức về quy trình chiếu tia plasma của điều dưỡng, hộ sinh: Nhận thức đúng về cơ chế tia plasma lạnh; Kiến thức về tác dụng tia plasma lạnh; Kiến thức về chỉ định chiếu tia plasma; Kiến thức về chống chỉ định chiếu tia plasma; Kiến thức về theo dõi và xử trí tai biến; Đánh giá chung về

kiến thức

Nội dung chính của nghiên cứu định tính: xác định và phân tích ảnh

hưởng của các nhóm yếu tố tới thực trạng tuân thủ quy trình chiếu tia plasma cho sản phụ sau đẻ của điều dưỡng, hộ sinh, bao gồm:

- Yếu tố cá nhân điều dưỡng, hộ sinh:

+ Chức danh nghề nghiệp, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác + Kiến thức, thái độ về tuân thủ quy trình

- Yếu tố tài chính:

+ Giá dịch vụ

+ Thù lao cho điều dưỡng, hộ sinh thực hiện quy trình

- Yếu tố hệ thống thông tin:

+ Quảng bá, quảng cáo thông tin

+ Đào tạo, tập huấn

- Yếu tố dược, trang thiết bị, công nghệ: Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị

- Yếu tố quản lý và quản trị:

+ Hệ thống văn bản và hành lang pháp lý

+ Cơ chế quản lý, giám sát

+ Cơ chế khen thưởng, xử phạt

- Yếu tố thuộc về người sử dụng dịch vụ:

+ Nhu cầu sử dụng dịch vụ

+ Khả năng chi trả

+ Tình trạng sức khỏe (trước và sau khi sử dụng dịch vụ)

2.7 Phương pháp thu thập thông tin

2.7.1 Phương pháp thu thập thông tin định lượng

2.7.1.1 Khảo sát kiến thức của điều dưỡng, hộ sinh về quy trình chiếu tia plasma

Trang 35

- Công cụ thu thập thông tin: Phiếu phát vấn khảo sát kiến thức của điều dưỡng, hộ sinh về việc thực hiện quy trình chiếu tia plasma cho sản phụ đẻ thường

và đẻ mổ Phiếu phát vấn của nghiên cứu được xây dựng dựa trên Quyết định số 898/QĐ-BYT của Bộ y tế ngày 15/3/2017 về việc ban hành hướng dẫn quy trình

kỹ thuật hỗ trợ điều trị vết thương bằng máy Plasmamed

- Cách thức thu thập thông tin:

+ Sau khi thông báo triển khai nghiên cứu tới các ĐTNC, nghiên cứu viên liên hệ trực tiếp với điều dưỡng, hộ sinh qua danh sách điều dưỡng, hộ sinh của các Khoa: C3, D5, A3, D4 để lên lịch hẹn khảo sát

+ Cuộc khảo sát diễn ra vào cuối giờ làm việc theo ca của hộ sinh tại Phòng Điều dưỡng của Bệnh viện

+ Các điều dưỡng, hộ sinh được phát phiếu khảo sát và trực tiếp thực hiện phiếu khảo sát

+ Trước khi điều dưỡng, hộ sinh thực hiện phiếu hỏi, nghiên cứu viên hướng dẫn qua cách thức thực hiện phiếu Trong quá trình điều dưỡng, hộ sinh tự trả lời phiếu hỏi, nếu có bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến nội dung câu hỏi và đáp án, nghiên cứu viên đề nghị điều dưỡng, hộ sinh trao đổi công khai và giải đáp chung cho tất cả các đối tượng có mặt

+ Sau khi kết thúc toàn bộ phiếu hỏi lần 1, nghiên cứu viên rà soát lại phiếu hỏi, đề nghị ĐTNC rà soát lại những câu hỏi chưa có đáp án

để trả lời bổ sung nếu do ĐTNC quên hoặc bỏ sót

+ Sau khi ĐTNC đã chắc chắn không bỏ sót câu hỏi nào, nghiên cứu viên kết thúc cuộc khảo sát và ghi rõ các thông tin liên quan tới kết quả cuộc khảo sát, thời điểm kết thúc khảo sát vào thông tin phiếu hỏi

+ Kết quả cuối cùng của phiếu khảo sát được ghi nhận sau khi nghiên cứu viên đã thực hiện những thao tác trên Không bổ sung thông tin sau khi đã ghi thời gian kết thúc phỏng vấn

Trang 36

2.7.1.2 Quan sát việc thực hiện quy trình chiếu tia plasma cho sản phụ sau

đẻ, sau mổ của điều dưỡng, hộ sinh

- Công cụ thu thập thông tin: bảng kiểm quan sát việc thực hiện quy trình chiếu tia plasma cho sản phụ sau đẻ, sau mổ của điều dưỡng, hộ sinh Bảng kiểm được xây dựng dựa theo bộ quy trình của điều dưỡng, hộ sinh do Bệnh viện Phụ sản Hà Nội ban hành và áp dụng tại bệnh viện (Quyết định số: 959/ QĐ-BVPSHN, ngày 5 tháng 7 năm 2018 của Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Hà Nội về việc ban hành bộ tài liệu “Quy trình kỹ thuật chuyên môn chăm sóc phục vụ người bệnh”)

- Cách thức thu thập thông tin:

+ Thời điểm quan sát từ 01/3/2020 đến 30/5/2020 Khoảng thời gian này được công khai tới toàn bộ đối tượng trước khi tiến hành nghiên cứu

+ Cách thức quan sát: quan sát tham dự Lịch chiếu tia plasma cho sản phụ sau đẻ, sau mổ của điều dưỡng, hộ sinh được công khai và cập nhật trong lịch làm việc hàng ngày của các Khoa: C3, D5, A3, D4 Căn cứ lịch chiếu plasma nêu trên, các quan sát viên lựa chọn ngẫu nhiên các lượt chiếu plasma để quan sát từ khi điều dưỡng, hộ sinh bắt đầu quy trình đến khi kết thúc Quá trình quan sát được thực hiện

từ khi điều dưỡng, hộ sinh bắt đầu thực hiện lượt chiếu cho đến khi kết thúc lượt chiếu đó, không can thiệp, nhắc nhở hay dừng lượt chiếu bất kể lượt chiếu có được thực hiện đúng và đạt theo tiêu chuẩn hay không

2.7.2 Phương pháp thu thập thông tin định tính

Trang 37

2.7.2.1 Phỏng vấn sâu

- Công cụ thu thập thông tin: hướng dẫn PVS lãnh đạo Bệnh viện và lãnh đạo Phòng Điều dưỡng Nội dung PVS được xây dựng dựa trên Khung lý thuyết của nghiên cứu

- Cách thức thu thập thông tin:

+ Nghiên cứu viên liên hệ với các đối tượng giới thiệu về nghiên cứu

và mục đích của cuộc phỏng vấn, khi ĐTNC đồng ý tham gia thì hai bên sắp xếp thời gian và địa điểm phỏng vấn phù hợp, đảm bảo cuộc phỏng vấn diễn ra chỉ có sự tham dự của ĐTNC và 2 nghiên cứu viên thực hiện cuộc phỏng vấn

+ Các đối tượng PVS trong nghiên cứu bao gồm các lãnh đạo các Bệnh viện và lãnh đạo Phòng Điều dưỡng nên được tiến hành tại phòng làm việc riêng của từng đối tượng

+ Cuộc PVS do 2 nghiên cứu viên tiến hành, một người điều hành (là học viên) theo bản hướng dẫn PVS đã được chuẩn bị sẵn, một người làm thư ký (là cộng tác viên kiêm cán bộ Phòng Điều dưỡng của Bệnh viện) Các cuộc phỏng vấn diễn ra trong khoảng 45 phút

2.7.2.2 Thảo luận nhóm

- Công cụ thu thập thông tin: hướng dẫn TLN lãnh đạo các Khoa và hướng dẫn TLN điều dưỡng, hộ sinh Nội dung TLN được xây dựng dựa trên Khung lý thuyết của nghiên cứu

- Cách thức thu thập thông tin:

+ Nghiên cứu viên liên hệ với các đối tượng giới thiệu về nghiên cứu

và mục đích của cuộc thảo luận, bố trí thời gian và địa điểm phù hợp đảm bảo cuộc TLN diễn ra chỉ có sự tham dự của ĐTNC và 2 nghiên cứu viên thực hiện cuộc thảo luận

+ Cuộc TLN với lãnh đạo các Khoa: C3, D5, A3, D4 được tiến hành tại Phòng hành chính của Khoa A3 (có vị trí trung tâm, thuận tiện cho các đối tượng di chuyển)

+ Cuộc TLN hộ sinh được tiến hành tại Phòng Điều dưỡng

Trang 38

+ Cuộc TLN do 2 nghiên cứu viên tiến hành, một người điều hành (là học viên) theo bản hướng dẫn TLN đã được chuẩn bị sẵn, một người làm thư ký (là cộng tác viên kiêm cán bộ Phòng Điều dưỡng của Bệnh viện) Các cuộc thảo luận diễn ra trong khoảng 60 phút

2.8 Tiêu chuẩn đánh giá

2.8.1 Kiến thức về thực hiện quy trình chiếu tia plasma cho sản phụ sau đẻ của điều dưỡng, hộ sinh

Phần lượng giá kiến thức về thực hiện quy trình chiếu tia plasma cho sản phụ sau đẻ, sau mổ của điều dưỡng, hộ sinh gồm 8 câu hỏi từ 2.1 đến 2.8 với 28 đáp án (Phụ lục 4) Trong đó có 19 đáp án đúng, 9 đáp án sai Mỗi đáp án đúng tương ứng 1 điểm Tổng điểm kiến thức của điều dưỡng, hộ sinh tối đa là 19 điểm

2.8.2 Việc thực hiện quy trình chiếu tia plasma cho sản phụ sau đẻ, sau mổ của điều dưỡng, hộ sinh

Bảng kiểm quan sát việc thực hiện quy trình chiếu tia plasma cho sản phụ sau đẻ, sau mổ của điều dưỡng, hộ sinh gồm 32 tiêu chí Mỗi tiêu chí gồm có 3 mức điểm: Có làm và đạt yêu cầu – 2 điểm; Có làm nhưng chưa đạt yêu cầu – 1 điểm và Không làm – 0 điểm Các tiêu chí đạt, chưa đạt hay không đạt yêu cầu cho từng thao tác được xây dựng dựa trên Tài liệu hướng dẫn thực hiện quy trình của

Bệnh viện Phụ sản Hà Nội (9) và tập huấn cho các quan sát viên đều biết (Phụ lục 2)

Đối với trường hợp chiếu tia plasma trên vết mổ, có tất cả 29 tiêu chí quan sát với tổng điểm tối đa là 58 điểm Số tiêu chí quan sát trong trường hợp chiếu tia plasma với vết khâu tầng sinh môn là 23 tiêu chí với tổng điểm tối đa là 46 điểm

Vì chưa có bất kỳ nghiên cứu nào liên quan đến nội dung này được thực hiện trước đây, do đó, để xác định thang đo phân loại thực hành đạt – không đạt cho nghiên cứu, học viên tham khảo mức phân loại theo hướng dẫn của Bộ Y tế trong Quyết

định 3451/QĐ-BYT năm 2019 về phê duyệt tài liệu “Tiêu chí và hướng dẫn đánh giá công nhận Bệnh viện thực hành nuôi con bằng sữa mẹ xuất sắc” Tính đến thời

điểm hiện tại, đây là Quyết định mới nhất của Bộ Y tế ban hành kèm theo bảng kiểm đánh giá thực hành của NVYT trong lĩnh vực sản, phụ khoa (3 bảng kiểm về chăm sóc thiết yếu và tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ) Cụ thể, những quan sát đạt

Trang 39

được từ 80% tổng số điểm trở lên được xếp loại Đạt thực hành Những quan sát có

số điểm dưới 80% tổng số điểm xếp loại Chưa đạt thực hành

Theo đó, trong nghiên cứu này:

- Đối với trường hợp chiếu tia plasma trên vết mổ:

Các thống kê mô tả tần số và tỷ lệ % được áp dụng để trả lời mục tiêu 1 và mục tiêu 2 của nghiên cứu

2.9.2 Số liệu định tính

Nội dung các cuộc PVS và TLN được tổng hợp từ bảng ghi do các nghiên cứu viên phụ trách làm thư ký cung cấp Thông tin được trích dẫn theo các mục tiêu nghiên cứu

2.10 Đạo đức của nghiên cứu

Nghiên cứu tuân thủ quy trình xét duyệt của Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y tế công cộng theo các quy định hiện hành (Quyết định số 66/2020 / YTCC - HD3)

- Gặp gỡ trao đổi mục đích và nội dung của nghiên cứu với ĐTNC nhằm giúp họ hiểu và tham gia tự nguyện vào nghiên cứu

- ĐTNC có thể từ chối trả lời phỏng vấn, chỉ điều tra những đối tượng tự nguyện tham gia (không bắt buộc đối tượng trả lời hết các câu hỏi nếu đối tượng không muốn)

- Thông tin và ý kiến cá nhân của các ĐTNC được giữ bí mật, chỉ sử dụng

để tổng hợp, phân tích đưa ra nhận định chung;

Trang 40

- Số liệu nghiên cứu được thông báo lại cho các bên liên quan nhằm giúp bệnh viện, Phòng Điều dưỡng, các Khoa lâm sang và điều dưỡng, hộ sinh tại các Khoa nghiên cứu có thêm thông tin trong việc giải quyết các vấn đề có liên quan

- Những thông tin thu được chỉ phục vụ cho nghiên cứu và các mục đích nhằm cải thiện chất lượng quy trình chiếu tia plasma cho sản phụ sau đẻ, sau mổ

của điều dưỡng, hộ sinh

Ngày đăng: 31/01/2021, 20:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w