1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trang thiết bị y tế tại khoa chẩn đoán hình ảnh bệnh viện quận thủ đức thành phố hồ chí minh năm 2020

116 255 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 3,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng nghiên cứu gồm các TTBYT khoa CĐHA có giá trị ≥ 100 triệu; Nhân viên y tế bao gồm: Ban lãnh đạo, Lãnh đạo khoa CĐHA, Nhân viên trực tiếp quản lý, sử dụng TTBYT tại khoa CĐHA, N

Trang 1

PHẠM THỊ MAI HƯƠNG

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG

ĐẾN QUẢN LÝ TRANG THIẾT BỊ Y TẾ TẠI KHOA CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH BỆNH VIỆN QUẬN THỦ ĐỨC TP.HCM NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

PHẠM THỊ MAI HƯƠNG

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG

ĐẾN QUẢN LÝ TRANG THIẾT BỊ Y TẾ TẠI KHOA CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH BỆNH VIỆN QUẬN THỦ ĐỨC TP.HCM NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN TRỌNG QUỲNH

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trang thiết bị y tế tại khoa Chẩn đoán hình ảnh bệnh viện quận Thủ Đức TP.HCM năm 2020”, tôi đã gặp phải rất nhiều khó khăn Nhưng nhờ có sự giúp đỡ

của các thầy, cô giáo trường Đại học Y tế Công cộng; Ban lãnh đạo, Khoa Chẩn đoán hình ảnh cũng như các phòng ban trong bệnh viện quận Thủ Đức, tôi đã hoàn thành đề tài theo đúng kế hoạch

Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến hai giáo viên hướng dẫn – TS Nguyễn Trọng Quỳnh và ThS.Võ Tuấn Ngọc đã tận tình hướng dẫn, chỉ dạy trong suốt quá trình thực hiện đề tài Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học và các thầy cô giáo trường Đại học Y tế Công cộng đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình viết luận văn thạc sĩ

Xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo bệnh viện quận Thủ Đức đã tạo điều kiện cho tôi tìm hiểu và nghiên cứu tại bệnh viện Một lời cảm ơn gửi đến các anh chị khoa Chẩn đoán hình ảnh cũng như các phòng ban trong bệnh viện quận Thủ Đức

đã giúp đỡ, hướng dẫn và cung cấp tài liệu nghiên cứu, trao đổi và giải đáp những vướng mắc trong quá trình nghiên cứu đề tài

Trong bài luận chắc hẳn không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Tôi mong muốn sẽ nhận được nhiều đóng góp quý báu từ quý thầy cô và ban cố vấn để

đề tài được hoàn thiện hơn nữa và có ý nghĩa thiết thực áp dụng trong thực tiễn cuộc sống

Xin trân trọng cảm ơn!

Tp.HCM, ngày 16 tháng 10 năm 2020

Học viên

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Một số khái niệm 4

1.2 Phân loại trang thiết bị y tế 4

1.3 Quản lý trang thiết bị y tế 5

Quản lý đầu tư TTBYT 5

Quản lý thực trạng TTBYT 6

Quản lý sử dụng TTBYT 6

Quản lý bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT 7

1.4 Các nghiên cứu về quản lý trang thiết bị y tế 7

Nghiên cứu quản lý trang thiết bị y tế ở các nước trên thế giới 7

Nghiên cứu quản lý trang thiết bị y tế tại Việt Nam 8

1.5 Giới thiệu về bệnh viện quận Thủ Đức và khoa Chẩn đoán hình ảnh17 Bệnh viện quận Thủ Đức 17

Khoa Chẩn đoán hình ảnh của Bệnh viện quận Thủ Đức 17

1.6 Khung lý thuyết 18

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Đối tượng nghiên cứu 20

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 21

2.3 Thiết kế nghiên cứu 21

2.4 Cỡ mẫu 21

2.4.1 Nghiên cứu định lượng 21

Trang 5

2.4.2 Nghiên cứu định tính 22

2.5 Phương pháp chọn mẫu 22

2.6 Phương pháp thu thập số liệu 23

2.6.1 Thu thập số liệu định lượng 23

2.6.2 Thu thập số liệu định tính 24

2.7 Biến số nghiên cứu 26

2.8 Tiêu chuẩn đánh giá 26

2.9 Phương pháp phân tích số liệu 27

2.10 Đạo đức trong nghiên cứu 27

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29

3.1 Thực trạng quản lý trang thiết bị y tế 29

Quản lý đầu tư TTBYT 29

Quản lý thực trạng TTBYT 32

Quản lý sử dụng TTBYT 39

Quản lý bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT 42

3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý TTBYT 43

Cơ sở hạ tầng 43

Yếu tố tài chính 47

Yếu tố nhân lực 47

Yếu tố chính sách 50

Các yếu tố ảnh hưởng tích cực và hạn chế 51

BÀN LUẬN 53

4.1 Thực trạng quản lý trang thiết bị y tế 53

4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý TTBYT 59

Cơ sở hạ tầng 59

Yếu tố tài chính 61

Yếu tố nhân lực 62

Yếu tố chính sách 64

Trang 6

4.3 Hạn chế đề tài 65

KẾT LUẬN 67

1 Thực trạng quản lý trang thiết bị y tế 67

2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý TTBYT 67

KHUYẾN NGHỊ 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Phụ lục 1 Biến số nghiên cứu 73

Phụ lục 2 Bảng hỏi nhân viên y tế trực tiếp sử dụng TTBYT 81

Phụ lục 3 Bảng kiểm tra trang thiết bị 82

Phụ lục 4 Phỏng vấn sâu nhân viên lãnh đạo 85

Phụ lục 5 Phỏng vấn sâu nhân viên phòng Hành chính quản trị 87

Phụ lục 6 Phỏng vấn sâu nhân viên Đơn vị ĐT-QLDA 88

Phụ lục 7 Phỏng vấn sâu nhân viên phòng VT-TTBYT 90

Phụ lục 8 Phỏng vấn sâu NVYT khoa CĐHA 92

Phụ lục 9 Thảo luận nhóm 94

Phụ lục 10 Phiếu chấp thuận tham gia nghiên cứu 96

Trang 7

TTBYT Trang thiết bị y tế

VT-TTBYT Vật tư – Trang thiết bị y tế

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Thực trạng đầu tư TTBYT 29

Bảng 3.2 Số TTBYT tại khoa CĐHA đến tháng 06/2020 32

Bảng 3.3 Thực trạng TTBYT 37

Bảng 3.4 Quản lý sử dụng TTBYT 39

Bảng 3.5 Nhân viên y tế sử dụng TTBYT 40

Bảng 3.6 Quản lý bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT 42

Trang 9

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trang thiết

bị y tế tại khoa Chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện quận Thủ Đức TP.HCM năm 2020”

với 2 mục tiêu nghiên cứu: Mô tả thực trạng quản lý trang thiết bị y tế tại khoa Chẩn đoán hình ảnh và tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trang thiết bị

y tế Bằng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, định lượng kết hợp định tính

Đối tượng nghiên cứu gồm các TTBYT khoa CĐHA có giá trị ≥ 100 triệu; Nhân viên y tế bao gồm: Ban lãnh đạo, Lãnh đạo khoa CĐHA, Nhân viên trực tiếp quản lý, sử dụng TTBYT tại khoa CĐHA, NVYT không thuộc khoa CĐHA nhưng

có tham gia vào công tác đầu tư, quản lý, sửa chữa, bảo dưỡng TTBYT của khoa CĐHA; Hồ sơ TTBYT, báo cáo tài chính liên quan TTBYT

Kết quả nghiên cứu cho thấy:

Về quản lý đầu tư TTBYT: Sau năm 2017, số TTBYT được đầu tư mới cao

gấp 4 lần (40 TTBYT) Trong 40 TTBYT được đầu tư mới, có 2 TTBYT do bệnh viện đầu tư, đầu tư giảm 50% so với năm 2017, có 38 TTBYT được đầu tư bằng nguồn vay ngân hàng, cao gấp 19 lần so với năm 2017, hình thức Liên doanh liên kết không còn được thực hiện Trong tổng số 50 TTBYT, có 30 TTBYT có tần suất

sử dụng cao, 17 TTBYT có tần suất sử dụng trung bình, 1 TTBYT có tần suất sử dụng thấp và có 2 TTBYT không sử dụng

Về quản lý thực trạng TTBYT: Có 96% TTBYT đang sử dụng và 4% TTBYT

bị hư hỏng, chờ sửa chữa 100% TTBYT có hồ sơ đầy đủ 100% nhân lực trực tiếp

sử dụng TTBYT có chứng chỉ sử dụng TTBYT Có 1 TTBYT có thời gian sử dụng

>10 năm, hiện đang hỏng chờ sửa chữa

Về quản lý sử dụng TTBYT: Có 100% TTBYT được các kỹ sư của hãng sản

xuất đào tạo cách sử dụng cho NVYT 100% TTBYT được kiểm định sau khi bảo dưỡng định kỳ, sửa chữa và đều có đầy đủ quy trình sử dụng, quy trình vận hành NVYT có thời gian làm việc ≤ 5 năm chiếm tỷ lệ cao nhất (64,8%) và đa số NVYT đều có chứng chỉ hành nghề (94,5%)

Về quản lý bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT: 100% TTBYT có quy trình bảo

Trang 10

20% TTBYT đã sửa chữa và sau đó có 16% TTBYT được đưa vào sử dụng Kinh phí sửa chữa, bảo dưỡng do công ty thực hiện trong 06 tháng đầu năm 2020 cao gấp

đôi so với năm 2018 và gần bằng năm 2019

Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trang thiết bị bao gồm: Cơ sở hạ tầng, yếu

tố tài chính, yếu tố nhân lực, yếu tố chính sách

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trang thiết bị y tế là công cụ không thể thiếu trong quy trình khám chữa bệnh, hỗ trợ tích cực cho người thầy thuốc trong công tác chẩn đoán, điều trị và chăm sóc người bệnh, là tài sản cố định được các bệnh viện đầu tư nhằm đảm bảo cho công tác khám chữa bệnh được nâng lên, góp phần giảm quá tải bệnh viện (1)

Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, trang thiết bị y tế ngày càng hiện đại, đa dạng về chủng loại, liên tục được cải tiến Trang thiết bị y tế là một trong những yếu tố thúc đẩy cho sự tiến bộ vượt bậc của ngành y tế và góp phần cải thiện các dịch vụ y tế

Đặc biệt, các trang thiết bị y tế sử dụng trong chẩn đoán hình ảnh như máy X-quang, máy siêu âm, máy MRI, máy CT scanner, máy nội soi là các trang thiết bị

y tế đầu tay của bác sỹ, có thể nối dài cánh tay của bác sỹ, hỗ trợ đắc lực trong việc khám và chẩn đoán bệnh một cách nhanh chóng, chính xác hơn

Chính vì vậy, việc quản lý trang thiết bị y tế là một vấn đề vô cùng cần thiết Công tác quản lý trang thiết bị y tế hiệu quả giúp kéo dài tuổi thọ của trang thiết bị

y tế, tiết kiệm được các chi phí như chi phí đầu tư, chi phí sửa chữa và sử dụng tối

ưu nguồn nhân lực Quản lý trang thiết bị y tế góp phần quan trọng trong công tác quản lý bệnh viện hướng tới “sự hài lòng của người bệnh”, chất lượng dịch vụ y tế được nâng lên một bậc, đảm bảo an toàn cho người bệnh cũng như nhân viên y tế và nâng cao thương hiệu bệnh viện Để quản lý trang thiết bị y tế hiệu quả cần đầu tư hợp lý, sử dụng trang thiết bị y tế đúng cách, bảo dưỡng sửa chữa đúng quy định và chú trọng đào tạo năng lực chuyên môn cho nhân viên y tế

Hiện nay, đã có nhiều nghiên cứu thực hiện về quản lý trang thiết bị y tế và tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng Các nghiên cứu thực hiện trên các nhóm trang thiết bị y tế khác nhau Các nghiên cứu đa phần tìm hiểu về những nội dung: quản

lý đầu tư, quản lý sử dụng, quản lý thực trạng, quản lý bảo dưỡng, sửa chữa trang thiết bị y tế và tìm ra các yếu tố ảnh hưởng khác nhau Năm 2018, Nguyễn Đức

Trang 12

Hạnh thực hiện nghiên cứu trên 61 thiết bị chẩn đoán hình ảnh tại các khoa thuộc bệnh viện, với tỷ lệ TTBYT đang sử dụng là 86,8%, 100% TTBYT được bàn giao

và tập huấn trước khi sử dụng Tuy nhiên chỉ có 4,9% số thiết bị đạt yêu cầu về tất

cả các tiêu chí lắp đặt Nhân lực phòng Vật tư trang thiết bị y tế còn thiếu về số lượng và hạn chế về trình độ chuyên môn Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm: thiếu văn bản hướng dẫn cụ thể, thiếu sự quan tâm của lãnh đạo bệnh viện, thiếu nhân lực

có trình độ cao về trang thiết bị y tế, thiếu kinh phí đào tạo nhân viên và thủ tục thanh toán còn phức tạp (2) Năm 2019, Phan Ngọc Lương thực hiện nghiên cứu trên những thiết bị có trị giá > 50 triệu cho thấy số TTBYT không sử dụng là 38,98%, 98,3% trang thiết bị y tế có lý lịch và quyết định phân công quản lý, 66,67% có hướng dẫn sử dụng, 13,89% có nhật ký sử dụng, 100% không có tài liệu hướng dẫn bảo dưỡng Có 47,46% trang thiết bị y tế sẵn sàng hoạt động, 100% trang thiết bị y tế được bảo dưỡng định kỳ, nghiên cứu cũng tìm thấy các yếu tố ảnh hưởng: chính sách, nhân lực, kinh phí, các yếu tố thuộc về thiết bị (thời gian sử dụng, khấu hao tài sản, cường độ hoạt động, cơ sở hạ tầng (3) Nghiên cứu Nguyễn Thị Thanh Thảo thực hiện trên 50 CBYT và 24 TTBYT tìm thấy các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trang thiết bị y tế là yếu tố tài chính, yếu tố chính sách, nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng và công nghệ thông tin (4)

Khoa Chẩn đoán hình ảnh của bệnh viện quận Thủ Đức - bệnh viện tuyến quận huyện hạng I với quy mô 800 giường - có các trang thiết bị y tế hiện đại và có giá trị lớn như máy CT scanner 128 lát cắt, máy CT scanner 256 lát cắt, máy MRI 3.0 tesla, máy siêu âm màu 4D, máy X-quang kỹ thuật số, máy nội soi dạ dày, đại tràng (5) Đây là những trang thiết bị y tế cao cấp, hiện đại, thuộc nhóm 2 loại D (nhóm có mức độ rủi ro cao liên quan đến thiết kế kỹ thuật và sản xuất các trang thiết bị y tế (6) Những trang thiết bị y tế tại khoa Chẩn đoán hình ảnh rất quan trọng và không thể thiếu trong công tác chẩn đoán chính xác, kịp thời tại bệnh viện quận Thủ Đức Do vậy, trang thiết bị y tế phải được khai thác hiệu quả, an toàn và bền lâu Vì thế, quản lý trang thiết bị y tế là thật sự cần thiết

Trang 13

Từ năm 2017, bệnh viện quận Thủ Đức trở thành đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên, theo đó bệnh viện định hướng các khoa hoạt động theo

cơ chế tự chủ Khoa Chẩn đoán hình ảnh là một trong những khoa đầu tiên hoạt động theo cơ chế này và được trực tiếp quản lý trang thiết bị y tế của khoa Tuy nhiên, sau hơn 3 năm thực hiện, bệnh viện chưa từng đánh giá thực trạng quản lý trang thiết bị y tế và tìm ra những yếu tố sẽ ảnh hưởng đến việc quản lý này tại khoa Chẩn đoán hình ảnh, để rút ra điểm tích cực và hạn chế trong công tác quản lý, từ

đó phát huy những điểm mạnh và xây dựng các biện pháp khắc phục những thiếu

sót Vì vậy, tôi thực hiện nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trang thiết bị y tế tại khoa Chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện quận Thủ Đức TP.HCM năm 2020”

Trang 14

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng quản lý trang thiết bị y tế tại khoa Chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện quận Thủ Đức TP.HCM năm 2020

2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trang thiết bị y tế tại khoa Chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện quận Thủ Đức TP.HCM năm 2020

Trang 15

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm

Trang thiết bị y tế là các loại thiết bị, dụng cụ, vật liệu, vật tư cấy ghép, thuốc thử và chất hiệu chuẩn in vitro, phần mềm (software) đáp ứng đồng thời các yêu cầu sau đây: Được sử dụng riêng lẻ hay phối hợp với nhau theo chỉ định của chủ sở hữu trang thiết bị y tế để phục vụ cho con người, không sử dụng cơ chế dược

lý, miễn dịch hoặc chuyển hóa trong hoặc trên cơ thể người hoặc nếu có sử dụng các cơ chế này thì chỉ mang tính chất hỗ trợ nhằm một hoặc nhiều mục đích sau đây:

- Chẩn đoán, ngăn ngừa, theo dõi, điều trị và làm giảm nhẹ bệnh tật hoặc bù đắp tổn thương, chấn thương;

- Kiểm tra, thay thế, điều chỉnh hoặc hỗ trợ giải phẫu và quá trình sinh lý;

- Hỗ trợ hoặc duy trì sự sống;

- Kiểm soát sự thụ thai;

- Khử khuẩn trang thiết bị y tế, bao gồm cả hóa chất sử dụng trong quy trình xét nghiệm;

- Cung cấp thông tin cho việc chẩn đoán, theo dõi, điều trị thông qua biện pháp kiểm tra các mẫu vật có nguồn gốc từ cơ thể con người

Trang thiết bị y tế chẩn đoán in vitro (In vitro diagnostic medical device) gồm thuốc thử, chất hiệu chuẩn, vật liệu kiểm soát, dụng cụ, máy, thiết bị hoặc hệ thống được sử dụng riêng rẽ hoặc kết hợp theo chỉ định của chủ sở hữu để phục vụ cho việc kiểm tra các mẫu vật có nguồn gốc từ cơ thể con người (6)

1.2 Phân loại trang thiết bị y tế

Trang thiết bị y tế gồm 2 nhóm được phân làm 4 loại dựa trên mức độ rủi ro tiềm ẩn liên quan đến thiết kế kỹ thuật và sản xuất các trang thiết bị y tế đó:

Trang 16

- Nhóm 1 gồm trang thiết bị y tế thuộc loại A là trang thiết bị y tế có mức độ rủi ro thấp

- Nhóm 2 gồm trang thiết bị y tế thuộc loại B, C và D, trong đó:

+ Trang thiết bị y tế thuộc loại B là trang thiết bị y tế có mức độ rủi ro trung bình thấp;

+ Trang thiết bị y tế thuộc loại C là trang thiết bị y tế có mức độ rủi ro trung bình cao;

+ Trang thiết bị y tế thuộc loại D là trang thiết bị y tế có mức độ rủi ro cao (6)

1.3 Quản lý trang thiết bị y tế

Quản lý trang thiết bị là thực hiện theo quy trình 4 bước: Quản lý đầu tư mua sắm, quản lý thực trạng, quản lý sử dụng, quản lý bảo dưỡng và sửa chữa

Quản lý đầu tư TTBYT

Quản lý đầu tư mua sắm TTBYT là quá trình hoạch định, tổ chức và điều hành các hoạt động đầu tư mua sắm TTBYT để tiến hành phân tích, quyết định những TTBYT cần thiết phục vụ đúng nhu cầu khám chữa bệnh

Khi lên kế hoạch đầu tư mua sắm TTBYT cần phải cân nhắc kỹ đến các yếu

tố sau:

- Nhu cầu sử dụng

- Khả năng tài chính, nguồn kinh phí

- Thế hệ công nghệ, cấu hình tính năng kỹ thuật

- Điều kiện hạ tầng lắp đặt

- Cán bộ khai thác sử dụng

- Hiệu quả phối hợp chuyên môn tại Bệnh viện

Trang 17

Việc thực hiện mua sắm TTBYT phải theo đúng Luật đấu thầu và các quy định hiện hành (6)

Quản lý thực trạng TTBYT

Một trong những nội dung quan trọng trong quản lý thực trạng TTBYT là lập

hồ sơ/file theo dõi TTBYT và thường xuyên được cập nhật Điều này góp phần thực hiện tốt hai nội dung còn lại là quản lý sử dụng và quản lý bảo dưỡng, sửa chữa Việc xây dựng các quy trình trong sử dụng và bảo dưỡng, sửa chữa phải dựa trên hồ

sơ TTBYT

- Hồ sơ TTBYT bao gồm:

+ Số đầu thiết bị

+ Đơn vị nào, ai là người được giao trực tiếp quản lý

+ Model, hãng/năm/nước sản xuất

+ Ngày nhận, nguồn vốn, giá thiết bị

+ Chất lượng, tần suất khai thác của thiết bị

- Thanh lý TTBYT hư hỏng, không sử dụng (7)

Quản lý sử dụng TTBYT

Quản lý sử dụng TTBYT có vai trò hết sức quan trọng nhằm phát huy hiệu quả đầu tư Quản lý sử dụng TTBYT phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình sử dụng

mà đơn vị xây dựng theo hướng dẫn của nhà sản xuất, hướng tới chất lượng, an toàn

và hiệu quả Kiểm tra đánh giá thường xuyên người sử dụng về việc thực hiện đúng các quy trình đã xây dựng

Khai thác sử dụng TTBYT có hiệu quả phụ thuộc vào:

- Khai thác nhu cầu khám chữa bệnh

- Tần suất sử dụng thiết bị của đơn vị

- Cán bộ vận hành và cán bộ kỹ thuật TTBYT

Trang 18

- Điều kiện lắp đặt, hoạt động (7)

Quản lý bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT

Quản lý bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT phải tuân thủ theo hướng dẫn của nhà sản xuất Đơn vị phải xây dựng quy trình bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT theo hướng dẫn đó, nhằm đảm bảo chất lượng và an toàn khi bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT Việc này giúp cho TTBYT hoạt động chính xác, an toàn, tăng tuổi thọ và giảm chi phí sửa chữa

* Bảo dưỡng TTBYT:

- Quan tâm chu kỳ bảo dưỡng, vật tư, phụ tùng thay thế

- Thực hiện bảo dưỡng, định kỳ kiểm định, hiệu chuẩn các TTBYT có yêu cầu

* Sửa chữa TBYT:

- Xác định hiện trạng, mức độ hỏng hóc, nguyên nhân…

- Lập kế hoạch sửa chữa:

+ Sửa ngay

+ Phối hợp tiến hành sửa chữa

+ Ký hợp đồng sửa chữa (7)

1.4 Các nghiên cứu về quản lý trang thiết bị y tế

Nghiên cứu quản lý trang thiết bị y tế ở các nước trên thế giới

Trên thế giới đã có một số nghiên cứu về thực trạng quản lý trang thiết bị y

tế trong bệnh viện

- Về quản lý đầu tư TTBYT: thường chưa dựa theo nhu cầu thực tế, dẫn đến nhập khẩu một loạt các TTBYT, trong đó có một số TTBYT không cần thiết, không xem xét các tiêu chí nhất định có liên quan trong việc đánh giá các đề xuất mua sắm

Trang 19

TTBYT (8) Bệnh viện thường quan tâm đến chi phí đầu tư mua sắm TTBYT mà chưa quan tâm đến chi phí vận hành của TTBYT (9)

- Về thực trạng TTBYT: TTBYT không tuân thủ với các tiêu chuẩn an toàn quốc tế hoặc là quá kém, gần như là TTBYT hư hỏng (10)

- Về quản lý sử dụng TTBYT: các TTBYT đắt tiền không được sử dụng do thiếu kỹ năng xử lý và vận hành, sử dụng sai và quá kém (10)

- Về quản lý bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT: TTBYT sau thời gian đưa vào sử dụng sẽ xảy ra những hư hỏng, trục trặc cần phải có hệ thống bảo dưỡng, sửa chữa

để khắc phục những hư hỏng đó Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Pradip Shahi Thakuri và Ramila Joshi về tình hình sử dụng TTBYT trong bệnh viện tại Nepal cho thấy: Bệnh viện không có một đội ngũ bảo dưỡng, sửa chữa thích hợp hoặc sổ sách ghi chép đúng để đánh giá các chi phí/lợi ích của các dịch vụ trong tổ chức Sửa chữa và bảo dưỡng thường do dịch vụ bên ngoài thực hiện vì bệnh viện thiếu năng lực Ngay cả những sửa chữa nhỏ cũng phụ thuộc vào đơn vị bên ngoài, đây là nguyên nhân làm cho chi phí bệnh viện cao hơn cần thiết (10)

Nghiên cứu quản lý trang thiết bị y tế tại Việt Nam

- Về quản lý đầu tư TTBYT:

Nguồn ngân sách đầu tư TTBYT được đề cập trong các nghiên cứu trước đó

là từ ngân sách Nhà nước và xã hội hóa Nghiên cứu của Đinh Thị Lan có 91% TTBYT được cấp từ các dự án và 9% TTBYT được mua sắm từ nguồn ngân sách, các TTBYT tại khoa nghiên cứu được đầu tư chủ yếu từ các chương trình y tế quốc gia (11) Theo nghiên cứu của Phan Ngọc Lương, thực hiện chủ trương xã hội hóa, bệnh viện sử dụng nguồn đầu tư từ liên doanh liên kết trong điều kiện bệnh viện thiếu nguồn kinh phí đầu tư TTBYT, tuy nhiên hình thức này gặp một số khó khăn như: định giá tài sản, cơ sở hạ tầng của bệnh viện, thẩm định chất lượng tài sản, xem xét công nghệ của đối tác (3) Trong nghiên cứu của Nguyễn Đức Hạnh, kinh phí đầu tư TTBYT chủ yếu từ ngân sách Nhà nước (73,8%), nguồn xã hội hóa chiếm 13,1% (2) Nghiên cứu của Trần Anh Quang thực hiện tại bệnh viện Tim Hà

Trang 20

Nội – là bệnh viện tự chủ từ những năm thành lập, bệnh viện sử dụng hoàn toàn vốn vay để đầu tư TTBYT Từ đó, bệnh viện Tim đã trang bị được TTBYT đáp ứng kịp thời cho sự phát triển của bệnh viện (12)

Về tình trạng TTBYT, các nghiên cứu thực hiện cho thấy TTBYT đều có tình trạng hỏng chờ sửa chữa hoặc hỏng chờ thanh lý Theo nghiên cứu của Phan Ngọc Lương, số TTBYT không thể sử dụng hoặc hư hỏng không sửa chiếm tỷ lệ 38,98%; số TTBYT chưa sửa chữa lần nào chiếm tỷ lệ nhỏ (13,56%) (3) Nghiên cứu của Nguyễn Đình Hoàng tại Trung tâm Y tế huyện Phù Mỹ, Bình Định năm

2019, các TTBYT hư hỏng đang chờ sửa chữa chiếm tỷ lệ 8%, TTBYT đang chờ thanh lý, không sử dụng chiếm tỷ lệ 13,04% (13)

- Về quản lý thực trạng TTBYT:

Về hồ sơ TTBYT, theo nghiên cứu của Đinh Thị Lan, tài liệu hướng dẫn sử dụng, tài liệu hướng dẫn bảo dưỡng, sửa chữa, sổ theo dõi quản lý TTBYT tại các khoa đạt 100%, tuy nhiên chưa ghi chép nhật ký sử dụng TTBYT (11) Trong nghiên cứu của Nguyễn Viết Thiện thì tình trạng bàn giao nghiệm thu TTBYT như nhãn hiệu - số máy, hãng sản xuất, nước sản xuất, năm sản xuất có tỷ lệ cao (93,2%); 100% TTBYT có đầy đủ biên bản bàn giao; lý lịch TTBYT đầy đủ có tỷ lệ cao (91,5%) (14) Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Thảo năm 2017, hầu hết TTBYT có lý lịch TTBYT đầy đủ (85%), phần lớn khoa thực hiện tốt trong việc ghi nhật ký sử dụng (80%); sau mỗi ca trực hoặc sau khi sử dụng TTBYT, khoa đều bàn giao cụ thể (90%) (4) Theo nghiên cứu của Phan Ngọc Lương, tất cả các lý lịch TTBYT ghi chép không đầy đủ, phần lớn không cập nhật các thông tin kiểm định, sửa chữa, bảo dưỡng, gây khó khăn trong việc quản lý, do lý lịch TTBYT làm trên giấy A4 ép nhựa, treo bên cạnh TTBYT nên nhân viên khó khăn trong việc cập nhật thông tin (3) Theo nghiên cứu của Nguyễn Đình Hoàng, tài liệu kỹ thuật hướng dẫn bảo dưỡng, sửa chữa có tỷ lệ 25% (13)

Theo nghiên cứu Nguyễn Trọng Hưng năm 2017, cùng một TTBYT nhưng sản xuất bởi nhiều hãng khác nhau, dẫn đến khó khăn trong việc thống nhất cùng

Trang 21

một loại tên gọi để sử dụng, quản lý và xây dựng quy trình vận hành chuẩn cho một loại thiết bị (15)

Các nghiên cứu đề cập đến thời gian sử dụng của TTBYT Trong nghiên cứu của Phan Ngọc Lương, TTBYT có thời gian sử dụng trên 10 năm chiếm tỷ lệ 18,64% (3) Theo nghiên cứu của Nguyễn Viết Thiện, TTBYT có thời gian sử dụng

từ 5 năm đến 10 năm chiếm tỷ lệ cao nhất (59,8%) và TTBYT đã sử dụng trên 10 năm chiếm 5,4% (14) Theo nghiên cứu của Nguyễn Đức Hạnh, có 96,2% TTBYT hoạt động tốt và 23,5% có tuổi hoạt động trên 10 năm (2)

- Về quản lý sử dụng TTBYT:

Về kiểm định TTBYT, trong nghiên cứu của Nguyễn Đình Hoàng, đa số TTBYT không được kiểm định và hiệu chuẩn (9%) (13) Theo nghiên cứu của Nguyễn Viết Thiện, công tác kiểm định hàng năm thấp, chỉ có 40,5% TTBYT được thực hiện kiểm định đúng quy định, có 43,5% TTBYT không được kiểm định (14) Theo nghiên cứu của Lê Thị Kim Thoa, 100% TTBYT được kiểm định, bảo dưỡng định kỳ (16)

Về nhân lực sử dụng TTBYT, theo nghiên cứu của Phan Ngọc Lương, những NVYT sử dụng TTBYT bao gồm: điều dưỡng chiếm tỷ lệ 37,3%; bác sĩ chiếm 20,3%; nữ hộ sinh là 11,9%; kỹ thuật viên 16,9% và đối tượng khác có tỷ lệ 13,6% NVYT có thời gian công tác trên 5 năm chiếm 74,6%, từ 2 đến 5 năm chiếm 18,6%, dưới 2 năm chiếm 6,8% NVYT được hướng dẫn sử dụng TTBYT bởi kỹ sư của hãng sản xuất không nhiều, chủ yếu được hướng dẫn bởi những NVYT trong khoa, tuy nhiên tài liệu hướng dẫn sử dụng TTBYT là tiếng Anh nên gây khó khăn trong việc hiểu và sử dụng TTBYT (3)

- Về quản lý bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT:

Về quy trình bảo dưỡng, sửa chữa, nghiên cứu của Ngô Trương Ngọc Bích thực hiện năm 2018, bệnh viện đã xây dựng và thực hiện tương đối hoàn chỉnh, quy trình này phụ thuộc vào sự phối hợp giữa các bộ phận, tuy nhiên chưa có cơ chế giám sát rõ ràng Hầu hết NVYT hai khoa đều biết quy trình chuẩn của công tác bảo

Trang 22

dưỡng và sửa chữa, có sự phối hợp giữa các bộ phận với nhau và không có cơ chế thưởng phạt (17) Theo nghiên cứu của Huỳnh Thanh Huynh, bệnh viện chưa xây dựng được quy trình bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT (18)

Công tác bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT hiện nay trong bệnh viện chủ yếu thực hiện những kỹ thuật đơn giản, những kỹ thuật cao hơn sẽ thuê công ty bên ngoài Theo nghiên cứu của Hoàng Đình Sơn năm 2015 tại bệnh viện Bãi Cháy thì chất lượng đội ngũ nhân viên kỹ thuật được đào tạo còn yếu, chưa đáp ứng yêu cầu thực tế tại đơn vị Mặt khác, các bệnh viện và cơ sở y tế không có chỉ tiêu biên chế

để tuyển dụng cho chức danh này Một số sinh viên đạt loại giỏi có khuynh hướng chọn làm việc ở các công ty TTBYT để có thu nhập tốt hơn, công tác sửa chữa chưa đáp ứng với nhu cầu phục vụ người bệnh (19) Theo nghiên cứu của Nguyễn Đình Hoàng thì thủ tục mua sắm, thay thế linh kiện chậm, thiếu kinh phí cho bảo dưỡng, sửa chữa, mua linh kiện thay thế, công ty bảo dưỡng thiết bị ở xa không đáp ứng yêu cầu kịp thời (13) Theo nghiên cứu của Đinh Thị Lan, 100% TTBYT không được sửa chữa bởi NVYT, mà phải thuê sửa chữa bên ngoài, các khoa nghiên cứu chưa thực hiện công tác bảo dưỡng dự phòng giúp cho TTBYT hoạt động tốt và phát hiện sớm các trục trặc về mặt kỹ thuật để khắc phục kịp thời, tăng cường tuổi thọ cho TTBYT Kinh phí bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT chiếm tỷ lệ nhỏ (2%) trong tổng kinh phí cần cấp (11) Theo nghiên cứu của Nguyễn Anh Quang, bảo quản, bảo dưỡng TTBYT ở mức độ đơn giản thực hiện bởi người sử dụng tốt, bảo dưỡng TTBYT phức tạp hơn được thực hiện bởi cán bộ kỹ thuật của phòng VT-TTBYT hoặc thuê ngoài Nguồn tài chính mua sắm và thay thế TTBYT, bệnh viện chưa được chủ động vì phụ thuộc vào ngân sách hàng năm của Nhà nước, kinh phí từ quỹ Phát triển hoạt động sự nghiệp và dự trù trong kế hoạch đầu năm Vì vậy, trong quá trình sử dụng, TTBYT xảy ra hỏng hóc thì công tác sửa chữa chưa được đáp ứng kịp thời Đồng thời TTBYT có giá trị cao, phụ tùng thay thế lớn, kinh phí dành cho mua sắm vật tư tiêu hao không do bệnh viện quyết định, phải thông qua Sở Y tế, thông qua Hội đồng Đấu thầu tập trung, ảnh hưởng đến công tác khám chữa bệnh (12) Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Thảo, 100% TTBYT tại khoa được

Trang 23

bảo dưỡng định kỳ, TTBYT hư hỏng cần sửa gấp thì NVYT sửa được chiếm 5%, còn lại sửa hay không tùy trường hợp (95%) Phụ tùng thay thế, dụng cụ sửa chữa, thiết bị đo lường chuyên dụng đáp ứng tốt việc bảo dưỡng, sửa chữa vì có sẵn tại khoa (90%) Việc sửa chữa do bên ngoài thực hiện nhưng phải chờ đợi chiếm 85% (4) Nghiên cứu của Nguyễn Trọng Hưng, công tác bảo dưỡng định kỳ từ công ty chưa thực hiện được, kế hoạch dự trù kinh phí dành cho hoạt động bảo dưỡng còn chưa được phê duyệt, năng lực NVYT trong bảo dưỡng TTBYT còn hạn chế, nguồn kinh phí từ ngân sách Nhà nước hoặc dự án (15) Theo nghiên cứu của Phan Ngọc Lương, các TTBYT ít phức tạp, hư hỏng nhẹ mà nhân viên kỹ thuật bệnh viện sửa được thì thời gian khắc phục nhanh nhưng số này chiếm tỷ lệ thấp (6,45%), những trường hợp phải thuê công ty sửa chữa thời gian hơn 1 ngày chiếm 19,35%, TTBYT không sửa được hoặc không đủ điều kiện sử dụng (74,20%) phải gián đoạn kéo dài (trên 7 ngày) (3)

- Cơ sở hạ tầng:

Cơ sở hạ tầng là những hạ tầng kỹ thuật gồm diện tích, điện, nước, vị trí, môi trường hoạt động, hệ thống công nghệ thông tin Đảm bảo cơ sở hạ tầng là một trong những điều kiện để TTBYT hoạt động tốt, phát huy công suất và kéo dài tuổi thọ của TTBYT Cơ sở hạ tầng phải được được kiểm định trước khi TTBYT được đưa vào sử dụng (20)

Về nguồn điện, diện tích phòng có TTBYT: Khoa CĐHA phải có đủ diện tích TTBYT, đủ không gian cho hoạt động của nhân viên y tế và người bệnh, phù hợp với sơ đồ chức năng của khoa CĐHA Khoa CĐHA phải được cấp điện đầy đủ cho yêu cầu chiếu sáng, sử dụng các trang thiết bị từ nguồn cấp điện chính (và nguồn dự phòng), hệ thống dây dẫn và thiết bị kiểm soát, cung cấp điện phải đảm bảo an toàn và phù hợp với các thông số kỹ thuật (20) Theo nghiên cứu của Đinh Thị Lan, 100% TTBYT đều được lắp đặt tại địa điểm đạt yêu cầu, diện tích lắp đặt TTBYT đủ theo yêu cầu của thiết kế, nguồn điện phù hợp và đã được trang bị các thiết bị an toàn về điện cho TTBYT Do điều kiện lắp đặt TTBYT, 100% trước khi

Trang 24

được đầu tư thì đều cần phân tích nhu cầu và đánh giá cơ sở vật chất (11) Theo nghiên cứu của Phan Ngọc Lương các phòng lắp đặt TTBYT đảm bảo diện tích theo yêu cầu, tuy nhiên các khoa không có phòng để chứa các TTBYT hư hỏng, chờ sửa chữa, thanh lý Nguồn điện tương đối ổn định nhưng khi mất điện, máy phát điện không đủ cung cấp cho toàn bộ khu vực Phần lớn các khu vực không có ổn áp, thiết bị không lưu điện nên khi mất điện đột ngột, TTBYT sẽ tắt, ảnh hưởng đến tuổi thọ của TTBYT (3)

Về yếu tố môi trường: Nhiệt độ trong các phòng của đơn vị Chẩn đoán hình ảnh từ 21 - 260C (đảm bảo các yêu cầu của các thiết bị, hóa chất) Độ ẩm bảo đảm không lớn hơn 70% (20) Theo nghiên cứu của Lê Thị Kim Thoa, nhiệt độ phòng lắp đặt TTBYT chưa đúng quy định của nhà sản xuất, chưa được gắn nhiệt kế để theo dõi nhiệt độ và độ ẩm trong phòng, bên cạnh đó còn xảy ra tình trạng cúp điện đột ngột ảnh hưởng đến TTBYT (16) Theo nghiên cứu của Phan Ngọc Lương, bệnh viện chưa có nhiệt kế, ẩm kế theo dõi, chỉ có máy siêu âm và máy xét nghiệm được đặt trong phòng có máy lạnh và có ổn áp, một số TTBYT được đặt trong phòng có máy lạnh nhưng không có ổn áp, các TTBYT còn lại hoạt động trong môi trường tự nhiên (3)

Về công nghệ thông tin: Theo nghiên cứu của Phan Ngọc Lương, tổ TTBYT

sử dụng chương trình excel để quản lý các thông tin như số lượng, nguyên giá, năm sản xuất, nước sản xuất, năm đưa vào sử dụng Còn những thông tin về bảo dưỡng, sửa chữa, kiểm định cần sổ ghi chép (3)

- Yếu tố tài chính:

Tài chính là yếu tố quyết định ảnh hưởng đến quản lý đầu tư và quản lý bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT Tài chính bao gồm nguồn lực đầu tư mua sắm TTBYT; nguồn kinh phí để quản lý, vận hành TTBYT (bao gồm: tiền điện nước, tiền lương, tiền văn phòng phẩm…); nguồn đảm bảo kinh phí mua vật tư tiêu hao kèm theo để

sử dụng TTBYT; nguồn kinh phí mua sắm phụ tùng, linh kiện phục vụ cho bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT nhằm kéo dài tuổi thọ của TTBYT Nguồn vốn bao gồm

Trang 25

vốn tín dụng đầu tư của Ngân hàng phát triển Việt Nam, Vốn vay các tổ chức tín dụng khác theo quy định của pháp luật; Vốn phát triển chính phủ và phi chính phủ nước ngoài; Vốn huy động từ các tổ chức, cá nhân theo quy định; Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của đơn vị; Nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước; Vốn từ xã hội hóa (21) Đầu tư TTBYT dài hạn và cần thiết, mà nguồn lực tài chính của Nhà nước cũng như bệnh viện còn hạn chế nên cần khai thác thêm các nguồn vốn huy động từ các nguồn lực trong xã hội và sử dụng hiệu quả nguồn vốn này

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Thảo, nguồn đầu tư cho mua sắm TTBYT ngày càng tăng Tuy nhiên, so với nhu cầu của bệnh viện thì mới đáp ứng được 70% (4) Theo nghiên cứu của Lê Thị Kim Thoa, thiếu kinh phí nên việc bảo dưỡng, sửa chữa gặp nhiều khó khăn, việc sửa chữa không kịp thời, cũng không đủ kinh phí để mua sắm phần mềm TTBYT (16) Theo nghiên cứu của Phan Ngọc Lương, kinh phí đầu tư TTBYT chủ yếu từ ngân sách Nhà nước nhưng không ổn định nên khó khăn trong việc đầu tư TTBYT mới và bảo dưỡng sửa chữa, chưa đáp ứng được nhu cầu của đơn vị Theo quy chế nội bộ trích 15% dành cho công tác đầu

tư, bảo dưỡng, sửa chữa những hư hỏng, do đó bệnh viện chỉ có thể đầu tư những TTBYT ít tiền, bảo dưỡng sửa chữa nhỏ, nếu kinh phí lớn cần phê duyệt từ ngân sách Nhà nước (3) Theo nghiên cứu của Nguyễn Đức Hạnh, công tác bảo dưỡng, sửa chữa còn ảnh hưởng bởi các thủ tục quyết toán kinh phí, do nguồn kinh phí phụ thuộc vào ngân sách Nhà nước, kinh phí dành cho hoạt động đào tạo, nâng cao trình

độ chuyên môn cũng gặp khó khăn do kinh phí này chưa có, chủ yếu dựa vào hỗ trợ đào tạo của hãng sản xuất (2)

- Yếu tố nhân lực:

Trong quản lý và vận hành TTBYT, yếu tố nhân lực là vô cùng quan trọng Nhân lực là những nhân viên y tế trực tiếp sử dụng TTBYT, những nhân viên y tế thực hiện, hỗ trợ trong quá trình bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT Về nhân lực sử dụng TTBYT, một số nghiên cứu cho thấy NVYT sử dụng TTBYT còn yếu kém, theo nghiên cứu của Đinh Thị Lan, NVYT gặp khó khăn trong công tác quản lý và quá

Trang 26

trình khai thác sử dụng do không có lớp tập huấn, đào tạo cơ bản cho NVYT, những NVYT trực tiếp sử dụng TTBYT hầu như được hướng dẫn từ đồng nghiệp (11) Theo nghiên cứu Phạm Mạnh Tiến tại Bệnh viện Nhi Đồng 1, NVYT trực tiếp sử dụng TTBYT kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ, chồng chéo trong công tác quản lý sử dụng, trách nhiệm cá nhân trong việc quản lý từng TTBYT tại khoa là chưa cao (22)

Bên cạnh đó, một số nghiên cứu cho thấy việc đào tạo NVYT trực tiếp sử dụng đã được chú trọng Theo nghiên cứu của Nguyễn Anh Quang, khi mua sắm TTBYT, bệnh viện có yêu cầu đào tạo và cung cấp tài liệu cho người sử dụng Khi TTBYT được lắp đặt nhà cung cấp tổ chức đào tạo cho người sử dụng, có biên bản ghi nhận hoàn thành công việc này Sau chương trình đào của nhà cung cấp, nếu người sử dụng cần hỗ trợ thì cán bộ kỹ thuật được phân công của phòng VT- TTBYT sẽ tiếp tục hướng dẫn cho họ (12) Theo nghiên cứu của Nguyễn Trọng Hưng, công tác tập huấn nâng cao năng lực cho nhân viên được quan tâm và chú trọng, việc tập huấn về TTBYT mới luôn được đảm bảo, NVYT thuộc phòng ban có nhu cầu nâng cao năng lực sử dụng TTBYT khi làm đơn đề nghị, Viện sẽ tổ chức lớp tập huấn Định kỳ tập huấn 1 tháng 1 lần (15) Theo nghiên cứu của Ngô Trương Ngọc Bích, hầu hết NVYT sử dụng TTBYT chủ yếu qua hãng sản xuất hướng dẫn hoặc được đồng nghiệp hướng dẫn lại Mỗi TTBYT đều được khoa phân công cho một cá nhân chịu trách nhiệm quản lý, nhưng có nhiều NVYT cùng sử dụng, còn về mặt quản lý tài sản thì điều dưỡng trưởng của khoa quản lý tất cả TTBYT trong khoa Người nào làm hư hỏng TTBYT thì chịu trách nhiệm chứ không phải người được phân công quản lý TTBYT (17)

Về nhân lực bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT: Theo nghiên cứu của Nguyễn Đức Dũng, nguồn nhân lực tại 3 khoa cận lâm sàng và nhân lực trong công tác bảo dưỡng, sửa chữa của phòng VT - TTBYT thiếu cả về số lượng và chất lượng, trình

độ của các nhân viên kỹ thuật không đồng đều, kiến thức sửa chữa không cập nhật kịp thời theo tiến độ của khoa học kỹ thuật, đồng thời thiếu tinh thần trách nhiệm của NVYT trong công tác bảo dưỡng và sửa chữa (23) Theo nghiên cứu của Đinh

Trang 27

Thị Lan, chưa có NVYT chuyên trách quản lý TTBYT trong bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT, nhân lực chủ yếu là kiêm nhiệm, trình độ nhân viên còn yếu kém, do đó chưa đáp ứng được công tác kiểm tra, bảo dưỡng, sửa chữa (11) Theo nghiên cứu của Nguyễn Anh Quang, số lượng NVYT được đào tạo về TTBYT chưa nhiều Đào tạo kiến thức sửa chữa và bảo dưỡng chiếm 18,6% Công tác đào tạo các TTBYT

do hãng sản xuất đào tạo NVYT cách thức sử dụng và bảo dưỡng, còn công tác sửa chữa bên hãng không cung cấp (12) Theo nghiên cứu của Phan Ngọc Lương, trình

độ của NVYT không đủ, trong khi TTBYT hiện đại và phức tạp, phối hợp nhiều chức năng nên chỉ đủ bảo dưỡng và sửa chữa TTBYT ít phức tạp, những TTBYT phức tạp hư hỏng cần thuê công ty bên ngoài, tuy nhiên việc này khiến việc sửa chữa không kịp thời, chờ đợi lâu (3) Nghiên cứu của Nguyễn Đức Hạnh cũng cho kết quả tương tự (2)

- Yếu tố chính sách:

Chính sách là yếu tố quan trọng trong quản lý trang thiết bị y tế, bao gồm các văn bản Quy định, Thông tư, Nghị định định hướng cho hướng đi và sự phát triển của bệnh viện Các nghiên cứu đề cập đến các thông tư, nghị định bệnh viện áp dụng trong công tác quản lý TTBYT: Nghị định số 36/2016/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/5/2016 về quản lý sử dụng TTBYT là một văn bản chính sách rất quan trọng, thuận lợi trong việc thực hiện quản lý sử dụng TTBYT; Thông tư số 15/2007 của Bộ Y tế hướng dẫn quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về việc thực hiện nhiệm

vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập (14); Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 130/2002/QĐ-TTg ngày 04/10/2002 về việc phê duyệt chính sách quốc gia về TTBYT; Chỉ thị số 01/2003/CT-BYT của Bộ

Y tế ban hành ngày 13/06/2013 về việc tăng cường công tác quản lý TTBYT; Quyết định số 437/QĐ-BYT của Bộ Y tế ngày 20/02/2002 ban hành danh mục TTBYT bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, huyện, phòng khám đa khoa khu vực, trạm y tế và túi

y tế thôn bản; Quyết định số 3333/2008/QĐ-BYT của Bộ Y tế ngày 08/09/2008 ban hành danh mục TTBYT thiết yếu phục vụ triển khai đề án đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp bệnh viện đa khoa huyện, bệnh viện đa khoa khu vực (11)

Trang 28

Bên cạnh chính sách của Nhà nước, chính sách định hướng phát triển của bệnh viện cũng ảnh hưởng đến quản lý TTBYT: theo nghiên cứu của Ngô Trương Ngọc Bích, Bệnh viện quận Thủ Đức với chính sách đầu tư TTBYT, hiện đại hóa và ứng dụng công nghệ thông tin, bệnh viện trở thành bệnh viện tuyến quận huyện trong cả nước, với số lượng bệnh nhân ngày càng tăng, chiến lược phát triển được đánh giá cao bởi chính quyền Quan tâm đầu tư, bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT, chính sách được NVYT đánh giá tốt (17)

1.5 Giới thiệu về bệnh viện quận Thủ Đức và khoa Chẩn đoán hình ảnh

Bệnh viện quận Thủ Đức

Bệnh viện quận Thủ Đức là bệnh viện tuyến Quận huyện đầu tiên xếp hạng I trong cả nước, được thành lập ngày 28/6/2007 Bệnh viện có tổng số giường kế hoạch là 800 giường, với 6.000 số lượt khám trong ngày, nhân sự cơ hữu là 2.123 người, được phân theo trình độ, chuyên môn cụ thể như sau: Phó giáo sư/Tiến sĩ/chuyên khoa II gồm 47 người; Thạc sĩ/Chuyên khoa I là 170 người; Bác sĩ là 330 người; Dược sĩ là 120 người; Kỹ thuật viên y là 210 người; Khác là 1.246 người (5,24)

Bệnh viện quận Thủ Đức có diện tích là 11.453,8m2, gồm 26 khối nhà dành cho hoạt động khám chữa bệnh, sân bãi đường đi, khu vực dành cho các hoạt động phụ trợ Hiện tại, toàn bộ các khối nhà này đều còn phục vụ tốt các hoạt động của bệnh viện Bệnh viện được chia thành 10 phòng chức năng, 40 khoa chuyên môn,

05 đơn vị trực thuộc (5)

Khoa Chẩn đoán hình ảnh của Bệnh viện quận Thủ Đức

Trong 40 khoa chuyên môn, khoa Chẩn đoán hình ảnh là một trong những khoa mũi nhọn của bệnh viện, chiếm tỷ trọng nhiều nhất trong việc được đầu tư TTBYT để phục vụ khám chữa bệnh cũng như phát triển chuyên môn sâu Khoa Chẩn đoán hình ảnh được thành lập ngày 11/3/2008 Nhân sự hiện có 90 người, trong đó có: 30 Bác sỹ; 24 Kỹ thuật viên; 32 Điều dưỡng và 4 Chuyên môn khác

Trang 29

Khoa Chẩn đoán hình ảnh đã trang bị TTBYT hiện đại và kỹ thuật cao, bao gồm: 25 máy siêu âm các loại, siêu âm cho trung bình 1800 ca/ngày; 11 máy X-quang gồm máy X-quang kỹ thuật số, máy X-quang di động, máy X-quang nhũ ảnh

và máy X-quang toàn hàm sọ mặt, chụp cho trung bình 1500 ca/ngày; 01 máy Scanner 128 lắt cắt, 01 máy CT-Scanner 256 lắt cắt và 03 máy CT-Scanner đa lát cắt thực hiện được trung bình 450 ca/ngày; 03 máy MRI chụp được khoảng 70 ca/ngày và 06 máy Nội soi dạ dày đại tràng thực hiện trung bình 170 ca/ngày

CT-Khoa Chẩn đoán hình ảnh là một trong những khoa được trang bị TTBYT hiện đại, có đội ngũ y tế chuyên môn tận tâm, chuyên nghiệp, thực hiện tốt các công tác chuyên môn, kỹ thuật phù hợp với quy mô Bệnh viện quận Thủ Đức (5)

1.6 Khung lý thuyết

Nghiên cứu thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trang thiết bị

y tế tại khoa Chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện quận Thủ Đức qua 4 yếu tố: Quản lý đầu tư; Quản lý thực trạng; Quản lý sử dụng; Quản lý bảo dưỡng sửa chữa Đồng thời, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng TTBYT: Cơ sở hạ tầng, Yếu tố tài chính; Yếu

tố nhân lực; Yếu tố chính sách

Trang 30

Quản lý

sử dụng Quản lý bảo

dưỡng, sửa chữa

QUẢN LÝ TTBYT

Yếu tố chính sách

- Chính sách BV

- Chính sách khoa CĐHA

Trang 31

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các TTBYT khoa CĐHA bệnh viện quận Thủ Đức

- Nhân viên y tế:

+ Ban lãnh đạo bệnh viện quận Thủ Đức

+ Lãnh đạo khoa CĐHA

+ Nhân viên trực tiếp quản lý, sử dụng TTBYT tại khoa CĐHA

+ NVYT không thuộc khoa CĐHA nhưng có tham gia vào công tác đầu tư, bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT của khoa CĐHA

- Hồ sơ TTBYT, báo cáo tài chính liên quan đến TTBYT

* Tiêu chuẩn chọn mẫu:

- Các TTBYT tại khoa CĐHA có nguyên giá ≥ 100 triệu đồng

- Nhân viên trực tiếp quản lý, sử dụng TTBYT tại khoa CĐHA có thâm niên công tác từ 1 năm trở lên và đồng ý tham gia nghiên cứu

- NVYT không thuộc khoa CĐHA nhưng có tham gia vào công tác đầu tư, bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT của khoa CĐHA, có thâm niên công tác ≥ 1 năm và đồng ý tham gia nghiên cứu

- Hồ sơ TTBYT tính đến tháng 6 năm 2020

- Báo cáo tài chính các năm: năm 2018, năm 2019 và 6 tháng đầu năm 2020

* Tiêu chuẩn loại trừ:

- NVYT vắng mặt sau 3 lần mời phỏng vấn

- NVYT không có mặt tại bệnh viện trong thời gian nghiên cứu

Trang 32

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Khoa CĐHA tại Bệnh viện quận Thủ Đức trong thời gian 10 tháng (từ tháng

01/2020 – 10/2020)

2.3 Thiết kế nghiên cứu

- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang

- Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu định lượng kết hợp nghiên cứu định tính

Phương pháp nghiên cứu định lượng được thực hiện trước và nghiên cứu định tính thực hiện sau để làm rõ và bổ sung cho kết quả từ nghiên cứu định lượng

2.4 Cỡ mẫu

2.4.1 Nghiên cứu định lượng

- TTBYT khoa CĐHA phù hợp tiêu chuẩn chọn mẫu là 50 TTBYT bao gồm:

03 máy MRI, 05 máy CT scanner, 25 máy siêu âm, 11 máy X-quang và 06 máy Nội soi tại khoa CĐHA

- 54 NVYT trực tiếp sử dụng TTBYT tại khoa Chẩn đoán hình ảnh

- 50 hồ sơ TTBYT, một bộ hồ sơ TTBYT bao gồm 16 loại: Hợp đồng mua bán TTBYT; Biên bản bàn giao TTBYT; Biên bản nghiệm thu TTBYT; Giấy chứng nhận CO, CQ; Giấy chứng nhận phân loại TTBYT (B, C, D); Tài liệu hướng dẫn sử dụng bằng tiếng Anh do nhà sản xuất cung cấp kèm theo; Tài liệu kỹ thuật phục vụ xây dựng quy trình bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT; Quy trình sử dụng TTBYT; Quy trình vận hành TTBYT; Quy trình bảo dưỡng sửa chữa TTBYT; Sổ nhật ký vận hành TTBYT; Sổ theo dõi bảo dưỡng sửa chữa TTBYT; Biên bản bàn giao trước khi thực hiện bảo dưỡng sửa chữa TTBYT; Biên bản bàn giao sau khi thực hiện bảo dưỡng sửa chữa TTBYT; Phiếu yêu cầu sửa chữa TTBYT hoặc hình thức tương tự; Giấy chứng nhận kiểm chuẩn (kiểm định) TTBYT bao gồm tem kiểm chuẩn

- 3 báo cáo tài chính các năm: năm 2018, năm 2019, 6 tháng đầu năm 2020

Trang 33

2.4.2 Nghiên cứu định tính

Thực hiện chọn mẫu có chủ đích, đảm bảo tính đa dạng về giới, tuổi, vị trí công tác, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác Tiến hành 9 cuộc PVS với các đối tượng Ban lãnh đạo bệnh viện; Lãnh đạo khoa; Nhân viên trực tiếp quản lý, sử dụng TTBYT; Nhân viên không thuộc khoa CĐHA nhưng có tham gia vào công tác đầu tư, bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT:

+ 01 Ban lãnh đạo bệnh viện

+ 01 Lãnh đạo khoa CĐHA

+ 04 Nhân viên trực tiếp sử dụng TTBYT khoa CĐHA, đối tượng là bác sĩ

và kỹ thuật viên

+ 03 Nhân viên phòng VT-TTBYT, Đơn vị ĐT-QLDA, phòng HCQT

- Tiến hành 02 cuộc thảo luận nhóm:

+ 01 cuộc thảo luận nhóm 6 người trên nhóm đối tượng nhân viên trực tiếp

sử dụng TTBYT

+ 01 cuộc thảo luận nhóm 5 người trên nhóm đối tượng nhân viên phòng VT-TTBYT, Đơn vị ĐT-QLDA, phòng HCQT

2.5 Phương pháp chọn mẫu

- Nghiên cứu định lượng:

+ Chọn các TTBYT tại khoa CĐHA có nguyên giá ≥ 100 triệu đồng

+ Chọn tất cả NVYT trực tiếp sử dụng TTBYT khoa CĐHA

+ Hồ sơ TTBYT, báo cáo tài chính liên quan đến TTBYT được lựa chọn

- Nghiên cứu định tính: Chọn mẫu có chủ đích, trên 9 phỏng vấn sâu và 2 thảo luận nhóm

Trang 34

2.6 Phương pháp thu thập số liệu

2.6.1 Thu thập số liệu định lượng

* Điều tra viên là nghiên cứu viên

* Tổ chức thu thập số liệu thứ cấp:

- Danh sách các TTBYT khoa CĐHA có nguyên giá ≥ 100 triệu đồng

- Báo cáo tài chính liên quan đến TTBYT: năm 2018, năm 2019, 6 tháng đầu năm 2020

- Chứng chỉ sử dụng TTBYT

- Chứng chỉ hành nghề của NVYT

- Hồ sơ TTBYT bao gồm 16 loại giấy tờ:

+ Hợp đồng mua bán TTBYT

+ Biên bản bàn giao TTBYT

+ Biên bản nghiệm thu TTBYT

+ Giấy chứng nhận CO, CQ

+ Giấy chứng nhận phân loại TTBYT (B, C, D)

+ Tài liệu hướng dẫn sử dụng bằng tiếng Anh do nhà sản xuất cung cấp kèm theo

+ Tài liệu kỹ thuật phục vụ xây dựng quy trình bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT

Trang 35

+ Biên bản bàn giao trước khi thực hiện bảo dưỡng sửa chữa TTBYT

+ Biên bản bàn giao sau khi thực hiện bảo dưỡng sửa chữa TTBYT

+ Phiếu yêu cầu sửa chữa thiết bị y tế hoặc hình thức tương tự

+ Giấy chứng nhận kiểm chuẩn (kiểm định) TTBYT bao gồm tem kiểm chuẩn.

2.6.2 Thu thập số liệu định tính

2.6.2.1 Phỏng vấn sâu

Nghiên cứu viên phỏng vấn sâu Ban lãnh đạo bệnh viện; Lãnh đạo khoa; nhân viên trực tiếp quản lý, sử dụng TTBYT; nhân viên không thuộc khoa CĐHA nhưng có tham gia vào công tác đầu tư, bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT nhằm tìm các yếu tố ảnh hưởng với quản lý TTBYT:

Tổ chức thu thập dữ liệu, đầu tiên nghiên cứu viên đến gặp trực tiếp 09 đối tượng chọn chủ đích để PVS (đã đề cập trong cỡ mẫu định tính), trình bày lý do thực hiện nghiên cứu, mục tiêu và phương pháp nghiên cứu và xin phép phỏng vấn sâu Đồng thời, gửi họ phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu Sau khi nhân viên đồng ý tham gia nghiên cứu và ký vào phiếu đồng ý thì nghiên cứu viên xin lịch hẹn và địa điểm yên tĩnh để tiến hành phỏng vấn sâu Nghiên cứu viên cũng xin phép đối tượng phỏng vấn được ghi âm, giải thích nội dung ghi âm phục vụ cho quá trình nghiên cứu, không lộ thông tin người được phỏng vấn ra ngoài

Trang 36

Sau khi đã gặp trực tiếp với nhân viên đồng ý phỏng vấn, nghiên cứu viên đọc trang giới thiệu nghiên cứu, trong quá trình phỏng vấn nghiên cứu viên ghi âm kết hợp ghi chép trong suốt quá trình phỏng vấn Thời gian mỗi cuộc phỏng vấn sâu kéo dài 20 phút

Bộ công cụ thu thập thông tin định tính (bảng câu hỏi gợi ý PVS) là bộ câu hỏi bán câu trúc (gồm các câu hỏi đóng và câu hỏi mở) được thiết kế phù hợp với từng nhóm đối tượng nhằm làm rõ các mục tiêu của nghiên cứu

Về tổ chức thu thập dữ liệu, đầu tiên nghiên cứu viên đến gặp trực tiếp đối tượng chọn chủ đích để TLN (đã đề cập trong cỡ mẫu định tính), trình bày lý do thực hiện nghiên cứu, mục tiêu và phương pháp nghiên cứu và xin phép thảo luận nhóm Đồng thời, gửi họ phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu Sau khi NVYT đồng ý tham gia nghiên cứu và ký vào phiếu đồng ý thì nghiên cứu viên xin lịch hẹn phù hợp để nhóm có thể thảo luận và địa điểm yên tĩnh để tiến hành TLN Nghiên cứu viên cũng xin phép đối tượng được ghi âm, và giải thích nội dung ghi âm phục vụ cho quá trình nghiên cứu, không lộ thông tin người được phỏng vấn ra ngoài

Trang 37

Sau khi đã gặp trực tiếp với nhân viên đồng ý phỏng vấn TLN, nghiên cứu viên đọc trang giới thiệu nghiên cứu, trong quá trình phỏng vấn nghiên cứu viên ghi

âm kết hợp ghi chép trong suốt quá trình phỏng vấn Thời gian mỗi cuộc thảo luận nhóm kéo dài 20 phút

Dữ liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi TLN bán cấu trúc (kết hợp câu hỏi đóng và câu hỏi mở)

2.7 Biến số nghiên cứu

Mục tiêu 1 Mô tả thực trạng quản lý TTBYT Đối với mục tiêu này sử dụng

TTBYT chia thành 4 nhóm: Quản lý đầu tư; Quản lý thực trạng; Quản lý sử dụng; Quản lý bảo dưỡng sửa chữa Các biến số trên được thu thập qua số liệu thứ cấp, phát vấn

Mục tiêu 2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý TTBYT Các chủ đề, biến

số của mục tiêu này bao gồm một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý TTBYT tại khoa CĐHA: Cơ sở vật chất tại khoa CĐHA, yếu tố nhân lực, yếu tố tài chính, yếu tố chính sách

(Chi tiết xem tại Phụ lục 1)

2.8 Tiêu chuẩn đánh giá

- Hồ sơ trang thiết bị y tế đầy đủ là bao gồm tất cả 16 loại giấy tờ:

+ Hợp đồng mua bán TTBYT

+ Biên bản bàn giao TTBYT

+ Biên bản nghiệm thu TTBYT

+ Giấy chứng nhận CO, CQ

+ Giấy chứng nhận phân loại TTBYT (B, C, D)

+ Tài liệu hướng dẫn sử dụng bằng tiếng Anh do nhà sản xuất cung cấp kèm theo

Trang 38

+ Tài liệu kỹ thuật phục vụ xây dựng quy trình bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT

+ Quy trình sử dụng TTBYT

+ Quy trình vận hành TTBYT

+ Quy trình bảo dưỡng sửa chữa TTBYT

+ Sổ nhật ký vận hành TTBYT

+ Sổ theo dõi bảo dưỡng sửa chữa TTBYT

+ Biên bản bàn giao trước khi thực hiện bảo dưỡng sửa chữa TTBYT

+ Biên bản bàn giao sau khi thực hiện bảo dưỡng sửa chữa TTBYT

+ Phiếu yêu cầu sửa chữa TTBYT hoặc hình thức tương tự

+ Giấy chứng nhận kiểm chuẩn (kiểm định) TTBYT bao gồm tem kiểm chuẩn

- Tần suất sử dụng TTBYT dựa vào Thông tư số 08/2019/TT-BYT ngày 31 tháng 05 năm 2019 của Bộ Y tế hướng dẫn tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc, thiết bị chuyên dùng thuộc lĩnh vực y tế (25)

2.9 Phương pháp phân tích số liệu

- Định lượng: Số liệu sau khi làm sạch được nhập và xử lý số liệu bằng phần mềm Epidata, phân tích bằng phần mềm SPSS

- Định tính: Số liệu được gỡ băng chuyển sang file Word và phân tích theo chủ đề, nghiên cứu viên đọc và tiến hành mã hóa thông tin theo các nội dung nghiên cứu

2.10 Đạo đức trong nghiên cứu

- Tuân thủ các nguyên tắc Hội đồng đạo đức, nghiên cứu đã được thông qua tại văn bản số 180/2020/YTCC-HD3 ngày 29 tháng 4 năm 2020 của Hội đồng đạo

Trang 39

đức trong NCYSH – Trường Đại học Y tế Công cộng về việc chấp thuận các vấn đề đạo đức NCYSH

- Các số liệu và thông tin chỉ dùng cho mục đích nghiên cứu Các đối tượng nghiên cứu được bảo mật thông tin, từ chối hoặc ngừng tham gia nghiên cứu bất cứ lúc nào

- Thông qua sự cho phép của Hội đồng đạo đức bệnh viện quận Thủ Đức

Trang 40

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thực trạng quản lý trang thiết bị y tế

Quản lý đầu tư TTBYT

Bảng 3.1 Thực trạng đầu tư TTBYT

Bệnh viện đầu

Xã hội hóa Liên doanh liên

kết

Vay ngân hàng

n Tỷ lệ

Tỷ lệ (%) n

Tỷ lệ (%)

Ngày đăng: 31/01/2021, 20:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w