1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng tuân thủ rửa tay thường quy của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng ngoại khoa của bệnh viện nhân dân gia định năm 2019 và một số yếu tố ảnh hưởng

107 76 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 2,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là lý do chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài: “Thực trạng tuân thủ quy trình rửa tay thường quy của điều dưỡng tại các khoa Ngoại khoa bệnh viện Nhân Dân Gia Định năm 2019

Trang 1

TIÊU CHÍ ĐỨC

THỰC TRẠNG TUÂN THỦ RỬA TAY THƯỜNG QUY

CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG NGOẠI KHOA

CỦA BỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH NĂM 2019

VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG

LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA II TỔ CHỨC QUẢN LÝ Y TẾ

MÃ SỐ: 62.72.76.05

Hà Nội, 2019

Trang 2

TIÊU CHÍ ĐỨC

THỰC TRẠNG TUÂN THỦ RỬA TAY THƯỜNG QUY

CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG NGOẠI KHOA

CỦA BỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH NĂM 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình hoàn thiện luận văn thuộc chương trình đào tạo Bác sĩ chuyên khoa cấp II Tổ chức quản lý y tế, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, bạn bè và gia đình

Để đạt được kết quả ngày hôm nay, trước hết tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Lê Thị Thanh Hương, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám hiệu, các phòng ban, các thầy

cô giáo và các bạn sinh viên trường Đại học Y tế công cộng và trường ĐH Nguyễn Tất Thành TPHCM đã giúp đỡ, tạo điều kiện trong quá trình học tập, thu thập tài liệu, thông tin cho chủ đề luận văn của mình

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám đốc, Ban chủ nhiệm các khoa, phòng, điều dưỡng trưởng và các bạn điều dưỡng tại các khoa Ngoại bệnh viện Nhân dân Gia Định TP Hồ Chí Minh đã giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi thu thập tài liệu, thông tin cho chủ đề luận văn của mình

Sau cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình, những người bạn thân thiết của tôi, những người đã cùng chia sẻ những khó khăn, dành cho tôi nhiều sự hỗ trợ và những lời chia sẻ quý báu trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày 15 tháng 3 năm 2020 Tác giả

Tiêu Chí Đức

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU v

TÓM TẮT vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 Một số thuật ngữ, khái niệm được dùng trong nghiên cứu 5

1.2.Tầm quan trọng của vệ sinh tay 6

1.3.Quy định về rửa tay thường quy 9

1.4 Thực trạng tuân thủ rửa tay thường quy của nhân viên y tế 11

1.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ rửa tay thường quy của nhân viên y tế 16 1.6 Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu 22

1.7Khung lý thuyết 23

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đối tượng nghiên cứu 25

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 26

2.3 Thiết kế nghiên cứu 26

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 26

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 28

2.6 Biến số nghiên cứu: 29

2.7 Tiêu chuẩn đánh giá thực hành tuân thủ rửa tay thường quy 31

2.8 Phương pháp phân tích số liệu 32

2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 32

Trang 5

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 34

3.2 Thực trạng tuân thủ quy trình rửa tay thường quy của điều dưỡng tại 6 khoa lâm sàng ngoại khoa 36

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

PHỤ LỤC 74

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, HÌNH

Bảng 3.1: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 34

Bảng 3.2: Phân bố khoa/phòng công tác của điều dưỡng 35

Bảng 3.3: Tiếp cận thông tin về rửa tay thường quy của điều dưỡng 35

Bảng 3.4: Tỷ lệ có rửa tay thường quy trong số cơ hội được quan sát theo từng thời điểm 36

Bảng 3.5: Phương thức rửa tay thường quy trong số cơ hội có rửa tay 37

Bảng 3.6: Tỷ lệ tuân thủ quy trình rửa tay thường quy theo cơ hội rửa tay 39

Bảng 3.7: Tỷ lệ tuân thủ rửa tay thường quy theo khoa làm việc 40

Bảng 3.8: Tỷ lệ tuân thủ từng bước trong quy trình rửa tay thường quy 42

Bảng 3.9: Mối liên quan giữa yếu tố cá nhân với tuân thủ RTTQ 44

Bảng 3.10: Mối liên quan giữa Tiếp cận thông tin và tuân thủ rửa tay thường quy của điều dưỡng 45

Bảng 3.11 Thời gian làm việc và tuân thủ rửa tay thường quy 47

Hình 1.1 Năm thời điểm rửa tay (Theo WHO) 10

Biểu đồ 3.1 Tỉ lệ điều dưỡng 6 khoa ngoại tuân thủ rửa tay thường quy 43

Trang 8

TÓM TẮT

NKBV là một trong các nguyên nhân hàng đầu gây tăng biến chứng, chi phí nằm viện, tỷ lệ tử vong “Vệ sinh tay (VST) là biện pháp đơn giản và hiệu quả nhất trong phòng ngừa NKBV” Tại Việt Nam, can thiệp làm tăng sự tuân thủ rửa tay của NVYT cũng mang lại hiệu quả tích cực trong việc làm giảm tỷ lệ NKBV từ 17,1% trước can thiệp xuống còn 4,8% sau can thiệp [27] Tỉ lệ NKBV năm 2018 của bệnh viện Nhân dân Gia Định vẫn còn cao, tỉ lệ NKBV của khối ngoại cao hơn khối nội, nguyên nhân do lây nhiễm chéo trong quá trình chăm sóc bệnh nhân của NVYT, đặc biệt là điều dưỡng khối ngoại Đó là lý do chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài: “Thực trạng tuân thủ quy trình rửa tay thường quy của điều dưỡng tại các khoa Ngoại khoa bệnh viện Nhân Dân Gia Định năm 2019 và một số

yếu tố ảnh hưởng”

Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trong 04 tháng, sử dụng các số liệu định lượng kết hợp thông tin định tính Số liệu định lượng được thu thập bằng phương pháp quan sát không tham gia, có sử dụng bảng kiểm Quan sát 498 cơ hội rửa tay Thông tin định tính thu thập từ 02 cuộc phỏng vấn sâu với các chuyên gia

và 03 cuộc thảo luận nhóm Số liệu được nhập và phân tích bằng phần mềm Exel, Epidata và SPSS 18

Tỉ lệ tuân thủ rửa tay thường quy của điều dưỡng theo cơ hội quan sát là 78,1% trong đó rửa tay nhanh với cồn và dung dịch có cồn chiếm 53,2%, cao nhất

là trước khi làm thủ thuật (97,8%), thấp nhất là sau khi tiếp xúc với đồ dùng, bề mặt vùng xung quanh người bệnh (71,1%) Tỉ lệ cơ hội làm đúng và đủ 6 bước là 71,9%, trong đó các bước 4, 5 và 6 đạt tỉ lệ dao động trong khoảng 76,3% đến 79,4% Thực hành RTTQ của điều dưỡng thay đổi theo thời gian làm việc, cao nhất

là ca sáng, thấp nhất là ca tối Trình độ học vấn có tác động có ý nghĩa thống kê trong việc tuân thủ RTTQ của điều dưỡng, chỉ số p < 0,05 Các yếu tố ảnh hưởng tích cực đến việc tuân thủ RTTQ là yếu tố quản lý, sự quan tâm của Lãnh đạo bệnh viện và khoa KSNK, các quy định, thông tư, văn bản tập huấn và hướng dẫn; có sự kiểm tra, giám sát thường xuyên và có sự phản hồi sau giám sát Các yếu tố ảnh

Trang 9

hưởng tiêu cực đến việc tuân thủ RTTQ là quá tải công việc, trang bị nước rửa tay

và bồn rửa tay chưa đồng bộ; bệnh viện chưa có quy định thưởng và phạt cụ thể Căn cứ vào kết quả nghiên cứu, chúng tôi đề xuất bệnh viện cần Tăng cường

tổ chức các lớp đào tạo tập huấn về rửa tay thường quy cho nhân viên y tế, Trang bị đầy đủ trang thiết bị về RTTQ cho các khoa, Sắp xếp nhân lực điều dưỡng phù hợp

để giảm tình trạng quá tải cho nhân viên

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

NKBV là một trong các nguyên nhân hàng đầu đe dọa sự an toàn của người bệnh, tăng biến chứng, ngày điều trị, chi phí nằm viện, tỷ lệ tử vong Nhiễm khuẩn bệnh viện cũng gây quá tải, giảm chất lượng và uy tín bệnh viện

và trở thành gánh nặng chăm sóc y tế

Theo nghiên cứu của WHO tại 55 bệnh viện của 14 nước trên các châu lục, khoảng 8,7% bệnh nhân nội trú mắc NKBV Theo nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng và cộng sự [21] thực hiện năm 2006 – 2007 tại 62 bệnh viện khu vực phía Bắc đại diện các tuyến: Trung ương, tỉnh/Thành phố và Quận/Huyện cho thấy, tỉ lệ NKBV trung bình là 7,8% Trong đó các bệnh viện tuyến TW có tỉ lệ NKBV là 5,4%; các BV tuyến tỉnh/thành phố có tỉ lệ NKBV là 8,3% cao hơn tỉ lệ NKBV ở các BV tuyến quận/huyện là 6,4% Có nhiều yếu tố gây ảnh hưởng NKBV như: môi trường ô nhiễm, bệnh truyền nhiễm, xử lý dụng cụ, các thủ thuật xâm lấn nhưng ô nhiễm bàn tay của nhân viên y tế là một mắt xích quan trọng trong dây chuyền NKBV Theo y văn Thế giới có tới 80% NKBV do sự có mặt của đôi bàn tay

Tổ chức Y tế Thế giới khẳng định “Chăm sóc sạch là chăm sóc an toàn” và

“Vệ sinh tay (VST) là biện pháp đơn giản và hiệu quả nhất trong phòng ngừa NKBV” Đây là giải pháp rẻ tiền nhất, dễ thực hiện và hiệu quả nhất Nghiên cứu ở Thụy Sĩ từ năm 1944 - 1997 trên 20,000 cơ hội rửa tay của NVYT tại bệnh viện Geneva đã cho thấy: khi tỷ lệ tăng thủ rửa tay của NVYT tăng từ 48% lên 66% thì tỷ lệ NKBV giảm từ 16,9% xuống còn 6,9% [10] Tại Việt Nam, can thiệp làm tăng sự tuân thủ rửa tay của NVYT cũng mang lại hiệu quả tích cực trong việc làm giảm tỷ lệ NKBV từ 17,1% trước can thiệp xuống

còn 4,8% sau can thiệp [27]

Tuy nhiên, trong thực tế tại các Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cho thấy nhận thức của nhân viên y tế còn chưa đầy đủ, đặc biệt ở đối tượng điều dưỡng, cường độ công việc nhanh và nhiều, phương tiện vệ sinh tay còn thiếu, vị trí vệ sinh tay còn chưa hợp lý nên tỷ lệ vệ sinh tay còn thấp ở hầu

Trang 11

hết các Bệnh viện Tại bệnh viện Nhi Đồng 1 trong nhiều năm qua, họ đều thực hiện đánh giá tự tuân thủ quy trình rửa tay thường quy của nhân viên y

tế, tỉ lệ tuân thủ được cải thiện rõ rệt, năm 2014 (51,2%), năm 2015 (59,2%), năm 2016 (63%), tuy nhiên tỉ lệ tuân thủ vẫn ở mức trung bình

Bệnh viện Nhân Dân Gia Định là bệnh viện hạng I thuộc Sở Y tế TPHCM, với qui mô 1500 giường nội trú, Hàng ngày Bệnh viện thực hiện khám chữa bệnh cho 5000 lượt khám ngoại trú, khám nội trú Lượng bệnh nhân điều trị nội trú khá cao Bên cạnh đó Bệnh viện (BV) là cơ sở thực hành cho sinh viên hai trường Đại học lớn của TPHCM, các trường cao đẳng y tế và thực hiện nhiều hoạt động chuyên khoa nên vấn đề phòng ngừa và kiểm soát NKBV đang ngày càng trở nên cấp thiết đối với BV và là vấn đề luôn được quan tâm, ưu tiên hàng đầu Đứng trước tình hình ấy, nhận thức được vai trò của

vệ sinh tay thường quy, câu hỏi đặt ra: Nhân viên y tế đã thực hiện đúng qui trình rửa tay thường quy của BYT hay không? Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ rửa tay là gì? Đối tượng nhân viên y tế nào cần được quan tâm đánh giá sự tuân thủ hiện nay?

Kết quả báo cáo của Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn hàng năm tại BV cho thấy, tỉ lệ NKBV năm 2018 vẫn còn cao, tỉ lệ NKBV của khối ngoại cao hơn khối nội, nguyên nhân do lây nhiễm chéo giữa bệnh nhân này qua bệnh nhân khác trong quá trình chăm sóc bệnh nhân của NVYT, đặc biệt là điều dưỡng khối ngoại, việc chăm sóc hậu phẫu thường xuyên và luôn quá tải bệnh nhân nên điều dưỡng phải thực hiện nhiều thao tác kỹ thuật chăm sóc người bệnh

với cường độ cao hơn so với các khoa lâm sàng khác

Công tác giám sát nhiễm khuẩn và vệ sinh bàn tay của NVYT tuy được quan tâm nhưng chưa được thực hiện thường xuyên và chưa có nghiên cứu nào mang tính hệ thống để đánh giá toàn diện sự tuân thủ RTTQ của NVYT,

ở các khoa lâm sàng Ngoại Khoa

Đó là lý do chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài: “Thực trạng tuân thủ quy trình rửa tay thường quy của điều dưỡng tại các khoa Ngoại khoa bệnh viện Nhân Dân Gia Định năm 2019 và một số yếu tố ảnh hưởng” từ đó

Trang 12

góp phần đề xuất những giải pháp, nâng cao hiệu quả trong việc RTTQ cho

ĐD, góp phần nâng cao chất lượng công tác KSNK, ngăn chặn nguy cơ lây nhiễm chéo trong BV, làm giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn, hạn chế tai biến trong

điều trị và nâng cao chất lượng BV trong thời gian tới

Trang 13

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả tuân thủ rửa tay thường quy của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng

ngoại khoa Bệnh viện Nhân Dân Gia Định năm 2019

2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới việc tuân thủ rửa tay thường quy của điều dưỡng tại các khoa ngoại khoa Bệnh viện Nhân dân Gia Định năm

2019

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số thuật ngữ, khái niệm được dùng trong nghiên cứu

1.1.1 Khái niệm về nhiễm khuẩn bệnh viện

Theo WHO, NKBV là “các nhiễm khuẩn xuất hiện sau 48 giờ kể từ khi bệnh nhân nhập viện và không hiện diện cũng như không có ở giai đoạn ủ

bệnh tại thời điểm nhập viện” [40]

1.1.2 Một số thuật ngữ về dung dịch rửa tay

Vệ sinh tay (Hand hygiene): Là một thuật ngữ chung để chỉ hoặc rửa tay bằng xà phòng thường, rửa tay bằng xà phòng khử khuẩn hoặc chà tay bằng dung dịch vệ sinh tay chứa cồn

Rửa tay (Hand washing): Là rửa tay với nước và xà phòng thường

Rửa tay thường quy (RTTQ): là thuật ngữ chung để chỉ làm sạch bàn tay

bằng nước với xà phòng hoặc với dung dịch rửa tay chứa cồn/cồn [2]

RTTQ bằng nước và xà phòng: là rửa tay với nước và xà phòng [2]

RTTQ bằng dung dịch chứa cồn (hay còn gọi là chà tay khử khuẩn): Là

chà toàn bộ bàn tay bằng dung dịch rửa tay chứa cồn (không dùng nước) nhằm làm giảm lượng vi khuẩn có trên bàn tay Những chế phẩm rửa tay chứa cồn thường chứa 60% đến 90% cồn ethanol hoặc isopropanol hoặc kết hợp các loại cồn trên với một chất khử khuẩn khác [2]

Cơ hội RTTQ: là những thời điểm cần RTTQ trong các hoạt động chăm

sóc, điều dưỡng để ngăn chăn sự lây truyền mầm bệnh qua bàn tay [41]

Các thời điểm rửa tay/sát khuẩn tay: Thời điểm NVYT bắt buộc phải

RTTQ bao gồm:

(1) Trước khi tiếp xúc trực tiếp với người bệnh

(2) Trước khi làm thủ thuật vô khuẩn

(3) Sau khi tiếp xúc với người bệnh

(4) Sau khi tiếp xúc với máu và dịch thể cơ thể

(5) Sau khi tiếp xúc với đồ dùng, bề mặt vùng xung quanh người bệnh

Cơ hội tuân thủ RTTQ: Một cơ hội rửa tay được coi là tuân thủ phải đảm

bảo:

Trang 15

(1) Có rửa tay khi có cơ hội cần rửa tay;

(2) Phải rửa tay với nước và xà phòng hoặc rửa tay với dung dịch rửa tay chứa cồn

Tuân thủ RTTQ: là việc NVYT có rửa tay trong các cơ hội cần rửa tay theo

quy định Tỷ lệ tuân thủ RTTQ (%) được tính bằng tổng số cơ hội có RTTQ

trên tổng số cơ hội cần RTTQ [3]

Tuân thủ RTTQ đúng quy định: là việc NVYT có RTTQ trong các cơ hội

cần RTTQ theo quy định và phải thực hành đúng thao tác (6 bước) theo đúng quy trình Tỷ lệ tuân thủ RTTQ đúng quy trình (%) được tính bằng tổng số cơ

hội có RTTQ đúng quy trình trên tổng số cơ hội có RTTQ [2]

1.2 Tầm quan trọng của vệ sinh tay

1.2.1 Bàn tay là vật trung gian truyền bệnh

Bàn tay là phương tiện trung gian làm lan truyền tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện và các tác nhân gây bệnh đề kháng kháng sinh Bàn tay dễ dàng bị ô nhiễm khi chăm sóc và điều trị người bệnh vì các vi khuẩn cư trú ở lớp sâu của da và xung quanh móng tay Vi khuẩn gây NKBV trong vài thập

kỷ qua đã có nhiều thay đổi, các vi khuẩn gây bệnh chủ yếu hiện nay là

S.aureus và các trực khuẩn Gram (-), ngoài ra còn có S.saprophyticus, hemolytic, Enterobacteriaecae, chủng Acinetobacter spp, Klebsiella spp, [6]

Beta-Virus thường gặp nhiều ở trẻ em hơn là người trưởng thành và mang nguy cơ dịch cao Một số virus có thể gây NKBV như virus viêm gan B,C, các virus

hợp bào hô hấp, SARS, virus đường ruột (Enteroviruses) và một số loại virus khác như Cytomegalovirus, HIV, Ebola, influenza, Herpesvirus và Varicella- zoster virus[6] Nấm thường xuất hiện do điều trị kháng sinh kéo dài và do bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch Các chủng thường gặp như Candida albicans, Aspergillus spp, Cryptococcusneoformans, Cryptosporidium Ký sinh trùng Giardia lamblia có thể lây truyền dễ dàng giữa người trưởng thành

và trẻ em

NVYT hàng ngày dùng bàn tay là công cụ để khám chữa bệnh và chăm sóc bệnh nhân, do đó bàn tay của NVYT thường xuyên tiếp xúc với da, máu, dịch

Trang 16

sinh học và dịch tiết của người bệnh Các vi khuẩn gây bệnh từ bệnh nhân truyền qua tay của NVYT, làm cho bàn tay của NVYT là nguồn chứa các vi khuẩn gây bệnh

Năm bước bàn tay phát tán mầm bệnh:

- Mầm bệnh định cư trên da người bệnh và bề mặt các đồ vật;

- Mầm bệnh bám vào da tay của NVYT;

- Mầm bệnh sống trên da tay;

- Rửa tay ít dẫn đến da tay nhiễm khuẩn;

- Da tay nhiễm khuẩn phát tán mầm bệnh sang người bệnh hoặc đồ vật [24] Các chủng vi khuẩn thường có trên bàn tay NVYT [37]

Vi khuẩn định cư: ít có khả năng gây nhiễm khuẩn trừ khi chúng xâm nhập

vào cơ thể qua các thủ thuật xâm lấn như phẫu thuật, đặt ống xông, Cần rửa tay bằng hóa chất khử khuẩn như cồn hoặc dung dịch sát khuẩn chứa cồn với thời gian dù dài nhằm loại bỏ các vi khuẩn này

Vi khuẩn vãng lai: loại vi khuẩn này xuất hiện ở bàn tay NVYT khi bàn tay

bị nhiễm bẩn từ người bệnh hoặc các đồ vật bẩn trong môi trường bệnh viện khi chăm sóc và điều trị Vi khuẩn vãng lai gồm mọi sinh vật có mặt trong môi trường bệnh viện (vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng) và là nguyên nhân chính gây NKBV Có thể loại bỏ hầu hết các vi khuẩn này bằng biện pháp RTTQ với nước và xà phòng thường hoặc dung dịch rửa tay có chứa cồn

1.2.2 Hiệu quả của tuân thủ rửa tay và mối liên quan với nhiễm khuẩn bệnh viện

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính, hiện nay trên thế giới có khoảng 59 triệu nhân viên y tế, tương đương với hơn 100 triệu bàn tay chạm vào người bệnh mỗi ngày và có hơn 1,4 triệu người mắc nhiễm khuẩn liên quan đến chăm sóc y tế Đặc biệt, ở các nước phát triển, có 5% đến 10% tổng số bệnh nhân mắc nhiễm khuẩn liên quan đến chăm sóc y tế, còn ở các nước đang phát triển, nguy cơ này cao gấp từ 2 đến 20 lần

Tại Việt Nam, điều tra năm 2005 tại 19 bệnh viện trên toàn quốc cho thấy, tỷ

lệ nhiễm khuẩn bệnh viện chiếm 5,7% trong đó nhiễm khuẩn viêm phổi bệnh

Trang 17

viện đứng hàng đầu (55,4%), tiếp đến nhiễm khuẩn vết mổ (13,6%), nhiễm khuẩn tiết niệu (9,7%), nhiễm khuẩn tiêu hóa (7,9%), nhiễm khuẩn da, mô mềm (5,9%)… Theo đánh giá của các chuyên gia y tế, với tình trạng quá tải tại các bệnh viện như hiện nay, nếu cán bộ y tế không thực hiện tốt vệ sinh bàn tay thì tình trạng nhiễm khuẩn bệnh viện ngày càng gia tăng nhanh chóng Hầu hết các báo cáo tại Hội nghị Kiểm soát nhiễm khuẩn Khu vực Châu Á Thái Bình Dương lần thứ III và thứ IV (tháng 7/2007 và 7/2009) có chung một khuyến cáo, đó là cần tăng cường sự tuân thủ rửa tay

Sự tuân thủ đúng quy trình rửa tay của NVYT (rửa tay với nước và xà phòng, rửa tay với dung dịch sát khuẩn tay chứa cồn) được coi là biện pháp đơn giản và hiệu quả nhất để phòng ngừa NKBV [33] Rửa tay đúng cách sẽ loại bỏ hầu hết lớp vi sinh vật gây NKBV cho bệnh nhân Sát trùng tay giúp giảm tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm trùng liên quan đến chăm sóc sức khỏe tại các

cơ sở y tế [28]

Nhiều nghiên cứu đã khẳng định rửa tay bằng dung dịch có chức cồn là biện pháp quan trọng nhất để dự phòng sự lây truyền tác nhân gây bệnh trong các cơ sở y tế [34]

Một nghiên cứu ở Thụy Sĩ từ năm 1944 - 1997 trên 20,000 cơ hội rửa tay của NVYT tại bệnh viện Geneva đã cho thấy: khi tỷ lệ tăng thủ rửa tay của NVYT tăng từ 48% lên 66% thì tỷ lệ NKBV giảm từ 16,9% xuống còn 6,9% [10] Tại Việt Nam, can thiệp làm tăng sự tuân thủ rửa tay của NVYT cũng mang lại hiệu quả tích cực trong việc làm giảm tỷ lệ NKBV từ 17,1% trước

can thiệp xuống còn 4,8% sau can thiệp [27]

Đánh giá được tầm quan trọng của rửa tay trong việc phòng ngừa và giảm

tỷ lệ NKBV, từ năm 1996 Bộ Y tế đã ban hành Quy trình rửa tay thường quy

có minh họa bằng hình ảnh Năm 2007, dựa trên hướng dẫn mới nhất của WHO về phương pháp RTTQ và sát khuẩn tay bằng dung dịch có chứa cồn,

Bộ Y tế đã mời các chuyên gia y tế và chuyên gia KSNK sửa đổi quy trình cho phù hợp với điều kiện Việt Nam và ban hành công văn số 7517/BYT - ĐTr ngày 12 tháng 10 năm 2007 đề nghị các Sở Y tế, các đơn vị tổ chức cho

Trang 18

cán bộ, nhân viên bệnh viện học tập và thực hiện theo hướng dẫn mới và treo quy trình rửa tay bằng hình ảnh ở những vị trí thuận lợi để NVYT tực hiện theo quy định [1] Bộ Y tế (2017) Bộ Y tế đã ban hành Quyết định 3916/QĐ - BYT [2] và năm 2018, Bộ Y tế ban hành Thông tư số 16/2018/TT - BYT ngày 20 tháng 7 năm 2018 về việc hướng dẫn tổ chức quy định KSNK tại các

cơ sở khám, chữa bệnh trong đó đã quy định thầy thuốc, NVYT phải rửa tay theo quy định và theo hướng dẫn của cơ sở khám chữa bệnh [3]

Như vậy, bàn tay là phương tiện quan trọng làm lan truyền NKBV VST giúp loại bỏ hầu hết VSV có ở bàn tay, do đó, có tác dụng ngăn ngừa lan truyền tác nhân nhiễm khuẩn từ NB này sang NB khác, từ NB sang dụng cụ

và NVYT, từ vị trí này sang vị trí khác trên cùng một NB và từ NVYT sang

NB VST là biện pháp đơn giản và hiệu quả nhất trong phòng ngừa NKBV, đồng thời cũng là biện pháp bảo đảm an toàn cho NVYT trong thực hành chăm sóc và điều trị NB

Ai cần VST?

NVYT, những người làm trong bệnh viện có trực tiếp chăm sóc và điều trị cho người bệnh, họ là những Bác sĩ, Điều dưỡng, Hộ lý…

1.3 Quy định về rửa tay thường quy

1.3.1 Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khi nhân viên y tế có thực hiện chăm sóc người bệnh, sẽ có 5 thời điểm (5 cơ hội) mà người NVYT bắt buộc phải thực hiện:

1.Rửa tay trước khi tiếp xúc với người bệnh: NVYT phải rửa sạch bàn tay trước khi tiếp xúc bệnh nhân để bảo vệ bệnh nhân trước những tác hại của vi khuẩn do bàn tay của NVYT có thể mang lại

2.Rửa tay trước khi làm bất cứ thao tác nào đòi hỏi sự vô khuẩn khi chăm sóc người bệnh: rửa sạch bàn tay ngay lập tức trước một vài công việc được thực hiện vô khuẩn để bảo vệ bệnh nhân trước những tác hại của vi khuẩn, bao gồm các mầm bệnh ở bản thân bệnh nhân, hoặc do lây từ cơ thể NVYT

Trang 19

3.Rửa tay sau khi tiếp xúc với người bệnh: rửa sạch bàn tay ngay sau khi phơi nhiễm với yếu tố nguy cơ từ chất dịch tiết cơ thể (sau khi tháo bỏ găng tay) mục đích để bảo vệ chính bản thân NVYT và môi trường chăm sóc

y tế từ các mầm bệnh có hại ở bệnh nhân

4.Rửa tay sau khi có nghi ngờ phơi nhiễm với máu và dịch cơ thể: rửa sạch bàn tay của mình sau khi tiếp xúc với bệnh nhân và khu vực xung quanh bệnh nhân khi NVYT rời khỏi khu vực đó, để bảo vệ chính bản thân mình và môi trường chăm sóc y tế từ các mầm bệnh có hại ở bệnh nhân

5.Rửa tay sau khi đụng chạm vào khu vực xung quanh người bệnh (dụng cụ, máy móc, đồ vật…): rửa sạch bàn tay sau khi tiếp xúc một vài đồ vật hoặc máy móc xung quanh bệnh nhân, khi NVYT rời khỏi khu vực đó để bảo vệ chính bản thân mình và môi trường chăm sóc y tế từ các mầm bệnh có hại ở bệnh nhân

Và khi NVYT thực hiện vệ sinh tay ở 5 thời điểm này thì được gọi là

có tuân thủ vệ sinh tay Tuy nhiên, nếu tại thời điểm quan sát đối tượng không thực hiện kỹ thuật vô khuẩn trên người bệnh và không nghi ngờ hoặc tiếp xúc máu, dịch tiết thì có thể không thực hiện rửa tay tại thời điểm 2 và/hoặc 4 vẫn được xem là tuân thủ vệ sinh tay

Hình 1.1 Năm thời điểm rửa tay (Theo WHO)

Trang 20

1.3.2 Theo hướng dẫn thực hành VST trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của BYT ngày 28/8/2017, kỹ thuật VST dù VST bằng xà phòng và nước hoặc chà tay bằng dung dịch VST chứa cồn cần thực hiện theo kỹ thuật 6 bước: + Bước 1: Chà 2 lòng bàn tay vào nhau

+ Bước 2: Chà lòng bàn tay này lên mu bàn tay kia và ngược lại

+ Bước 3: Chà 2 lòng bàn tay vào nhau, miết mạnh các ngón tay vào các kẽ ngón

+ Bước 4: Chà mu các ngón tay này lên lòng bàn tay kia và ngược lại (mu tay

để khum khớp với lòng bàn tay)

+ Bước 5: Chà ngón cái của bàn tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại (lòng bàn tay ôm lấy ngón cái)

+ Bước 6: Chà các đầu ngón tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại

1.4 Thực trạng tuân thủ rửa tay thường quy của nhân viên y tế

1.4.1 Thực trạng tuân thủ rửa tay thường quy của nhân viên y tế trên thế giới

Tuân thủ rửa tay phòng tránh được NKBV, tuy nhiên tỷ lệ tuân thủ rửa tay của NVYT còn rất thấp Theo đánh giá của WHO, việc tuân thủ các điều kiện

vệ sinh bàn tay của NVYT trung bình chỉ đạt 37,8% (trong khoảng từ 5 - 89%) [29] Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy tỷ lệ tuân thủ VST ở NVYT thay đổi từ 13% - 81%, tính chung là 40,5% Tỷ lệ tuân thủ VST không đồng nhất giữa các khu vực lâm sàng, khu vực hồi sức cấp cứu thường cao hơn các khu vực khác

Năm 2016, Humberto Guanche Garcell và cộng sự thực hiện nghiên cứu

mô tả cắt ngang khảo sát sự tuân thủ vệ sinh tay thường quy của các nhân viên y tế tại 7 khoa lâm sàng của bệnh viện ở Qata, từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2016, khảo sát 25.319 cơ hội vệ sinh tay, kết quả cho thấy 89,2% nhân viên y tế tuân thủ đúng quy trình, trong đó tỉ lệ tuân thủ của điều dưỡng là 91,6% cao hơn của bác sĩ (89,6%) Sự tuân thủ cao nhất tại các thời điểm sau khi tiếp xúc với máu và chất dịch cơ thể (80,0%) và sau khi tiếp xúc với bệnh

Trang 21

nhân (85,5%), sự tuân thủ thấp nhất trước khi tiếp xúc với bệnh nhân (34,2%)

và trước khi thực hiện vô trùng (34,0%) [44]

Cũng tại Italia, một nghiên cứu khác tại 6 đơn vị y tế chuyên sâu năm 2013 cho thấy tỷ lệ tuân thủ quy trình rửa tay và các biện pháp phòng ngừa có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm NVYT (χ2 = 17,56, p<0,001), trong đó nhóm trợ lý y tá có tỷ lệ tuân thủ cao hơn so với y tá và bác sĩ (lần lượt là 86%, 45% và 28%) [43]

Một nghiên cứu cắt ngang phân tích được tiến hành tại hai bệnh viện trường đại học ở Iran năm 2015 sử dụng bảng câu hỏi kiến thức vệ sinh bàn tay của WHO (sửa đổi năm 2009) cho kết quả: tất cả đối tượng nghiên cứu đều có điểm kiến thức về vệ sinh bàn tay, tuy nhiên chỉ có 10,6% y tá và trợ

lý y tá có điểm kiến thức được đánh giá ở mức tốt [26]

Những yếu tố (kiến thức, thái độ, khả năng cung cấp xà phòng, dung dịch VST nhanh, khăn lau tay, nơi đặt bồn rửa tay không thuận tiện…) có thể ảnh hưởng đến việc VST đã được xác định trong những nghiên cứu dịch tễ học đồng thời có những yếu tố gián tiếp gây ra như là lý do thiếu sự hướng dẫn thông tin đầy đủ về VST Những yếu tố nguy cơ từ không tuân thủ quy trình VST thì đã được xác định trong một vài nghiên cứu quan sát và can thiệp để cải thiện việc tham gia VST [1] [29] [34]

Trong nghiên cứu mô tả cắt ngang của Mostafa và cộng sự năm 2016, khảo sát trên 94 điều dưỡng của trung tâm Ung thư tại Iran đánh giá sự tuân thủ vệ sinh tay thường quy theo hướng dẫn của WHO 94 y tá đã được quan sát trong

500 cơ hội vệ sinh tay Thời gian quan sát trong mỗi cơ hội vệ sinh tay là 20 ±

10 phút Tổng thời gian quan sát là 200 h Kết quả chỉ ra Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay tổng thể là 12,80% Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay cao nhất được ghi nhận trong thời điểm tiếp xúc với chất lỏng cơ thể (72,70%) Ngoài ra, tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay trong chỉ định trước khi tiếp xúc với bệnh nhân và trước khi làm thủ thuật vô trùng và chỉ định sau điều trị (sau khi tiếp xúc với bệnh nhân, sau khi tiếp xúc với chất lỏng cơ thể và sau khi tiếp xúc với bệnh nhân) lần lượt là 3,4% và 21% tương quan (p = 0,001)

Trang 22

1.4.2 Thực trạng tuân thủ rửa tay thường quy của nhân viên y tế tại Việt Nam

Tại Việt Nam, trong thời gian đầu triển khai các hoạt động KSNK theo thông tư 18/2009/TT - BYT về việc hướng dẫn thực hiện công tác KSNK trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong đó có vấn đề VST, phần lớn các

BV không chỉ thiếu phương tiện VST như bồn rửa tay, dung dịch rửa tay, khăn lau tay, dung dịch sát khuẩn tay nhanh mà thực hành VST của NVYT cũng chưa được tốt Tỷ lệ tuân thủ rửa tay của NVYT chỉ đạt trung bình 22% [19] Trong những năm gần đây, tỷ lệ tuân thủ rửa tay ở các cơ sở khám chữa bệnh, đã cải thiện đáng kể dao động từ 30 -40% [2]

Theo một số nghiên cứu của khu vực phía bắc, nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Xuân Hương về đánh giá kiến thức, thái độ về tỷ lệ tuân thủ rửa tay của NVYT tại Bệnh viện Đống Đa, Hà Nội năm 2010 đã chỉ ra được kiến thức rửa tay tăng đáng kể từ 59,5% trước can thiệp lên 82,5% sau can thiệp Sau can thiệp, tỷ lệ kiến thức đạt ở nam là 64,3%, còn ở nữ là 82,5%, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Tỷ lệ NVYT có thái độ tích cực đạt tỷ

lệ cao (trên 90%) Tỷ lệ tuân thủ rửa tay tại bệnh viện chỉ đạt 53,1% [9]; nghiên cứu của Bàn Thị Thanh Huyền tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình năm 2010 cho thấy 72% NVYT có nhận thức tốt về vai trò của vệ sinh bàn tay Tỷ lệ này ở nữ là 76,1% cao hơn một cách có ý nghĩa so với nam (62,5%) Tuy tỷ lệ có nhận thức tốt về vai trò của RTTQ khá cao nhưng tỷ lệ tuân thủ rửa tay chỉ đạt 34%, trong đó, điều dưỡng tuân thủ rửa tay chỉ đạt 34,9% [4] và nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Anh (2012) về kiến thức và

tỷ lệ tuân thủ RTTQ của điều dưỡng bệnh viên Xanh Pôn Hà Nội cho thấy tỷ

lệ tuân thủ các cơ hôi RTTQ là 58%, tỷ lệ tuân thủ rửa tay ở buổi sáng cao hơn buổi chiều (60,7% so với 54,3%) [14] Từ các kết quả nghiên cứu trên cho thấy tỷ lệ tuân thủ rửa tay của NVYT ngày càng có xu hướng tăng dần Năm 2012, Đoàn Hoàng Yến thực hiện khảo sát thực trạng sự tuân thủ

vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế tại bệnh viện Tim Hà Nội, với tổng

số 65 NVYT và 400 cơ hội VST tại 3 khoa trọng điểm Hồi sức, Ngoại, Điều

Trang 23

trị Kết quả cho thấy, tỷ lệ tuân thủ VST thường quy của NVYT là: 68,5%, trong đó tỷ lệ tuân thủ VST thường quy của Điều dưỡng cao nhất (73,1%) Tỉ

lệ chưa tuân thủ đầy đủ các thời điểm VST, thời điểm sau khi tiếp xúc các vật dụng xung quanh người bệnh chưa được NVYT VST chiếm tỷ lệ khá cao (65,4%) và trước khi ra khỏi buồng bệnh (62,5%) và (44,4%) không VST trước khi đi găng tay

Theo nghiên cứu của Dương Nữ Tường Vy tại Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Khánh Hòa năm 2014, sau khi tiến hành can thiệp với nhiều biện pháp như tập huấn, bổ sung trang thiết bị vệ sinh tay, kiểm tra giám sát thì mức độ tuân thủ vệ sinh tay tăng từ 14,8% trước can thiệp lên 43,7% sau can thiệp, trong

đó tỷ lệ NVYT tuân thủ đúng quy trình vệ sinh tay tăng từ 62,1% lên 82,3% [7]

Bên cạnh đó, cũng có nhiều nghiên cứu ở khu vực phía nam tỷ lệ tuân thủ rửa tay cũng tăng đáng kể theo thời gian như nghiên cứu của Đặng Thị Vân Trang năm 2010 đã khảo sát tỷ lệ tuân thủ rửa tay theo 5 thời điểm tại Bệnh viện Chợ Rẫy Kết quả cho thấy tỷ lệ tuân thủ rửa tay của NVYT trung bình 25,7%, tỷ lệ tuân thủ rửa tay của điều dưỡng (67,5%) cao hơn so với bác sĩ (24,6%) [6]; nghiên cứu của Chu Thị Hải Yến tại BV Trưng Vương năm 2013

là tỷ lệ tuân thủ rửa tay 31,5% [5]; nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Liên tại

BV Nhi đồng 2 năm 2013 là 55,3% [13]; Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh

Hà tại BV Nhi đồng 1 năm 2012 là 62% [18] ; Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Duyên tại BV Long An năm 2016 là 71,7% [15]

Nghiên cứu của BV Nhi đồng 1 năm 2012 cho thấy tỷ lệ tuân thủ VST của NVYT là 62% Có sự khác nhau giữa 5 cơ hội phải rửa tay khi chăm sóc người bệnh Việc rửa tay với cồn được lựa chọn nhiều hơn so với xà bông và nước 52% so với 48% Khoa có sự tuân thủ rửa tay cao là Hồi sức tích cực sơ sinh (90%) và Sơ sinh (85%) NVYT có sự tuân thủ rửa tay cao là Kỹ thuật viên, Bảo mẫu > 70% Khối Bác sĩ và Sinh viên thực tập tuân thủ VST kém chỉ chiếm

41 – 43% Nghiên cứu của BV Nhi đồng 1 Buổi chiều có sự tuân thủ rửa tay

cao hơn buổi sáng 66% so với 60% [17]

Trang 24

Nghiên cứu của BV Nhi đồng 2 năm 2013 Tỉ lệ tuân thủ rửa tay chung

là 55,3%, 3 khoa có tỉ lệ rủa tay cao nhất: ngoại thần kinh (73,8%), sơ sinh (72,6%), ung bướu huyết học (71,4%), thấp nhất là nội tổng hợp (31%) Về chức danh thì điều dưỡng có tỉ lệ rủa tay cao nhất 62,8% Theo năm thời điểm rửa tay của Tổ chức Y tế Thế giới thì tỉ lệ tuân thủ rửa tay lần lượt là: 48,9% trước khi tiếp xúc bệnh nhân, 54,3% trước khi làm thủ thuật, 73,3% sau nguy

cơ phơi nhiễm với dịch tiết, 59,7% sau khi tiếp xúc bệnh nhân, 48,7% sau khi tiếp xúc môi trường xung quanh bệnh nhân Trong số nhân viên y tế tuân thủ rửa tay thì 61,8% thực hành rửa tay đúng theo qui trình Tỉ lệ tuân thủ rửa tay giữa các đối tượng khác biệt có ý nghĩa thống kê: 45,8% ở bác sĩ, 62,8% ở điều dưỡng/kỹ thuật viên, 38,1% ở hộ lý và 20% ở đối tượng khác [16]

Tại Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ năm 2013 tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay đúng quy trình còn rất thấp chỉ đạt 38,75%, đa số NVYT khi thực hiện rửa tay

đã bỏ qua bước 4 và 5 (trên 50%), một số thì không đảm bảo thời gian (16,25%) [25]

Năm 2015, Tại BV Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên thực hiện đánh giá “Thực trạng kiến thức – kỹ năng – thái độ của điều dưỡng viên về việc rửa tay thường quy tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên và Bệnh viện trường Đại học Y - Dược” như sau: Có 48,1% điều dưỡng viên liệt

kê sai trình tự các bước rửa tay thường quy 74,5% điều dưỡng được khảo sát kiến thức chung về việc rửa tay thường quy đạt mức độ kiến thức trung bình;

tỷ lệ điều dưỡng có thái độ tích cực với việc rửa tay thường quy là 15,1% và 0,9% điều dưỡng có thái độ không tích cực với việc rửa tay thường quy Kết quả đánh giá kỹ năng thực hành kỹ thuật rửa tay thường quy cho thấy 91,5% điều dưỡng thực hiện ở mức độ trung bình, chỉ có 5,7% điều dưỡng thực hiện

kỹ năng ở mức độ khá và có 2,8% điều dưỡng thực hành kỹ năng ở mức độ kém, không có điều dưỡng nào thực hiện kỹ năng rửa tay ở mức độ tốt Kết qủa khảo sát trang thiết bị đáp ứng việc rửa tay thường quy cho thấy 79,2% được trang bị đầy đủ và không có việc điều dưỡng làm việc trong điều kiện trang thiết bị không đầy đủ [*]

Trang 25

Nhìn chung tại Việt Nam đã có một số nghiên cứu về tuân thủ RTTQ của một

số bệnh viện và kết quả cho thấy tỷ lệ tuân thủ RTTQ còn thấp, dao động từ

40 - 75%

1.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ rửa tay thường quy của nhân viên y tế

1.5.1 Nhóm yếu tố về cá nhân người cán bộ y tế:

1.5.1.1 Tuổi: Điều dưỡng > 35 tuổi có tỉ lệ tuân thủ RTTQ cao hơn nhóm điều dưỡng < 35 tuổi Nghiên cứu của Trần Thị Thu Hà năm 2015 tại bệnh

viện Nhi Đồng Cần Thơ [25] cho thấy đối tượng > 35 tuổi tuân thủ rửa tay cao hơn các đối tượng ≤ 35 tuổi với tỷ lệ 56,5% Tuy nhiên chưa ghi nhận có

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về độ tuổi của đối tượng với việc tuân thủ rửa tay p>0,05 Một nghiên cứu khác tại bệnh viện Naimieh Subspecialty, Tehran, Iran nêu rằng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về độ tuổi, giới với việc tuân thủ rửa tay [45]

1.5.1.2 Giới: Qua các nghiên cứu trong và ngoài nước, tỷ lệ tuân thủ RTTQ ở nữ cao hơn nam Nghiên cứu của Trần Thị Thu Hà năm 2015 tại

bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ Nhận thấy đối tượng > 35 tuổi tuân thủ rửa tay cao hơn các đối tượng ≤ 35 tuổi với tỷ lệ 56,5% Tuy nhiên chưa ghi nhận có

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về độ tuổi của đối tượng với việc tuân thủ rửa tay p>0,05

1.5.1.3 Thâm niên nghề nghiệp: Điều dưỡng có thâm niên công tác nhiều

năm (>5 năm) thì tỷ lệ tuân thủ RTTQ cao hơn so với diều dưỡng thâm niên công tác ít (<5 năm) Kiểm định trong nghiên cứu của Đồng Thị Lan “Khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành RTTQ của bác sĩ, điều dưỡng tại các khoa Lâm sàng BV Nhi đồng, Đồng Nai năm 2016”, tỉ lệ tuân thủ RTTQ của nhóm điều dưỡng có thâm niên công tác dưới 5 năm thấp nhất, tỉ lệ tuân thủ tăng dần theo số năm thâm niên công tác tăng dần, tỉ lệ cao nhất ở nhóm thâm niên công tác 11-15 năm (*) Tương tự trong nghiên cứu của Trần Thị Thu Hà năm

2015 tại bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ, đối tượng có thâm niên làm việc > 5 năm là có tuân thủ rửa tay cao nhất với tỷ lệ là 71,4%

Trang 26

1.5.1.4 Cường độ làm việc

Đối với các vị trí làm việc tại các khoa, phòng khác nhau như khoa khám bệnh, khoa cấp cứu, các khoa điều trị lâm sàng có sự tuân thủ vệ sinh tay khác nhau, tùy theo tính chất công việc [37] Nghiên cứu của Đặng Thị Vân Trang và Lê Thị Anh Thư tại 21 khoa tại các bệnh viện (bao gồm 12 khoa nội,

6 khoa ngoại và 2 khoa hồi sức cấp cứu) tại bệnh viện Chợ Rẫy năm 2007,

cho thấy tỷ lệ tuân thủ RTTQ cao nhất là ở các khoa hồi sức cấp cứu, nơi có cường độ làm việc cao lại có tỷ lệ tuân thủ rửa tay cao nhất, là 36,1%, tiếp theo là 28,4% ở các khoa ngoại và 21,6% ở các khoa nội nơi có cường độ làm việc thấp hơn[6]

Theo tác giả Allegranzi B và Piitet D (2009), khi tiến hành xem xét vai trò của rửa tay trong phòng chống các nhiễm khuẩn liên quan đến chăm sóc sức khỏe tại các cơ sở y tế, một trong những yếu tố tác động đến việc tuân thủ RTTQ là điều kiện làm việc của NVYT, bao gồm sự thiếu hụt nhân lực, quá tải bệnh viện và làm việc tại các khoa đặc thù (chăm sóc đặc biệt, phẫu thuật, ) Trong các trường hợp này, sự tuân thủ RTTQ của NVYT kém hơn so với những tình huống khác Bởi lẽ cường độ làm việc của NVYT càng cao thì

số cơ hội cần RTTQ càng nhiều, ngược lại thời gian dành cho RTTQ lại ít đi,

do vậy việc tuân thủ quy định sẽ khó khăn hơn [31]

Một nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tuân thủ rửa tay giảm 5% khi tăng thêm 10

cơ hội RTTQ trong 1 giờ Tỷ lệ tuân thủ rửa tay thấp nhất (36%) ở đơn vị Hồi Sức Cấp Cứu, nơi cần rửa tay (trung bình 20 cơ hội/1 giờ); ngược lại tỷ lệ tuân thủ rửa tay cao nhất 59% ở khoa Nhi, nơi có mật độ chăm sóc thấp hơn khu vực khác trong bệnh viện (trung bình 8 cơ hội RTTQ/1 giờ) [36]

1.5.1.5 Kiến thức, thái độ của điều dưỡng về rửa tay thường quy

Kiến thức của NVYT về RTTQ không tốt sẽ ảnh hưởng đến tuân thủ RTTQ trong khám chữa bệnh Tại nhiều cơ sở y tế, một tỷ lệ lớn NVYT chưa

có kiến thức đầy đủ về vấn đề này [10] [21]

Nhiều nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam đã cho thấy việc tuân thủ RTTQ có liên quan đến kiến thức, thái độ của NVYT Nhận thức và hiểu biết

Trang 27

của NVYT về nguy cơ lây nhiễm, hậu quả từ NKBV, sự tin tưởng của NVYT đối với độ chắc chắn về thực hiện rửa tay đúng và ý định thực hiện hành động rửa tay là yếu tố đóng vai trò quyết định có tuân thủ RTTQ hay không [31] Nghiên cứu của Hoàng Thị Hiền tại Bệnh viện Đa khoa Hòe Nhai năm 2015 cũng cho thấy một trong những yếu tố thúc đẩy NVYT tuân thủ vệ sinh tay thường quy là tăng cường tập huấn về nội dung này và giám sát thực hiện đầy

đủ, đồng thời cần cập nhật thường xuyên [8]

1.5.1.6 Các cách tiếp cận thông tin:

Điều dưỡng tiếp cận các thông tin liên quan đến tuân thủ RTTQ qua các hình thức

- Tại khoa / phòng có tài liệu sẵn có tài liệu về RTTQ

- Các kênh cung cấp thông tin RTTQ:

- ĐDT phổ biến tại khoa

- Lớp tập huấn tại bệnh viện

1.5.2 Nhóm yếu tố về quản lý:

1.5.2.1 Chế độ thi đua, khen thưởng

Không nên cho rằng chỉ cần phổ biến văn bản, hướng dẫn RTTQ của BYT hoặc tổ chức phát động RTTQ là NVYT thực hiện tốt công tác này Thực tế cho thấy công tác RTTQ còn yếu ở hầu hết các cơ sở y tế do không có quy định cụ thể và phổ biến rõ ràng để mọi người thực hiện Bệnh viện ban hành quy định RTTQ sẽ giúp nhân viên KSNK và các khoa phòng triển khai công tác RTTQ thuận tiện hơn [22]

Bên cạnh việc phổ biến văn bản, hướng dẫn vệ sinh tay của Bộ Y tế hoặc

tổ chức phát động vệ sinh tay trong toàn bệnh viện thì cần có quy định về việc

áp dụng hướng dẫn vệ sinh tay vào hoàn cảnh cụ thể của đơn vị Cùng với các hoạt động tập huấn, hướng dẫn và bổ sung trang thiết bị cần có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ quá trình thực hiện Lãnh đạo bệnh viện ban hành quy định

vệ sinh tay sẽ giúp nhân viên KSNK và các khoa phòng triển khai công tác vệ sinh tay thuận lợi, hiệu quả hơn

Trang 28

Nghiên cứu của Hoàng Thị Xuân Hương năm 2010 và Lò Thị Hà năm

2013 cũng đã chỉ rõ những yếu tố tăng cường, thúc đẩy tuân thủ vệ sinh tay bao gồm: các quy định chuyên môn của bệnh viện quy định NVYT phải tuân thủ RTTQ; kiểm tra, giám sát thường xuyên của bệnh viện và tập huấn về tuân thủ RTTQ được tổ chức định kỳ hàng năm khiến NVYT tuân thủ RTTQ nhiều hơn [9] [12]

Chế độ thưởng, phạt liên quan đến RTTQ: Chỉ nên áp dụng cho tập thể khoa, phòng vì mục đích chính là nhằm khuyến khích NVYT tuân thủ quy định RTTQ [26]

1.5.2.2 Trang thiết bị và phương tiện VST

Trang bị phương tiện VST (bồn rửa tay, xà phòng, khăn lau tay sử dụng 1 lần…) tại buồng bệnh giúp cải thiện tuân thủ rửa tay ở NVYT Trang bị dung dịch sát khuẩn tay nhanh có chứa cồn/cồn tại buồng bệnh sẽ tiết kiệm được 2/3 thời gian rửa tay, giúp NVYT tuân thủ rửa tay tốt hơn [22]

Tại Việt Nam, buồng bệnh có bồn rửa tay chỉ đạt 37,6%, hầu hết bồn rửa tay không có khăn lau tay sử dụng một lần, ảnh hưởng đến thực hành RTTQ ở NVYT Theo Trương Anh Thư, số lần rửa tay trung bình/NVYT/ngày khi sử dụng cồn (7,9 lần), khi rửa tay bằng xà phòng chỉ là 5,0 lần [10]

Khử khuẩn tay bằng cồn là biện pháp đơn giản, dễ thực hiện, Tiết kiệm thời gian, có hiệu quả diệt khuẩn cao, nên cần được khuyến khích lắp đặt tại buồng bệnh Trên cơ sở bồn rửa tay có sẵn nhưng chưa đủ tiêu chuẩn, tiến hành củng cố, bổ sung để đạt tiêu chuẩn Trang bị phương tiện đầy đủ, điều dưỡng sẽ có nhiều cơ hội thực hiện rửa tay thường quy hơn Như trong Khảo sát đánh giá thực trạng rửa tay thường quy của điều dưỡng viên tại bệnh viện trường Đại học Y Thái Nguyên năm 2012 của Nông Phương Mai và cộng sự cho thấy 79,2% được trang bị đầy đủ và không có việc điều dưỡng làm việc

trong điều kiện trang thiết bị không đầy đủ, 91,5% điều dưỡng thực hiện kỹ

thuật rửa tay mức độ trung bình

Trang 29

1.5.2.3 Mức độ diệt khuẩn và kích ứng da của hóa chất rửa tay

Hiện nay có rất nhiều loại hóa chất rửa tay có hiệu lực diệt khuẩn tốt đang được sử dụng rộng rãi trong các cơ sở y tế

Trong một nghiên cứu thực nghiệm, tỷ lệ trực khuẩn Gram (-) (định cư trên

da bệnh nhân) lan truyền tới catheter (ống thông bằng chất dẻo tổng hợp luồn

từ tĩnh mạch ngoại biên vào tĩnh mạch chủ) thông qua tay NVYT chỉ còn 17% khi NVYT khử khuẩn tay bằng cồn ngược lại nếu rửa tay bằng xà phòng thường và nước, tỷ lệ này là 92% [35]

Xà phòng, iodine, iodophors, cồn ethanol hoặc chlorhexidine có thể gây kích ứng, khô da khi được sử dụng thường xuyên Vì vậy lo ngại hóa chất rửa tay làm khô da tay có thể trở thành một rào cản làm cho nhiều NVYT hạn chế rửa tay [38]

Để khắc phục tình trạng này, bệnh viện cần thông báo đầy đủ cho NVYT biết tác dụng phụ của mỗi hóa chất đang được sử dụng Thiếu kiến thức về vấn đề này là một trở ngại trong việc thúc đẩy thực hành rửa tay thường quy

1.5.2.4 Kiểm tra, giám sát

Nghiên cứu của Didier Pittet ở Thụy Sĩ đã sử dụng phương pháp giám sát

sự tuân thủ RTTQ của NVYT và phản hồi tới họ kết quả giám sát đó, thời điểm giám sát là tất cả các ngày trong tuần, 20 phút đầu tiên của một ca làm việc Kết quả nghiên cứu đã cho thấy: khi tỷ lệ tuân thủ rửa tay của NVYT tăng từ 48% (1994) lên 60% (1997) thì tỷ lệ NKBV giảm từ 16.9% (1994) xuống còn 6.9% (1997); phương pháp giám sát này được đánh giá là có hiệu quả [34]

Nghiên cứu của Hoàng Xuân Hương năm 2010 [9] và của Nguyễn Thị Hồng Anh năm 2012 [14] cũng chỉ rõ những yếu tố tăng cường, thúc đẩy tăng cường vệ sinh tay bao gồm: Các quy định chuyên môn của bệnh viện quy định nhân viên y tế phải tuân thủ rửa tay; Kiểm tra, giám sát thường xuyên của Bệnh viện khiến điều dưỡng rửa tay nhiều hơn; và tập huấn về RTTQ thường được tổ chức định kỳ hàng năm giúp Điều dưỡng cập nhật kiến thức

Trang 30

về RTTQ và tầm quan trọng của RTTQ trong phòng chống NKBV từ đó có thái độ và thực hành tuân thủ rửa tay tốt hơn khi chăm sóc người bệnh

Giám sát và phản hồi kết quả giám sát tuân thủ rửa tay được xem là chiến lược hiệu quả nhất nhằm cải thiện thực hành RTTQ ở NVYT [27] Một số NVYT thường nói họ đã thực hiện tốt RTTQ nhưng thực tế họ không làm

1.5.2.5 Đào tạo, tập huấn

NVYT không có kiến thức và thái độ đúng thì sẽ không tuân thủ đúng quy định RTTQ Ngoài việc hoc tập nội dung quy định RTTQ, NVYT cần hiểu rõ vai trò và tầm quan trọng của RTTQ trong phòng ngừa và kiểm soát NKBV Những chương trình đào tạo, tập huấn, phổ biến thông tin bằng nhiều hình thức khác nhau như phát tờ rơi, hội thảo cần được tiến hành thường xuyên trong Bệnh viện và mọi NVYT đều phải tham gia Việc đào tạo phải thưc hiện hàng năm và mỗi khi tiếp nhận nhân viên mới đến làm việc, học tập tại bệnh viện [22]

Bên cạnh việc phổ biến văn bản, hướng dẫn vệ sinh tay của Bộ Y tế hoặc

tổ chức phát động vệ sinh tay trong toàn bệnh viện thì cần có quy định về việc

áp dụng hướng dẫn vệ sinh tay vào hoàn cảnh cụ thể của đơn vị Cùng với các hoạt động tập huấn, hướng dẫn và bổ sung trang thiết bị cần có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ quá trình thực hiện Lãnh đạo bệnh viện ban hành quy định

vệ sinh tay sẽ giúp nhân viên KSNK và các khoa phòng triển khai công tác vệ sinh tay thuận lợi, hiệu quả hơn

Trang 31

Nghiên cứu của Hoàng Thị Xuân Hương năm 2010 và Lò Thị Hà năm

2013 cũng đã chỉ rõ những yếu tố tăng cường, thúc đẩy tuân thủ vệ sinh tay bao gồm: các quy định chuyên môn của bệnh viện quy định NVYT phải tuân thủ RTTQ; kiểm tra, giám sát thường xuyên của bệnh viện và tập huấn về tuân thủ RTTQ được tổ chức định kỳ hàng năm khiến NVYT tuân thủ RTTQ nhiều hơn [9], [12]

1.6 Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu

Bệnh viện Nhân dân Gia Định là một trong những Bệnh viện Đa khoa loại I trực thuộc Sở Y tế TP.HCM Với đội ngũ Y, Bác sĩ chuyên môn cao, dày dặn kinh nghiệm, Bệnh viện có đủ các chuyên khoa lớn (nội, ngoại, sản, nhi, chuyên khoa mắt, tai mũi họng, răng hàm mặt), nhiều phân khoa sâu (DSA, XQ can thiệp, Phẫu thuật thẩm mỹ), trang bị đầy đủ trang thiết bị y tế nhằm nâng cao chất lượng chẩn đoán, điều trị và chăm sóc bệnh nhân, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao của nhân dân Với quy mô lớn 1.500 giường, hàng ngày Bệnh viện phục vụ khoảng 1.500 bệnh nhân nội trú, hơn 4.000 lượt bệnh nhân đến khám bệnh và hơn 350 lượt bệnh nhân cấp cứu Bên cạnh việc khám chữa bệnh cho nhân dân sinh sống trên địa bàn thành phố (các quận trong tuyến: Bình Thạnh, Gò Vấp, Phú Nhuận, một phần của Quận

I và các quận ngoài tuyến: Thủ Đức, Quận 2, 9, 12…), bệnh viện còn tiếp nhận bệnh nhân từ các tỉnh lân cận như Đồng Nai Bình Dương, Vũng Tàu và một số tỉnh miền Trung Bệnh viện thực hiện các chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Bộ Y tế, bao gồm: Cấp cứu - Khám bệnh - Chữa bệnh, Đào tạo cán bộ, Nghiên cứu khoa học, Chỉ đạo tuyến, Phòng bệnh, Hợp tác quốc tế và Quản lý kinh tế

Tổng số nhân viên y tế hiện tại của bệnh viện 1719 người, 38 khoa phòng,

10 khoa lâm sàng Nội, 6 Khoa lâm sàng Ngoại (với tổng số ĐD là 249) 2 khoa Sản, 8 khoa Cận lâm sàng, Tổng số Bác sĩ là 346, số lượng điều dưỡng

801, số lượng điều dưỡng tham gia trực tiếp chăm sóc bệnh nhân tại các khoa lâm sàng là 760 Công tác Kiểm soát nhiễm khuẩn luôn được lãnh đạo bệnh viện quan tâm, trong nhiều năm qua, bệnh viện xây dựng kế hoạch thực hiện

Trang 32

giảm tỉ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện, phát động các phong trào khởi động vệ sinh tay cho toàn thể nhân viên bệnh viện, tuy nhiên bệnh viện chưa thực hiện khảo sát thực trạng tuân thủ vệ sinh tay của điều dưỡng

Bệnh viện có 4 chuyên khoa (Nội, Ngoại, Sản, Nhi) Mỗi chuyên khoa điều dưỡng thực hiện các công tác chăm sóc bệnh nhân khác nhau, đặc trưng theo từng khối chuyên khoa Đánh giá trong 3 năm gần đây, tỉ lệ nhiễm trùng hậu phẫu tại các khoa ngoại của BV Nhân Dân Gia Định tăng liên tục mỗi năm, một trong các nguyên nhân do lây nhiễm chéo từ BN này sang BN khác, từ các điều dưỡng Bên cạnh đó số lượng bệnh nhân hậu phẫu cao và luôn quá tải bệnh nhân nên điều dưỡng phải thực hiện nhiều thao tác kỹ thuật chăm sóc

người bệnh với cường độ cao hơn so với các khoa lâm sàng khác Đây là đặc

điểm quan trọng để lựa chọn các khoa Lâm sàng Ngoại Khoa gồm Khoa Ngoại Thần Kinh, khoa Ngoại Tổng Quát, khoa Ngoại Chấn thương Chỉnh hình, Ngoại Lồng ngực mạch máu, Ngoại thận tiết niệu, khoa Ngoại tổng hợp, tham gia trong nghiên cứu này

1.7 Khung lý thuyết

Khung lý thuyết được xây dựng dựa vào Quyết định số 3916/QĐ-BYT của

Bộ Y tế ngày 28/08/2017 về việc phê duyệt các Hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh [3] và dựa trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu trong nước và quốc tế về vấn đề tuân thủ rửa tay thường quy của NVYT nói chung và RTTQ của điều dưỡng nói riêng

Trang 33

(1) Có rửa tay khi

có cơ hội cần rửa tay; (2) Phải rửa tay với nước và xà phòng hoặc rửa tay với dung dịch rửa tay chứa cồn/cồn

(3) Thực hiện rửa tay tuân thủ theo đúng

6 bước của quy trình RTTQ của Bộ Y tế

YẾU TỐ QUẢN LÝ:

- Chế độ thi đua, khen thưởng

- Trang thiết bị và phương tiện

VST

- Mức độ diệt khuẩn và kích ứng

da của dung dịch VST

- Kiểm tra giám sát

- Đào tạo, tập huấn

YẾU TỐ VĂN BẢN CHÍNH SÁCH:

Văn bản quy phạm pháp luật của nhà

nước về vệ sinh tay, các quy trình, quy

định của BYT, SYT TPHCM về vệ

sinh tay thường quy

Trang 34

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Nghiên cứu định lượng:

Đối tượng nghiên cứu: Điều dưỡng đang công tác tại các khoa lâm sàng

Ngoại Khoa tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định

Tiêu chuẩn lựa chọn: Điều dưỡng đang công tác trực tiếp chăm sóc bệnh

nhân tại các khoa lâm sàng Ngoại Khoa tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định,

bao gồm 6 khoa: Khoa Ngoại Thần Kinh, khoa Ngoại Tổng Quát, khoa Ngoại Chấn thương Chỉnh hình, Ngoại Lồng ngực mạch máu, Ngoại thận tiết niệu, khoa Ngoại tổng hợp

Trong thời gian nghiên cứu, điều dưỡng có làm công tác chuyên môn, tiếp xúc với bệnh nhân theo 5 thời điểm của WHO:

(1) Trước khi tiếp xúc với bệnh nhân

(2) Trước khi làm thủ thuật vô khuẩn

(3) Sau khi tiếp xúc với bệnh nhân

(4) Sau khi tiếp xúc với máu và dịch tiết cơ thể

(5) Sau khi tiếp xúc với đồ dùng, bề mặt vùng xung quanh bệnh nhân

Tất cả các đối tượng sau khi được giải thích về mục đích của nghiên cứu đã

tự nguyện đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ: Điều dưỡng đang làm công tác hành chính, không trực

tiếp chăm sóc người bệnh (điều dưỡng làm hành chính, nghỉ ốm, nghỉ thai sản, đi học dài hạn…), điều dưỡng có thời gian công tác liên tục tại khoa dưới

6 tháng, điều dưỡng từ chối tham gia nghiên cứu

Trang 35

- 01 cuộc thảo luận nhóm với điều dưỡng trưởng khoa của 6 khoa lâm sàng

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian: Từ tháng 3 đến tháng 07 năm 2019

Địa điểm: tại 6 khoa lâm sàng Ngoại Khoa của Bệnh viện Nhân Dân Gia

Định bao gồm: Khoa Ngoại Thần Kinh, khoa Ngoại Tổng Quát, khoa Ngoại

Chấn thương Chỉnh hình, Ngoại Lồng ngực mạch máu, Ngoại thận tiết niệu, khoa Ngoại tổng hợp

Do hạn chế về nhân lực và tổ chức thực hiện nên trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ tiến hành 6 khoa lâm sàng kể trên Đánh giá sau nghiên cứu sẽ

là cơ sở để tiến hành trên toàn bệnh viện

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang có phân tích, kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính Nghiên cứu định tính được thực hiện sau nghiên cưu định lượng, nhằm trả lời mục tiêu 2 “Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới tuân thủ RTTQ của điều dưỡng”

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.4.1 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu áp dụng công thức cỡ mẫu cho xác định một tỷ lệ

- z: là hệ số tin cậy, với độ tin cậy 95% thì z= 1,96

- p = 0,797 (tham khảo từ tỷ lệ tuân thủ RTTQ trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Duyên tại BV Long An năm 2016 là 79,7% [15]

- d: sai số tuyệt đối chấp nhận, d = 0,05

Thay các số liệu vào công thức thì số cơ hội rửa tay cần quan sát là 310

Theo đặc thù của các khoa ngoại, nghiên cứu chúng tôi chọn mẫu phân theo 3 nhóm phẫu thuật: chăm sóc nhóm vết thương sạch, sạch nhiễm, nhiễm

Trang 36

Số điều dưỡng của 6 khoa lâm sàng ngoại khoa theo số liệu 2019 là 249 người nghiên cứu chọn tất cả 249 điều dưỡng, chia đều theo 3 nhóm chăm sóc vết thương như trên Trên thực tế tham khảo một số đề tài về vệ sinh tay trong những năm gần đây, chúng tôi thấy các nghiên cứu thông thường được quan sát 2 cơ hội RTTQ/ điều dưỡng như trong nghiên cứu năm 2014 của Phùng Văn Thủy thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc [26]; nghiên cứu của Lê Thị Thanh Mai thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang năm 2016 [11]; nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Huyền được thực hiện tại Bệnh viện Tim Hà Nội năm 2018 [19] nên trong nghiên cứu này chúng tôi thực hiện quan sát 2 cơ hội/điều dưỡng Như vậy, tổng số cơ hội rửa tay được quan sát trong nghiên cứu là 498 cơ hội

2.4.2 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính

Chọn mẫu có chủ đích cụ thể như sau:

Phỏng vấn sâu (PVS): 02 cuộc PVS, đối tượng là:

+ 01 lãnh đạo bệnh viện phụ trách công tác kiểm soát nhiễm khuẩn (PGĐ)

+ 01 lãnh đạo khoa KSNK (Trưởng/Phó khoa KSNK)

Thảo luận nhóm (TLN): 03 cuộc TLN, dự kiến khoảng 18 người:

+ Nhóm 1: Nhóm điều dưỡng trưởng của 6 khoa lâm sàng được mời tham gia thảo luận nhóm: 6 điều dưỡng trưởng

+ Nhóm 2: Nhóm điều dưỡng viên tuân thủ RTTQ: chọn có chủ đích mỗi khoa lâm sàng một điều dưỡng viên có tuân thủ RTTQ (từ kết quả nghiên cứu định lượng) từ 6 khoa lâm sàng để tham gia thảo luận nhóm Người được chọn là người tham gia nghiên cứu định lượng, đồng ý tham gia thảo luận nhóm: 6 điều dưỡng

+ Nhóm 3: Nhóm điều dưỡng viên không tuân thủ RTTQ: chọn có chủ đích mỗi khoa lâm sàng một điều dưỡng viên không tuân thủ RTTQ (từ kết quả nghiên cứu định lượng) từ 6 khoa lâm sàng để tham gia thảo luận nhóm Người được chọn là người tham gia nghiên cứu định lượng, đồng ý tham gia thảo luận nhóm: 6 điều dưỡng

Trang 37

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Nghiên cứu định lượng

* Đánh giá thực hành tuân thủ rửa tay theo số cơ hội rửa tay của điều dưỡng:

Được thực hiện bằng phương pháp quan sát không tham gia có sử dụng bảng kiểm được xây dựng sẵn dựa trên bộ công cụ đánh giá tuân thủ rửa tay

đã được chuẩn hóa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) (Phụ lục 1)

Thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu được thu thập thông qua theo dõi sổ sách của nhân viên lưu tại phòng tổ chức cán bộ

Nhóm nghiên cứu bao gồm nghiên cứu viên và 6 quan sát viên là nhân viên của khoa KSNK, những người có kinh nghiệm trong việc giám sát tuân thủ RTTQ khi quan sát cơ hội rửa tay/sát khuẩn tay Quan sát viên sử dụng bảng kiểm đánh giá được xây dựng sẵn, đứng tại vị trí quan sát không gây sự chú ý của điều dưỡng và quan sát họ thực hiện những thao tác chăm sóc, điều trị bệnh nhân, thời gian của mỗi lần quan sát từ 20 - 30 phút để đảm bảo quan sát các cơ hội mà đối tượng nghiên cứu cần rửa tay/sát khuẩn tay (tùy thuộc vào thao tác chăm sóc điều dưỡng thực hiện trên bệnh nhân); nếu hết thời gian quan sát điều dưỡng chưa kết thúc thao tác chăm sóc bệnh nhân thì tiếp tục quan sát cho tới khi điều dưỡng hoàn thành thao tác chăm sóc đó Điều dưỡng chỉ được ghi nhận có rửa tay khi thực hiện quy trình này tại các vị trí vệ sinh tay trong buồng bệnh Với trường hợp khi bắt đầu quan sát, điều dưỡng đã mang găng tay sử dụng một lần từ trước thì quan sát viên bỏ qua cơ hội này

và tiếp tục quan sát các cơ hội tiếp theo Mỗi khi có cơ hội rửa tay/sát khuẩn tay, điều dưỡng thực hiện rửa tay/sát khuẩn tay bằng nước với xà phòng (30 -

45 giây) hoặc cồn/ dung dịch có chứa cồn (20 - 30 giây) theo đúng quy trình 6 bước hay không và được đánh vào phiếu quan sát Tại mỗi khoa tiến hành giám sát vào ba thời điểm 07giờ 30 đến 09 giờ, 14giờ đến 14 giờ 30, 21 giờ đến 21 giờ 30

Trang 38

2.5.2 Nghiên cứu định tính

Phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được thực hiện để thu thập thông tin nhằm tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ RTTQ Tìm hiểu về chủ trương của bệnh viện, sự ủng hộ của lãnh đạo để khuyến nghị những giải pháp khả thi và đạt hiệu quả cao Tiến hành thảo luận nhóm với điều dưỡng của 6 khoa lâm sàng để đánh giá về kiến thức, thái độ, đồng thời tìm hiểu và thảo luận về những yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ RTTQ của điều dưỡng

Thảo luận nhóm theo hướng dẫn (Phụ lục 6, Phụ lục 7) và hướng dẫn phỏng vấn sâu (Phụ lục 4, 5) Các cuộc thảo luận đều do tác giả nghiên cứu điều hành, nội dung cuộc thảo luận được thư ký ghi âm và ghi biên bản

2.6 Biến số nghiên cứu:

2.6.1 Biến số định lượng: Các biến định lượng chính gồm:

o Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

o Nhóm yếu tố tiếp cận thông tin về rửa tay thường quy

o Thực hành tuân thủ rửa tay thường quy của điều dưỡng

o (Chi tiết xin xem Bảng biến số nghiên cứu tại Phụ lục 7

2.6.2 Chủ đề nghiên cứu định tính: (các yếu tố ảnh hưởng tới tuân thủ RTTQ của điều dưỡng)

2.6.2.1 Nhóm yếu tố về cá nhân các điều dưỡng

a) Cường độ làm việc tại khoa phòng: Những ảnh hưởng của việc phân

bổ nhân lực điều dưỡng tại các khoa đến kiến thức, thái độ, thực hành RTTQ: điều kiện làm việc, khối lượng công việc của điều dưỡng quá tải công việc do thiếu nhân lực, số lượng bệnh nhân, tình trạng người bệnh,

b) Kiến thức, thái độ của điều dưỡng về rửa tay thường quy

c) Các cách tiếp cận thông tin: NVYT chưa được cập nhật thông tin hoặc

là cập nhật không đúng

d) Mang găng tay

Trang 39

2.6.2.2 Nhóm yếu tố về quản lý:

a) Chế độ thi đua, khen thưởng: Những hiệu quả của các hình thức

thưởng phạt, các chế tài, động viên, khuyến khích trong việc thay đổi

thái độ và tuân thủ thực hành RTTQ của điều dưỡng

b) Trang thiết bị và phương tiện VST:

- Ảnh hưởng của trang thiết bị, cơ sở vật chất, hóa chất tới việc tuân thủ rửa tay thường quy của điều dưỡng

- Tính sẵn có của trang thiết bị phục vụ vệ sinh tay của điều dưỡng

- Khả năng tiếp cận phương tiện vệ sinh tay của điều dưỡng

- Trang thiết bị dụng cụ đầy đủ hay chưa phù hợp

- Mức độ diệt khuẩn và kích ứng da của hóa chất rửa tay

c) Kiểm tra, giám sát:

- Vai trò của việc giám sát, kiểm tra sự tuân thủ của điều dưỡng khi thực hành RTTQ: Phân công nhân lực giám sát kiểm tra, chịu trách nhiệm chính trong khâu giám sát điều dưỡng khi thực hành RTTQ, yêu cầu đặt ra với nhân viên thực hiện giám sát

- Công tác giám sát tuân thủ thực hiện đúng qui trình rửa tay thường qui chưa tốt, không đúng qui trình cụ thể, cán bộ giám sát thiếu, còn một số vị trí kiêm nhiệm, sẽ làm cản trở sự tuân thủ VST thường quy của điều dưỡng

d) Đào tạo, tập huấn: Vấn đề tập huấn, đào tạo về tăng cường RTTQ tại

bệnh viện cho điều dưỡng: Hình thức đào tạo, nội dung và thời gian đào tạo Ảnh hưởng của việc đào tạo đối với thái độ và tuân thủ thực hành quy trình RTTQ của điều dưỡng

e) Các yếu tố văn bản, chính sách: Văn bản quy phạm pháp luật của

nhà nước về vệ sinh tay, các quy trình, quy định của BYT, SYT

TPHCM về vệ sinh tay thường quy

Trang 40

2.7 Tiêu chuẩn đánh giá thực hành tuân thủ rửa tay thường quy

Đánh giá thực hành rửa tay/sát khuẩn tay theo số cơ hội rửa tay của điều dưỡng được thực hiện bằng phương pháp quan sát và điền vào bảng kiểm theo mẫu của WHO (quan sát không tham gia)

Công thức dưới đây được tham khảo từ Tài liệu đánh giá tuân thủ rửa tay của NVYT của WHO để tính tỷ lệ tuân thủ rửa tay [39]:

Tỷ lệ tuân

thủ rửa tay

=

=

Số lần rửa tay đúng quy trình của điều dưỡng trong

thời gian quan sát

x 100 Tổng số cơ hội phải rửa tay của điều dưỡng trong thời gian

quan sát

Cơ hội rửa tay: Thời điểm cần vệ sinh tay trong quá trình chăm sóc,

điều trị nhằm cắt đứt đường lan truyền mầm bệnh qua bàn tay, cơ hội là số lần

vệ sinh tay Nhiều chỉ định rửa tay có thể xuất hiện cùng lúc tương ứng với một cơ hội, một cơ hội phải được tạo ra ít nhất một chỉ định Các cơ hội rửa tay trong phạm vi nghiên cứu được thực hiện theo Quyết định số 3916/QĐ-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2017 về việc phê duyệt các Hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh [2]

Các thời điểm rửa tay/sát khuẩn tay: Thời điểm NVYT bắt buộc phải

RTTQ bao gồm:

(1) Trước khi tiếp xúc trực tiếp với người bệnh

(2) Trước khi làm thủ thuật vô khuẩn

(3) Sau khi tiếp xúc với người bệnh

(4) Sau khi tiếp xúc với máu và dịch thể cơ thể

(5) Sau khi tiếp xúc với đồ dùng, bề mặt vùng xung quanh người bệnh

Cơ hội tuân thủ RTTQ: Một cơ hội rửa tay được coi là tuân thủ phải đảm

bảo:

Tuân thủ rửa tay thường quy đúng, đủ trong nghiên cứu bao gồm:

(1) Có rửa tay khi có cơ hội cần rửa tay;

(2) Phải rửa tay với nước và xà phòng hoặc rửa tay với dung dịch rửa tay chứa cồn/cồn

Ngày đăng: 31/01/2021, 20:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w