1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng tuân thủ điều trị và một số yếu tố liên quan của bệnh nhân tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại khoa khám bệnh, trung tâm y tế huyện thoại sơn, tỉnh an giang năm 2020

99 122 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, để đánh giá thực trạng TTĐT THA của người bệnh đến khám ngoại trú tại Khoa khám bệnh, TTYT huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang và những yếu tố liên quan đến việc tuân thủ điều trị của

Trang 1

NGÔ VƯƠNG HOÀNG GIANG

THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ VÀ MỘT SỐ

YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP

ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI KHOA KHÁM BỆNH, TRUNG TÂM

Y TẾ HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701

HÀ NỘI, NĂM 2020

Trang 2

NGÔ VƯƠNG HOÀNG GIANG

THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ VÀ MỘT SỐ

YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP

ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI KHOA KHÁM BỆNH, TRUNG TÂM

Y TẾ HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701

HD2: TS DƯƠNG MINH ĐỨC

HÀ NỘI, NĂM 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, quý thầy cô, phòng đào tạo sau đại học và các phòng ban trường Đại học Y tế công cộng, đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi học tập và hoàn thành luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới

Thầy TS.BS Phạm Đức Minh giảng viên Học Viện Quân Y và TS Dương Minh Đức giảng viên Trường Đại Học Y Tế Công Cộng Đã tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo hỗ trợ và cung cấp những kiến thức quý báo cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Cao đẳng Y Tế An Giang đã hỗ trợ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc và quý đồng nghiệp ở Trung tâm

Y tế huyện Thoại sơn, tận tình giúp đỡ tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện nghiên cứu này

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình và bạn

bè xung quan hỗ trợ, khuyến khích tôi học tập và hoàn thành luận văn này

Trang 4

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Tổng quan về bệnh tăng huyết áp 4

1.2 Điều trị tăng huyết áp 5

1.3 Khái niệm tuân thủ điều trị (TTĐT) 6

1.4 Nội dung chi tiết về tuân thủ điều trị tăng huyết áp 7

1.5 Các nghiên cứu về tuân thủ điều trị bệnh tăng huyết áp trên Thế giới và ở Việt Nam 11

1.6 Các thang đo đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc 14

1.7 Các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị tăng huyết áp 15

1.8 Một số thông tin liên quan đến địa bàn nghiên cứu 18

1.9 Khung lý thuyết 19

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Đối tượng nghiên cứu 20

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20

2.3 Thiết kế nghiên cứu 20

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 20

2.5 Công cụ, phương pháp thu thập số liệu 21

2.6 Biến số trong nghiên cứu 23

2.7 Tiêu chuẩn chọn điều tra viên, cộng tác viên 27

2.8 Phân tích và xử lý số liệu 27

Trang 5

2.9 Đạo đức trong nghiên cứu 28

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29

3.1 Đặc điểm về yếu tố cá nhân 29

3.2 Đặc điểm về các yếu tố dịch vụ 30

3.3 Đặc điểm về yếu tố gia đình, xã hội 31

3.4 Thực trạng tuân thủ trong điều trị tăng huyết áp 31

3.5 Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ trong điều trị 36

3.5.3 Mối liên quan giữa thực hành TTĐT với thái độ về TTĐT 38

3.5.4 Mối liên quan giữa thực hành TTĐT với các yếu tố dịch vụ 39

3.5.5 Mối liên quan giữa thực hành TTĐT với yếu tố gia đình, xã hội 40

3.5.6 Mô hình hồi quy Logistic phân tích mối liên quan với thực hành tuân thủ điều trị của bệnh nhân THA tại TTYT huyện Thoại Sơn 41

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 42

4.1 Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 42

4.2 Tuân thủ điều trị tăng huyết áp 42

4.3 Các hạn chế, sai số trong nghiên cứu 50

PHỤ LỤC 1: BỘ CÂU HỎI PHỎNG VẤN 59

PHỤ LỤC 2: TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ 67

PHỤ LỤC 3: BIẾN SỐ TRONG NGHIÊN CỨU 69

PHỤ LỤC 4: QUY TRÌNH ĐO HUYẾT ÁP 74

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BHYT Bảo hiểm y tế

BN Bệnh nhân TTYT.TS Trung tâm Y Tế huyện Thoại sơn CSSK Chăm sóc sức khỏe

CTXH Công tác xã hội ĐTĐ Đái tháo đường ĐTN Đau thắt ngực ĐTV Điều tra viên ĐTNC Đối tượng nghiên cứu GDSK Giáo dục sức khỏe JNC Hiệp hội tăng huyết áp quốc tế

HA Huyết áp NCT Người cao tuổi TBMMN Tai biến mạch máu não TDTT Thể dục thể thao

THA Tăng huyết áp WHO World Health Organization (Tổ chức y tế thế giới)

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1 1 Phân loại HA ở người > 18 tuổi theo JNC 8-2014 4

Bảng 2 1 Tiêu chuẩn đánh giá thực hành tuân thủ điều trị đạt 26

Bảng 3 1 Thông tin về nhân khẩu học 29

Bảng 3 2 Yếu tố dịch vụ 30

Bảng 3 3 Yếu tố gia đình, xã hội 31

Bảng 3 4.Đánh giá kiến thức đạt về tuân thủ điều trị THA 31

Bảng 3 5.Đánh giá thái độ tích cực của bệnh nhân về tuân thủ điều trị THA 32

Bảng 3 6.Tuân thủ sử dụng thuốc 33

Bảng 3 7 Tuân thủ thay đổi lối sống 34

Bảng 3 8 Thực trạng tuân thủ trong điều trị 35

Bảng 3 9 Mối liên quan giữa TTĐT và nhân khẩu học 36

Bảng 3 10 Mối liên quan giữa thực hành TTĐT với kiến thức về TTĐT 38

Bảng 3 11 Mối liên quan giữa thực hành TTĐT với thái độ về TTĐT 38

Bảng 3.12 Mối liên quan giữa thực hành TTĐT với các yếu tố dịch vụ 39

Bảng 3 13 Mối liên quan giữa thực hành TTĐT với yếu tố gia đình, xã hội 40

Bảng 3 14 Mối liên quan giữa các yếu tố với thực hành tuân thủ điều trị 41

Trang 8

TÓM TẮT ĐỀ TÀI

Tăng huyết áp (THA) là một bệnh mãn tính với tiến triển âm thầm làm cho người bệnh rất dễ nảy sinh tâm lý chủ quan Bệnh tiến triển ngày càng tăng dần và hầu như không có khái niệm điều trị khỏi bệnh THA Trong điều trị THA ngoài việc tuân thủ sử dụng thuốc, bên cạnh đó tuân thủ thay đổi lối sống, theo dỏi số đo huyết

áp hàng ngày và tái khám định kỳ được xem là một trong những yếu tố quan trọng trong điều trị bệnh THA Tuy nhiên hiện nay tại các cơ sở điều trị tuy đưa ra nhiều

mô hình từ quản lý đến nâng cao chất lượng điều trị, tăng cường công tác tư vấn, truyền thông nhưng tỷ lệ tuân thủ điều trị của người dân còn chưa tốt

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang với mục tiêu mô tả thực trạng

tuân thủ điều trị và một số yếu tố liên quan của bệnh nhân tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Thoại sơn năm 2020 Nghiên cứu sử dụng bộ

câu hỏi định lượng phỏng vấn người bệnh tại phòng chờ lãnh thuốc khi người bệnh đến tái khám hàng tháng bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện theo phương pháp chọn liên tiếp cho đến khi đủ cở mẫu thì dừng Tuy nhiên trong quá trình thu thập

số liệu nghiên cứu viên thu thập được 210 mẫu, nên nghiên cứu viên chọn toàn bộ

210 mẫu đưa vào nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy: trong thực hành TTĐT của bệnh nhân thì tuân thủ tái khám định kỳ chiếm tỷ lệ cao nhất 98,6%, kế đến là theo dõi huyết áp tại nhà 65,7%, sử dụng thuốc đạt 49,5%, thấp nhất là tuân thủ thay đổi lối sống đạt 40,5% Trong đó bệnh nhân tuân thủ đúng tất cả 4 nội dung về TTĐT có 32 người chiếm tỷ

lệ 15,2% Về các yếu tố liên quan đến TTĐT của bệnh nhân THA thì giới tính, trình

độ học vấn, thời gian chờ khám của người bệnh với p < 0,05 được xem là ba yếu tố

có mối liên quan đến tuân thủ điều trị

Giải pháp giúp nâng cao TTĐT của bệnh nhân THA bao gồm tăng cường Thông tin-Giáo dục-Truyền thông cho người bệnh, tập trung vào nam giới và nhóm

có học vấn thấp Nội dung truyền thông tập trung vào 4 nội dung chính về TTĐT:

sử dụng thuốc, thay đổi lối sống, đo huyết áp hàng ngày và tái khám định kỳ

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tăng huyết áp (THA) được xem là một trong những vấn đề sức khỏe cộng đồng và đang là vấn đề thách thức không chỉ ở Việt Nam mà còn trên phạm vi toàn cầu, bệnh tăng huyết áp được báo cáo là một trong các yếu tố nguy cơ hàng đầu về

tử vong do các bệnh lý về tim mạch Theo WHO, hàng năm có 9,4 triệu người tử vong do THA (1) và thế giới sẽ có khoảng 1,56 tỷ người (chiếm tỷ lệ 29,2%) bị THA vào năm 2025(2) Tuy nhiên việc kiểm soát THA hiện tại là chưa đạt yêu cầu Nghiên cứu tại Hoa kỳ cho biết, ước tính có 53,5% số người bị bệnh THA nhưng không được kiểm soát huyết áp đầy đủ (3) Một nghiên cứu năm 2012 ở Việt Nam cho thấy tỷ lệ những người từ 30-39 tuổi bị THA lên tới 31,2% (4) nhưng nhiều bệnh nhân còn thờ ơ trong điều trị và không tuân thủ điều trị (TTĐT) bệnh THA TTĐT là yếu tố quan trọng góp phần kiểm soát tốt HA và tránh được các biến chứng nguy hiểm do THA như tai biến mạch máu não, bệnh lý tim mạc

Không tuân thủ điều trị hoặc tuân thủ kém được xem là lý do quan trọng dẫn đến việc kiểm soát HA không tốt, đưa đến biến chứng, tử vong ở những bệnh nhân THA Trong hướng dẫn về chẩn đoán và điều trị THA năm 2010 (Quyết định 3192/QĐ-BYT), thực hành tuân thủ điều trị THA gồm 4 thực hành là: [1] Tích cực thay đổi hành vi lối sống, [2] Theo dõi số đo huyết áp hàng ngày, [3] Tuân thủ về sử dụng thuốc và [4] Tái khám định kỳ (5) Báo cáo năm 2013 của Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) cho biết, TTĐT bệnh THA trên thế giới đạt tỷ lệ tương đối thấp chỉ từ 20-30% (6) Tại Việt Nam, một nghiên cứu năm

2016 của tác giả Phạm Hoài Nam cho thấy việc không TTĐT bệnh THA là khá cao 66,7%, riêng tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh chiếm không quá 50% (7), một nghiên khác năm 2017 của Trần Thị Mỹ Hạnh cho biết tỷ lệ TTĐT về thuốc trước khi được can thiệp ở mức thấp chỉ 28,4% (8)

Thoại Sơn là huyện thuộc tỉnh An Giang nằm phía Đông Nam thành phố Long Xuyên Huyện có diện tích tự nhiên khoảng 460 Km2 với 3 thị trấn và 14 xã,

76 ấp trong toàn huyện Dân số của huyện khoảng 180.000 nhân khẩu (9) Tổng số bệnh nhân đến khám ngoại trú tại Khoa Khám bệnh của TTYT huyện Thoại Sơn

Trang 10

năm 2019 là 203.804 lượt bệnh, trong đó số lượt khám của bệnh nhân THA là 28.078 lượt, chiếm tỷ lệ 13,8% Do THA là bệnh mãn tính cần được quản lý, theo dõi và điều trị suốt đời, nên hàng tháng có khoảng 2200 người bệnh tăng huyết áp đến lãnh thuốc định kỳ tại đây, đa số người bệnh THA đến tái khám có độ tuổi từ 30 trở lên Theo dõi tại TTYT cho thấy kiến thức cũng như thực hành tuân thủ trong điều trị THA của người bệnh còn rất nhiều hạn chế dù đây là nhân tố góp phần quyết định sự thành công trong điều trị Việc tuân thủ điều trị tăng huyết áp của người bệnh còn chưa đầy đủ, không liên tục, còn tình trạng quên uống thuốc, bỏ thuốc nhất là người trẻ tuổi bị tăng huyết áp Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền về bệnh tăng huyết áp và phòng tránh các biến chứng của bệnh tăng huyết áp còn ít được đề cập Hiện tại, chưa có một công trình nghiên cứu nào về TTĐT tăng huyết

áp của người bệnh điều trị ngoại trú tại đây

Do đó, để đánh giá thực trạng TTĐT THA của người bệnh đến khám ngoại trú tại Khoa khám bệnh, TTYT huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang và những yếu tố liên quan đến việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân, nhằm giúp nâng cao ý thức tuân thủ điều trị của người bệnh, phòng tránh các biến chứng và nâng cao chất lượng

trong điều trị, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng tuân thủ điều trị

và một số yếu tố liên quan của bệnh nhân tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại khoa Khám bệnh, Trung tâm Y tế huyện Thoại sơn, tỉnh An Giang năm 2020”

Trang 11

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp tuổi từ 30 trở lên điều trị ngoại trú tại Khoa khám bệnh, Trung tâm Y ế huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang năm 2020

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp tuổi từ 30 trở lên điều trị ngọai trú tại khoa khám bệnh, Trung tâm

Y tế huyện Thoại sơn, tỉnh An Giang năm 2020

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về bệnh tăng huyết áp

1.1.1 Định nghĩa tăng huyết áp

Huyết áp là số đo về lực tác động của máu tác động lên thành động mạch

HA phụ thuộc vào lực bơm máu của tim, thể tích máu được bơm, kích thước cũng như độ đàn hồi của thành động mạch

Được xem là THA khi đo huyết áp tâm thu ≥ 140mmHg và huyết áp tâm trương ≥ 90mmHg (5)

1.1.2 Phân loại huyết áp

Trên thực tế có 2 cách phân loại tăng huyết áp được dùng phổ biến đó là phân loại dựa trên nguyên nhân tìm được và phân loại dựa trên mức chỉ số HA đo được

- Phân loại theo nguyên nhân:

Đa số THA ở người trưởng thành là chưa tìm được nguyên nhân (THA nguyên phát) chiếm 90%, còn lại 10% các trường hợp (THA thứ phát) là có nguyên nhân: các bệnh lý về thận, bệnh về tuyến giáp, tuyến yên, sau khi sử dụng corticoid

- Phân loại theo mức chỉ số huyết áp (5)

Bảng 1 1 Phân loại HA ở người > 18 tuổi theo JNC 8-2014

Huyết áp tâm thu mmHg Huyết áp tâm trương mmHg

Trang 13

Tăng huyết áp nếu không được điều trị hoặc không tuân thủ điều trị sẽ gây ra các biến chứng nguy hiểm, tổn thương đến nhiều cơ quan đích như tổn thương thận, tim, mắt, não, các mạch máu lớn… Các biến chứng của THA không chỉ để lại những hậu quả nghiêm trọng trên cơ thể của người bệnh như tai biến mạch máu não, suy tim, các bệnh lý mạch vành, suy thận, nặng hơn có thể tử vong, bên cạnh

đó còn làm tăng gánh nặng cho gia đình và cả xã hội

Các nghiên cứu củng đã chứng minh những người có HA cao nguy cơ bị đột quỵ do bệnh lý tim mạch cao hơn những người có huyết áp bình thường Việc phát hiện sớm ở giai đoạn tiền tăng huyết áp rất cần thiết để ngăn ngừa tăng huyết áp tiến triển Những người ở giai đoạn tiền tăng huyết áp được khuyến cáo thực hiện các biện pháp thay đổi lối sống (10,11)

1.2 Điều trị tăng huyết áp

Tăng huyết áp (THA) là bệnh mạn tính nên cần được theo dõi huyết áp thường xuyên và điều trị lâu dài Hướng dẫn mới nhất về chẩn đoán và điều trị bệnh THA của Bộ Y tế (Quyết định 3192/QĐ-BYT ngày 31 tháng 8 năm 2010) (5) Điều trị THA bao gồm: thay đổi lối sống (không dùng thuốc) và điều trị bằng thuốc Nên dựa vào phân độ THA và các yếu tố nguy cơ đi kèm theo Bên cạnh đó phải lưu ý đến những người có kèm bệnh lý tim mạch, nguy cơ cao

Trong điều trị THA cần phải đạt hai mục tiêu quan trọng đó là:

- Đạt HA mục tiêu: HA < 140/90mmHg, những người có bệnh lý về tim mạch, người bệnh ĐTĐ phải đạt HA <130/80 mmHg (5) Khi đã đạt được HA mục tiêu cần phải duy trì và theo dõi chặt chẽ, định kỳ để điều chỉnh kịp thời

- Hạn chế thấp nhất các nguy cơ về tim mạch, các biến chứng của THA

Về TTĐT của người bệnh cũng như để đánh giá sự TTĐT của người bệnh bao gồm các phương pháp sau đây:

Trang 14

1.2.1 Điều trị tăng huyết áp dựa trên biện pháp thay đổi lối sống

Theo khuyến cáo của Bộ Y tế về chẩn đoán và điều trị THA (5), trường hợp tăng huyết áp giai đoạn 1 mà chưa có biến chứng, không có các tổn thương đến cơ quan đích, người bệnh được khuyến cáo khởi đầu việc điều trị bằng cách tích cực thay đổi lối sống (có chế độ ăn uống hợp lý, tích cựu giảm cân, hạn chế sử dụng bia/rượu, không hút thuốc lá…) trước khi nghỉ đến việc sử dụng thuốc, các nghiên cứu củng đã cho thấy sự đáp ứng chuẩn sau 4-6 tháng đầu thực hiện Trường hợp biện pháp thay đổi lối sống không đáp ứng lúc này mới kết hợp với việc dùng thuốc

1.2.2 Điều trị tăng huyết áp sử dụng thuốc

Khi biện pháp thay đổi lối sống không giúp đạt được huyết áp mục tiêu, khi

đó tùy theo phân độ huyết áp và nguyên nhân của THA ta sử dụng thuốc để giúp hạ huyết áp (5)

Một số nhóm thuốc hạ HA thường dùng là: nhóm lợi tiểu, chẹn kênh Calci,

ức chế mem chuyển, ức chế thụ thể angiotensin, chẹn beta giao cảm, chẹn anpha giao cảm, tác động lên hệ giao cảm trung ương

Để tránh biến chứng thiếu máu ở các cơ quan, ngoại trừ các tình huống cấp cứu thì không nên hạ HA quá nhanh

Một số nguyên tắc lựa chọn thuốc HA: người bệnh đã quen dùng với thuốc điều trị THA cũ, tác dụng không mong muốn, khoảng tiền mà người bệnh phải chi trả để sử dụng thuốc.…

1.3 Khái niệm tuân thủ điều trị (TTĐT)

Theo khuyến cáo của Bộ Y tế trong hướng dẫn chẩn đoán và điều trị THA(5), hội Tim Mạch học Việt Nam (12), tuân thủ là làm đúng theo những điều mình phải gìn giữ, trong đó tuân thủ điều trị là các hành vi của người bệnh đối với những hướng dẫn điều trị của cán bộ y tế bao gồm:

- Tuân thủ về sử dụng thuốc hạ huyết áp: là bệnh nhân thực hiện đúng

theo y lệnh điều trị về thuốc

Trang 15

- Tuân thủ thay đổi lối sống: như tuân thủ tốt khẩu phần ăn, giảm cân, hạn

chế hoặc không sử dụng các chất kích thích (rượu/bia, thuốc lá), tập luyện thể dục hàng ngày, tránh lo âu, căng thẳng (12)

- Kiểm tra huyết áp hàng ngày: đo và ghi lại chỉ số huyết áp hàng ngày

- Tái khám theo định kỳ: là người bệnh tái khám đúng theo lịch hẹn của

cán bộ y tế

1.4 Nội dung chi tiết về tuân thủ điều trị tăng huyết áp

1.4.1 Thay đổi lối sống

Một bước cần thiết trong việc phòng ngừa bệnh tiến triển và giúp huyết áp ổn định, biện pháp tốt nhất là thực hành thay đổi lối sống, biện pháp này bao gồm (12):

a Chế độ ăn:

Trong khẩu phần ăn hàng ngày phải đảm bảo đầy đủ chất dinh dưỡng, giảm lượng muối ăn (< 6 gr Nacl/ngày), tăng cường rau xanh, hoa quả tươi, hạn chế thức

ăn có nhiều chất béo

b Giảm trọng lượng cơ thể:

Giảm cân nếu thừa cân, duy trì trọng lượng cơ thể bình thường (BMI) từ 18,5 đến 22,9 kg/m2 Duy trì vòng bụng dưới 90cm ở nam và dưới 80cm ở nữ Nghiên cứu năm 2002 của Y LiMa cho thấy những người có trọng lượng cơ thể (BMI) ≥ 25 kg/m2 dể đưa đến THA hơn những những người có (BMI) < 25 kg/m2 gấp 2,78 lần (4) Nghiên cứu khác củng được thực hiện ngoài cộng đồng trên những bệnh nhân tăng huyết áp đang được quản lý điều trị tại xã Thạch Lỗi, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương năm 2018, có 40% người bệnh đạt về tuân thủ điều trị chung, trong

đó người bệnh có thực hiện tuân thủ thay đổi lối sống (chế độ ăn, giảm cân, tập luyện…) đạt 43,6% (13) Những người thừa cân được hướng dẫn giảm trọng lượng

cơ thể giữa kết hợp chế độ ăn giảm năng lượng trong khẩu phần ăn và tăng cường vận động giúp tiêu hao bớt phần năng lượng dư thừa

c Không hút thuốc lá:

Trang 16

Hút thuốc lá làm tăng gánh nặng kinh tế, ảnh hưởng đến sức khỏe, giảm tuổi thọ Không hút thuốc là cách để ngăn ngừa bệnh THA và các bệnh lý về tim mạch khác Người hút thuốc đặc biệt là người bệnh THA thì khả năng đưa đến các bệnh

lý về tim mạch đặc biệt là bệnh lý mạch vành cao hơn những người không hút thuốc (14) Có nhiều phương pháp giúp người bệnh bỏ thuốc lá như liệu pháp Nicotin được dùng ở những người hút trên 10 điếu thuốc/ngày hay phụ thuộc vào Nicotin Theo nghiên cúu tác giả Huỳnh Trung Nghĩa về tìm hiểu thực trạng tăng huyết áp của người dân tại xã Thường Phước 2, Đồng Tháp năm 2015 cho thấy những người hút thuốc lá có nguy cơ bị tăng huyết áp cao gấp 3,75 lần so với những người không hút thuốc lá (p<0,05) (15)

d Hạn chế bia/rượu:

Ngày nay bia hay rượu là thức uống được sử dụng nhiều trong cuộc sống hàng ngày của người dân, bia/rượu không chỉ được sử dụng trong các buổi tiệc, lễ hội, giao lưu, mà còn được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau Bia/rượu là thức uống có chứa cồn và có tác dụng giản mạch, nhưng nếu sử dụng với một lượng nhiều thì nó có tác dụng co mạch và gây tăng huyết áp Sử dụng bia/rượu trong giới hạn cho phép: đối với nam không uống quá 3 cốc chuẩn (360 ml bia x 3 hoặc 150

ml rượu vang x 3 hoặc 30 ml rượu nặng x 3)/ngày và < 14 cốc chuẩn/tuần, đối với

nữ không uống quá 2 cốc chuẩn/ngày và < 9 cốc chuẩn /tuần(14) Một người nếu sử dụng vượt quá số cốc quy định chuẩn/ngày thì nguy cơ bị tăng huyết áp cao gấp 2 lần so với nhựng người không sử dụng (12) Nghiên cứu trên những người bệnh tăng huyết áp tại Đồng Tháp năm 2018, kết quả nghiên cứu cho thấy nội dung về hạn chế các chất kích thích rượu/bia chiếm tỷ lệ thấp 10,8% (16)

e Tập luyện thể thao, nghỉ ngơi hợp lý:

Tùy theo thể trạng và công việc của mỗi người mà có chế độ tập luyện phù hợp như: đi bộ nhanh, chạy bộ, đạp xe… khoảng 30-60 phút/ngày trong tuần Tránh những yếu tố gây stress, có chế độ nghỉ ngơi hợp lý, ngủ đủ giờ/ngày, không thức khuya

Trang 17

1.4.2 Sử dụng thuốc huyết áp

Là việc người bệnh phải thực hiện đúng theo y lệnh và hướng dẫn điều trị của bác sĩ về sử dụng thuốc hạ huyết áp Đối với tăng huyết áp, một số biện pháp không dùng thuốc cũng đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc hạ áp và giúp bệnh nhân dễ dàng đạt huyết áp mục tiêu (5) Theo WHO tuân thủ điều trị cần phải hiểu rộng hơn đó là bao gồm cả việc tuân thủ sử dụng thuốc và thực hành thay đổi lối sống (2)

Tuy nhiên các nghiên cứu đã khẳng định, việc dùng thuốc huyết áp đều đặn vẫn là yếu tố quyết định nhằm duy trì mức huyết áp của bệnh nhân trong giới hạn cho phép và giúp phòng tránh các nguy cơ tai biến và đột quỵ Nghiên cứu năm

2013 về tuân thủ dùng thuốc và một số yếu tố liên quan dựa vào thang điểm Morisky với kết quả tỷ lệ trên 75% người bệnh có tuân thủ sử dụng thuốc (17) Một nghiên cứu khác của Kiêm Sóc Kha (2017) trên 175 bệnh nhân điều trị ngoại trú tại Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh Trà Vinh, kết quả với tỷ lệ là 94,86% người bệnh tuân thủ điều trị thuốc hạ huyết áp (18)

1.4.3 Đo và theo dõi huyết áp hàng ngày

Theo khuyến cáo của Bộ Y tế trong hướng dẫn chẩn đoán và điều trị THA (5), hội Tim Mạch học Việt Nam những người mắc tăng huyết áp cần theo dõi huyết áp của họ thường xuyên hàng ngày vào những giờ nhất định hoặc khi có dấu hiệu bất thường, việc theo dõi huyết áp này mang lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân như: theo dõi sự thay đổi huyết áp có liên quan tới nhịp sinh học của cơ thể để giúp điều chỉnh thời điểm dùng thuốc hạ áp (12)

Nhiều nghiên cứu củng đã chỉ ra rằng việc tự theo dõi huyết áp thường xuyên tại nhà của người bệnh chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó đặc biệt là sự hiểu biết của người bệnh về việc cần phải thực hiện thường xuyên việc đo và ghi chép lại số đo huyết áp tại nhà, việc người bệnh biết cách đo huyết áp bằng máy điện tử cũng là một yếu tố quan trọng cũng như việc họ tự trang bị cho mình máy

đo sẵn có tại nhà

Trang 18

Với những bệnh nhân đang điều trị, việc huyết áp dao động vẫn có thể xảy ra khi bệnh nhân đáp ứng không tốt với loại thuốc và liều lượng thuốc đang dùng hay xảy ra tương tác giữa các thuốc Huyết áp dao động cũng thường gặp khi có những tiến triển bất lợi của bệnh hoặc là dấu hiệu cảnh báo của các nguy cơ như đột quỵ

và các bệnh lý về tim mạch Chính vì vậy, việc theo dõi huyết áp thường xuyên giúp cho người bệnh và thầy thuốc giám sát tốt hơn quá trình điều trị và có điều chỉnh khi cần thiết Nghiên cứu của Võ Thanh Phong (2018) trên 216 bệnh nhân tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa Khoa Trung Tâm Tiền Giang, kết quả nghiên cứu cho thấy có 76,9% người bệnh có kiến thức đạt khi biết cần phải đo huyết áp thường xuyên (19) Nghiên cứu của Trần Thị Kim Xuân (2017) trên 229 bệnh nhân tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại phòng khám nội Tim mạch, Bệnh viện Chợ Rẫy, có 46,3% người bệnh cho rằng cần phải đo huyết áp hàng ngày (20)

1.4.4 Tái khám định kỳ

Người bệnh thực hiện tái khám đúng theo lịch Việc tái khám đúng định kỳ

để Bác sĩ đánh giá xem có đáp ứng của người bệnh với phác đồ điều trị đang sử dụng hay không để từ đó có những điều chỉnh thuốc điều trị và có những hướng dẫn phù hợp, nếu THA có kèm theo bệnh lý tim mạch, tùy theo mức độ bệnh lý cần chuyển người bệnh lên Bệnh viện tỉnh hoặc Bệnh viện chuyên khoa về Tim mạch Việc tái khám đầy đủ là biện pháp hữu hiệu giúp thành công trong điều trị THA, ngăn ngừa các biến chứng do THA gây ra (8)

Tần suất của các lần tái khám có thể giảm nếu người bệnh đáp ứng tốt với phác đồ và khi huyết áp trở về mức ổn định và duy trì (có thể 1-2 tháng tái khám một lần) Mặt khác người bệnh vẩn phải đo và theo dõi HA hàng ngày Tuy nhiên khoảng cách giửa các lần tái khám củng không nên thưa quá

Để người bệnh TTĐT tốt ngoài quan tâm về mặt tinh thần, thái độ của đội ngủ CBYT, sự tiếp cận dịch vụ y tế, bên cạnh đó ý chí, quyết tâm, người bệnh còn phải tuân thủ tốt các bước thay đổi trong hành vi lối sống của mình, tự theo dõi HA của mình hàng ngày và tái khám đầy đủ, đây là các yếu tố giúp thành công trong điều trị, phòng tránh các biến chứng nguy hiểm

Trang 19

1.5 Các nghiên cứu về tuân thủ điều trị bệnh tăng huyết áp trên Thế giới và ở Việt Nam

1.5.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Tăng huyết áp là bệnh mãn tính cần được theo dõi và điều trị suốt đời, bệnh thường gặp ở hầu hết các nước trên thế giới Theo WHO, tăng huyết áp là một trong sáu yếu tố nguy cơ chính ảnh hưởng tới phân bố gánh nặng bệnh tật toàn cầu Một trong những yếu tố quyết định sự thành công trong điều trị THA là người bệnh phải tuân thủ theo hướng dẫn về điều trị của cán bộ y tế, trên thực tế thì đâu phải người bệnh nào củng thực hiện đúng theo các hướng dẫn điều trị của CBYT (4) Sự không tuân thủ điều trị của bệnh nhân ở các nước vẫn còn cao, nghiên cứu năm 2007 tại Hoa Kỳ cho thấy trong số các bệnh nhân THA được điều trị thì chỉ có 44,1% là tuân thủ điều trị tốt (21) Nghiên cứu năm 2011 trên bệnh nhân tăng huyết áp tại Nigeria, kết quả nghiên cứu cho thấy có 51% đối tượng nghiên cứu đạt tuân thủ điều trị (22) Nghiên cứu 2013, trên 2.047 bệnh nhân tăng huyết áp kết quả cho thấy có sự thay đổi về HA tâm thu là 7,5mmHg và 5,1mmHg giữa 2 nhóm có tuân thủ thực hành thay đổi lối sống và không tuân thủ (23)

Tăng huyết áp động mạch là một trong những bệnh phổ biến trên thế giới và gây ảnh hướng lớn đến tỷ lệ tử vong trên toàn cầu, mặc dù ngày nay đã có nhiều loại thuốc giúp hạ huyết áp, nhưng sự kiểm soát tốt nhất là sự tuân thủ điều trị của người bệnh (15) Các công trình gần đây tại Australia và Indonesia, các tác giả và cộng sự củng đánh giá mức độ tuân thủ điều trị của người bệnh nhưng tập trung vào việc sử dụng thuốc của người bệnh và kết quả dao động từ 11,8% ở Indonesia và 85% ở Australia (24)

Tại Châu Á cũng có nhiều công trình nghiên cứu tuân thủ điều trị về sử dụng thuốc như tại Malaysia (2009) tuân thủ điều trị đạt là 48,7%, tại Pakistan (2007) có 76,7% người bệnh tuân thủ sử dụng thuốc (25) Đài Loan (2017) tuân thủ là 57,6% (26) Nghiên cứu của tác giả Jinging Pan và cộng sự (2019) trên 488 bệnh nhân tăng huyết áp tại Bệnh viện Đại học Tây An, Trung Quốc, kết quả nghiên cứu cho thấy

Trang 20

sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp ở Trung Quốc là rất thấp chỉ có 27,46% bệnh nhân tuân thủ các phương pháp điều trị hạ huyết áp của họ (27)

Các nghiên cứu tại Châu Âu đánh giá tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp củng cho thấy mức độ tuân thủ điều trị của các bệnh nhân củng khác nhau Nghiên cứu của tác giả Schulz và cộng sự (2016) trên 255.500 bệnh nhân tăng huyết áp có đơn thuốc hạ huyết áp được đưa vào theo dõi trong 24 tháng tại Đức, kết quả nghiên cứu cho thấy có 56,3% bệnh nhân không tuân thủ điều trị, trong đó

tỷ lệ không kiên trì và không tuân thủ là cao nhất đối với thuốc lợi tiểu và thấp nhất đối với thuốc chẹn beta (28) Nghiên cứu của Gupta và cộng sự (2017) trên 1348 bệnh nhân cao huyết áp từ 2 quốc gia châu Âu, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tuân thủ điều trị giữa các quốc gia là khác nhau, tỷ lệ không tuân thủ điều trị hạ huyết áp lần lượt là 41,6% và 31,5% ở dân số Anh và Séc (29)

1.5.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam trước kia phần nhiều tập trung vào nghiên cứu về thực trạng THA, quản lý và tìm các yếu tố nguy cơ gây THA, các công trình nghiên cứu đo lường sự TTĐT của người bệnh là chưa được nhiều, và chỉ đánh giá về tuân thủ sử dụng thuốc Nhiều nghiên cứu cũng đã chứng minh rằng

tỷ lệ tuân thủ điều trị THA của người bệnh là chưa tốt, và sự tuân thủ của những đối tượng trong nghiên cứu củng rất khác nhau (7)

Ngày nay những công trình nghiên cứu đã quan tâm hơn đến các vấn đề tuân thủ khác của người bệnh trong điều trị Nghiên cứu củng tập trung vào 4 tuân thủ trong tuân thủ điều trị bệnh tăng huyết áp đó là: sử dụng thuốc, chế độ sinh hoạt, tái khám định kỳ và kiểm tra HA tại nhà (19)

Một số nghiên cứu đánh giá mức độ tuân thủ điều trị tăng huyết áp thực hiện ngoài cộng đồng cho thấy Nghiên cứu tại Bến Lức, tỉnh Long An năm 2008 trên

384 bệnh nhân tăng huyết áp, đánh giá tỷ lệ tuân thủ điều trị sử dụng thuốc và không sử dụng thuốc, kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ người bệnh tăng huyết áp tuân thủ đúng điều trị sử dụng thuốc đạt tỷ lệ thấp 26,8% (30) Nghiên cứu năm 2010

Trang 21

trên bệnh nhân ≥ 60 tuổi bị tăng huyết áp tại phường Hàng Bông, Hà Nội, kết quả nghiên cứu củng cho thấy người bệnh thực hành tuân thủ điều trị đạt chiếm tỷ lệ không cao 21,5% (31)

Một số nghiên cứu khác gần đây như: Nghiên cứu được thực hiện trên những bệnh nhân tăng huyết áp được quản lý tại Trạm Y tế xã Văn Môn, huyện Yên Phong, Bắc Ninh năm 2013 để đánh giá mức độ tuân thủ điều trị tăng huyết áp của người bệnh, kết quả cho thấy tỷ lệ người bệnh thực hành sử dụng thuốc đúng đạt 76,2%, tuân thủ thay đổi lối sống so với trước khi bị bệnh là 24%, trong đó người bệnh đạt tuân thủ điều trị tăng huyết áp chung là 14,5% (32) Nghiên cứu năm 2016 trên 210 bệnh nhân tăng huyết áp được quản lý tại Trạm Y tế xã Bình Định, huyện Lương Tài, Bắc Ninh cho thấy có dưới 50% ĐTNC tuân thủ tốt các nội dung về sử dụng thuốc huyết áp (7)

Thực tế thì việc quản lý, kiểm soát người bệnh tăng huyết áp ngoài cộng đồng chưa được duy trì, chặt chẽ và chưa được triển khai rộng rãi Ngoài những khảo sát, đánh giá tuân thủ điều trị của người bệnh được thực hiện ngoài cộng đồng, bên cạnh đó cũng có những công trình nghiên cứu, nhằm đánh giá sự tuân thủ điều trị của người bệnh nhưng được thực hiện tại Bệnh viện, Khoa Khám bệnh là nơi người bệnh đến tái khám hàng tháng, tại đây người bệnh được các nhân viên y tế quản lý, theo dõi, hướng dẫn, tư vấn điều trị Để tìm hiểu mức độ tuân thủ điều trị của những người bệnh này có tốt hơn so với người bệnh được quản lý ngoài cộng đồng hay không Một số nghiên cứu gần đây về tuân thủ điều trị bệnh tăng huyết áp, nghiên cứu được thưc hiện tại phòng khám Nội Tim mạch Bệnh viện Chợ Rẫy năm

2017 tìm hiểu về kiến thức và sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại đây, cho thấy nam giới thấp hơn nữ giới (40,2%-59,8%), những người trên 60 tuổi chiếm tỷ lệ nhiều hơn (59,4%), và kết quả củng tìm thấy tuân thủ

về sử dụng thuốc của người bệnh chiếm tỷ lệ cao 96,5%, thay đổi lối sống thấp dưới 50%, tuy nhiên người bệnh thực hành đúng về tuân thủ điều trị chiếm tỷ lệ khá cao trên 75% (20) Nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2018 trên 216 bệnh nhân tăng huyết áp đến tái khám hàng tháng tại khoa khám bệnh cho

Trang 22

kết quả người bệnh có kiến thức đúng về tuân thủ điều trị tăng huyết áp chiếm 44%,

có thái độ tích cự về tuân thủ đều trị THA chiếm 92,6%, người bệnh tuân thủ cả 4 nội dung về tuân thủ điều trị đạt tỷ lệ 19,4%, trong đó nội dung về sử dụng thuốc đạt 53,7% (19)

Hiện nay bên cạnh việc điều trị cho người bệnh ngoài cộng đồng và điều trị nội trú tại Bệnh viện, thì việc quản lý, điều trị ngoại trú cho người bệnh bị THA là cần thiết để giúp cho họ nâng cao và ý thức hơn trong việc TTĐT, tuy nhiên mô hình kiểm soát này chưa nhiều, chỉ mới tập trung tại một số Bệnh viện lớn: Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Đa Khoa tỉnh Hà Nam, Bệnh viện Đa Khoa tỉnh Bắc Giang, BV Bình Phước…(20)

1.6 Các thang đo đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc

Ngày nay trên thế giới nhiều tác giả sử dụng bảng phỏng vấn với 2 thang đo

là Morisky và Hill Bone tìm hiểu mức độ tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh Thang đo Morisky vẫn đang là một trong những công cụ được sử dụng rộng rãi nhất

để đo lường sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân, nghiên cứu năm 2012 tại Brazil, trên

937 bệnh nhân tăng huyết áp sử dụng thang đo Morisky, kết quả nghiên cứu cho thấy tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân ở mức trung bình là 46% (24) Một nghiên cứu tại Hoa Kỳ năm 2010 trên 94 người bệnh từ 65 tuổi trở đi, được thực hiện ngoài cộng đồng để tìm hiểu mức độ tuân thủ sử dụng thuốc bằng thang đo HillBone, kết quả nghiên cứu cho thấy có 54% người bệnh tuân thủ sử dụng thuốc đạt mức trung bình Và củng tại Hoa Kỳ tìm hiểu trên 239 người bệnh tăng huyết áp áp dụng thang

đo Morisky, kết quả tuân thủ dùng thuốc của người bệnh là khá cao 70% (33) Trong nghiên cứu nhiều cách đánh giá chưa đồng nhất, tuy vậy thang đo Morisky lại là phương pháp được lựa chọn nhiều nhất, được vận dụng trong hơn 63% các trường hợp (24)

Ngoài 2 phương pháp đo lường tuân thủ sử dụng thuốc theo Morisky và HillBone, các phương pháp đo lường TTĐT phức tạp hơn trên người bệnh uống thuốc theo ngày và TTĐT tính theo tỷ lệ số ngày người bệnh tuân thủ sử dụng thuốc với tổng số ngày mà người bệnh tham gia vào nghiên cứu Ưu điểm của phương

Trang 23

pháp này cho kết quả chính xác nhưng mặt khác lại khó thực hiện Mặt khác những đánh giá về tuân thủ dùng thuốc của các nghiên cứu này chỉ đánh giá ở mức độ hỏi người bệnh có sử dụng đầy đủ thuốc hàng ngày không mà chưa sử dụng những thang đo đánh giá mức độ tuân thủ sâu hơn (24)

1.7 Các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị tăng huyết áp

Trong điều trị tăng huyết áp sự tuân thủ điều trị của người bệnh góp phần tiên quyết thành công trong điều trị, bệnh nhân không tuân thủ hoặc tuân thủ chưa tốt là lý do đưa đến những biến chứng nguy hiểm, một số lý do có thể giải thích cho việc tuân thủ chưa tốt này, ngoài việc thời gian điều trị bệnh kéo dài, sử dụng nhiều loại thuốc trong một đợt điều trị, tác dụng phụ của thuốc Tìm kiếm mối quan hệ giữa tuân thủ điều trị với các yếu tố liên quan từ đó đưa ra những giải phải giúp phòng ngừa, kiểm soát nhằm nâng cao tình trạng sức khỏe, trong các nghiên cứu củng đã chứng minh được các yếu tố liên quan đến sự tuân thủ điều trị của người bệnh như sau (4)

1.7.1 Yếu tố cá nhân

Tuổi và giới tính của bệnh nhân tuy không có mối liên quan với tính đáp ứng

của nhiều loại thuốc huyết áp, nhưng củng có ảnh hưởng một phần tới việc tuân thủ điều trị của người bệnh, ở những người lớn tuổi mức độ quan tâm và tuân thủ trong điều trị tốt hơn ở những người trẻ tuổi, và giới tính nữ có mức độ tuân thủ tốt hơn ở nam giới Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Loan trên bệnh nhân tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện C tỉnh Thái Nguyên năm 2012 củng cho thấy có mối liên quan giữa giới tính với tuân thủ điều trị, nữ giới tuân thủ điều trị cao gấp 2,16 lần so với nam giới (34) Một nghiên cứu (2007) tại Pakistan trên 438 người bệnh củng tìm thấy có mối liên quan giữa tuân thủ điều trị với tuổi tác và giới tính của người bệnh (25)

Học vấn và điều kiện kinh tế cá nhân: người bệnh có trình độ học vấn cao

hơn thì khả năng nhận thức và hiểu biết về bệnh tốt hơn, mặt khác người bệnh có thu nhập cá nhân cao thì người bệnh không còn phải lo lắng quá nhiều về kinh tế,

Trang 24

phải kiếm sống hàng ngày, khi họ có điều kiện tốt lúc đó họ sẽ chú trọng đến chăm sóc sức khỏe nhiều hơn, đây đều được xem là một trong các yếu tố dẫn đến sự tuân thủ điều trị tốt của người bệnh Nghiên cứu của Ninh Văn Đông (2010) củng chỉ ra rằng có mối liên quan về trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu với việc tuân thủ trong điều trị, với p < 0,05 người bệnh có học vấn từ cao đẳng trở lên tuân thủ trong điều trị cao hơn 15,4 lần so với những người có học vấn dưới THPT (31) Một nghiên cứu khác tại Bắc Ninh năm 2013, kết quả củng đã chứng minh có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tuân thủ điều trị với trình độ học vấn với p < 0,05, (OR=2,9; khoảng tin cậy 1,03-8,18) (32)

Bảo hiểm y tế: được xem là loại hình bảo hiểm của nhà nước trong lĩnh vực

chăm sóc sức khỏe của cộng đồng, bảo hiểm y tế giúp giảm thiểu chi phí khi người bệnh có nhu cầu chăm sóc sức khỏe, khi ốm đau, nằm viện Ngày nay do nhu cầu chăm sóc sức khỏe đặc biệt là những bệnh mạn tính như tăng huyết áp cần phải điều trị liên tục và suốt đời, thực trạng hiện nay BHYT được nhiều người quan tâm và sử dụng, vì BHYT giúp người bệnh nhất là những người có thu nhập thấp thanh toán một phần chi phí trong điều trị (8)

Kiến thức về bệnh tốt sẽ giúp họ nhận thức và tuân thủ điều trị bệnh tốt hơn

Một số trường hợp người bệnh uống thuốc thấy không có triệu chứng và cho là khỏi bệnh, do đó cần phải thay đổi nhận thức, thái độ của người bệnh để họ tiếp tục tuân thủ trong điều trị Nghiên cứu của tác giả Võ Thanh Phong năm 2018 tại Bệnh viện

Đa Khoa Trung Tâm Tiền Giang, kết quả củng cho thấy người bệnh có kiến thức đúng về bệnh chiếm tỷ lệ 44%, về thái độ tích cực chiếm tỷ lệ 92,6% và nghiên cứu củng cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức đúng với tuân thủ điều trị với p<0,001, người bệnh có kiến thức đúng TTĐT cao hơn 4,19 lần so với những người có kiến thức không đúng (19)

Thái độ của người bệnh, muốn người bệnh có thái độ tốt, tin tưởng, an tâm

và tuân thủ điều trị, thì cán bộ y tế cần tạo được sự tin tưởng, tăng cường mối quan

hệ với người bệnh và gia đình người bệnh, cung cấp và thông tin đầy đủ và chính xác về tình hình sức khỏe của người bệnh (19)

Trang 25

1.7.2 Yếu tố gia đình và xã hội

Sự hỗ trợ từ gia đình và xã hội: trong những năm gần đây đã có nhiều sự

quan tâm hơn của các hiệp hội, tổ chức về phòng chống tăng huyết áp như chương trình mục tiêu quốc gia về phòng chống tăng huyết áp, Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam, câu lạc bộ, hội người cao tuổi…người bệnh củng có thể tìm hiểu những thông tin về bệnh, cách điều trị qua mạng xã hội, ti vi, sách, báo, bên cạnh đó hỗ trợ của gia đình đóng vai trò quan trọng giúp nâng cao sự tuân thủ điều trị của người bệnh Đã có nhiều khảo sát tìm hiểu các mối liên quan giữa tuân thủ điều trị với các yếu tố về quan tâm hỗ trợ từ gia đình và các tổ chức xã hội Nghiên cứu của tác giả

Đỗ Thị Bích Hạnh năm 2013 cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê p<0,001, giữa tuân thủ điều trị với sự quan tâm hỗ trợ từ xã hội, các cơ quan, đoàn thể (OR=0,41; KTC 0,24-0,70) (34)

1.7.3 Yếu tố dịch vụ

Mối quan hệ giữa bệnh nhân và CBYT: tinh thần thái độ của cán bộ y tế

đóng vai trò không nhỏ trong tuân thủ điều trị của người bệnh, cán bộ y tế với thái

độ niềm nở, nhã nhận trong giao tiếp, tận tình hướng dẫn, khi người bệnh đến tái khám người bệnh được cán bộ y tế tư vấn đầy đủ về bệnh và được nhắc nhở tuân thủ điều trị giúp cho người bệnh cảm thấy thoải mái, an tâm cho những lần điều trị tiếp theo Nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Bích Hạnh năm 2013 cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê p < 0,05 người bệnh được cán bộ y tế giải thích về điều trị bệnh tuân thủ điều trị cao gấp 3,46 lần so với nhóm không được giải thích (OR=3,46; KTC 2,15-5,58) (34)

Điều kiện tiếp cận dịch vụ: Cơ sở, vật chất khang trang, sạch sẽ, thoáng mát,

đầy đủ tiện nghi, trang thiết bị, tạo cảm giác thoải mái cho người bệnh khi đến điều trị góp phần tạo được sự tin tưởng, và tự tin khi đến tái khám, bên cạnh đó thủ tục hành chánh và thời gian của mỗi đợt khám bệnh nhanh hay lâu củng góp phần quyết định sự TTĐT của người bệnh Nghiên cứu của Đỗ Thị Bích Hạnh (2013), kết quả cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với p<0,001, những bệnh nhân có

Trang 26

thời gian khám bệnh nhanh TTĐT cao hơn 2,81 lần so với những người có thời gian khám bệnh lâu (OR=2,81, KTC 1,38-3,46) (34)

Ngoài ra đoạn đường từ nhà đến cơ sở y tế xa hay gần, có thuận lợi cho việc

đi lại hay không củng nói lên mức độ ảnh hưởng đến việc tuân thủ điều trị của người bệnh

1.8 Một số thông tin liên quan đến địa bàn nghiên cứu

Thoại Sơn là huyện thuộc tỉnh An Giang nằm phía Đông Nam thành phố Long Xuyên Huyện có diện tích tự nhiên khoảng 460 Km2 với 3 thị trấn và 14 xã,

76 ấp trong toàn huyện Dân số của huyện khoảng 180.000 nhân khẩu Đất đai màu

mỡ, người dân Thoại sơn sống chủ yếu bằng nghề nông Có nhiều đồng bào dân tộc Kinh và Khơme sinh sống

Trung tâm y tế huyện Thoại Sơn được thành lập trên cơ sở sáp nhập Trung tâm y tế và Bệnh viện đa khoa theo Quyết định số 3231/QĐ-UBND ngày 30 tháng

10 năm 2017 theo hướng thống nhất mô hình Trung tâm y tế thực hiện 02 chức năng khám chữa bệnh và phòng bệnh Trung tâm Y tế huyện Thoại sơn có 4 phòng chức năng, 14 khoa chuyên môn, 17 trạm y tế và 01 phòng khám khu vực Tổng số cán bộ 409 cán bộ viên chức

Khoa khám bệnh, Trung tâm Y tế huyện Thoại sơn với chức năng nhiệm vụ khám và điều trị bệnh ngoại trú với đầy đủ các chuyên khoa, cơ sở vật chất đảm bảo đầy đủ tiện nghi, thoáng mát, đội ngủ y bác sĩ có chuyên môn đảm bảo phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, trong những năm qua khoa khám bệnh không

ngừng cải tiến thủ tục hành chánh nhằm tiến tới sự hài lòng cho người bệnh

Nhằm tìm hiểu về các hoạt động phòng tránh biến chứng cho nhóm đối tượng bị THA, qua tìm hiểu cho thấy trong những lần tái khám, người bệnh được cán bộ y tế tư vấn, giáo dục sức khỏe, truyền thông về bệnh Tuy nhiên các nội dung quan trọng cần tuân thủ trong điều trị như thay đổi lối sống, tuân thủ dùng thuốc, theo dõi HA hàng ngày, tái khám định kỳ lại dễ bị bỏ qua, hoặc tuyên truyền chưa sâu rộng

Trang 27

1.9 Khung lý thuyết

Khung lý thuyết của nghiên cứu đánh giá 4 mức độ TTĐT của bệnh nhân

được tham khảo từ Võ Thanh Phong (19) và Trần Thị Kim Xuân (20)

Yếu tố cá nhân

Kiến thức

- Tình trạng nguy hiểm

của việc không TTĐT

- Những hâu quả của việc

không TTĐT

- Một số kiến thức về

kiểm soát tốt huyết áp và

biến chứng của THA

Tuân thủ điều trị Tăng huyết áp

- Tuân thủ theo dõi huyết áp

- Tuân thủ thay đổi lối sống

Điều trị THA ngoại trú

- Điều kiện để tiếp cận dịch vụ: thời gian chờ khám, khoảng cách từ nhà đến CSYT

- Quan hệ giữa bệnh nhân và CBYT: tinh thần thái độ của nhân viên y tế, tư vấn và nhắc nhở tuân thủ…

Yếu tố dịch vụ

Trang 28

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Người bệnh được chẩn đoán THA tuổi từ 30 trở lên đang được quản lý và điều trị ngoại trú tại Khoa khám bệnh, Trung tâm Y tế huyện Thoại sơn, tỉnh An Giang

* Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Bệnh nhân tăng huyết áp tái khám từ lần 2 trở lên

- Người có đủ khả năng giao tiếp trả lời câu hỏi

- Người đồng ý tham gia vào nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: từ 9/2019 - 07/2020

- Địa điểm: khoa Khám bệnh, Trung tâm Y tế huyện Thoại Sơn, An Giang

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.4.1 Cỡ mẫu:

Sử dụng công thức tính cỡ mẫu cho một tỷ lệ

Trong đó:

n: số người bệnh cần điều tra

p: theo kết quả nghiên cứu của tác giả Trần Công Trưởng ở Bệnh viện quận 2 Thành phố Hồ Chí Minh năm 2018 cho biết tỷ lệ tuân thủ điều trị tăng huyết áp của bệnh nhân là 41,2% Vì vậy trong nghiên cứu này, giá trị p=0,412(35)

Trang 29

α: chọn mức ý nghĩa thống kê 0,05

d: sai số chấp nhận được, chọn d= 0,07

Z2(1-α/2): hệsố tin cậy tại mức ý nghĩa thống kê α =5% (tra bảng Z=1,96)

Vì vậy cỡ mẫu được tính theo công thức sau là n=190bệnh nhân Do vậy cỡ mẫu của nghiên cứu là 190 bệnh nhân

2.4.2 Cách chọn mẫu:

Chọn mẫu thuận tiện bệnh nhân đến khám theo phương pháp chọn liên tiếp: Phỏng vấn khi người bệnh đến lấy thuốc hàng tháng, sau khi khám bệnh xong người bệnh đến phòng chờ lãnh thuốc, tại đây nghiên cứu viên chọn những bệnh nhân đủ tiêu chuẩn để phỏng vấn bằng bộ câu hỏi định lượng trong thời gian bệnh nhân chờ lãnh thuốc, cứ phỏng vấn liên tiếp như vậy cho đến khi đủ cở mẫu Tuy nhiên, trong quá trình thu thập số liệu, nghiên cứu viên thu thập được là 210 mẫu, nên nghiên cứu viên chọn toàn bộ 210 mẫu đưa vào nghiên cứu

2.5 Công cụ, phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Công cụ thu thập số liệu

Cấu phần định lượng: Phỏng vấn trực tiếp người bệnh bằng bộ câu hỏi (phụ lục 1) do nhóm nghiên cứu tham khảo từ các nghiên cứu của Võ Thanh Phong (19), nghiên cứu của Trần Thị Kim Xuân (20) và dựa trên quy định của Bộ Y tế (5)

- Phần một: chia 3 phần nhỏ, có tất cả 29 câu hỏi

+ Yếu tố cá nhân: có 22 câu, hỏi về thông tin chung của đối tượng nghiên

cứu, kiến thức và thái độ của người bệnh Có nhiều câu hỏi về đặc điểm cá nhân như: giới, năm sinh, trình độ học vấn, lối sống của bệnh nhân, hôn nhân, nghề nghiệp bản thân, kinh tế của gia đình…

+ Yếu tố về gia đình, xã hội: có 02 câu hỏi về hỗ trợ của các tổ chức xã hội

và quan tâm, giúp đỡ của người thân trong gia đình về TTĐT

Trang 30

+ Yếu tố dịch vụ: có 5 Câu hỏi về điều kiện để tiếp cận dịch vụ, mối quan

hệ giữa bệnh nhân và CBYT

- Phần hai: Có 15 câu hỏi mô tả về tuân thủ điều trị THA của đối tượng

nghiên cứu Tái khám đúng định kỳ hàng tháng tại Trung tâm Y tế

2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu

- Người bệnh được điều tra viên phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi định lượng Gồm có 04 phần

+ Phần 1: Yếu tố về cá nhân

+ Phần 2: Yếu tố về gia đình và xã hội

+ Phần 3: Yếu tố dịch vụ

+ Phần 4: Tuân thủ điều trị THA

- Các bước thu thập số liệu

+ Bước 1: Khi người bệnh đến phòng khám cộng tác viên đo HA và ghi lại

chỉ số HA vào sổ khám bệnh Sau khi người bệnh khám xong đến phòng lãnh thuốc, tại đây điều tra viên chọn những bệnh nhân đủ điều kiện, tiêu chuẩn để mời tham gia phỏng vấn, xem hồ sơ khám bệnh để biết người bệnh có đến tái khám định kỳ không, sau đó ghi thông tin cá nhân (hành chánh: tên, tuổi, địa chỉ, nghề nghiệp, ngày khám) bệnh nhân

+ Bước 2: Phổ biến đạo đức nghiên cứu, mục đích của nghiên cứu để đối

tượng nghiên cứu chấp nhận tham gia vào nghiên cứu

+ Bước 3: Điều tra viên phỏng vấn trực tiếp người bệnh theo các nội dung

trong bộ câu hỏi (yếu tố cá nhân, yếu tố gia đình và xã hội, yếu tố dịch vụ, TTĐT) riêng số đo HA của người bệnh lấy trong hồ sơ khám bệnh mà cộng tác viên đã đo trước đó

+ Bước 4: Sau khi phỏng vấn cho bệnh nhân ký tên, điều tra viên thu phiếu,

tổng hợp phiếu sau khi đã kết thúc cuộc phỏng vấn từng ngày, kiểm tra lại các thông tin ghi trong phiếu, phiếu không đạt sẽ loại bỏ

Trang 31

- Thời gian: buổi sáng từ 7h30 đến 11h

buổi chiều 13h30 đến 16h

2.6 Biến số trong nghiên cứu

Các biến số phụ thuộc như sử dụng thuốc, đo HA,thay đổi lối sống, tái khám đúng lịch hẹn được đánh giá đạt và không đạt trong TTĐT

Các biến độc lập như nhóm tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, trình độ học vấn, hôn nhân, tiền sử về gia đình, tiền sử bệnh tật, mức độ bệnh, ăn uống và luyện tập thể thao, kiến thức về tuân thủ, quan tâm của gia đình và xã hội, yếu tố dịch vụ

2.6.1 Các biến số trong nghiên cứu

- Định nghĩa dùng trong nghiên cứu: tuân thủ điều trị có nghĩa là:

+ Người bệnh đo và ghi lại HA tại nhà ít nhất 2 lần/tuần

+ Sử dụng thuốc đạt theo thang điểm ≤ 2 điểm

+ Thay đổi lối sống khi đạt ≥ 4 điểm

+ Người bệnh tái khám đúng định kỳ tại bệnh viện (mỗi tháng 1 lần)

- Biến số trong nghiên cứu: được chia làm 4 phần

+ Yếu tố cá nhân: nhân khẩu học như tuổi tác, giới tính, địa chỉ, BHYT, kiến thức về tuân thủ điều trị, thái độ về tuân thủ điều trị

+ Yếu tố về gia đình, xã hội

+ Yếu tố dịch vụ

+ Tuân thủ điều trị THA

2.6.2 Các tiêu chuẩn đánh giá sử dụng trong nghiên cứu (phụ lục 2)

Tiêu chuẩn và cách tính điểm TTĐT được tham khảo các nghiên cứu tương

tự của Võ Thanh Phong (19) và Trần Thị Kim Xuân (20) với ngưỡng đạt là trả lời đúng ≥ 75% câu hỏi hoặc có tổng điểm ≥ 7,5 trên thang điểm 10 sau quy đổi cụ thể như sau:

Trang 32

2.6.2.1 Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức về tuân thủ điều trị

Phần này gồm 8 nội dung, từ câu 17 đến câu 24 trong bộ câu hỏi (phụ lục 1),

câu hỏi có 2 dạng lựa chọn, một lựa chọn và nhiều lựa chọn Mỗi câu trả lời đúng được xem là đạt và sẽ được tính một điểm Vậy người bệnh được xem là đạt kiến thức về TTĐT khi đạt 6/8 nội dung (≥ 6 điểm là đạt)

2.6.2.2 Tiêu chuẩn đánh giá thái độ của người bệnh về TTĐT

Thái độ của đối tượng nghiên cứu trong tuân thủ điều trị bệnh tăng huyết áp

gồm 5 nội dung, từ câu 25 đến câu 29 tại bộ câu hỏi định lượng (phụ lục 1) Người bệnh trả lời đúng một câu hỏi sẽ được tính một điểm và được coi là đạt, lựa chọn không đúng sẽ không được điểm và được coi là không đạt Vậy người bệnh được xem là có thái độ tích cực khi đạt 4/5 nội dung trong tiêu chuẩn thái độ về tuân thủ

điều trị (≥ 4 điểm là đạt)

2.6.2.3 Tiêu chí đánh giá thực hành tuân thủ điều trị bệnh THA

Trong nghiên cứu chúng tôi đánh giá thực hành tuân thủ điều trị của bệnh nhân THA qua 4 nội dung: thực hành sử dụng thuốc, thực hành thay đổi lối sống, theo dõi huyết áp hàng ngày, tái khám định kỳ Từ câu 30 đến câu 44 ( Phụ lục 1)

- Theo dõi huyết áp hàng ngày: người bệnh đo và ghi lại huyết áp tại nhà ít

nhất 2 lần/tuần

Căn cứ vào khuyến nghị của Hội Tim mạch học Việt Nam về phân độ HA cần phải theo dõi, trong nghiên cứu này chúng tôi chia theo 2 mức:

+ Được xem là có theo dõi: khi người bệnh đo và ghi lại số đo Ha tối thiểu

2 lần/tuần và được đánh giá là đạt

+ Được xem là không theo dõi: khi người bệnh đo và ghi lại số đo HA dưới

2 lần/tuần và được đánh giá là không đạt

Bệnh nhân được đánh giá đạt nội dung này sẽ tính là 1 điểm trong phần đánh giá tuân thủ trong điều trị THA

Trang 33

- Tuân thủ sử dụng thuốc: tiêu chí đo lường tuân thủ điều trị về thuốc,

nghiên cứu sử dụng thang điểm của Morisky DE năm 1986 (Morisky 8 Item Aherence Questionnarire) (36) Tuân thủ sử dụng thuốc là đạt theo thang điểm Morisky là ≤ 2 điểm Từ câu 31 đến câu 38 (phục lục 1)

Cách tính điểm: mỗi câu hỏi trong bộ câu hỏi được đánh giá theo điểm số 0

và 1 điểm Và mức độ tuân thủ được phân loại vào tổng số điểm đạt được

0 điểm Tuân thủ về thuốc tốt

1 - 2 điểm Tuân thủ về thuốc trung bình

> 2 điểm Tuân thủ kém hoặc không tuân thủ

Để phù hợp với một số nghiên cứu tại Việt Nam, trong nghiên cứu này chúng tôi chia thành 02 mức đánh giá

+ Người bệnh có tuân thủ (điểm từ 0-2):được đánh giá là đạt

+ Người bệnh không tuân thủ (> 2 điểm): được đánh giá là không đạt

Trong đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc có 8 câu hỏi từ câu 30 đến câu 37 (phục lục 1), đối tượng nghiên cứu chọn đáp án “Đúng” sẽ được 0 điểm, “Không đúng” được 01 điểm Tổng số điểm tuân thủ sử dụng thuốc là từ 0 cho đến 8 điểm Người bệnh được đánh giá là tuân thủ sử dụng thuốc khi có số điểm là ≤ 2 điểm, sẽ được tính 01 điểm trong phần thực hành TTĐT

- Thực hành thay đổi hành vi lối sống so với trước khi phát hiện bệnh tăng

huyết áp Người bệnh sẽ được đánh giá theo 5 nội dung sau: từ câu 39 đến câu 43 (phụ lục 1)

+ Chế độ ăn nhạt hơn so với trước khi phát hiện THA

+ Hạn chế hoặc không sử dụng rượu/bia

+ Ngưng hút thuốc lá

+ Có chế độ nghỉ ngơi hợp lý

Trang 34

+ Có thực hiện luyện tập thể dục

Bệnh nhân thực hiện được 4/5 nội dung nêu trên sẽ được đánh giá đạt ở tiêu chí này Bệnh nhân được đánh giá đạt nội dung này sẽ được tính 1 điểm trong phần đánh giá tuân thủ điều trị

- Tái khám đúng định kỳ tại Trung tâm Y tế (mỗi tháng 01 lần)

Người bệnh cần đi tái khám theo lịch hẹn của Bác sĩ tại Trung tâm Y tế mỗi tháng 01 lần, giúp đánh giá sự đáp ứng của người bệnh với phác đồ điều trị hay không từ đó có những điều chỉnh phù hợp

+ Người bệnh có đi khám bệnh hàng tháng được xem là đạt

+ Người bệnh không đi tái khám đúng định kỳ được xem là không đạt

Việc đánh giá người bệnh có thực hành tái khám theo định kỳ hay không dựa vào hồ sơ khám bệnh của bệnh nhân Người bệnh được đánh giá đạt nội dung này sẽ được tính 01 điểm trong phần đánh giá thực hành tuân thủ điều trị THA

- Đánh giá tuân thủ điều trị đạt:

Bảng 2 1 Tiêu chuẩn đánh giá thực hành tuân thủ điều trị đạt

Tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ điều trị THA của đối tượng nghiên cứu dựa vào

4 tiêu chí trong tuân thủ điều trị theo định nghĩa trên và được đánh giá “đạt/không

Trang 35

đạt” Mỗi tiêu chí đạt sẽ được 01 điểm Người bệnh được xem là TTĐT khi đạt hết

04 tiêu chí trong các tiêu chuẩn về thực hành điều trị (4 điểm)

2.7 Tiêu chuẩn chọn điều tra viên, cộng tác viên

2.7.1 Điều tra viên

Điều tra viên là học viên, người trực tiếp phỏng vấn người bệnh, thu phiếu

Để phân tích việc TTĐT, chúng tôi tính tổng và phân loại các biến liên quan như trình bày trong phần 2.6.2 (xem thêm Phụ lục 2).Thống kê mô tả được tiến hành với các biến đã được làm sạch, và mã hóa lại để mô tả đặc điểm nhân khẩu học và thực trạng TTĐT của đối tượng nghiên cứu

Mối liên quan giữa từng khía cạnh của TTĐT được xác định thông qua (1) kiểm định đơn biến χ2 (biến phụ thuộc đã được mã hóa thành biến nhị phân - đạt/không đạt) Dựa trên kết quả phân tích, với các biến có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với các khía cạnh thực hành TTĐT, nghiên cứu viên sử dụng mô hình hồi quy logistic (logistic regression) với thuật toán Enter của phần mềm SPSS 20.0 phân tích để kiểm soát các yếu tố gây nhiễu Mức ý nghĩa thống kê được xác định khi p <0,05

Trang 36

2.9 Đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y tế Công cộng thông qua Những quy định về đạo đức trong nghiên cứu theo quyết định số 19/2020/YTCC-HD3, ngày 10 tháng 02 năm 2020 sẽ được nghiên cứu viên tuân thủ trong suốt quá trình nghiên cứu

Đối tượng tham gia vào nghiên cứu được điều tra viên giải thích rõ mục đích của nghiên cứu và đồng ý tham gia vào nghiên cứu

Trang 37

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang có phân tích khảo sát bệnh nhân tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Thoại sơn Trong quá trình thu thập số liệu, nghiên cứu viên thu thập được 210 mẫu, nên nghiên cứu viên chọn toàn bộ 210 mẫu đưa vào nghiên cứu

3.1 Đặc điểm về yếu tố cá nhân

Bảng 3 1 Đặc điểm nhân khẩu học

Trang 38

Bệnh nhân thuộc nhóm tuổi dưới 60 chiếm tỷ lệ cao hơn 59% Và độ tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 58 ± 11,62, người lớn nhất là 91 tuổi và nhỏ nhất là 31 tuổi

Trong số các đối tượng tham gia nghiên cứu, người bệnh có trình độ học vấn dưới THPT chiếm tỷ lệ cao 69%, từ THPT trở lên chiếm tỷ lệ thấp hơn 31%

Về nghề nghiệp, nhóm không làm việc chiếm tỷ lệ cao hơn 54,3%, tương ứng nhóm có thu nhập thấp dưới 3 triệu đồng/tháng chiếm tỷ lệ 69%

Trang 39

Người bệnh được cán bộ y tế giải thích về bệnh củng như nhắc nhở TTĐT cùng chiếm tỷ lệ cao 95,7%

3.3 Đặc điểm về yếu tố gia đình, xã hội

Bảng 3 3 Yếu tố gia đình, xã hội

Bảng 3.3 thông tin về yếu tố gia đình, xã hội, người bệnh không nhận được

sự quan tâm hỗ trợ nào từ tổ chức xã hội chiếm tỷ lệ cao 76,7%, trong khi đó chỉ có 23,3% là có hỗ trợ từ các tổ chức xã hội

Ngoài sự quan tâm từ các tổ chức xã hội, sự quan tâm nhắc nhỡ điều trị từ gia đình như con cái, vợ/chồng và những người thân khác trong gia đình chiếm tỷ lệ cao 89,5% và chỉ có 10,5% là không có ai nhắc nhở TTĐT

3.4 Thực trạng tuân thủ trong điều trị tăng huyết áp

3.4.1 Thực trạng kiến thức về tuân thủ trong điều trị tăng huyết áp

Bảng 3 4 Đánh giá kiến thức đạt về tuân thủ điều trị THA

Trang 40

Mục đích của việc đo HA tại nhà 13 6,2

Bảng 3.4 đánh giá kiến thức đạt về tuân thủ điều trị THA cho thấy trong các nội dung thì người bệnh có kiến thức đạt về sử dụng thuốc điều trị THA chiếm tỷ lệ cao 98,6%, cao nhất là mục đích của tái khám định kỳ đạt 100%, bên cạnh đó kiến thức đạt về chế độ ăn uống 98,1% và tập luyện trong điều trị tăng huyết áp 94,3% đều chiếm tỷ lệ cao Tuy nhiên nội dung về phương pháp điều trị người bệnh chỉ đạt

tỷ lệ 44,3%, thấp nhất là mục đích của việc đo huyết áp tạ nhà 6,2%

Kết quả về phân loại kiến thức đạt của người bệnh THA cho thấy có tới 171

người có kiến thức đúng chiếm 81,4%

3.4.2 Thực trạng thái độ về tuân thủ điều trị tăng huyết áp

Bảng 3 5 Đánh giá thái độ của bệnh nhân về tuân thủ điều trị THA

(N=210) Tỷ lệ(%)

Sử dụng thuốc tăng huyết áp sẽ điều trị hiệu quả (có) 204 97,1

Sử dụng thuốc HA suốt đời sẽ gây ảnh hưởng đến

Có cần phải thay đổi chế độ ăn uống (có) 203 96,7

Ngày đăng: 31/01/2021, 20:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w