Nhân viên y tế tại các khoa phòng thực hiện đầy đủ các qui định của bệnh viện về hoạt động hướng dẫn, tư vấn điều trị và chăm sóc, giáo dục sức khỏe cho người bệnh.. Thực trạng tư vấn sứ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
TP.HỒ CHÍ MINH, NĂM 2019
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA II TỔ CHỨC QUẢN LÝ Y TẾ
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH : 8720802
HÀ NỘI – 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
TP.HỒ CHÍ MINH, NĂM 2019LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA II TỔ CHỨC QUẢN LÝ Y TẾ
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH : 8720802
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS BÙI THỊ TÚ QUYÊN
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau 2 năm học tập, giờ đây cuốn luận văn tốt nghiệp chuyên khoa 2 đang dần được hoàn thành, với tấm lòng tri ân, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo sau đại học, các thầy cô giáo trường Đại học
Y tế Công cộng đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập
PGS.TS Bùi Thị Tú Quyên – giảng viên trường Đại học Y tế Công cộng, người thầy tận tâm, luôn giúp đỡ, hướng dẫn cho tôi từ xác định vấn đề nghiên cứu, xây dựng đề cương, góp ý, chia sẻ hỗ trợ để tôi hoàn thành luận văn này
Lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo khoa Khám bệnh và các anh chị Bác sĩ, điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên khoa Khám bệnh bệnh viện Nhân dân Gia Định đã tạo điều kiện cho tôi và tham gia vào nghiên cứu
Các bạn bè, đồng nghiệp, đồng khóa Chuyên khoa II Tổ chức quản lý Y tế
đã cùng nhau học tập, chia sẻ kinh nghiệm trong suốt thời gian học
Các bậc sinh thành, người thân đã động viên tôi và cho tôi cuộc sống như ngày hôm nay
Xin gửi tới tất cả các Quí Thầy Cô, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình lời cảm
ơn chân thành và những lời chúc tốt đẹp nhất!
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 02 năm 2020
Tác giả nghiên cứu
Trần Quốc Hưng
Trang 4MỤC LỤC
1.1.Khái niệm Tư vấn sức khỏe 4
1.2.Những qui định về hoạt động Tư vấn sức khỏe 5
1.3.Thực trạng tư vấn sức khỏe tại các cơ sở y tế 6
1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tư vấn sức khỏe tại các cơ sở y tế8 1.5.Thông tin chung về địa bàn nghiên cứu 11
Khung lý thuyết: 14
2.1 Đối tượng nghiên cứu: 15
2.1.Thời gian và địa điểm nghiên cứu 15
2.2.Thiết kế nghiên cứu 15
2.3.Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 15
2.4.Biến số và chủ đề trong nghiên cứu 16
2.5 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu 18
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu: 18 2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu 18 2.5.3 Qui trình thu thập số liệu: 18 2.6 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 19
2.7 Các chỉ số, định nghĩa dùng trong nghiên cứu 20
Trang 52.8 Đạo đức của nghiên cứu 21
3.1 Thông tin chung về nhân viên y tế khoa Khám bệnh 22 3.2 Thực trạng tư vấn sức khỏe của nhân viên y tế tại khoa Khám bệnh23
3.3 Một sốyếu tố ảnh hưởng đến hoạt động TVSK của NVYT: 32 3.3.1 Một số khó khăn nhân viên y tế gặp khi thực hiện Tư vấn sức khỏe tại khoa Khám bệnh: 32 3.3.2 Nhóm các yếu tố về qui định, chính sách đối với hoạt động Tư vấn sức
3.3.3 Nhóm các yếu tố về nhân lực thực hiện Tư vấn sức khỏe: 34 3.3.4 Nhóm các yếu tố về vấn đề cơ sở vật chất, trang thiết bị hỗ trợ cho hoạt
Trang 66 KHUYẾN NGHỊ 46
Phụ Lục 1 51
Phụ Lục 2 52
Phụ Lục 3 53
Phụ lục 4 56
Phụ Lục 5 61
Phụ lục 6 62
Phụ lục 7 63
Phụ lục 8 67
Phụ lục 9 68
Phụ lục 10 70
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Một số thông tin về NVYT khoa Khám bệnh 1 34 Biểu đồ 3.2 Thực tế quan sát các cuộc TVSK trực tiếp tại các PK 1 ………… 27 Biểu đồ 3.3 Đánh giá kết thúc các cuộc tư vấn trực tiếp 1 28 Biểu đồ 3.4 Đánh giá chung các cuộc tư vấn trực tiếp và tư vấn nhóm 1 31
Trang 9đã triển khai nhiều hoạt động tư vấn sức khỏe trong thời gian qua Tuy nhiên nhóm nghiên cứu nhận thấy riêng về hoạt động TVSK của NVYT thực sự chưa được như
kỳ vọng Hoạt động tư vấn sức khỏe tại khoa Khám bệnh có những đặc điểm riêng khác với các khoa lâm sàng, các phòng khám tư vấn cũng hoạt động thường xuyên hơn Đó là lý do để thực hiện nghiên cứu
Mục tiêu: (1) Mô tả hoạt động tư vấn sức khỏe của nhân viên y tế cho người bệnh tại khoa Khám bệnh và (2) Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động
tư vấn sức khỏe của nhân viên y tế cho người bệnh tại khoa Khám bệnh
Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả, kết hợp định tính Nghiên cứu viên
đã tiến hành phát vấn toàn bộ NVYT tại khoa Khám bệnh về hoạt động tư vấn cho bệnh nhân Quan sát 40 cuộc tư vấn sức khỏe và có 11 cuộc phỏng vấn sâu được thực hiện
Kết quả: Kết quả phát vấn cho thấy có 76,8% nhân viên y tế tại phòng khám được trang bị các phương tiện hỗ trợ cho hoạt động TVSK Khoảng 78% nhân viên được cung cấp tài liệu truyền thông để tham khảo khi thực hiện TVSK Đa số nhân viên tại phòng khám có tham gia hoạt động TVSK cho bệnh nhân (87,4%) Trong
đó, hình thức tư vấn thường được thực hiện là tư vấn trực tiếp chiếm 87,4% Tư vấn gián tiếp và tư vấn nhóm nhỏ chiếm một tỉ lệ nhỏ, lần lượt là 6% và 4,8% Đa
số (78,4%) nhân viên y tế dành trung bình tối đa 30 phút mỗi ngày cho TVSK, trong đó dưới 10 phút mỗi ngày chiếm 41% và thời gian tư vấn trung bình trên 30 đến 60 phút chiếm tỉ lệ thấp nhất với 8,4%
Trang 10Trong số 40 cuộc tư vấn có 27 bác sĩ (67,5%), 11 điều dưỡng (27,5%), 2 hộ sinh (5%) Tỷ lệ bệnh nhân hài lòng và không hài lòng sau tư vấn lần lượt là 92,5%
và 7,5%
Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động TVSK như thiếu thời gian tư vấn, thiếu trang thiết bị, thông tin và kỹ năng tư vấn chuyên sâu Từ kết quả nghiên cứu, nhóm đã khuyến nghị tăng cường trang bị thêm các thiết bị hỗ trợ, tài liệu cho NVYT thực hiện TVSK Mở thêm các phòng tư vấn sức khỏe chuyên sâu, tư vấn theo yêu cầu để nâng cao hiệu quả của hoạt động tư vấn sức khỏe cũng như các hoạt động TTGDSK nói chung
Kết luận: Đa số nhân viên tại phòng khám có tham gia hoạt động TVSK cho bệnh nhân Trong đó, hình thức tư vấn thường được thực hiện là tư vấn trực tiếp Hầu hết các nhân viên y tế tại phòng khám được trang bị các phương tiện hỗ trợ cho hoạt động TVSK và được cung cấp tài liệu truyền thông để tham khảo khi thực hiện TVSK Hoạt động tư vấn nhóm có tỷ lệ đạt chất lượng tốt cao hơn các cuộc tư vấn trực tiếp giữa NVYT với từng người bệnh Trong quá trình thực hiện TVSK có hơn phân nửa số nhân viên gặp khó khăn khi thực hiện tư vấn sức khỏe do không
đủ phương tiện hỗ trợ; thiếu thông tin, tài liệu để tư vấn; thiếu kỹ năng tư vấn; do không đủ thời gian
Từ khóa: tư vấn sức khỏe, nhân viên y tế, khoa khám bệnh
Trang 11SUMMARY OF RESEARCH
Student: Tran Quoc Hung Teacher: Assoc.Prof.Dr Bui Thi Tu Quyen Nhan dan Gia Dinh Hospital has determined that Health counseling (TVSK) has a very important role and position in health care in general and has been interested in implementing health counseling activities for patients of medical staff The Faculty of Examination and Examination has also implemented many health counseling activities in recent years However, the research team found that
in particular, the health workers' activities of the medical staff have not really been
as expected Health counseling at the Examination Department has its own characteristics that are different from clinical departments, consultation clinics also operate more often That is the reason for doing research
Objectives: (1) Describe health counseling activities of medical staff to patients at the Department of Examination and (2) Analyze some factors affecting health counseling activities of medical staff for patients at the examination department
Methods: Descriptive cross-sectional study, qualitative combination The researcher has conducted to issue all medical staff at the Examination Department about counseling activities for patients Observed 40 health consultations and 11 in-depth interviews were conducted
Results: The survey results showed that 76.8% of medical staff in the clinic were equipped with facilities to support TVSK activities About 78% of employees are provided with communication materials for reference when performing TVSK The majority of staff at clinics participate in TVSK activities for patients (87.4%) In which, the form of consulting that is usually performed is direct consultation accounting for 87.4% Indirect counseling and small group counseling account for a small proportion, 6% and 4.8% respectively The majority (78.4%) of medical staff spend an average of 30 minutes per day on TVSK, of
Trang 12which less than 10 minutes per day accounts for 41% and the average consultation time of 30 to 60 minutes is a low rate with 8.4%
Among 40 consultations, there were 27 doctors (67.5%), 11 nurses (27.5%), and midwives (5%) The percentage of patients who are satisfied and dissatisfied after counseling is 92.5% and 7.5%, respectively
Some factors affect TVSK activities such as lack of consultation time, lack of equipment, information and in-depth counseling skills From the research results, the group has recommended to strengthen the equipment and materials for the health workers to perform MEP Open more specialized health counseling rooms, on-demand counseling to improve the effectiveness of health counseling activities
as well as general health care centers
Conclusion: Most of the staff at the clinic participate in TVSK activities for patients In which, the form of consultation is often done as direct consultation Most of the medical staff at the clinic are equipped with facilities to support TVSK activities and are provided with communication materials for reference when performing TVSK Group counseling has a higher rate of good quality than direct consultation between the health worker and each patient During the implementation of TVSK, more than half of the employees had difficulty in providing health counseling due to insufficient means of support; lack of information and documents to advise; lack of consulting skills; due to insufficient time
Keywords: health consulting, medical staff, medical examination department.
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Tư vấn sức khỏe là một nội dung quan trọng của hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe.Tư vấn sức khỏe cũng như Truyền thông giáo dục sức khỏe nói chung là nội dung đầu tiên được đề cập tới trong 8 nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu của tuyên ngôn Alma-Ata (WHO) năm 1978 [36] và trong 10 nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu của Việt Nam Tư vấn sức khỏe có vai trò hỗ trợ cho công tác khám chữa bệnh đạt được kết quả tốt hơn Bên cạnh việc giúp cho người bệnh, người nhà bệnh nhân hiểu rõ về bệnh, cách phòng tránh bệnh, biết cách chăm sóc, chế độ điều trị, dinh dưỡng… tư vấn sức khỏe còn góp phần giảm bớt bức xúc, tăng sự hài lòng của người bệnh khi họ được tư vấn rõ về bệnh tình của bản thân hay người nhà, tư vấn các vấn đề về chính sách, chế độ, đặc biệt các chế độ về hưởng Bảo hiểm y tế Xác định vai trò quan trọng của hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe, trong đó đặc biệt là tư vấn sức khỏe, Bộ y tế đã đưa hoạt động tư vấn sức khỏe vào trong bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện hàng năm
Tại bệnh viện Nhân dân Gia Định, hoạt động tư vấn sức khỏe của nhân viên
y tế rất được quan tâm Bệnh viện đã xây dựng những qui định về hoạt động TTGDSK trong đó luôn chú ý đến hoạt động tư vấn sức khỏe cho bệnh nhân, người nhà bệnh nhân[5] Theo qui định chung của bệnh viện, tại tất cả các Khoa phòng, NVYT phải có nhiệm vụ tư vấn cho người bệnh cũng như người nhà bệnh nhân nắm được về bệnh lý của mình, kế hoạch điều trị và chế độ chăm sóc, dinh dưỡng, các chế độ chính sách về BHYT… Tại khoa khám bệnh, NVYT phải có nhiệm vụ tư vấn cho bệnh nhân khi đến khám bệnh
Hoạt động TTGDSK nói chung trong đó có hoạt động TVSK của bệnh viện Nhân dân Gia Định trong các năm 2017, 2018 đều được đánh giá ở mức 5 là mức cao trong Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện do Bộ Y tế ban hành Tuy nhiên nhóm nghiên cứu nhận thấy riêng về hoạt động TVSK của NVYT thực sự
chưa được như kỳ vọng Trong “Báo cáo tình hình triển khai Đề án cải tiến sự
Trang 14không hài lòng người bệnh năm 2018” của Bệnh viện Nhân dân Gia Địnhvẫn còn
sự không hài lòng của người bệnh tại khoa Khám bệnh về hoạt động tư vấn của bác
sĩ, NVYT nói chung [2] Mặt khác, khoa Khám bệnh là nơi tiếp xúc đầu tiên với người bệnh khi đến khám chữa bệnh tại bệnh viện Hoạt động tư vấn sức khỏe có những đặc điểm riêng khác với các khoa lâm sàng, các phòng khám tư vấn cũng
hoạt động thường xuyên hơn Chính vì vậy, nhóm triển khai nghiên cứu“Thực
trạng tư vấn sức khỏe của nhân viên y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Nhân dân Gia Định, Tp.Hồ Chí Minh, năm 2019” Qua
những kết quả thu được từ nghiên cứu, nhóm đưa ra đề xuất để giúp cho hoạt động
tư vấn sức khỏe đạt được hiệu quả tốt hơn
Trang 15MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mô tả thực trạng tư vấn sức khỏe của nhân viên y tế cho người bệnh tại khoa Khám bệnh, Bệnh viện Nhân dân Gia Định, Tp.Hồ Chí Minh năm
2019
Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tư vấn sức khỏe của nhân viên y tế cho người bệnh tại khoa Khám bệnh, Bệnh viện Nhân dân Gia Định
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái niệm Tư vấn sức khỏe
Có nhiều khái niệm về tư vấn, theo tác giả Philip Burnard: “Tư vấn là một quá trình trong đó khách hàng được giúp đỡ trong việc giải quyết các xung đột cá nhân và giữa các cá nhân của họ bởi một nhà trị liệu” [32].Trong khái niệm về tư vấn của Carl Rogers:Tư vấn là một tiến trình, là sự tương tác, là nguồn tiềm năng (năng lực) và sự tự quyết (Nguồn: http://www.viettalk.info) Thuật ngữ “thân chủ” (client) là thuật ngữ đề cập đến khía cạnh chủ động tìm ra cách giải quyết cho vấn
đề của mình, chứ không đơn thuần chỉ là người bệnh bị động chờ nhà tư vấn đưa ra cách giải quyết cho mình
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Tư vấn là góp ý kiến về một vấn đề được hỏi, nhưng không có quyền quyết định Tư vấn mang nghĩa như giảng giải, đưa ra lời khuyên, có tính chất quan hệ một chiều (tư vấn luật pháp, tư vấn xây dựng )”[22] Ngoài ra tư vấn cũng được hiểu là một hình thức giáo dục sức khỏe cá nhân, trong
đó người tư vấn cung cấp thông tin cho đối tượng (cá nhân và gia đình), động viên đối tượng suy nghĩ về vấn đề của họ, giúp họ hiểu biết được vấn đề, nguyên nhân của vấn đề và chọn cách hành động riêng để giải quyết vấn đề
Trong một số trường hợp, tư vấn cần đáp ứng nhu cầu bí mật cho các đối tượng đặc biệt với các đối tượng bị các bệnh xã hội có định kiến như: HIV/AIDS, bệnh lây nhiễm qua đường tình dục Người tư vấn thường chủ động giúp cho đối tượng quyết định các vấn đề sức khỏe có liên quan đến đời sống, tạo dựng lòng tin,
gỡ bỏ các định kiến, trong mối quan hệ bạn bè, gia đình, cộng đồng” [13]
Ngoài những khái niệm đã trình bày ở trên, chúng ta cũng hiểu tư vấn là những buổi tiếp xúc, thảo luận chính thức thường đưa đến kết quả tốt Tư vấn giúp đối tượng, gia đình họ và cộng đồng thay đổi những hành vi nhất định nào đó trong quá trình mà vấn để của đối tượng đang tồn tại hoặc có những hành vi thay đổi và duy trì trong suốt cả đời họ Tư vấn còn hỗ trợ tâm lý cho đối tượng khi họ hoang
Trang 17mang lo sợ về vấn đề sức khỏe nghiêm trọng hoặc vấn đề đối tượng cho là nghiêm trọng khi họ chưa hiểu rõ
Tư vấn sức khỏe là một hoạt động có vai trò quan trọng và là một phương pháp truyền thông mang lại nhiều hiệu quả
Như vậy, hoạt động tư vấn nói chung hay tư vấn sức khỏe của nhân viên y
tế nói riêng đều là một hoạt động nhằm cung cấp thông tin, hỗ trợ, giải thích nhằm cho đối tượng được tư vấn hiểu rõ vấn đề của bản thân và đưa ra quyết định lựa chọn phù hợp với bản thân Mục đích của tư vấn là làm sao cho đối tượng được tư vấn sẽ lựa chọn hành động đúng và phù hợp nhất về lợi ích của họ
1.2 Những qui định về hoạt động Tư vấn sức khỏe :
TVSK là hoạt động không thể thiếu trong các hoạt động chung của các cơ sở y
tế Theo Thông tư 07/2011/TT-BYT của Bộ Y tế hướng dẫn công tác điều dưỡng
về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện, nhiệm vụ tư vấn, hướng dẫn, giáo dục sức khỏe là nhiệm vụ đầu tiên của điều dưỡng về chuyên môn chăm sóc người bệnh[11] Điều này cũng được qui định trong qui chế của bệnh viện và là những nội dung trong các tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện hàng năm của Bộ Y tế [7], qua đó người bệnh phải được tư vấn, giáo dục sức khỏe khi điều trị và trước khi ra viện
Theo Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện của Bộ Y tế ban hành năm
2013 và bổ sung sửa đổi năm 2016 có yêu cầu người bệnh phải được cung cấp thông tin, tư vấn, giải thích đầy đủ về tình trạng sức khỏe, bệnh tật, phương pháp điều trị và dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với bệnh[7]
Trong hoạt động điều dưỡng và chăm sóc người bệnh, yêu cầu bệnh viện phải
có các tờ rơi/pano/áp phích/hình ảnh/băng hình phục vụ cho công tác hướng dẫn,
tư vấn điều trị và chăm sóc, giáo dục sức khỏe cho bệnh đang được điều trị[11] Nhân viên y tế tại các khoa phòng thực hiện đầy đủ các qui định của bệnh viện về hoạt động hướng dẫn, tư vấn điều trị và chăm sóc, giáo dục sức khỏe cho người bệnh Bệnh viện thực hiện các biện pháp cải tiến chất lượng công tác hướng dẫn, tư
Trang 18vấn điều trị và chăm sóc, giáo dục sức khỏedựa trên kết quả đánh giá hiệu quả công tác hướng dẫn, tư vấn điều trị và chăm sóc, giáo dục sức khỏe Tỷ lệ điều dưỡng được tập huấn về kỹ năng tư vấn, giáo dục sức khỏe được đánh giá theo từng mức thang về chất lượng Để đạt được đạt mức 5 là mức cao nhất của tiêu chí thì “Tỷ lệ điều dưỡng, hộ sinh được đào tạo, tập huấn kỹ năng tư vấn, truyền thông, giáo dục sức khỏe cho người bệnh chiếm từ 90% trở lên” [5, 7]
Ngoài ra qui định của Bộ Y tế cũng yêu cầu bệnh viện phải có nhân viên tư vấn kiêm nhiệm/chuyên trách về sức khỏe sinh sản và chăm sóc trước sinh, sau sinh, trình độ từ cao đẳng/ cử nhân điều dưỡng trở lên hoặc bác sĩ Các cơ sở y tế khám chữa bệnh có sản khoa phải có phòng tư vấn về sức khỏe sinh sản và chăm sóc trước sinh, sau sinh Mức 5 của tiêu chí là “Các lớp học tiền sản được tổ chức theo lịch cố định ít nhất 1 lần trong tuần và công bố công khai cho người dân được biết Có tiến hành đánh giá kiến thức của các đối tượng học viên sau khi tập huấn”[8]
Hàng năm, Trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe Trung ương (T5G) đều đưa ra các kế hoạch, định hướng cho hoạt động TTGDSK của các địa phương Trên cơ sở đó, Trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe thành phố Hồ Chí Minh (T4G) xây dựng các “Định hướng truyền thông giáo dục sức khỏe” phù hợp cho các cơ sở khám chữa bệnh trên địa bàn thành phố [9, 24, 30, 31].Trong Kế hoạch nâng cao năng lực TTGDSK ngành Y tế thành phố Hồ Chí Minh năm 2017 – 2020
đã qui định về một số trang thiết bị cần thiết cho hoạt động TVSK tại các T3G, T2G [30]
1.3 Thực trạng tư vấn sức khỏe tại các cơ sở y tế
Qua tham khảo các đề tài nghiên cứu đánh giá đã làm về hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe, nhóm đánh giá nhận thấy có nhiều các nghiên cứu mô tả các hoạt động nói chung về hoạt động truyền thông, các điều kiện phương tiện, cơ
sở vật chất, về kiến thức, hành vi của nhóm đối tượng của hoạt động truyền thông như người bệnh, các bà mẹ … Riêng có một số nghiên cứu đánh giá về thực trạng
Trang 19hoạt động TVSK của nhân viên y tế tại các cơ sở y tế tuyến huyện hoặc các Trạm y
tế phường, xã tại các tỉnh trong cả nước cho thấy việc triển khai hoạt động TVSK
đã được thực hiện theo các qui định, hướng dẫn chung của ngành y tế Tuy nhiên cách thức triển khai tùy theo từng đơn vị, địa phương có những đặc điểm riêng [1,
16, 17, 19, 27]
Về cơ sở vật chất, trang thiết bị hỗ trợ cho hoạt động TVSK: các nghiên cứu đánh giá thực trạng và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của cán bộ truyền thông ngành y tế năm 2012, tiến hành trên địa bàn tỉnh Lai Châu, nghiên cứu đánh giá thực trạng hoạt động TTGDSK hệ thống thôn bản tỉnh Hòa Bình năm 2014, nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2014của 15 phòng tư vấn thuộc 15 trung tâm Y tế huyện thuộc tỉnh Long An cho thấy các trang bị cơ bản như máy tính, tivi, loa, bàn ghế, tủ đựng hồ sơ được trang
bị về cơ bản đạt từ 83% đến 90% [12, 17, 29] Tuy nhiên để đáp ứng tốt cho nhu cầu về hoạt động TTGDSK thì mới có 30% cơ sở đạt, lý do nếu chỉ trang bị những phương tiện cơ bản thì chưa thực sự đáp ứng được đầy đủ về nhu cầu của hoạt động TTGDSK trong khi các nhu cầu về nghe nhìn của người dân ngày càng cao
Về thái độ với hoạt động TTGDSK, kết quả của các tác giả khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành về truyền thông giáo dục sức khỏe của cán bộ y tế tỉnh Vĩnh Phúcvà tại bệnh viện Nhân dân Gia Định cho thấy hầu hết NVYT có thái độ đúng, cho rằng hoạt động TTGDSK, hoạt động TVSK là nhiệm vụ của mọi nhân viên y
tế chiếm từ 79,3 đến 92,5% [16, 18, 20, 21]
Nguồn nhân lực thực hiện hoạt động tư vấn sức khỏe mỗi địa phương có sự khác nhau về số lượng, trình độ học vấn, về kỹ năng truyền thông, kỹ năng tư vấn Nghiên cứu của Trung tâm TTGDSK tỉnh Long An chỉ ra NVYT tại các phòng tư vấn tuyến huyện chỉ có 32,84% được tập huấn về kỹ năng tư vấn[12, 29] Tỷ lệ NVYT thiếu hụt về kiến thức TTGDSK cơ bản có nơi đến 20,7% [12] Việc thực hiện tư vấn sức khỏe một cách đầy đủ, đúng theo qui định ở đa số các cơ sở còn thấp 15%- 40,8% Nghiên cứu của Trung tâm TTGDSK tỉnh Long An kết luận tại
Trang 20các phòng tư vấn tuyến huyện chất lượng hoạt động tư vấn chưa cao, thiếu tài liệu truyền thông, thiếu sự kiểm tra, giám sát của tuyến trên với hoạt động tư vấn Nguyên nhân một phần do NVYT chưa được tập huấn đầy đủ, mặt khác do NVYT không có nhiều thời gian để thực hiện theo đúng các bước tư vấn [12, 16, 18, 19] Theo các nghiên cứu của các tác giả thực hiện tại một số địa phương cũng như thực hiện tại bệnh viện Nhân dân Gia Định, các hình thức tư vấn sức khỏe trực tiếp, tư vấn nhóm được thực hiện khá phổ biến chiếm tỷ lệ trên 90% [12, 16, 19,
20, 27] Hoạt động tư vấn của các bác sĩ được thực hiện hàng ngày tại các phòng khám trong lúc khám bệnh Khi bệnh nhân có những thắc mắc hoặc câu hỏi về bệnh tật của mình thì các Bác sĩ cần phải giải thích, cung cấp thông tin, hướng điều trị … cho người bệnh Hoạt động tư vấn của các Điều dưỡng thường được thực hiện khi tiếp nhận người bệnh hoặc sau khi các bác sĩ đã thăm khám xong và cho đơn thuốc Các điều dưỡng thường phải hướng dẫn, dặn dò, cung cấp thông tin về các thủ tục, chế độ bảo hiểm cho người bệnh[1, 20, 21]
Riêng về các qui định cụ thể cho hoạt động TVSK, hầu hết các đánh giá đều chưa đề cập đến Qua nghiên cứu các văn bản qui định, hướng dẫn, kế hoạch … về hoạt động TTGDSK của Bộ Y tế, Sở y tế, các Trung tâm TTGDSK cũng chỉ đưa ra các qui định chung về định hướng hoạt động truyền thông, một số qui định về trang thiết bị cơ bản phục phụ cho hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe Qui định
cụ thể về hoạt động TVSK chỉ được đề cập đến trong một phần trong các văn bản như “Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện” của Bộ Y tế và trong “Qui định hoạt động TTGDSK, TVSK trong bệnh viện” do tự bệnh viện Nhân dân Gia Định xây dựng Có lẽ, đây cũng chính là lý do ít có đề tài nghiên cứu đề cập đến những qui định cụ thể về hoạt động TVSK
1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tư vấn sức khỏe tại các cơ sở y tế:
Theo các nghiên cứu, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động TVSK cũng như hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe nói chung được đề cập đến chủ yếu bao gồm các yếu tố như trình độ học vấn của nhân viên y tế, nhân viên y tế đã được
Trang 21hay chưa được tập huấn về kỹ năng TVSK, thời gian tham gia công tác chuyên môn, các phương tiện, tài liệu truyền thông được cung cấp, sự hài lòng của nhân viên y tế với công việc hiện tại [12, 16, 18, 19, 27, 29]
Yếu tố về trình độ về học vấn : Hầu hết các nghiên cứu cho thấy không có
sự khác biệt có ý nghĩa giữa Đại học (Bác sĩ, CN điều dưỡng) hay trung cấp ( Điều dưỡng, Kỹ thuật viên …) Nghiên cứu về thực trạng và đề xuất nâng cao công tác truyền thông giáo dục sức khỏe cho người dân tại một số tỉnh năm 2012 cho thấy trình độ chuyên môn của các cán bộ truyền thông không đồng đều nhưng 100% đều thực hiện các hoạt động truyền thông với 80% là hình thức tư vấn, 46,7% thực hiện tư vấn nhóm [18] Nghiên cứu về đánh giá thực trạng và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của cán bộ truyền thông ngành y tế nói chung trong 2012 cũng cho ta thấy Tỷ lệ cán bộ truyền thông có trình độ cao đẳng, đại học chỉ 19,7%, tỷ lệ cán bộ bộ truyền thông có trình độ trung cấp chiếm 80,3% Tuy nhiên hoạt động truyền thông đều đạt kết quả tốt Hoạt động truyền thông trực tiếp tại địa bàn thực hiện được 149% so với chỉ tiêu đề ra, tỷ lệ viết tin bài đạt 133% chỉ tiêu [15] Điều này cho thấy việc tư vấn sức khỏe là của mọi nhân viên y
tế, không phân biệt bác sĩ hay điều dưỡng Vấn đề thực hiện tư vấn sức khỏe là do trách nhiệm và các qui định chung về hoạt động này chứ không phải nhân viên y tế
có trình độ sẽ thực hiện tư vấn nhiều hơn
Yếu tố về phương tiện hỗ trợ như loa, màn hình tivi, bảng viết… không gây ảnh hưởng nhiều đến việc thực hành tư vấn của NVYT Trong một nghiên cứu về thực trạng hoạt động Truyền thông giáo dục sức khỏe hệ thống thôn bản tỉnh Hòa Bình năm 2014 cho thấy có sự thiếu thốn về phương tiện hỗ trợ nhưng các hoạt động TTGDSK vẫn được triển khai Một nghiên cứu khác đánh giá thực trạng và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của cán bộ truyền thông ngành y tế năm 2012 cũng cho thấy các phương tiện trên chỉ hỗ trợ một phần giúp cho hoạt động tư vấn sức khỏe được thuận tiện hơn, nhân viên y tế có thể khắc phục và tổ chức tốt việc thực hiện tư vấn sức khỏe [16]
Trang 22Trong khi đó các tài liệu hướng dẫn, các nội dung tờ rơi, bướm đầy đủ hay không có gây nên sự khác biệt có ý nghĩa về chất lượng tư vấn Theo nghiên cứu của các tác giả về thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao công tác truyền thông giáo dục sức khỏe cho người dân tại tỉnh Quảng Nam cho thấy việc hỗ trợ tài liệu chuyên môn rất cần thiết để nhân viên y tế có được thông tin, kiến thức đúng khi tư vấn cho người bệnh [18]
Yếu tố về các kỹ năng đạt được trong quá trình tập huấn có ảnh hưởng rõ rệt đến hoạt động tư vấn đạt hay không đạt yêu cầu Một số nghiên cứu khảo sátcác cán bộ TTGDSK cho rằng mức độ ảnh hưởng của các kỹ năng đạt trong quá trình tập huấn của NVYT đến nhiệm vụ thực hiện TVSK là rất ảnh hưởng, có ảnh hưởng lần lượt là 64%và 31%, chỉ có 5% cho rằng ít ảnh hưởng [16, 18, 27]
Thời gian công tác cũng ảnh hưởng có ý nghĩa đến hoạt động tư vấn của nhân viên y tế Những nhân viên y tế có thâm niên công tác lâu hơn thường có các kinh nghiệm và kỹ năng tư vấn tốt hơn nên đễ dàng thực hiện việc tư vấn sức khỏe hơn các nhân viên còn trẻ, mới vào nghề [16, 18, 19, 27] Có tác giả đã đưa ra nhận xét “Thời gian công tác tại lĩnh vực truyền thông nhiều nhất là từ 2-4 năm, chiếm 36%, tiếp đó là từ 5-10 năm, chiếm 27%, số ĐTNC công tác tại lĩnh vực này dưới
2 năm là 26,4% và từ 10 năm trở lên chỉ chiếm 10,6% Nhóm cán bộ này hầu hết
đã được tham gia tập huấn về công tác truyền thông 61% Số chưa qua tập huấn chủ yếu là những người mới vào công tác ở lĩnh vực này (dưới 2 năm) Thực trạng này cũng ảnh hưởng đến việc thực hiện các kỹ năng truyền thông, vì kinh nghiệm công tác còn ít, đôi khi còn lúng túng trong việc xử lý các tình huống”[16]
Các yếu tố về thời gian, sự quá tải bệnh nhân chưa thấy được đề cập đến trong các nghiên cứu, đánh giá có lẽ vì đa số các nghiên cứu được thực hiện trong cộng đồng nên ít liên quan đến việc quá tải như trong môi trường các bệnh viện
Ngoài ra một số nghiên cứu còn đề cập đến một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động TVSK như tuổi đời, giới tính, dân tộc, sự hài lòng với công việc của NVYT…nhưng số liệu không nhiều
Trang 231.5 Thông tin chung về địa bàn nghiên cứu
Được hình thành từ năm 1905, Bệnh viện Nhân dân Gia Định là bệnh viện
đa khoa hạng 1 thuộc Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh nằm ở cửa ngõ Đông Bắc của thành phố Hồ Chí Minh, đảm nhận việc khám chữa bệnh cho người dân các quận Bình Thạnh, Gò Vấp, Phú Nhuận, Quận 1, Thủ Đức, Quận 2, Quận 9 và các tỉnh lân cận như Bình Dương, Đồng Nai, Bình Phước…
Với diện tích 30.678m2, bệnh viện có qui mô 1.500 giường, bao gồm 31 khoa lâm sàng, 08 khoa cận lâm sàng, 10 phòng chức năng với gần 1800 nhân viên Bệnh viện là cơ sở thực hành của 2 trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh và Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
Tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định, hoạt động TVSK được gắn liền với các hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏevà luôn được quan tâm, tổ chức thực hiện theo các qui định, hướng dẫn của Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh và của Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe thành phố (T4G) Bệnh viện có Tổ TTGDSK (T3G) là đơn vị phụ trách các hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe nói chung trong đó có hoạt động TVSK cho bệnh nhân, người nhà bệnh nhân Mạng lưới của T3G có các T2G tại các khoa tiếp xúc trực tiếp với người bệnh trong quá trình khám chữa bệnh [3, 5, 6] Theo qui định của Bệnh viện Nhân dân Gia Định, các hoạt động TVSK, TTGDSK của bệnh viện bao gồm:
Thành lập Tổ truyền thông giáo dục sức khỏe (T3G) của bệnh viện gồm 14 thành viên T3G có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch hoạt động TTGDSK hàng năm của bệnh viện Tổ chức thực hiện và giám sát việc thực hiện kế hoạch TTGDSK của các khoa phòng trong bệnh viện Mỗi khoa có từ 1 đến 2 cán bộ y tế phụ trách chung về hoạt động truyền thông của khoa (T2G) Các hoạt động TTGDSK chính bao gồm:
Xây dựng các Góc truyền thông giáo dục sức khỏe nhằm cung cấp các thông tin về bệnh tật, dịch bệnh, các hướng dẫn chăm sóc người bệnh, chế độ dinh dưỡng, các qui định về Bảo hiểm y tế, các thông báo về các dịch vụ y tế, thông tin
Trang 24phòng chống tác hại thuốc lá, các gương “ người tốt, việc tốt” của NVYT trong bệnh viện…
Viết tin, bài cho góc TTGDSK, cho trang Web của Bệnh viện và cho tờ tin của T4G Xây dựng các bộ tài liệu truyền thông, các hướng dẫn chăm sóc người bệnh theo mô hình bệnh tật của từng khoa Sản xuất các tài liệu truyền thông như
tờ rơi, tờ bướm, tờ hướng dẫn điều trị…Mỗi khoa phòng phải xây dựng ít nhất 05 phiếu tóm tắt thông tin điều trị cho 05 loại bệnh thường gặp theo mô hình bệnh tật của khoa để phục vụ cho hoạt động TVSK
Phát thanh trên hệ thống loa theo giờ và chiếu các Clip có nội dung TTGDSK trên các màn hình tivi đặt tại khoa Khám bệnh và các khu vực ngồi chờ của bệnh nhân, người nhà bệnh nhân
Các hoạt động tư vấn sức khỏe như: tư vấn qua tổng đài Chương trình
Phòng chống tác hại thuốc lá, qua điện thoại của các khoa phòng, tư vấn trực tiếp cho người bệnh tại các phòng khám, tư vấn cho nhóm các đối tượng có cùng nhu cầu quan tâm về các vấn đề sức khỏe (các bà mẹ mang thai, các bà mẹ cho con bú, tiêm ngừa Vaccin…)[5, 6] Trong “Qui định về hoạt động TTGDSK, TVSK cho bệnh nhân và người nhà bệnh nhân” của bệnh viện cũng đưa ra những qui định cụ thể về Hoạt động tư vấn sức khỏe để các khoa phòng thực hiện [5]
Riêng Khoa Khám bệnh của bệnh viện Nhân dân Gia Định có 110 nhân viên trong đó các nhân viên là Bác sĩ, Điều dưỡng, Hộ sinh, Kỹ thuật viên là 95 người, còn lại là hộ lý, thư ký y khoa và nhân viên khác Khoa có 54 phòng khám thuộc các khối chuyên môn Nội khoa, Ngoại khoa, Sản khoa, Nhi khoa, Mắt, Tai mũi họng, Răng hàm mặt, Phục hồi chức năng… Khoa có hai phòng khám tư vấn: Phòng khám tư vấn Sản phụ khoa và Phòng khám quản lý henvà tư vấn, điều trị cai thuốc lá Mỗi ngày, khoa Khám bệnh tiếp nhận một lượng bệnh khá đông trên 4.500 bệnh nhân khám bệnh ngoại trú, cá biệt dịp Lễ, Tết có ngày có trên 5.000 bệnh nhân nên nhiều lúc xảy ra tình trạng quá tải
Trang 25Tại khoa khám bệnh các hoạt động TVSK chủ yếu được thực hiện với hình thức tư vấn trực tiếp bao gồm: hoạt động tư vấn của các bác sĩ cho người bệnh về bệnh lý tại các phòng khám, hoạt động tư vấn của các Điều dưỡng về chế độ, chính sách y tế, các thủ tục hành chính… các hoạt động này diễn ra thường xuyên hàng ngày Hoạt động tư vấn nhóm của các Bác sĩ, điều dưỡng, nữ hộ sinh trong các buổi tư vấn cho các thai phụ, các bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ, các bệnh nhân cai nghiện thuốc lá được thực hiện 1 hoặc 2 lần trong tuần Các hoạt động tư vấn nhóm được thực hiện tại 2 phòng tư vấn tại khu Khám sản và phòng khám tư vấn, điều trị cai nghiện thuốc lá Ngoài ra còn các hình thức tư vấn gián tiếp cho người bệnh khi
có nhu cầu qua số điện thoại tư vấn của khoa, qua tổng đài tư vấn cai nghiện thuốc
lá thuộc Chương trình phòng chống tác hại thuốc lá của Bộ Y tế
Trang 26Khung lý thuyết:
NVYT thực hiện TVSK đúng theo qui định
Kỹ năng
CƠ SỞ VẬT CHẤT
Trang thiết bị Tài liệu TVSK
KINH PHÍ
THỜI GIAN
YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG TVSK
CHÀO HỎI - GIỚI THIỆU TƯƠNG TÁC 2 CHIỀU LƯỢNG GIÁ GHI CHÉP HẸN GẶP LẠI
Trang 27CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.Đối tượng nghiên cứu:
Nhân viên y tế là Bác sĩ, Điều dưỡng, Nữ hộ sinh, Kỹ thuật viên làm việc tại khoa Khám bệnh của bệnh viện Nhân dân Gia Định
Các Qui định về hoạt động TVSK của Bộ Y tế và của bệnh viện Nhân dân Gia Định
Tiêu chí chọn nhân viên y tế:
Các NVYT làm việc tại khoa Khám bệnh ít nhất 6 tháng kể từ thời điểm NC
Tiêu chí loại:
Các NVYT không có mặt tại bệnh viện trong khoảng thời gian thu thập số liệu của nghiên cứu
Không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: từ tháng7/2019 đến tháng 10/2019
Địa điểm:Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Nhân Dân Gia Định, TP Hồ Chí Minh 2.2 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả, kết hợp định tính
Các số liệu nghiên cứu định lượng nhằm mô tả các hoạt động tư vấn sức khỏe được thực hiện tại khoa Khám bệnh của bệnh viện
Các số liệu nghiên cứu định tính được thu thập sau định lượng nhằm phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tư vấn, GDSK tại khoa Khám bệnh của bệnh viện
2.3 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
Mẫu cho nghiên cứu định lượng
Cỡ mẫu: Tổng số NVYT của khoa Khám bệnh là 95 người vì vậy, toàn bộ NVYT khoa khám bệnh đã được chọn vào nghiên cứu để tiến hành phát vấn
theo bộ câu hỏi đã xây dựng và chỉnh sửa
Trang 28NCV cũng đã tiến hành quan sát 40 buổi thực hiện hoạt động tư vấn tại các phòng khám Nội, Ngoại, Sản, Nhi, chuyên khoa và08 buổi quan sát hoạt động tư vấn nhóm tại 2 phòng khám Tư vấn Sức khỏe sinh sản và phòng khám Tư vấn điều trị cai nghiện thuốc lá
Mẫu chonghiên cứu định tính
NCV tiến hành chọn có chủ đích 11 người cung cấp thông tin chính: 01 BS trưởng khoa, 2 BS phó khoa khám, 01 Tổ trưởng công tác.Những NVYT khác có tham gia vào hoạt động TVSK như nhân viên phụ trách T2G, bác sĩ phụ trách phòng khám tư vấn, Điều dưỡng trưởng khoa và 03 NVYT khác
2.4 Biến số và chủ đề trong nghiên cứu:
2.4.1 Biến số cho nghiên cứu định lượng:
Biến số sơ cấp về cơ sở vật chất, qui định TVSK (Phòng TVSK, màn hình
ti-vi, máy chiếu, tủ đựng tài liệu TTGDSK, tài liệu, sổ ghi chép…)
Biến số về đặc điểm cá nhân đối tượng nghiên cứu(chức danh nghề nghiệp,
thâm niên công tác, đã được tập huấn kỹ năng TVSK, biết các qui định về TVSK,
có tham gia TVSK)
Biến số về các hoạt động TVSK(các hình thức TVSK, Thời gian TVSK, các
khó khăn gặp khi TVSK)
Các biến số ghi nhận từ quan sát các cuộc TVSK
Ghi nhận các quan sát tại các phòng khám về cách thức NVYT thực hiện TVSK: Thời gian thực hiện quan sát
Địa điểm nơi quan sát (tên phòng khám)
Đối tượng NVYT thực hiện cuộc tư vấn
Cách thức mở đầu cuộc tư vấn (chào hỏi, giới thiệu…)
Thái độ, hoạt động của NVYT khi thực hiện TVSK
Thái độ, cảm xúc của BN
Thời gian cuộc tư vấn tại phòng khám
Sổ sách ghi chép
Trang 29Việc sử dụng phương tiện hỗ trợ, tài liệu truyền thông
Đánh giá buổi tư vấn
Ghi nhận Quan sát tại 2 phòng tư vấn của khoa khám bệnh (hoạt động tư vấn nhóm):
Số người tham gia/số người được tư vấn/ buổi tư vấn
Đối tượng NVYT thực hiện cuộc tư vấn
Cách thức mở đầu cuộc tư vấn (chào hỏi, giới thiệu…)
Số người tham dự / 1 buổi tư vấn nhóm
Có sử dụng các phương tiện hỗ trợ không
Thái độ của NVYT khi thực hiện tư vấn
Thái độ, cảm xúc của người bệnh tham gia buổi tư vấn
Sự tham gia của người bệnh trong buổi tư vấn (Tích cực/ thụ động…)
Việc thực hiện lượng giá hiệu quả buổi tư vấn
Thời gian một cuộc tư vấn tại phòng tư vấn
Đánh giá buổi tư vấn
2.4.2 Biến số cho nghiên cứu định tính
Các chủ đề phỏng vấn sâu:
Các qui định về TVSK tại khoa Khám bệnh
Việc cung cấp trang thiết bị, tài liệu hỗ trợ NVYT tư vấn sức khỏe tại Khoa Khám bệnh
Đánh giá về nhân lực thực hiện hoạt động TVSK
Yếu tố thời gian cho hoạt động TVSK
Yếu tố kinh phí thực hiện cho hoạt động TVSK
Một số ý kiến, đề xuất giải pháp hỗ trợ cho hoạt động TVSK của NVYT
Trang 302.5 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu:
Phiếu câu hỏi phát vấn: được xây dựng dựa trên các thông tin cần thu thập của nội dung nghiên cứu Bảng câu hỏi này đã được dùng thử nghiệmtrên10 NVYT, sau đó NCV đã chỉnh sửa và chính thức sử dụng cho nghiên cứu
Bảng kiểm quan sát hoạt động TVSK của NVYT dựa trên Qui định về hoạt động tư vấn của bệnh viện NDGĐ, Hướng dẫn tư vấn SKSS và Hướng dẫn tư vấn cai nghiện thuốc lá của Bộ Y tế
Hướng dẫn phỏng vấn sâu những người cung cấp thông tin chính: Được xây
dựng dựa trên khung lý thuyết và mục tiêu nghiên cứu
2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập số liệu thứ cấp: nghiên cứu viên liên hệ với các phòng ban trong
BV để thu thập các qui định, qui trình, báo cáo
Phát vấn cán bộ y tế : sử dụng Phiếu phát vấn có cấu trúc được xây dựng trước (Phụ lục 3) Nghiên cứu viên (NCV) chính cùng với 3 thành viên nhóm nghiên cứu (3 nhân viên y tế là thành viên của T3G) đã thực hiện phát vấn
Quan sát các cuộc TVSK theo bảng kiểm nội dung quan sát (Phụ lục 4) Nội dung quan sát được thực hiện theo bảng kiểm và ghi chép đầy đủ theo thứ tự thời gian
Phỏng vấn sâu: Nghiên cứu viên chính trực tiếp thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu với những người cung cấp thông tin chính sử dụng Hướng dẫn phỏng vấn sâu (Phụ lục 5, 6)
2.5.3 Qui trình thu thập số liệu:
Thu thập số liệu theo Bảng kiểm được tiến hành ghi nhận theo thực tế tại khoa Khám bệnh
Thử nghiệm phiếu phát vấn: NCV chính thử nghiệm phiếu phát vấn trên 10 NVYT Phiếu phát vấn và qui trình thu thập số liệu sau đó được chỉnh sửa cho phù hợp dựa trên thử nghiệm trước khi tiến hành thu thập số liệu chính thức
Trang 31Thu thập số liệu định lượng chính thức được thực hiện theo các bước sau: Bước 1: NCV chính xin phép Ban giám đốc bệnh viện và thông báo về nghiên cứu đến toàn bộ NVYT thuộc khoa Khám bệnh của bệnh viện
Bước 2: NCV chính và các thành viên nhóm NC lập danh sách các NVYT
đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu của Khoa Khám bệnh Xác định và tiếp cận đối tượng nghiên cứu, giới thiệu cụ thể về nghiên cứu, lấy Giấy đồng ý tham gia nghiên cứu và thực hiện phát vấn hoặc xin thời gian phù hợp để phát vấn NVYT Bước 3-Phát vấn đối tượng nghiên cứu: nhóm nghiên cứu đã phân công người phát bảng câu hỏi phát vấn, giải thích nội dung và yêu cầu NVYT điền tại chỗ
Bước 4- Thu phiếu: Thành viên nhóm nghiên cứu sẽ thu các phiếu NVYT
đã điền, rà soát nhanh để đảm bảo không bị khuyết/bỏ sót thông tin và cảm ơn NVYT đã điền phiếu
2.6 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Số liệu định lượng: Các số liệu định lượng được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích bằng phầm mềm SPSS 23
Các biến phân loại được mô tả bằng tần số và tỷ lệ phần trăm
Trang 32Thông tin định tính: Thông tin định tính từ các bản gỡ băng được đưa vào word
và được phân tích theo chủ đề Các nội dung phù hợp được trích dẫn đáp ứng mục tiêu nghiên cứu
2.7 Các chỉ số, định nghĩa dùng trong nghiên cứu:
Theo các hướng dẫn, qui định về TVSK, một số chỉ số được đáng giá như sau: NVYT được tập huấn về TTGDSK là NVYT đã được tham dự tập huấn về Phương pháp TTGDSK ít nhất 1 lần trong thời gian công tác Chỉ số được đánh giá mức đạt dựa theo mục C6.2 của Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng Bệnh viện – Bộ y
tế
NVYT được tập huấn về kỹ năng TVSK là NVYT đã được tham dự tập huấn về kỹ năng tư vấn ít nhất 1 lần trong thời gian công tác Chỉ số được đánh giá mức đạt dựa theo mục C6.2 của Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng Bệnh viện – Bộ y
Trang thiết bị hỗ trợ cho hoạt động TVSK đạt yêu cầu dựa theo qui định của
Kế hoạch nâng cao năng lực TTGDSK ngành Y tế thành phố Hồ Chí Minh
2017-2020 và dựa theo mục E1.2 của Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng Bệnh viện – Bộ y
tế
Buổi TVSK đạt yêu cầu là buổi tư vấn thực hiện đủ các bước theo qui định của bệnh viện và theo Hướng dẫn tư vấn SKSS, Hướng dẫn tư vấn điều trị cai nghiện thuốc lá của Bộ Y tế
Cuộc tư vấn tốt: Có đầy đủ các bước theo qui định về TVSK, người được tư vấn có thái độ hài lòng, vui vẻ
Trang 33Cuộc tư vấn đạt yêu cầu: Thiếu 1 hoặc 2 bước không quan trọng theo qui định về TVSK (cụ thể: thiếu giới thiệu bản thân hoặc thiếu hẹn tư vấn lần sau hoặc không ghi chép)
Cuộc tư vấn không đạt yêu cầu: thiếu từ 2 bước trở lên theo qui định về TVSK hoặc thái độ của TVV không nhiệt tình, không vui vẻ hoặc người bệnh có thái độ chưa hài lòng sau cuộc tư vấn
2.8 Đạo đức của nghiên cứu:
Nghiên cứu được thực hiện sau khi đã được Hội đồng Khoa học kỹ thuật của bệnh viện Nhân dân Gia Định và Hội đồng đạo đức của trường Đại học Y tế Công cộng phê duyệt theo Quyết định số 366/2019/YTCC-HD3 ngày 26 tháng 6 năm
2019 về việc chấp thuận các vấn đề đạo đức NCYSH
Thu thập thông tin bằng phiếu tự điền, khuyết danh đảm bảo sự riêng tư và
tự nguyện của đối tượng tham gia nghiên cứu Dữ liệu của các NVYT chỉ được thu thập với sự đồng ý tham gia đánh giá (có ký cam kết đồng ý tham gia).Số liệu thu thập chỉ sử dụng phục vụ nghiên cứu, không dùng vào bất kỳ mục đích nào khác
Trang 34CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thông tin chung về nhân viên y tế khoa Khám bệnh
Trong mẫu nghiên cứu, điều dưỡng chiếm tỉ lệ cao nhất với 48,4%, Hộ sinh
chiếm 29,5%, bác sĩ chiếm 17,9% và KTV chiếm tỉ lệ thấp nhất với 4,2% Đa số
nhân viên có thâm niên công tác trên 10 năm (88,4%) và nhân viên có thâm niên
công tác dưới 3 năm chiếm 4,2%
Đa số nhân viên tại phòng khám đã được tập huấn về phương pháp
TTGDSK, về kỹ năng TVSK, và biết rõ các quy định về TVSK, lần lượt là 81,1%,
80,0%, và 74,6%.Về các NVYT tham gia thực hiện TVSK, theo đánh giá chung
của NVYT cho thấy bệnh viện có nguồn nhân lực tốt, y bác sĩ có kinh nghiệm,
được bệnh nhân tin tưởng
Một số thông tin về đặc điểm của NVYT tại khoa Khám bệnh thu được qua
khảo sát được thể hiện qua biểu đồ sau:
Biểu đồ 3.1 Một số thông tin về NVYT khoa Khám bệnh 1
Trang 353.2.Thực trạngtư vấn sức khỏe của nhân viên y tế tại khoa Khám bệnh:
3.2.1 Một số nội dungvề hình thức tư vấn sức khỏe, sự tham gia tư vấn sức khỏeđãđược nhân viên y tế thực hiện tại khoa Khám bệnh:
Bảng 3.1: Các hoạt động tư vấn sức khoẻ của nhân viên y tế (n = 95)
Trang 36đó dưới 10 phút mỗi ngày chiếm 41% và thời gian tư vấn trung bình trên 30 đến 60 phút chiếm tỉ lệ thấp nhất với 8,4%
3.2.2 Đánh giá thực trạng tư vấn sức khỏequa quan sát thực tế các cuộc tư vấn tại các phòng khám:
Nghiên cứu tiến hànhquan sát 40 cuộc TVSK trực tiếp giữa NVYT với người bệnh tại các phòng khám Nội, Ngoại, Chuyên khoa, phòng khám sản khoa
và phòng khám quản lý hen – tư vấn cai nghiện thuốc lá Kết quả được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 3.2 Thực tế quan sát các cuộctư vấn tại các phòng khám
Kỹ năng, thái độ của NVYT khi thực hiện TVSK
Thái độ, cảm xúc của bệnh nhân khi nghe tư vấn
Ghi nhận việc sử dụng phương tiện hỗ trợ khi tư vấn 15 37,5
Đánh giá kết thúc cuộc tư vấn
Trang 37Không đạt yêu cầu 4 10
Trang 38Trong số 40 cuộc tư vấn có 27 bác sĩ (67,5%), 11 điều dưỡng (27,5%), 2 hộ sinh (5%) Hầu hết NVYT có chào hỏi, mời bệnh nhân ngồi Tuy nhiên, phần lớn NVYT không có giới thiệu bản thân Hầu hết NVYT có thái độ vui vẻ, kỹ năng tư vấn lưu loát, hướng dẫn rõ ràng, nhiệt tình, chỉ có 1 trường hợp tư vấn không rõ
ràng và 1 trường hợp nhân viên y tế không vui vẻ khi tư vấn
Về thái độ, cảm xúc của bệnh nhân khi nghe tư vấn: đa số bệnh nhân vui vẻ, hài lòng và chăm chú lắng nghe NVYT tư vấn Tỷ lệ bệnh nhân hài lòng và không hài lòng lần lượt là 92,5% và 7,5%
Về nội dung của cuộc tư vấn: Tất cả nhân viên y tế đều tư vấn cho bệnh nhân về cách dùng thuốc, chế độ ăn, chế độ sinh hoạt theo tình trạng của bệnh nhân Tại phòng khám sản khoa: NVYT tư vấn về cách sử dụng thuốc trong thai
kỳ, cách vệ sinh âm đạo, chế độ ăn uống, sinh hoạt trong thai kỳ, cách theo dõi
thai máy, các triệu chứng có thể gặp phải và cách theo dõi thai máy
Tỷ lệ NVYT không có sử dụng phương tiện hỗ trợ khi tư vấn trực tiếp là 70% Chỉ có NVYT phòng khám tư vấn cai nghiện thuốc lá, tư vấn sản khoa có sử dụng phương tiện hỗ trợ
Thời gian tư vấn trung bình là 3,6±1,7 phút Thời gian tư vấn ngắn nhất là 1,9 phút Thời gian tư vấn dài nhất là 5,3 phút
Chỉ có 04 NVYT phòng khám tư vấn cai nghiện thuốc lá có ghi chép sổ tư vấn (chiếm 10%) Còn tại các phòng khám khác không có NVYT nào sử dụng sổ ghi chép
Đánh giá việc thực hiện các nội dung của hoạt động Tư vấn trực tiếp tại các phòng khám được thể hiện qua biểu đồ sau:
Trang 39Biểu đồ 3.2 Thực tế quan sát các cuộc TVSK trực tiếp tại các phòng khám 1
Trang 40Đánh giá kết thúc các cuộc tư vấn trực tiếp giữa NVYT với từng người bệnh tại các phòng khám với kết quả làtốt, đạt yêu cầu và không đạt yêu cầu lần lượt là 67,5%, 22,5% và 10%, được thể hiện qua biểu đồ sau:
Biểu đồ 3.3 Đánh giákết thúc các cuộc tư vấn trực tiếp 1
Theo đánh giá chung của NVYT, hoạt động TVSK tại khoa Khám bệnh hoạt động tương đối tốt và theo đúng qui định
“ Nhìn chung tôi thấy mình đã thực hiện TVSK khá tốt tại khoa Khám, NVYT nhiệt tình, sẵn sàng tư vấn cho người bệnh, người bệnh cũng thấy là vui vẻ.” (PVS Bs Phó khoa)
“ Hoạt động TVSK, em thấy diễn ra thường xuyên ở khoa khám mình Thấy cũng tốt chứ, không biết ai thế nào, em thấy cũng tốt rồi”(PVS một NVYT có tham gia TVSK)
Tuy nhiên cũng còn có đánh giá về hoạt động TVSK chỉ mới đạt yêu cầu:
67.5 22.5
10 0
Tốt Đạt yêu cầu Không đạt yêu cầu