1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng công nghệ thông tin và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện tại bệnh viện da liễu trung ương, năm 2020

127 92 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Tăng cường chức năng quản lý Bệnh viện: thông tin được lưu trữ và sắp xếp khoa học, phục vụ công tác quản lý Bệnh viện hiệu quả, … Một số ứng dụng phần mềm công nghệ thông tin trong

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN VĂN HIỂN

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH

HƯỞNG TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG

GIAI ĐOẠN 2018-2019

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802

HÀ NỘI – 2020

Trang 2

BỘ VÀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN VĂN HIỂN

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH

HƯỞNG TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG

Trang 3

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 4

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Công nghệ thông tin và công nghệ thông tin trong y tế 4

1.1.1 Khái niệm công nghệ thông tin 4

1.1.2 Khái niệm công nghệ thông tin trong y tế và ứng dụng công nghệ thông tin trong y tế 6

1.2 Ứng dụng CNTT trong y tế trên thế giới và tại Việt Nam 9

1.2.1 Ứng dụng CNTT trên thế giới 9

1.2.2 Ứng dụng CNTT trong y tế tại Việt Nam 12

1.3 Chính sách về ứng dụng công nghệ thông tin trong Bệnh viện 14

1.4 Những yếu tố ảnh hưởng trong ứng dụng công nghệ thông tin y tế 17

1.4.1 Những yếu tố thuận lợi 17

1.4.2 Những yếu tố khó khăn 19

1.5 Giới thiệu và hoạt động ứng dụng CNTT của Bệnh viện Da liễu Trung ương 21

1.5.1 Giới thiệu Bệnh viện Da liễu Trung ương 21

1.5.2 Hoạt động ứng dụng CNTT tại Bệnh viện Da liễu Trung ương 23

1.6 Khung lý thuyết nghiên cứu 25

Chương 2 26

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1 Đối tượng nghiên cứu 26

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 26

2.3 Thiết kế nghiên cứu 26

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 27

2.5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 28

2.5.1 Nghiên cứu định lượng 28

Trang 4

2.5.2 Nghiên cứu định tính 29

2.6 Biến số nghiên cứu 30

2.7 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 30

2.8 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 31

2.9 Sai số và biện pháp khắc phục 31

Chương 3 32

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32

3.1 Ứng dụng CNTT tại Bệnh viện Da liễu Trung ương 32

3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến ứng dụng CNTT tại Bệnh viện 45

3.2.1 Yếu tố kỹ thuật, trang thiết bị cơ sở hạ tầng CNTT tại Bệnh viện 46

3.2.2 Yếu tố về phần mềm quản lý tổng thể Bệnh viện 48

3.2.3 Về yếu tố nguồn nhân lực 51

3.2.4 Về yếu tố tài chính 53

3.2.5 Về các văn bản chính sách 54

3.2.6 Về yếu tố đào tạo, tập huấn 55

CHƯƠNG 4 56

BÀN LUẬN 56

4.1 Ứng dụng CNTT tại Bệnh viện Da liễu Trung ương giai đoạn 2018-2019 56

4.1.1 Về nhóm tiêu chí cơ sở hạ tầng 56

4.1.2 Về nhóm tiêu chí phần mềm quản lý điều hành 57

4.1.3 Về nhóm tiêu chí hệ thống thông tin Bệnh viện (HIS) 58

4.1.4 Về nhóm tiêu chí hệ thống lưu trữ, truyền tải hình ảnh (RIS-PACS) và nhóm tiêu chí hệ thống xét nghiệm (LIS) 59

4.1.5 Về nhóm tiêu chí phi chức năng và nhóm tiêu chí bảo mật, an toàn thông tin 60

4.1.6 Về nhóm tiêu chí bệnh án điện tử (EMR) 60

4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng tới việc ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện Da liễu Trung ương giai đoạn 2018-2019 61

Trang 5

4.2.1 Yếu tố kỹ thuật, trang thiết bị, cơ sở hạ tầng mạng 61

4.2.2 Yếu tố về phần mềm quản lý 62

4.2.3 Về yếu tố nguồn nhân lực 64

4.2.4 Về văn bản, chính sách 65

4.2.5 Về yếu tố tài chính 66

4.3 Hạn chế của nghiên cứu 66

KẾT LUẬN 68

KHUYẾN NGHỊ 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

PHỤ LỤC 76

Phụ lục 1: Bảng kiểm tiêu chí ứng dụng CNTT 76

Phụ lục 2: Bảng kiểm thống kê cơ sở hạ tầng CNTT cơ bản tại Bệnh viện 92

năm 2018-2019 92

Phục lục 3: Hướng dẫn phỏng vấn sâu lãnh đạo Bệnh viện 93

Phụ lục 4: Hướng dẫn phỏng vấn sâu cán bộ phòng CNTT 95

Phụ lục 5: Hướng dẫn phỏng vấn sâu bác sĩ, điều dưỡng khoa khám bệnh, kỹ thuật viên khoa CĐHA và xét nghiệm 97

Phụ lục 6: Hướng dẫn phỏng vấn sâu dược sĩ 99

Phụ lục 7: Hướng dẫn phỏng vấn sâu cán bộ lưu trữ hồ sơ bệnh án 100

Phụ lục 8: Hướng dẫn phỏng vấn sâu kế toán 102

Phụ lục 9: Bảng biến số trong nghiên cứu 104

Trang 6

LỜI CẢM ƠN


Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo Trường Đại học Y tế Công cộng là

nơi trực tiếp đào tạo và tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và

hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn tới Ban Giám đốc, lãnh đạo và cán bộ, viên chức các

khoa phòng Bệnh viện Da liễu Trung ương đã quan tâm, tạo điều kiện tốt nhất cho

tôi trong thời gian nghiên cứu để hoàn thành luận văn tại bệnh viện

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Ngọc Bích

Cô đã tận tình hướng dẫn, dìu dắt tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài và hoàn

thành luận văn

Tôi vô cùng biết ơn các Thầy, các Cô trong Hội đồng thông qua đề cương, Hội

đồng chấm luận văn thạc sĩ Trường Đại học Y tế Công cộng, những người Thầy,

người Cô đã đóng góp cho tôi nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình cùng bạn bè và đồng

nghiệp, những người đã hết lòng tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập

và nghiên cứu để hoàn thành luận văn

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 7

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Nguyễn Văn Hiển học viên lớp Quản lý bệnh viện K11-1B, Trường Đại

học Y tế Công cộng Hà Nội, chuyên ngành Thạc sĩ Quản lý bệnh viện, xin cam đoan:

1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS

Nguyễn Ngọc Bích

2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công

bố tại Việt Nam

3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực và

khách quan, đã được xác nhận của cơ sở nơi nghiên cứu

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

B ảng 3 1 Thông tin chung về cơ sở hạ tầng CNTT năm 2018-2019 32

Bảng 3 2 Bảng so sánh nhóm tiêu chí hạ tầng (19 tiêu chí) 33

Bảng 3 3 Bảng so sánh nhóm tiêu chí phần mềm quản lý điều hành 34

Bảng 3 4 Bảng so sánh nhóm tiêu chí hệ thống thông tin Bệnh viện (HIS) 35

Bảng 3 5 Bảng so sánh nhóm tiêu chí hệ thống lưu trữ và truyền tải hình ảnh (RIS-PACS) (18 tiêu chí) 36

Bảng 3 6 Bảng so sánh nhóm tiêu chí hệ thống thông tin xét nghiệm (LIS) 37

Bảng 3 7 Bảng so sánh nhóm tiêu chí phi chức năng 38

Bảng 3 8 Bảng so sánh nhóm tiêu chí bảo mật và an toàn thông tin 40

Bảng 3 9 Bảng so sánh nhóm tiêu chí Bệnh án điện tử (EMR) (18 tiêu chí) 42

Bảng 3 10 Bảng so sánh chung đánh giá các nhóm tiêu chí giữa Bệnh viện và Cục Công nghệ thông tin 44

Bảng 3 11 Mức ứng dụng công nghệ thông tin theo Thông tư 54/2017/BYT 45

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BV: Bệnh viện

BHYT: Bảo hiểm y tế

CĐHA: Chẩn đoán hình ảnh

CNTT: Công nghệ thông tin

CNTTYT: Công nghệ thông tin Y tế

NVYT: Nhân viên y tế

HIS: Hospital Information System (hệ thống thông tin Bệnh viện)

RIS: Radiology Information System (hệ thống thông tin chẩn đoán hình ảnh) EMR: Electronic Medical Report (bệnh án điện tử)

PACS: Picture Achiving Communication System (hệ thống thông tin lưu trữ và

thu nhận hình ảnh) DICOM: Digital Imaging and Communiction in Medicine (hình ảnh và truyền

thông trong y tế)

Trang 10

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Bệnh viện Da liễu Trung ương triển khai ứng dụng CNTT từ năm 2007 đã đạt được khá nhiều thành tựu nổi bật mang lại nhiều lợi ích trong công tác quản lý Bệnh viện, tuy nhiên cũng đã gặp không ít khó khăn trong các hoạt động chung của Bệnh viện

Nghiên cứu “Ứng dụng công nghệ thông tin và một số yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện Da liễu Trung ương giai đoạn 2018-2019” được tiến hành với 2 mục tiêu: (1) Mô tả ứng dụng công nghệ thông tin theo tiêu chí của thông tư 54/2017/TT-BYT tại Bệnh viện Da liễu Trung ương giai đoạn 2018-2019; (2) Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới việc ứng dụng công nghệ thông tin tin theo tiêu chí của thông tư 54/2017/TT-BYT tại Bệnh viện Da liễu Trung ương giai đoạn 2018-2019

Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính Nghiên cứu định lượng tiến hành nhằm so sánh các tiêu chí ứng dụng CNTT theo Thông tư 54/2017/TT-BYT giữa 2 năm 2018 và 2019, nghiên cứu định tính thực hiện

17 cuộc phỏng vấn sâu sau khi có kết quả khảo sát của nghiên cứu định lượng Số liệu được xử lý bằng phần mềm Excel Thời gian tiến hành nghiên cứu từ tháng 10/11/2019 đến 24/10/2020

Kết quả nghiên cứu cho thấy ứng dụng CNTT tại Bệnh viện theo Thông tư 54/2017/TT-BYT đạt mức 2/7 năm 2019 Trang thiết bị cơ sở hạ tầng tương đối đầy

đủ, đáp ứng nhu cầu công việc Nhân lực chuyên trách CNTT có trình độ, tuổi trẻ, nhiệt tình trong công việc, đảm bảo về mặt số lượng theo yêu cầu Có sự quan tâm và ủng hộ của Ban giám đốc Bệnh viện; các khoa phòng nhận thức được tầm quan trọng Tuy nhiên, một số hệ thống vẫn chưa được triển khai là PACS, EMR; hệ thống mạng còn chưa ổn định; một số nhân viên y tế chưa nhận thức được hết tầm quan trọng của CNTT; Bệnh viện còn chưa có quy định cụ thể về mức chi tài chính

Từ kết quả nghiên cứu, tác giã đã đưa ra một số khuyến nghị:

Ban giám đốc nên đầu tư thêm máy chủ, máy dự phòng, thay thế máy tính, máy

in đồng bộ Bổ sung các tiêu chí còn thiếu, đáp ứng yêu cầu của Cục CNTT Bộ Y tế

Trang 11

theo Thông tư 54/2017/TT-BYT như là hệ thống PACS và EMR Bổ sung nhân lực chuyên trách CNTT.

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong nhiều năm gần đây, ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT), đặc biệt là ứng dụng CNTT trong hệ thống cơ quan của nhà nước đang ngày càng được quan tâm bởi Chính phủ và các ngành Công nghệ thông tin là một cuộc cách mạng khoa học vĩ đại của nhân loại, đã đang và sẽ giúp thay đổi toàn diện mọi lĩnh vực từ khoa học đến đời sống, bao gồm cả lĩnh vực y tế, từ đó góp phần tháo gỡ nhiều khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, nâng cao hiệu lực quản lý chung (1)

Hiện nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý Bệnh viện

đã trở thành một yêu cầu cấp thiết với mục đích nâng cao và đảm bảo chất lượng, thúc đẩy sự phát triển của Bệnh viện một cách toàn diện, từng bước đáp ứng công tác xây dựng ngân hàng dữ liệu thống kê y tế Mặt khác, việc ứng dụng CNTT vào công tác quản lý Bệnh viện có thể tận thu, giảm thiểu lãng phí, nhất là trong viện phí; giảm tải cho các y bác sỹ; thống nhất quá trình quản lý bệnh nhân từ khi nhập viện cho đến khi ra viện Hơn nữa, ứng dụng công nghệ thông tin trong y tế không chỉ nâng cao hiệu quả công tác mà còn nâng cao chất lượng dịch vụ y tế (2) (3) Các phần mềm quản lý hoạt động chung của Bệnh viện đã được hình thành và đưa vào sử dụng thực

tế, trong đó, có các phân hệ quản lý bệnh nhân khép kín, có phân hệ quản lý Bệnh viện toàn diện, bao gồm: quản lý nhân sự; quản lý tài sản, tài chính; quản lý hành chính, … Những hệ thống này trước kia còn rời rạc, nhưng hiện nay đã được thiết kế trên một hệ thống cơ sở dữ liệu thống nhất và đang dần hoàn thiện

Hiện nay, nhiều chương trình phần mềm, ứng dụng được xây dựng và thiết kế

áp dụng vào công tác quản lý Bệnh viện Tuy nhiên các phần mềm này còn chưa thống nhất, thiếu sự kết nối dẫn đến khó khăn trong việc đồng bộ hoá thông tin Nhiều

cơ sở y tế trong nước chưa áp dụng các ứng dụng CNTT hoặc đang triển khai nhiều

hệ thống trên những nền tảng khác nhau Quá trình sử dụng CNTT đa số Bệnh viện vẫn chưa có hệ thống, chưa chú ý đến các tiêu chuẩn, vì thế chưa thể kết nối và trao đổi thông tin được với nhau (4).Thông tư 54/2017/TT-BYT ban hành ngày 29/12/2107 về bộ tiêu chí ứng dụng CNTT tại các cơ sở khám, chữa bệnh có hiệu lực

Từ đó, việc đánh giá ứng dụng CNTT sẽ thống nhất, có quy chuẩn hơn

Trang 13

Bệnh viện Da liễu Trung ương là Bệnh viện chuyên khoa hạng I trực thuộc Bộ

Y tế; là đơn vị đầu ngành trong cả nước về khám, chữa bệnh da liễu, bệnh phong, bệnh lây truyền qua đường tình dục, điều trị laser, phẫu thuật và chăm sóc da thẩm

mỹ, …Việc triển khai phần mềm quản lý khám, chữa bệnh đã được áp dụng ở toàn

bộ Bệnh viện (BV) và được triển khai theo các tiêu chí của Thông tư 54 Vậy, ứng dụng CNTT theo Thông tư 54 tại Bệnh viện Da liễu Trung ương hiện nay như thế nào? Những yếu tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng CNTT theo Thông tư 54 là gì?

Với lý do như vậy, đề tài “Ứng dụng công nghệ thông tin và một số yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện Da liễu Trung ương giai đoạn 2018-2019” đã được thực hiện

Kết quả nghiên cứu sẽ giúp Lãnh đạo Bệnh viện xây dựng chiến lược phát triển, ứng dụng CNTT đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong công tác Quản lý Bệnh viện

Trang 14

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả ứng dụng công nghệ thông tin theo tiêu chí của thông tư BYT tại Bệnh viện Da liễu Trung ương giai đoạn 2018-2019

54/2017/TT-2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới việc ứng dụng công nghệ thông tin tin theo tiêu chí của thông tư 54/2017/TT-BYT tại Bệnh viện Da liễu Trung ương giai đoạn 2018-2019

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Công nghệ thông tin và công nghệ thông tin trong y tế

1.1.1 Khái niệm công nghệ thông tin

Theo Bách khoa toàn thư, "Công nghệ thông tin là một ngành khoa học sử dụng máy tính và phần mềm máy tính trong quản lý và xử lý thông tin gồm tri thức, sự kiện, số liệu âm thanh, hình ảnh" Vì vậy CNTT là hệ thống các phương pháp khoa học, công nghệ; bao gồm chủ yếu là các máy tính, mạng và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng một cách hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động xã hội, y tế, của con người (5)

Theo Information Technology Association of America (ITASA): "CNTT là ngành nghiên cứu các hệ thống thông tin dựa vào máy tính, đặc biệt là các phần mềm ứng dụng và phần cứng máy tính Nói một cách ngắn gọn, Informatio technology (IT)

xử lý với các máy tính điện tử và các phần mềm máy tính nhằm chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, truyền tin và trích rút thông tin một cách an toàn"

Tại Việt Nam, định nghĩa CNTT được hiểu trong Nghị quyết số 49/CP ngày 04/8/1993 của Chính phủ như sau: "CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại-chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông-nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội" (6) Theo Luật Công nghệ thông tin được Quốc hội khoá XI ban hành ngày 29/6/2006, một số từ ngữ liên quan CNTT được hiểu như sau (7):

- "Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công

cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền tải, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin dạng số"

- "Ứng dụng công nghệ thông tin là việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động thuốc lĩnh vực kinh tế-xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và những hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này"

Trang 16

- "Phát triển công nghệ thông tin là hoạt động nghiên cứu-phát triển liên quan đến quá trình sản xuất, truyền tải, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin dạng số; phát triển nguồn nhân lực CNTT; phát triển công nghiệp CNTT và phát triển dịch

vụ CNTT"

- "Phần cứng là sản phẩm thiết bị số hoàn chỉnh; bộ phận của thiết bị số; cụm linh kiện, linh kiện"

- "Thiết bị số là thiết bị điện tử, máy tính, viễn thông, truyền dẫn, thu phát sóng

vô tuyến điện và thiết bị tích hợp khác được sử dụng để sản xuất, truyền tải, thu thập,

xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số"

- "Phần mềm là chương trình máy tính được mô tả bằng hệ thống ký hiệu, mã hoá hoặc ngôn ngữ để điều khiển thiết bị số thực hiện các chức năng nhất định"

- "Mã nguồn là sản phẩm trước biên dịch của một phần mềm, có khả năng điều khiển thiết bị số"

- "Mã máy là sản phẩm sau biên dịch của một phần mềm, có khả năng điều khiển thiết bị số"

- "Vi rút máy tính là chương trình máy tính có khả năng lây lan, gây ra hoạt động không bình thường cho thiết bị số hoặc sao chép, sửa đổi, xoá bỏ thông tin lưu trữ trong thiết bị số"

- "Trang thông tin điện tử (Website) là trang thông tin hoặc một tập hợp trang thông tin trên môi trường mạng phục vụ cho việc cung cấp, trao đổi thông tin"

- "Số hoá là việc biến đổi các loại hình thông tin sang thông tin số"

Ngoài ra, một số khái niệm khác về ngôn ngữ CNTT bao gồm:

- "Máy chủ (Server) là máy tính có chức năng vượt trội về xử lý dữ liệu, tạo mạng lưới liên kết các máy tính trạm"

- "Máy trạm (Workstation) là máy tính truy cập đến máy chủ để sử dụng các thông tin và dữ liệu"

- "Mạng nội bộ (LAN) là mạng tập trung nhiều máy tính, được nối với nhau để trao đổi dữ liệu, chia sẻ thông tin và các thiết bị ngoại vi"

- "Quản trị mạng (Network Administration) là quá trình điều khiển mạng dữ liệu

để trang tính hiệu quả và hiệu năng của mạng"

Trang 17

- "Cở sở dữ liệu (Database Management System) là hệ thống được thiết kế để quản trị một cơ sở dữ liệu, hỗ trợ khả năng lưu trữ, sửa chữa, xoá và tìm kiếm thông tin trong một cơ sở dữ liệu"

- "Bảo trì, nâng cấp phần mềm là chỉnh sửa các lỗi phát sinh trong quá trình sử dụng phần mềm và giữ cho phần mềm được cập nhật khi môi trường mạng thay đổi đảm bảo an toàn khi vận hành và tính năng an toàn khi sử dụng"

Như vậy, CNTT là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công nghệ nói chung; liên quan đến thông tin và quá trình xử lý thông tin nói riêng Vì vậy, đây là công cụ hàng đầu để phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, hỗ trợ hình thành xã hội thông minh, cải thiện quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước

Trong nghiên cứu của chúng tôi sử dụng định nghĩa về CNTT theo Luật Công nghệ thông tin được Quốc hội khoá XI ban hành ngày 29/6/2006

1.1.2 Khái niệm công nghệ thông tin trong y tế và ứng dụng công nghệ thông tin trong y tế

* Khái niệm công nghệ thông tin trong y tế

Theo Bài giảng hệ thống thông tin Bệnh viện, "Công nghệ thông tin y tế (CNTTYT) là các ứng dụng của máy tính và công nghệ trong các hoạt động y tế và chăm sóc sức khoẻ" (6)

CNTTYT hỗ trợ xử lý những vấn đề bao gồm nguồn lực, thiết bị và các biện pháp được yêu cầu nhằm mục đích tối ưu hoá thu thập, lưu trữ, khôi phục và sử dụng các thông tin về y tế Từ đó có thể thấy rằng việc đáp ứng và sử dụng công nghệ thông tin trong y tế không chỉ đơn thuần là máy tính, phần mềm mà còn bao gồm những chỉ dẫn về lâm sàng, cận lâm sàng, dược, y tế công cộng và các nghiên cứu về y tế CNTT trong y tế bao gồm tập hợp những công nghệ về quản lý các thông tin sức khoẻ được sử dụng bởi người bệnh, nhân viên y tế, bảo hiểm y tế và tất cả các đối tượng liên quan với mối quan tâm về sức khoẻ cũng như các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ Công nghệ này là sự sắp xếp theo thứ tự khác nhau nhưng có hệ thống, đồng bộ và liên kết với nhau giúp các nhân viên y tế liên hệ dễ dàng hơn, thông tin của người bệnh cũng chia sẻ không có giới hạn về khoảng cách giữa các cơ sở y tế

Trang 18

Bằng việc áp dụng CNTT vào lĩnh vực y tế không đon giản là làm việc với máy

vi tính mà còn liên quan đến các yếu tố đặc thù, thông tin chung về y tế và hệ thống quản lý thông tin CNTTYT được ứng dụng rộng rãi ở những lĩnh vực như: khám chữa bệnh, sức khoẻ công cộng, điều dưỡng, và nghiên cứu về y tế

Để có thể thay đổi hoàn toàn mọi mặt có hiệu quả trong lĩnh vực y tế thì sự thay đổi CNTTYT là vô cùng quan trọng và cần thiết Chính vì vậy, CNTT phát triển đồng nghĩa rằng ngành y tế sẽ đạt được những thành tựu đáng kể trong công tác KCB và QLBV hiện đại Những chức năng của CNTT trong y tế bao gồm (8):

- Nâng cao kiến thức chuyên môn: tìm kiếm thông tin từ các trang điện tử y học trực tuyến, … hỗ trợ cập nhật kiến thức và rút ngắn khoảng cách kiến thức chuyên môn giữa các vùng địa lý NVYT ở bất cứ đâu chỉ cần có kết nối internet là dễ dàng tiếp cận kiến thức, kỹ thuật mới nhất

- Tự động hoá các phương tiện chẩn đoán và điều trị: máy móc xét nghiệm tự động hoá; các thiết bị chẩn đoán hình ảnh, máy nội soi giúp can thiệp điều trị tốt hơn; tiết kiệm chi phí, giảm thao tác của nhân viên y tế

- Hỗ trợ đắc lực trong thực hành y khoa: giúp giảm thiểu tử vong do sai lầm y khoa; giúp các bác sĩ đưa ra quyết định nhanh chóng và chính xác; hỗ trợ y tế từ xa, lưu trữ thông tin, phân tích số liệu nghiên cứu y học

- Tăng cường chức năng quản lý Bệnh viện: thông tin được lưu trữ và sắp xếp khoa học, phục vụ công tác quản lý Bệnh viện hiệu quả, …

Một số ứng dụng phần mềm công nghệ thông tin trong y tế

Theo tác giả Lê Trung Thắng trong cuốn Một số khái niệm công nghệ thông tin tron y tế định nghĩa như sau:

* HIS (Hospital Information System):

HIS được hiểu là: "Hệ thống quản lý Bệnh viện" Hệ thống phần mềm HIS hỗ trợ phục vụ công tác quản lý, điều hành tại Bệnh viện với các chức năng chủ yếu bao gồm: quản lý thông tin người bệnh và tiền sử bệnh; quản lý khám bệnh; quản lý bệnh án; quản lý điều trị nội, ngoại trú;; quản lý dược; quản lý tài chính y tế; quản lý viện phí; quản lý trang thiết bị và vật tư y tế; BHYT và nhân sự (9)

* EMR (Electronic Medical Report)

Trang 19

Tổ chức Y tế thế gới định nghĩa "bệnh án điện tử là hồ sơ sức khoẻ của bệnh nhân theo thời gian thực kết hợp với các công cụ ra quyết định dựa trên bằng chứng,

hỗ trợ bác sỹ ra quyết định" Bệnh án điện tử thay đổi cho bệnh án giấy Bệnh án điện

tử chuẩn hoá quy trình làm việc nhằm đảm bảo thông tin lâm sàng, cận lâm sàng Ngoài ra còn hỗ trợ tốt cho việc chăm sóc sức khoẻ và hỗ trợ công tác quản lý, nghiên

cứu, báo cáo (5)

* RIS (Radiology Information System):

Hệ thống thông tin CĐHA là hệ thống phần mềm được triển khai và phục vụ công tác khám chữa bệnh tại Khoa chẩn đoán hình ảnh tại những Bệnh viện Hệ thống bao gồm các ứng dụng có quy mô phù hợp với chẩn đoán hình ảnh và có tổ chức gần giống với HIS: quản lý thông tin bệnh nhân, quản lý danh sách bệnh nhân đến làm thủ tục tại khoa CĐHA Định dạng dữ liệu của RIS gồm chữ và hình ảnh theo chuẩn DICOM được lấy từ các trang bị chẩn đoán hình ảnh bao gồm: máy X-quang, siêu

âm, CT scan, MRI (9)

* PACS (Picture Achiving Communication System):

Theo tác giả Lê Trung Thắng (Học viện Quân y): "Hệ thống thông tin lưu trữ

và thu nhận ảnh có nhiệm vụ quản lý công tác lưu trữ, truyền và nhận hình ảnh trên mạng thông tin máy tính của khoa CĐHA hoặc Bệnh viện, các hình ảnh được lấy từ các thiết bị CĐHA với định dạng phổ biến hiện nay là DICOM được lưu trữ tại các Sever và truyền đến máy tính tại khoa CĐHA và các khoa trong Bệnh viện phục vụ công tác khám, chẩn đoán và điều trị PACS và RIS chỉ quản lý, tổ chức lưu trữ, truyền và nhận hình ảnh trên mạng mà không quan tâm đến các dữ liệu dạng text như: thông tin chi tiết của bệnh nhân, số lần thực hiện xét nghiệm, bệnh án, liệu trình điều trị, …" (10)

* Y tế từ xa (Telemedicine):

Theo Thông tư 49/2017/TT-BYT, định nghĩa: "Y tế từ xa là việc trao đổi thông tin có liên quan đến sức khoẻ của cá nhân giữa người làm chuyên môn y tế với cá nhân đó hoặc giữa những người làm chuyên môn y tế với nhau ở các địa điểm cách

xa nhau thông qua các phương tiện công nghệ thông tin và viễn thông" (11) Ví dụ,

Trang 20

trong tình huống khẩn cấp đối với các bệnh nhân trong tình trạng nguy hiểm … cần theo giõi, giám sát và xử lý tức thời thì y tế từ xa sẽ phát huy tác dụng tối đa (12)

* Y tế điện tử (E-health):

Theo Tổ chức y tế thế giới, "y tế điện tử là việc sử dụng các CNTT và truyền thông (ICT) vào y tế, như điều trị bệnh nhân, tiến hành nghiên cứu, đào tạo nhân lực

y tế, theo dõi dịch bệnh và giám sát y tế công cộng" Hiện nay, tại nước ta Y tế điện

tử nói chung áp dụng trong nhiều lĩnh vực như: lưu trữ, xử lý, truyền tải và quản lý thông tin về lâm sàng, hành chính và tài chính Bệnh viện; bao gồm: bệnh án điện tử, quản lý kê đơn thuốc, cơ sở dữ liệu cập nhật hàng ngày hỗ trợ an toàn cao, hỗ trợ cho hoạt động khám và điều trị, cung cấp thông tin về sức khoẻ tới người dân đồng thời cung cấp thông tin cho hoạt động nghiên cứu khoa (9)

Ứng dụng CNTT trong y tế là việc triển khai và ứng dụng các phần mềm hệ thống quản lý Bệnh viện vào công tác quản lý toàn bộ hoạt động của Bệnh viện "Hệ thống quản lý bệnh nhân bao gồm các phân hệ ghi chép thông tin của bệnh nhân với Bệnh viện đều được ghi nhân bằng máy tính" Hệ thống quản lý ngoài các phân hệ quản lý bệnh nhân còn có thêm các phân hệ quản lý hoạt động Bệnh viện như: quản

lý tài chính, nhân sự, dược, trang thiết bị, hành chính (4) Lợi ích từ việc ứng dụng CNTT trong y tế rất rõ ràng Ảnh hưởng trực tiếp đến lãnh đạo Bệnh viện, cán bộ nhân viên y tế, người bệnh

1.2 Ứng dụng CNTT trong y tế trên thế giới và tại Việt Nam

1.2.1 Ứng dụng CNTT trên thế giới

Ở nhiều quốc gia trên thế giới, Chính phủ đã xây dựng chương trình về CNTT

y tế nhằm ứng dụng CNTT vào ngành y tế Hàng loạt các công trình nghiên cứu và ứng dụng được áp dụng tại các cơ sở y tế, như việc xây dựng hệ thống thông tin Bệnh viện bao gồm các hệ quản lý, hệ thông tin chăm sóc, quản lý bệnh án, dược, Ngoài

ra, còn xây dựng các hệ thống truyền tải thông tin hình ảnh, xét nghiệm, y học từ xa liên Bệnh viện, liên cơ sở y tế Nhiều quốc gia trên thế giới, việc đào tạo ứng dụng công nghệ thông tin y tế coi là hàng đầu, giúp việc bồi dưỡng, nâng cao chuyên môn của các nhân viên y tế bằng tự học từ xa có thể đáp ứng nhu cầu trên khắp mọi miền

Trang 21

đất nước Tại một vài đất nước phát triển tập trung xây dựng mạng lưới chăm sóc sức khoẻ tại nhà nhằm phục vụ mục đích chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người dân và chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi (13)

Nhiều năm từ khi phát triển, CNTT đã được ứng dụng nhiều trong các lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực y tế cũng phát triển mạnh mẽ Những cơ sở y tế, tổ chức phi chính phủ đã tận dụng nhiều lợi ích của CNTT nhằm nâng cao hiệu quả và giảm chi phí, cải thiện chăm sóc, an toàn cho người bệnh (14) Với sự phát triển vượt bậc của CNTT giúp ngành y tế đạt nhiều thành tích trong quá trình KCB và QLBV

Tại Malaysia đã xuất hiện Bệnh viện đầu tiên dựa trên khái niệm “không cần giấy tờ và không có phim” và phát triển một cách đúng nghĩa của nó Y tế từ xa đang được sử dụng ở một số cơ sở y tế; nhưng kết quả thu được khi áp dụng Telemedicine lại không được khả quan Những khó khăn chủ yếu bao gồm: chi phí chi trả và vận hành hệ thống quá lớn; đường truyền với băng thông rộng còn hạn chế; nguồn nhân lực còn yếu cả về chuyên môn và kinh nghiệm trong việc sử dụng CNTT trong chăm sóc sức khoẻ (15) Từ đó có thể thấy rằng, vấn đề về nhân lực chuyên trách cần được quan tâm và đào tạo

Hiện nay, tại Mỹ những ứng dụng CNTT được triển khai trong các cơ sở y tế bao gồm: Bệnh án điện tử (Electronic Medical Record - EMR, đưa chỉ định lâm sàng trên máy tính (Computerized Physical Order Entry - CPOE), hỗ trợ ra quyết định lâm sàng (Clinical Decision Support - CDS); máy cấp thuốc tự động, người máy cấp thuốc (Robot); hệ thống mã vạch quy chuẩn cung cấp dược (BarD) (8)

Năm 2009, theo điều tra quốc gia tại Mỹ đánh giá 4000 cơ sở y tế trong 4 năm

từ năm 2003 đến năm 2007 cho thấy việc khai thác CNTT không triệt để mang lại hiệu quả không cao trong nâng cao chất lượng trong khi chi phí về quản lý lại có xu hướng tăng Kết quả nghiên cứu thu được chi phí cài đặt và vận hành hệ thống nếu không nhất thống thì lợi ích về mặt chi phí và hiệu quả thu được lại không cao Bệnh viện đã triển khai sử dụng rất nhiều những phần mềm khác nhau nhưng lại không hề

sử dụng phần mềm nào có tác động trực tiếp tới khối lâm sàng và cận lâm sàng Sau nghiên cứu này, họ tiếp tục xây dựng phương án để thực hiện ứng dụng bệnh án điện

tử vào trong hệ thống quản lý (16)

Trang 22

Năm 2013, tại Ấn Độ, tác giả Kavitha.G đã thực hiện nghiên cứu về hệ thống Y

tế cho thấy: trong trường hợp nếu hồ sơ bệnh án đã xử lý đồng bộ hoá và kết nối vào

hệ thống tin học với các bác sĩ đang công tác tại những Bệnh viện tuyến cao thì những trở ngại về chẩn đoán, tiếp cận thông tin, trình độ chuyên môn của y tế tuyến dưới giảm xuống đáng kể (17)

Tác giả Nir Menachemi thực hiện nghiên cứu về ứng dụng CNTT ở 109 Bệnh viện chuyên khoa Nhi tại lãnh thổ Hoa kỳ cho thấy: 72,5% đối tượng nghiên cứu đồng

ý nếu ứng dụng CNTT tại Bệnh viện sẽ cải thiện lỗi sai sót trong y tế và góp phần đảm bảo an toàn cho bệnh nhân; khi khảo sát về khó khăn trong việc ứng dụng CNTT, kết quả là 85,4% cho rằng nguyên nhân do hệ thống thông tin Bệnh viện thiếu đồng bộ; thiếu nhân lực có kỹ năng sử dụng CNTT chiếm tỷ lệ 82,3% và nhân viên y tế chưa làm quen sử dụng chiếm tỷ lệ 82,2% (18)

Việc ứng dụng CNTT hỗ trợ cho can thiệp, chẩn đoán, tương tác thông tin giữa các cán bộ y tế giúp cải thiện chất lượng chăm sóc sức khoẻ người bệnh (19)

Tại Ấn Độ, tác giả Devi Shetty thực hiện khảo sát thì hiện tại có khoảng 70% người dân tại vùng nông thôn; trong khi đó 80% nhân viên y tế và 60% cơ sở y tế tập trung ở thành thị Chính vì vậy việc ứng dụng CNTT trong y tế cụ thể ở đây là y tế từ

xa sẽ phát huy tác dụng rõ rệt giúp các bác sĩ chẩn đoán hình ảnh đọc kết quả phim

từ các Bệnh viện trong hệ thống Từ khi đi vào hoạt động chuỗi Bệnh viện cũng đã ứng dụng Telemedicine cho rất nhiều lượt bệnh nhân trên lãnh thổ Ấn Độ (20) Tại nhiều quốc gia đang phát triển, y tế từ xa đang trở thành niềm hy vọng, hỗ trợ thúc đẩy phát triển và gắn kết y tế hiện đại với y tế tuyến cơ sở (21) Như vậy, có thể thấy việc ứng dụng CNTT trong quản lý Bệnh viện ở mỗi nước trên thế giới là hoàn toàn khác nhau Tại nhiều quốc gia phát triển, CNTT thu được một vài thành tựu nhất định, tuy nhiên khó khăn vẫn tập trung vào vấn đề chi phí đầu tư cơ bản ban đầu cho CNTT Tại các nước đang phát triển, ứng dụng CNTT gặp phần lớn bất cập trong quá trình triển khai ứng dụng Vai trò của ứng dụng CNTT trong quản lý khám chữa bệnh là cực kỳ cần thiết, hơn nữa đây lại là điều bắt buộc trong thời đại phát triển 4.0 hiện nay

Trang 23

1.2.2 Ứng dụng CNTT trong y tế tại Việt Nam

Tại Việt Nam, Công nghệ thông tin y tế mới bắt đầu phát triển từ đầu những năm 90 Phát triển muộn, gặp không ít khó khăn, thử thách nhưng CNTTYT ở nước

ta đã tiến bộ mạnh mẽ, đã từng bước theo kịp với các nước trong khu vực và trên thế giới Vào sau nên chúng ta có thể tận dụng được những sai lầm, từ đó rút kinh nghiệm

và kế thừa các thành tựu của các nước đi trước và phát huy trong kỹ thuật ứng dụng CNTTYT nước nhà (22)

Theo báo cáo thống kê năm 2014 về ứng dụng CNTT trong công tác quản lý Bệnh viện: tất cả Bệnh viện tuyến Trung ương, gần 70% Bệnh viện tuyến tỉnh và huyện đã triển khai ứng dụng CNTT quản lý Bệnh viện Khi bắt đầu hoạt động, những

hệ thống này sẽ gặp phải thuận lợi và khó khăn nhất định Hầu hết các phần mềm đều

có thể kết xuất báo cáo phục vụ công tác quản lý bảo hiểm, tuy nhiên trở ngại duy nhất có lẽ là vấn đề về đồng bộ hoá hệ thống Thông tin cá nhân trên hệ thống không

có khả năng trao đổi với nhau, trong khi đó các cơ sở y tế này lại sử dụng hệ thống không đồng bộ do, cấu hình không tương đương Hiện tại, Bộ Y tế đang nhắm đến xây dựng hệ thống bệnh án điện tử, Telemedicine kết nối các Bệnh viện vệ tinh với Bệnh viện tuyến Trung ương như Việt Đức, Bạch Mai, Sở Y tế của một số thành phố lớn hoạt động hiệu quả (23)

Kinh tế-xã hội phát triển không ngừng, các Bệnh viện ở nước ta đã hầu hết được trang bị phần lớn thiết bị hiện đại như máy sinh hoá tự động, máy xét nghiệm máu; máy siêu âm màu 3D-4D, máy X-quang kỹ thuật số, CT scan, MRI giúp nâng cáo độ chính xác trong chẩn đoán và hiệu quả điều trị Với trang thiết bị hiện đại và thông minh, y tế nước ta đã dần bắt kịp với xu thế của y học hiện đại trên thế giới, nhân viên y tế phần lớn đã sử dụng thành thạo máy tính, quen dần với CNTT, có khả năng

sử dụng mạng internet nhằm nâng cao, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn để ứng dụng trong chẩn đoán điều trị và chăm sóc bệnh nhân góp phần nâng cao hệ thống quản lý nâng cao chất lượng

Theo thống kê của Cục Công nghệ thông tin, mỗi Sở Y tế có trung bình 1.65 nhân viên CNTT và ở các đơn vị trực thuộc cao hơn là 3.8 người Các lớp học ngắn hạn, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn cho các bộ CNTT nói riêng và CBYT nói

Trang 24

chung liên tục tổ chức, cập nhật, chính vì vậy trình độ chung của cán bộ đã được cải thiện nhiều Theo chỉ đạo chung của Bộ Y tế nên hiện nay hầu hết các Bệnh viện từ tuyến huyện trở lên đã được trang bị hệ thống CNTT và sử dụng phần mềm quản lý Bệnh viện, nhưng việc đưa các ứng dụng vào thực tiễn còn gặp trở ngại do thiết bị được trang bị vào nhiều thời điểm nên tình trạng thiếu sự đồng bộ; kiến thức CNTT của phần lớn cán bộ y tế còn hạn chế (24)

Theo Tiến sĩ Dương Quốc Trọng và cộng sự về “Nghiên cứu tiếp cận và phát triển CTNT trong ngành Y tế” với mục đích điều tra tình hình triển khai ứng dụng CNTT thực hiện trên cỡ mẫu là 124 cơ sở y tế tại 11 tỉnh Kết quả nghiên cứu thấy rằng: "54% số Bệnh viện trang bị đầy đủ máy tính; hơn 80% Bệnh viện phục vụ được nhu cầu công tác; tỷ lệ Bệnh viện đáp ứng đủ máy chủ chiếm 27% Trong khi đó, nhu cầu tăng thêm phần mềm tại Bệnh viện là 29,3% "(24)

Năm 2010, thực hiện khảo sát tiềm năng và nhu cầu phát triển y tế điện tử trên

200 Bệnh viện, kết quả thu được: tất cả đơn vị y tế trực thuộc Bộ Y tế sử dụng mạng LAN và có internet, tỷ lệ cán bộ chuyên trách chiếm 0,8% đến 1%; tỷ lệ cán bộ trực tiếp sử dụng máy tính chiếm 74,4%; chỉ có 2/56 Bệnh viện có phòng CNTT (2) Nghiên cứu thực trạng ứng dụng CNTT năm 2015 tại Bệnh viện đa khoa Vĩnh Long trong quản lý Bệnh viện của tác giả Nguyễn Thị Thục Oanh có kết quả: tỷ lệ cán bộ có chứng chỉ CNTT chiếm dưới 40%; phân hệ có tiêu chí đầy đủ nhất đạt 86,95%; tiêu chí thấp nhất đạt 54,48% (25)

Theo tác giả Nguyễn Thị Hương Giang nghiên cứu tại Bệnh viện Bạch Mai năm

2011 nhằm tìm hiểu ứng dụng phần mềm QLBV cho kết quả: CNTT kiểm soát tốt thông tin dữ liệu, hỗ trợ tốt công tác quản lý thống kê báo cáo an toàn bảo mật thông tin Các phân hệ phần mềm có tỷ lệ các tiêu chí đạt trong khoảng từ 63,6% đến 100% (26)

Năm 2012, tại Đắc Lắk tác giả Nguyễn Xuân Lâm thấy rằng lợi ích của việc ứng dụng CNTT tại Bệnh viện đó là giảm tối đa thời gian chờ đợi, đơn giản hoá thủ tục hành chính, tài chính rõ ràng… Thực hiện điều tra định tính cho thấy yếu tố quan trọng để phát triển ứng dụng CNTT tại Bệnh viện thành phố Buôn Mê Thuật là sự quan tâm từ Ban giám đốc (27)

Trang 25

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Nhã đánh giá thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý Bệnh viện đa khoa Sa Đéc, năm 2018 thu được kết quả là: phân hệ phần mềm khoa Khám bệnh đạt 100% tiêu chí theo quy định của Bộ Y tế, mặt khác phân hệ quản lý cận lâm sàng còn chưa thống nhất vẫn phải in và trả kết quả theo cách truyền thống cho bệnh nhân (28)

Nghiên cứu của Nguyễn Đức Luyện về thực trạng ứng dụng CNTT trong quản

lý khám, chữa bệnh tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương năm 2017 cho thấy Bệnh viện đã sử dụng 6/7 tiêu chí; Bệnh viện chưa có hệ thống PACS tại khoa chẩn đoán hình ảnh Kết quả cũng cho thấy việc ứng dụng công nghệ thông tin mạng lại nhiều lợi ích cho người bệnh (29)

Năm 2015, tác giả Trần Ngọc Luân triển khai nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa Tâm Trí tỉnh Đồng Tháp về ứng dụng CNTT trong quản lý Bệnh viện, kết quả thấy rằng: lợi ích đem lại rất lớn, quản lý thông tin hành chính của người bệnh chiếm tỷ lệ 98,7%; công tác thống kê báo cáo chính xác chiếm 84,4%; hệ thống PACS giúp hội chẩn và chẩn đoán đạt 65,42%; công khai tài chính, cấp phát thuốc đạt trên 94,02% Thực hiện phỏng vấn sâu cho thấy khó khăn gặp phảo khi triển khai ứng dụng CNTT

là do tính kết nối phần mềm còn rời rạc, chưa đồng bộ (30)

1.3 Chính sách về ứng dụng công nghệ thông tin trong Bệnh viện

Trong quá trình từ khi hội nhập đến nay, để phát triển ứng dụng CNTT ở nước

ta đã xây dựng nhiều chính sách, chủ trương trong quản lý tại các cơ sở y tế và cơ quan nhà nước với mục tiêu là phát triển ứng dụng CNTT trên tất cả các lĩnh vực Theo Luật công nghệ thông tin, chính sách về ứng dụng CNTT bao gồm: ưu tiên CNTT với mục đích sự nghiệp hiện đại hoá, công nghiệp hoá đất nước; có những khuyễn khích đầu tư cho CNTT; luôn có ưu tiên, hỗ trợ với một khoản ngân sách nhà nước thích hợp; tạo điều kiện phát triển cơ sở hạ tầng; xây dựng chính sách ưu đãi; bảo đảm quyền và lợi ích cho các cá nhân, tổ chức sử dụng CNTT; tăng cường hợp tác quốc tế, khuyến khích giao lưu, trao đổi kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực CNTT (31)

Từ năm 2015 đến năm 2017, Nhà nước tập trung đẩy mạnh cải cách hành chính, phát triển ứng dụng CNTT trong quản lý và cung cấp dịch vụ công trực tuyến với

Trang 26

mục đích là hỗ trợ rút ngắn quy trình xử lý, giảm thiểu số lượng và đơn giản hoá, chuẩn hoá nội dung hồ sơ, giảm thời gian thủ tục công tác hành chính

Mỗi cơ sở y tế đều sử dụng các phần mềm trên những nền tảng được cung cấp

từ nhiều đơn vị sản xuất phần mềm khác nhau, chính vì vậy cần có sự nhất thống trong quản lý chung và thống nhất trên toàn quốc Vì vậy, Bộ Y tế ban hành “Tiêu chí phần mềm và nội dung một số phân hệ phần mềm tin học quản lý Bệnh viện” được áp dụng trong những cơ sở y tế có giường bệnh (bao gồm cả công lập và ngoài công lập) (6)

Ngày 18 tháng 10 năm 2019, Bộ Y tế ban hành quyết định phê duyệt "Đề án ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin y tế thông minh giai đoạn 2019-2025"

Mục tiêu chung của đề án là "Ứng dụng và phát triển công nghệ số, công nghệ thông minh trong y tế góp phần xây dựng hệ thống y tế Việt Nam hiện đại, chất lượng, công bằng, hiệu quả và hội nhập quốc tế; hỗ trợ người dân dễ dàng tiếp cận thông tin y tế

để sử dụng các dịch vụ y tế có hiệu quả cao và được bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe liên tục, suốt đời" Mục tiêu cụ thể bao gồm: "Xây dựng và từng bước hình thành

hệ thống chăm sóc sức khỏe và phòng bệnh thông minh Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin tại các cơ sở khám, chữa bệnh góp phần cải cách hành chính và giảm quá tải Bệnh viện; sử dụng hồ sơ bệnh án điện tử tiến tới không sử dụng bệnh án giấy, thanh toán viện phí điện tử, hình thành các Bệnh viện thông minh Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý y tế, triển khai hệ thống văn phòng điện tử, cổng dịch vụ công và hệ thống thông tin một cửa điện tử về thủ tục hành chính, đẩy mạnh các dịch vụ công trực tuyến mức 3, 4, xây dựng nền quản trị y

tế thông minh" (32)

Thời gian tới, Bộ Y tế tập trung đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT trong Bệnh viện; xây dựng các văn bản, tài liệu chuyên ngành về y tế điện tử nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý và thúc đẩy ứng dụng CNTT ngành y tế Bộ sẽ đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở dữ liệu gắn liền với mã định danh, làm nền tảng cho việc trao đổi thông tin, chữa bệnh để Bệnh viện chủ động hoàn thiện hệ thống thông tin Bệnh viện

Bộ Y tế yêu cầu các Bệnh viện hoàn thiện triển khai bệnh án điện tử Ứng dụng triển khai phần mềm quản lý hoạt động trạm y tế xã kết nối với hồ sơ sức khỏe điện tử

Trang 27

nhằm giảm giấy tờ tại trạm y tế Phát triển CNTT bước đầu sẽ góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, tiếp đó là giải quyết vấn đề quá tải Bệnh viện tuyến trên

Để phát triển và hoàn thiện mô hình ''Bệnh viện thông minh", năm 2017, Thông

tư 54 được ban hành về bộ tiêu chí ứng dụng CNTT tại các cơ sở khám, chữa bệnh (33) Với mục tiêu rõ ràng đẩy mạnh và phát triển CNTT trong ngành, Bộ Y tế đã khuyến khích cá nhân cũng như tập thể đầu tư CNTT và đưa vào áp dụng chung đối với những chuẩn thông tin y tế cùng các chương trình phần mềm trong ngành y tế (34)

Ở nước ta, để xây dựng thành công Bệnh viện thông minh, các Bệnh viện phải

có đội ngũ thầy thuốc giỏi, cơ sở vật chất hiện đại, đồng thời cần chủ động nguồn lực, đầu tư mạnh mẽ xâu dựng hệ thống CNTT bảo đảm khả năng kết nối, liên thông hợp nhất thông tin tạo điều kiện thuận lợi cho khám bệnh, chữa bệnh, theo dõi tình hình sức khoẻ của người bệnh theo thời gian thực, hỗ trợ các bác sĩ nhanh chóng đưa ra quyết định chẩn đoán, điều trị phù hợp, góp phân nâng cao chất lượng dịch vụ y tế Nội dung xây dựng Bệnh viện thông minh trong phạm vi ứng dụng công nghệ thông minh như sau (35):

- Mở rộng phạm vi cung cấp các dịch vụ y tế dựa vào CNTT

- Ứng dụng các phần mềm hỗ trợ khám, chữa bệnh, CNTT giúp tối ưu hoá các dịch vụ y tế

- Chuyển đổi số hoá thông tin dữ liệu hiện có, tin học hoá và tự động hoá quá trình khám, chữa bệnh nhằm hướng tới quản trị thông minh và cung cấp các dịch vụ

y tế thông minh

- Xây dựng và triển khai phần mềm thông tin Bệnh viện (HIS), phần mềm xét nghiệm (LIS), phần mềm chẩn đoán hình ảnh (RIS), hệ thống lưu trữ và truyền tải hình ảnh (PACS), bệnh án điện tử (EMR) cải thiện khả năng tự động hoá

- Ứng dụng công nghệ nhận dạng mới (giọng nói, vị trí của người bệnh, sinh trắc học, )

- Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và các công nghệ mới hỗ trợ hoạt động quản lý điều hành Bệnh viện; phục vụ chẩn đoán, điều trị ra quyết định lâm sàng

Trang 28

- Bảo mật thông tin để tránh được đe doạ và giảm thiểu tác hai nếu xảy ra sự cố

về an toàn thông tin

Trong những năm qua, dưới sự chỉ đạo của Ban chỉ đạo triển khai ứng dụng và phát triển CNTTYT có Bộ trưởng làm Trưởng ban, ủy viên thường trực là lãnh đạo Cục CNTT, đầu tiên ngành y tế đã xây dựng các mạng diện rộng trên toàn quốc, sau

đó phân khu vực theo hệ thống chuyên ngành gắn với các mạng nội bộ tại các cơ sở

y tế (24) Bên cạnh đó, Cục CNTT có chức năng "tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Y tế thống nhất quản lý hoạt động và phát triển CNTT trong ngành Y tế; tổ chức thực hiện việc ứng dụng và phát triển CNTT trong động của các cơ quan, đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ Y tế" Các cơ quan và Chính phủ xây dựng định hướng phát triển nhằm thúc

đẩy hoạt động ứng dụng CNTT nên đã ban hành rất nhiều quy định, thông tư:

Nghị quyết 36a /NQ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2005 của Chính phủ về "Chính phủ điện tử” (1)

Văn bản pháp lý cao nhất về CNTT đó là "Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11" được Quốc Hội khoá XI thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006 (7) Quyết định số 5573/QĐ-BYT ngày 29 tháng 12 năm 2006 ban hành về "Tiêu chí phần mềm và nội dung một số phân hệ phần mềm tin học quản lý Bệnh viện" (36) Nghị định số 64/NĐ-CP được Chính Phủ ban hành ngày 10/04/2007 về “Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước" (37)

Thông tư 54/TT-BYT ngày 29 tháng 12 năm 2017 về "Ban hành bộ tiêu chí ứng dụng công nghệ thông tin tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh" (33)

Thông tư 46/TT-BYT ngày 28 tháng 12 năm 2018 về "Quy định hồ sơ bệnh án điện tử" (38)

1.4 Những yếu tố ảnh hưởng trong ứng dụng công nghệ thông tin y tế

1.4.1 Những yếu tố thuận lợi

Được sự quan tâm và chỉ đạo của các ngành, các cấp lãnh đạo, Cục công nghệ thông tin trong thời gian qua, liên tục ban hành các văn bản về việc thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin trong y tế Tuy nhiên để đạt được những hiệu quả như mong đợi, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin không phải dễ dàng mà chịu ảnh

Trang 29

hưởng của nhiều yếu tố bao gồm: kỹ thuật, trang thiết bị cơ sở hạ tầng; tổ chức và quản lý điều hành; người sử dụng; chất lượng phần mềm CNTT (39)

* Yếu tố kỹ thuật, trang thiết bị cơ sở hạ tầng

Hạ tầng CNTT bao gồm toàn bộ các yếu tố về vật chất có liên quan trực tiếp tới CNTT bao gồm: "phần cứng, hệ thống mạng (mạng cục bộ, mạng đô thị, mạng diện rộng, mạng toàn cầu Internet), hệ điều hành" Hầu hết các cơ sở y tế tự thiết kế phần mềm theo nhu cầu thực tế tại đơn vị, chính vì vậy giao diện phần mềm thân thiện, dễ

sử dụng; các chức năng đáp ứng được nhu cầu công việc thực tiễn tạo thuận lợi cho nhân viên y tế thực hiện ứng dụng một cách dễ dàng

Về hạ tầng kỹ thuật CNTTYT, Bộ Y tế, Sở y tế, Bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh kết nối Internet tốc độ cao, có mạng LAN; trang bị đầy đủ máy tính cho cán bộ nhân viên sử dụng máy tính phục vụ công việc (40)

* Yếu tố về nhân lực

Với yêu cầu cơ bản về sử dụng, đáp ứng kỹ thuật và ứng dụng CNTT nên nhân viên y tế hầu hết có trình độ tin học cơ bản Đội ngũ chuyên trách CNTT tại các đơn

vị được bố trí đầy đủ về số lượng và chuyên môn nhằm đáp ứng được việc hỗ trợ về

kỹ thuật khi có nhu cầu trợ giúp trong quá trình sử dụng

Đội ngũ nhân viên y tế đa số đã tiếp cận và sử dụng thành thạo máy vi tính, làm quen với CNTT, có ý thức tự giác sử dụng internet nhằm tự nâng cao chuyên môn để ứng dụng trong điều trị, chăm sóc, phục hồi sức khoẻ người bệnh (41)

Tại các đơn vị luôn có các hình thức khen thưởng, khuyến khích cho các khoa phòng, các cá nhân thực hiện tốt ứng dụng CNTT để thúc đẩy và tạo động lực làm việc cho cán bộ nhân viên Ngoài ra, những nhân viên lớn tuổi sẽ được sắp xếp những

vị trí phù hợp để hạn chế thấp nhất những sai sót về nhập liệu y tế

* Yếu tố tài chính

Vấn đề về tài chính luôn có sự quan tâm đặc biệt Bởi vì, để triển khai được ứng dụng CNTT thì ngoài các yếu tố về hạ tầng, về phần mềm thì đây cũng là điều quan trọng Các loại chi phí bao gồm: duy trì hệ thống, kinh phí thu hút, kinh phí duy trì, kinh phí đào tạo Nguồn kinh phí cho các đơn vị từ những viện trợ của Uỷ ban nhân dân, Sở y tế, những công ty về CNTT và nguồn kinh phí dự trù hàng năm của đơn vị

Trang 30

Hệ thống thông tin luôn hoạt động liên tục cho nên việc duy trì và đảm bảo nguồn chi phí cũng như chú trọng đầu tư là vô cùng quan trọng Từ đó có thể cân đối được nguồn kinh phí cho phù hợp tương ứng quy mô phát triển CNTT của tổ chức (40)

* Yếu tố về cơ chế chính sách

Tại các cơ sở y tế, có quy trình, kế hoạch triển khai rõ ràng và được giám sát chặt chẽ Lập kế hoạch kiểm tra định kỳ quá trình ứng dụng CNTT tại cơ sở Nguồn nhân lực CNTT chuẩn bị khá đầy đủ và có trình độ phù hợp đáp ứng nhu cầu Tất cả đội ngũ có trình độ tin học căn bản, công tác đào tạo cũng đc các lãnh đạo quan tâm Bên cạnh đó, Cục Công nghệ thông tin BYT, các Sở Y tế bành hành những văn bản đẩy mạnh ứng dụng CNTT tại các cơ sở y tế, Bệnh viện Hàng năm đều có kế hoạch dự trù kinh phí đầu tư cho việc trang bị các thiết bị về CNTT bao gồm phần cứng, phần mềm, cơ sở hạ tầng mạng (40)

* Yếu tố phầm mềm

Năm 2017, Bộ y tế đã ban hành các tiêu chuẩn phần mềm được thiết kế và tuân thủ theo quy định tại Thông tư 54 của Bộ Y tế, chất lượng phần mềmphải đạt các tiêu chuẩn phù hợp với thông số kỹ thuật hệ thống, hoạt động có hiệu quả, tuân theo quy chuẩn, sử dụng công nghệ hiện đại và được chỉnh sửa một cách dễ dàng, các tính năng phản ánh chính xác, đầy đủ, hệ điều hành tin cậy, nhất thống, thân thiện với người sử dụng, hỗ trợ tối đa quá trình vận hành

1.4.2 Những yếu tố khó khăn

Bên cạnh những thành công đạt được trong việc ứng dụng CNTT thì vẫn còn một số những yếu tố ảnh hưởng tiêu cực gây khó khăn như cơ sở hạ tầng; nguồn lực; người sử dụng; tài chính và chất lượng hệ thống phần mềm

Theo đánh giá chung từ báo cáo Bộ Y tế, nguyên nhân gây khó khăn trong việc ứng dụng CNTT trong y tế đa số do hạ tầng chung còn nhiều yếu kém; trung tâm dữ liệu y tế quốc gia chưa xây dựng; hệ thống đường truyền riêng của ngành chưa có; nhiều dịch vụ hỗ trợ theo chưa triển khai (42)

Trang 31

* Yếu tố trang thiết bị, cơ sở hạ tầng

Hiện tại, với quy mô rộng của các Bệnh viện thì việc xây dựng một hệ thống mạng nội bộ, cơ sở hạ tầng mạng có đường truyển ổn định và tốc độ cao là một việc tương đối khó Trong khi đó, một số cơ sở có nguồn kinh phí còn khó khăn nên sự đầu tư về trang thiết bị, xây dựng cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ và không đủ để đáp ứng

yêu cầu công việc hàng ngày

* Yếu tố về nhân lực

Theo thống kê, các NVYT trên 40 tuổi trình độ tin học còn hạn chế Việc đào tạo và sử dụng phần mềm cơ bản cho đến thành thạo cũng là một khó khăn, trong khi

đó, đây lại là lượng nhân viên chiếm đa số tại các cơ sở y tế

Lãnh đạo Bệnh viện nhiều nơi chưa có quan tâm đúng đắn về vấn đề ứng dụng, đẩy mạnh CNTT tại cơ sở Chính sách ưu đãi, tạo động lực cho cán bộ nhân viên còn nhiều hạn chế hoặc chưa có

Một vài đơn vị có nguồn nhân lực chuyên trách về CNTT hạn chế về số lượng

và chuyên môn nên công tác hỗ trợ còn chưa kịp thời

Một số lãnh đạo chưa thật sự có sự quan tâm về việc ứng dụng CNTT tại đơn

vị, chính vị vậy mà hiệu quả ứng dụng còn thấp

* Yếu tố khác (tập huấn, bồi dưỡng, truyền thông, )

Ngoài những yếu tố trên, vấn đề về truyền thông tại đơn vị cũng khá quan trọng

và ảnh hưởng nhiều đến công tác ứng dụng CNTT Thực tế, công tác truyền thông về

sử dụng CNTT tại cơ sở y tế hỗ trợ công việc chưa chặt chẽ và tác dụng chưa cao

Trang 32

Thực tế, ứng dụng CNTT còn rời rạc, các hệ thống không có khả năng kết nối

và trao đổi thông tin Vì vậy làm giảm khả năng ứng dụng CNTT trong việc lưu rữ

và xử lý thông tin y tế Còn chưa xây dựng những nền tảng cần thiết cho việc ứng dụng CNTT bài bản, thống nhất, đảm bảo việc kết nối hệ thống, trao đổi thông tin (42)

* Yếu tố phần mềm

Mặc dù đã có nhiều chính sách hỗ trợ nhưng quá trình ứng dụng CNTT còn nhiều manh mún và không gắn kết với nhau, dữ liệu không được đồng bộ; các hệ thống xây dựng không có khả năng trao đổi thông tin Vẫn chưa có nhiều nền tảng phần mềm cần thiết cho việc ứng dụng CNTT bài bản, thống nhất, bảo đảm việc kết nối, trao đổi thông tin giữa các hệ thống như danh mục chung, kiến trúc và thiết kế tổng thể hệ thống thông tin y tế, cơ sở dữ liệu tích hợp

Mặt khác, những năm trước Bộ y tế chưa có một phần mềm quản lý tổng thể dùng chung hiệu quả nên mỗi đơn vị đều tự xây dựng một hệ thống phần mềm đáp ứng nhu cầu tại đơn vị Điều này gây ra sự khó khăn trong quá trình liên thông trao đổi dữ liệu cả theo chiều dọc và chiều ngang giữa các cơ sở y tế với nhau

Hiện nay BYT đã xây dựng thông tư 54 làm hành lang pháp lý cho các cơ sở khám chữa bệnh sử dụng và ứng dụng đánh giá mức độ CNTT tại đơn vị mình, nhưng vẫn còn nhiều thách thức và rào cản

1.5 Giới thiệu và hoạt động ứng dụng CNTT của Bệnh viện Da liễu Trung ương 1.5.1 Giới thiệu Bệnh viện Da liễu Trung ương

Năm 1982, Bộ Y tế thành lập Viện Da liễu Việt Nam trực thuộc Bộ Y tế nằm trong Bệnh viện Bạch Mai Năm 2006, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập Viện Da liễu Quốc gia trực thuộc Bộ Y tế Năm 2009, theo Quyết định số 4453 của

Bộ Y tế, Viện Da liễu Quốc gia đổi tên thành Bệnh viện Da liễu Trung ương trực thuộc Bộ Y tế (43)

Bệnh viện Da liễu Trung ương tọa lạc tại 15A Phương Mai, phường Phương Mai, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, Bệnh viện là tuyến cuối cùng chịu trách nhiệm khám và điều trị bệnh ngoài da và các bệnh lây truyền qua đường tình dục toàn quốc

Là Bệnh viện hạng I trực thuộc Bộ Y tế

Trang 33

Bệnh viện là cơ sở đào tạo của trường Đại học Y Hà Nội và nhiều trường Đại học Y, Dược trong cả nước Bệnh viện thực hiện tiếp nhận đào tạo sinh viên thực tập, đào tạo nâng cao tay nghề, cập nhật kiến thức y khoa và kỹ thuật chuyên môn cho cán bộ y tế tuyến dưới, chuyển giao các kỹ thuật, quy trình kỹ thuật cho cán bộ tuyến dưới

Với đội ngũ nhân viên y tế có trình độ chuyên môn cao, trang thiết bị hiện đại

và đồng bộ, Bệnh viện là nơi khám chữa bệnh đảm bảo chất lượng hàng đầu, tạo niềm tin cho người bệnh Năm 2019, Bệnh viện có 370 cán bộ nhân viên, trực tiếp Bộ Y tế giao chỉ tiêu 150 giường bệnh kế hoạch Bệnh viện có 12 khoa điều trị và cận lâm sàng, 8 phòng chức năng hỗ trợ công tác quản lý Bệnh viện, trung tâm Đào tạo và chỉ đạo tuyến

Chức năng và nhiệm vụ của Bệnh viện là tuyến cao nhất khám chữa bệnh, dự phòng bệnh, phục hồi chức năng về chuyên khoa da liễu; đào tạo và tham gia đào tạo nhân lực y tế; chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn kỹ thuật trong lĩnh vực chuyên ngành, chuyển giao và hỗ trợ chuyên môn kỹ thuật trong lĩnh vực bệnh da, bệnh hoa liễu; triển khai ứng dụng khoa học kỹ thuật hiện đại phục vụ người bệnh chuyên khoa

và công tác phòng chống dịch bệnh

Cùng với sự phát triển của kinh tế-xã hội là những diễn biến phức tạp và ngày càng tăng của các bệnh về da, bệnh lây truyền qua đường tình dục Hàng ngày có khoảng 1300 đến 2000 lượt người bệnh đến khám và điều trị tại Bệnh viện, số lượt người bệnh có nhu cầu khám và điều trị có xu hướng tăng cao (trung bình mỗi năm tăng khoảng 10-20%), dự kiến đến năm 2025 có trung bình 3000 lượt khám/ ngày Hiện tại Bệnh viện đã hoàn thành và đưa vào sử dụng toà nhà 13 tầng, khang trang, hiện đại, nhằm cung cấp cho người bệnh các dịch vụ, kỹ thuật cao, đáp ứng nhu cầu khám và điều trị (43)

Cho đến nay, Bệnh viện đang từng bước phát triển ứng dụng các phần mềm quản lý Bệnh viện, nâng cấp trang thiết bị phần cứng để nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động của BV, nhằm đáp ứng việc khám, chữa bệnh cho nhân dân

Trang 34

1.5.2 Hoạt động ứng dụng CNTT tại Bệnh viện Da liễu Trung ương

Tháng 1 năm 2007 Bệnh viện Da liễu Trung ương đã triển khai xây dựng hệ thống thông tin Bệnh viện (HIS) với các phân hệ: Quản lý thông tin khám bệnh; Quản

lý dược; Quản lý xét nghiệm; Quản lý chẩn đoán hình ảnh; Quản lý viện phí; Quản

lý Dược; Quản lý trang thiết bị, vật tư y tế Cùng với đó hạ tầng công nghệ thông tin tại Bệnh viện cũng được trang bị đầy đủ và đáp ứng nhu cầu người sử dụng

Sau 4 năm (từ năm 2007 đến năm 2011) triển khai thực hiện phầm mềm Medisoft tại Bệnh viện thì việc ứng dụng CNTT vào khám, chữa bệnh cho người bệnh cơ bản đáp ứng được các yêu cầu quản lý của Bệnh viện trong thời điểm đó (lượng Bệnh nhân trung bình 200-500 lượt bệnh nhân/ ngày) Các module sử dụng trong thời kỳ này bao gồm: đăng ký khám bệnh; khám bệnh, chỉ định cận lâm sàng;

kê đơn; quản lý dược xuất nhập tồn, quản lý các kho thuốc; quản lý xét nghiệm; quản

lý bệnh nhân nội trú, làm thuốc, nhập, xuất viện cho bệnh nhân thu phí và bệnh nhân bảo hiểm y tế (BHYT); quản lý thu viện phí; quản lý bán thuốc; quản lý chẩn đoán hình ảnh; quản lý vật tư tiêu hao và một số báo cáo thường quy cho các đơn vị cấp trên

Từ năm 2014 đến năm 2016, Bệnh viện có sự tăng đột biến về số lượng người bệnh đến khám từ khoảng 500-600 lượt/ ngày vào năm 2012-2013 tăng lên khoảng 1100-1800 lượt/ ngày vào năm 2014-2016, mặt khác có một số thay đổi do BYT và BHYT Việt Nam yêu cầu về các báo cáo và chuẩn dữ liệu đầu ra trích chuyển lên cổng BHYT và cổng BYT

Giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2019, Bệnh viện duy trì ổn định hệ thống mạng,

hệ thống phần mềm khám, chữa bệnh cho khoảng 450.000 đến 490.000 lượt bệnh nhân đến khám trong một năm Trong giai đoạn này, Bệnh viện tiến hành triển khai một số ứng dụng nhằm tiến tới triển khai bệnh án điện tử theo Thông tư 46/2018/TT-BYT "Quy định về bệnh án điện tử"; Thông tư 54/2017/TT-BYT "Ban hành Bộ tiêu chí về ứng dụng công nghệ thông tin tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh" và Quyết định số 777/QĐ-QLD do Cục Quản lý Dược ban hành về việc "Chuẩn kết nối dữ liệu phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin kết nối liên thông cơ sở bán lẻ thuốc" (phiên

Trang 35

bản 1.0) vào ngày 27 tháng 11 năm 2018, yêu cầu các nhà thuốc của Bệnh viện phải kết nối dữ liệu liên thông với cổng kết nối Dược Quốc gia

Trong 12 năm xây dựng, phát triển và đưa ứng dụng phần mềm Medisoft vào quản lý khám, chữa bệnh tiền thân của phòng Công nghệ thông tin và Giáo dục y tế

là Ban CNTT trực thuộc phòng Chỉ đạo tuyến, ban đầu chỉ có 01 kĩ sư chuyên trách

về CNTT, đến năm 2008 Ban CNTT bổ sung 01 kỹ sư (tổng 02) nhân viên chuyên trách về CNTT, đến đầu năm 2014 phòng Công nghệ thông tin và Giáo dục y tế được tách ra khỏi phòng Chỉ đạo tuyến với 03 viên chức/ người lao động, đến năm 2015 là

05 viên chức/ người lao động, từ năm 2016 đến nay phòng Công nghệ thông tin và Giáo dục y tế gồm có 07 viên chức/ người lao động (2 Thạc sĩ, 1 kỹ sư và 4 cử nhân) Toàn bộ hoạt động về ứng dụng Công nghệ thông tin và Giáo dục y tế của Bệnh viện đều do phòng đảm nhận và áp dụng hầu hết các khoa/ phòng trong Bệnh viện (43)

Trang 36

1.6 Khung lý thuyết nghiên cứu

- Sự quan tâm của ban lãnh đạo

- Sự chia sẻ của các khoa/phòng khác -Thông tin về đào tạo cập nhật

- Thông tin về tập huấn sử dụng CNTT theo Thông tư

54

- Thông tin truyền thông tới người sử dụng

Yếu tố tài chính:

Nguồn tài chính đầu tư cho CNTT đáp ứng thông tư

54, phần cứng, phần mềm

Yếu tố nhân lực:

- Nguồn nhân lực CNTT chuyên trách

- Nguồn nhân lực

có kiến thức cơ bản về ứng dụng CNTT theo thông

tư 54

Yếu tố phần mềm:

- Chất lượng thông tin

- Hệ thống hoạt động hiệu quả

- Chất lượng phần mềm

Ứng dụng công nghệ thông tin theo tiêu chí của thông tư 54/TT-BYT

- Nhóm tiêu chí hạ tầng

- Nhóm tiêu chí phần mềm quản lý điều hành

- Nhóm tiêu chí hệ thống thông tin Bệnh viện (HIS)

- Nhóm tiêu chí hệ thống lưu trữ và truyền tải hình ảnh (RIS-PACS)

- Nhóm tiêu chí hệ thống thông tin xét nghiệm (LIS)

- Nhóm tiêu chí phi chức năng

- Nhóm tiêu chí bảo mật và an toàn thông tin

- Nhóm tiêu chí bệnh án điện tử

Trang 37

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

* Số liệu thứ cấp:

- Số liệu báo cáo của BV Da liễu Trung ương về hoạt động ứng dụng CNTT trong năm 2018-2019 về số máy chủ, máy tính, máy in, máy tính được kết nối internet, máy tính được kết nối phần mềm, hệ thống wifi, số lượng cán bộ CNTT, tỷ lệ nhân viên được trang bị máy tính

- Số liệu báo cáo về đánh giá tiêu chí ứng dựng CNTT trong Bệnh viện theo Thông tư 54/2017/TT-BYT của Bộ Y tế năm 2018-2019

* Số liệu sơ cấp qua phỏng vấn:

- Phó giám đốc Bệnh viện, nhân viên phòng công nghệ thông tin, kế toán, bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng, kĩ thuật viên chẩn đoán hình ảnh, kĩ thuật viên xét nghiệm, nhân viên lưu trữ hồ sơ bệnh án tại phòng kế hoạch tổng hợp

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian thực hiện nghiên cứu: Từ 10/11/2019 đến 24/10/2020

- Địa điểm: Thực hiện nghiên cứu tại Bệnh viện Da liễu Trung ương

2.3 Thiết kế nghiên cứu

- Kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng Nghiên cứu định tính sẽ được tiến hành sau khi hoàn thành và xử lý kết quả nghiên cứu định lượng

- Trong nghiên cứu của chúng tôi, nghiên cứu định lượng được tiến hành nhằm thống kê để so sánh các tiêu chí ứng dụng CNTT theo Thông tư 54 của Bộ Y tế giữa

2 năm 2018 và 2019 và thông tin chung về hệ thống CNTT của Bệnh viện Số liệu thống kê cở sở hạ tầng CNTT của Bệnh viện trong 2 năm 2018 và 2019

- Nghiên cứu định tính được thực hiện khi có kết quả khảo sát sự thay đổi về ứng dụng CNTT giữa 2 năm 2018-2019 theo Thông tư 54, chúng tôi tiến hành xây dựng bộ công cụ phỏng vấn sâu các đối tượng bao gồm: phó giám đốc Bệnh viện, nhân viên phòng công nghệ thông tin, nhân viên kế toán, bác sĩ, điều dưỡng, dược sĩ, kĩ thuật viên chẩn đoán hình ảnh, kĩ thuật viên xét nghiệm, nhân viên lưu trữ hồ sơ bệnh án tại phòng kế hoạch tổng hợp nhằm mục đích làm rõ những tiêu chí chưa đạt,

Trang 38

chưa đáp ứng yêu cầu và tìm ra nguyên nhân, yếu tố ảnh hưởng Với những tiêu chí đạt và thay đổi tích cực, chúng tôi phỏng vấn sâu để tìm ra những điểm thuận lợi thúc đẩy sự phát triển ứng dụng CNTT tại Bệnh viện

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

- Cỡ mẫu định lượng: Toàn bộ báo cáo thống kê về cơ sở hạ tầng CNTT của

Bệnh viện năm 2018-2019; ứng dụng CNTT của Bệnh viện năm 2018-2019 theo TT 54/2017/TT-BYT

- Cỡ mẫu định tính: 17 nhân viên y tế làm việc tại các khoa, phòng của Bệnh

+ 2 kĩ thuật viên khoa chẩn đoán hình ảnh

+ 2 kĩ thuật viên khoa xét nghiệm

+ 1 nhân viên lưu trữ hồ sơ bệnh án phòng Kế hoạch tổng hợp

- Tiêu chuẩn chọn mẫu:

+ Các báo cáo thống kê của Bệnh viện

+ Nhân viên y tế công tác tại Bệnh viện trên 1 năm

+ Đồng ý tham gia nghiên cứu

- Tiêu chuẩn loại trừ:

+ Nhân viên y tế từ chối tham gia nghiên cứu

+ Nhân viên y tế vắng mặt tại Bệnh viện trong thời điểm tiến hành thu thập số liệu

Trang 39

2.5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Nghiên cứu định lượng

- Công cụ thu thập số liệu

+ Các bảng trống số liệu thứ cấp để thu thập thông tin từ báo cáo CNTT năm 2018-2019 bao gồm: số máy chủ, máy tính, máy in, máy tính được kết nối internet, máy tính được kết nối phần mềm, hệ thống wifi, số lượng cán bộ CNTT, tỷ lệ nhân viên được trang bị máy tính (phụ lục 2)

+ Bảng kiểm đánh giá các tiêu chí ứng dụng CNTT theo quy định của Bộ Y tế, được xây dựng theo Thông tư 54/2017/TT-BYT của Bộ Y tế ban hành ngày 29/12/2017 của BV năm 2018 và 2019 (phụ lục 1)

* Tiêu chí đánh giá mức ứng dụng CNTT của cơ sở khám chữa bệnh theo Thông

tư 54/2017/TT-BYT

Theo Thông tư 54/2017/TT-BYT, mức ứng dụng CNTT tại một cơ sở khám chữa bệnh được đánh giá theo 7 mức từ mức 1 đến mức 7 với 8 nhóm tiêu chí lớn (phụ lục 1) Cụ thể được đánh giá theo yêu cầu sau:

+ Bệnh viện đạt mức 1 khi: nhóm tiêu chí hạ tầng đạt mức 1; hệ thống HIS đạt mức 1; hệ thống CNTT Bệnh viện cho phép truy cập thông tin người bệnh trực tuyến + Bệnh viện đạt mức 2 khi: đã đáp ứng mức 1 và nhóm tiêu chí hạ tầng đạt mức 2; hệ thống HIS đạt mức 2; hệ thống CNTT Bệnh viện chia sẻ thông tin trong quá trình chăm sóc người bệnh và Bệnh viện xây dựng kho dữ liệu lâm sàng

+ Bệnh viện đạt mức 3 khi: đã đáp ứng mức 2 và nhóm tiêu chí hạ tầng đạt mức 3; hệ thống HIS đạt mức 3; hệ thống LIS đạt mức cơ bản; hệ thống quản lý điều hành chung, tiêu chí phi chức năng, độ bảo mật an toàn đạt mức cơ bản; hồ sơ điện tử; hệ thống CNTT hỗ trợ triệu chứng lâm sàng, hỗ trợ kê thuốc điện tử

+ Bệnh viện đạt mức 4 khi: đã đáp ứng mức 3 và nhóm tiêu chí hạ tầng, hệ thống HIS đạt mức 4; hệ thống LIS ở mức đầy đủ; hệ thống PACS ở mức cơ bản; hỗ trợ bác sĩ chỉ định trực tuyến; quản lý chỉ định bệnh nhân nội trú

+ Bệnh viện đạt mức 5 khi: đã đáp ứng mức 4 và nhóm tiêu chí hạ tầng, hệ thống HIS đạt mức 5; hệ thống PACS ở mức nâng cao (không sử dụng phim trong chẩn đoán hình ảnh)

Trang 40

+ Bệnh viện đạt mức 6 khi: đã đáp ứng mức 5 và nhóm tiêu chí hạ tầng, hệ thống HIS đạt mức 6; bệnh án điện tử ở mức cơ bản; hệ thống quản lý chung, tiêu chí phi chức năng, độ bảo mật an toàn ở mức nâng cao; hỗ trợ phác đồ điều trị; hệ thống hoá các biểu mẫu; quản lý thuốc của bệnh nhân theo quy trình khép kín

+ Bệnh viện đạt mức 7 khi: đã đáp ứng mức 6 và nhóm tiêu chí hạ tầng, hệ thống HIS đạt mức 7; bệnh án điện tử ở mức nâng cao; hệ thống quyết định lâm sàng đạt cấp 3; triển khai biểu mẫu với kho dữ liệu; hệ thống luôn sẵn sàng chia sẻ thông tin lâm sàng; hệ thống kết xuất dữ liệu phục vụ yêu cầu trong Bệnh viện

- Phương pháp thu thập

+ Học viên xin phép Lãnh đạo Bệnh viện về việc sử dụng số liệu thống kê thứ cấp của Bệnh viện

+ Học viên trực tiếp đến phòng CNTT, xin phép với Lãnh đạo phòng, trình bày

rõ nội dung, mục đích của nghiên cứu để đơn vị hỗ trợ cung cấp số liệu thứ cấp theo yêu cầu của nghiên cứu

+ Sử dụng báo cáo, kết quả đánh giá các tiêu chí ứng dụng CNTT của Bệnh viện theo Thông tư 54/2017/TT-BYT năm 2018 và năm 2019

2.5.2 Nghiên cứu định tính

- Công cụ thu thập số liệu định tính: Mẫu phiếu hướng dẫn phỏng vấn sâu bao

gồm các nội dung sau:

+ Đánh giá những khó khăn, thuận lợi khi thực hiện ứng dụng CNTT đáp ứng theo thông tư 54/2017/TT-BYT

+ Đánh giá về hạ tầng CNTT, ưu điểm, nhược điểm của phần mềm QLBV + Đánh giá về lợi ích của ứng dụng phần mềm mang lại tại các khoa, phòng và toàn Bệnh viện

+ Các yếu tố về nhân lực, tài chính, cơ sở hạ tầng, văn bản về CNTT ảnh hưởng đến việc triển khai

+ Các kiến nghị, đề xuất với lãnh đạo về lĩnh vực liên quan đến CNTT của Bệnh viện

Ngày đăng: 31/01/2021, 20:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w