1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng tới cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh tại 02 phòng khám đa khoa trực thuộc bệnh viện quận thủ đức thành phố hồ chí minh năm 2017 2019

150 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 3,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình nghiên cứu đề tài: Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng tới cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh tại 02 Phòng khám đa khoa trực thuộc Bệnh viện Quận Thủ Đức Thành

Trang 1

NGUYỄN VĂN HIẾU

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CUNG CẤP DỊCH VỤ KHÁM CHỮA BỆNH TẠI 02 PHÕNG KHÁM ĐA KHOA TRỰC THUỘC BỆNH VIỆN QUẬN THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NĂM 2017 - 2019

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802

HÀ NỘI, 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN VĂN HIẾU

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI

CUNG CẤP DỊCH VỤ KHÁM CHỮA BỆNH TẠI 02

PHÕNG KHÁM ĐA KHOA TRỰC THUỘC BỆNH VIỆN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu đề tài: Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng tới cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh tại 02 Phòng khám đa khoa trực thuộc Bệnh viện Quận Thủ Đức Thành phố Hồ Chí Minh năm 2017-2019, tôi đã gặp phải rất nhiều

khó khăn Nhưng nhờ có sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo trường Đại học Y tế Công cộng; ban lãnh đạo của 02 phòng khám cũng như các phòng ban trong bệnh viện quận Thủ Đức, tôi đã hoàn thành đề tài theo đúng kế hoạch

Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến hai giáo viên hướng dẫn – TS.BS Nguyễn Thế Vũ và TS.Nguyễn Quỳnh Anh đã tận tình hướng dẫn, chỉ dạy trong suốt quá trình thực hiện đề tài Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học và các thầy cô giáo trường Đại học Y tế Công cộng đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình viết luận văn thạc sĩ

Xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo bệnh viện quận Thủ Đức đã tạo điều kiện cho tôi tìm hiểu và nghiên cứu tại 02 phòng khám đa khoa trực thuộc và lời cảm ơn gửi đến các anh chị tại PKĐK Linh Xuân, PKĐK Linh Tây cũng như các phòng ban trong bệnh viện quận Thủ Đức đã giúp đỡ, hướng dẫn và cung cấp tài liệu nghiên cứu, trao đổi và giải đáp những vướng mắc trong quá trình nghiên cứu đề tài

Trong bài luận chắc hẳn không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Tôi mong muốn sẽ nhận được nhiều đóng góp quý báu từ quý thầy cô và ban cố vấn để

đề tài được hoàn thiện hơn nữa và có ý nghĩa thiết thực áp dụng trong thực tiễn cuộc sống

Xin trân trọng cảm ơn!

Tp.HCM, ngày 15 tháng 12 năm 2020

Học viên

Nguyễn Văn Hiếu

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 4

1.1.1 Khái niệm về dịch vụ y tế và dịch vụ khám chữa bệnh 4

1.1.2 Khái niệm về chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh 7

1.1.3 Tổng quan về Hệ thống y tế Việt Nam 7

1.1.4 Cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh 9

1.1.5 Chức năng hoạt động và nhiệm vụ chuyên môn của PKĐKTT 11

1.2 Các nghiên cứu thực trạng cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế 12

1.2.1 Thực trạng cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh ở một số quốc gia trên thế giới 12

1.2.2 Thực trạng cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh tại Việt Nam 15

1.2.3 Thực trạng cung cấp dịch vụ khám bệnh chữa bệnh tại Thành Phố Hồ Chí Minh 20

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh 21

1.4 Giới thiệu về Bệnh viện Quận Thủ Đức và các Phòng khám đa khoa trực thuộc Bệnh viện Quận Thủ Đức 28

1.4.1 Giới thiệu về Bệnh viện Quận Thủ Đức 28

1.4.2 Giới thiệu về phòng khám đa khoa Linh Tây trực thuộc bệnh viện quận Thủ Đức (Khoa khám bệnh 2) 29

1.4.3 Giới thiệu về Phòng khám đa khoa Linh Xuân trực thuộc bệnh viện quận Thủ Đức (khoa khám bệnh 3) 32

1.5 KHUNG LÝ THUYẾT 35

Trang 5

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

2.1 Đối tượng nghiên cứu 36

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng 36

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu định tính 36

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 36

2.3 Thiết kế nghiên cứu 36

2.4 Cỡ mẫu 36

2.4.1 Nghiên cứu định lượng 36

2.4.2 Nghiên cứu định tính 37

2.5 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu 37

2.5.1 Xây dựng bộ dụng cụ 37

2.5.2 Thu thập số liệu 38

2.6 Các biến số nghiên cứu 38

2.7 Phương pháp phân tích số liệu 39

2.7.1 Số liệu định lượng 39

2.7.2 Số liệu định tính 39

2.8 Đạo đức nghiên cứu 40

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41

3.1 Thông tin chung về các phòng khám đa khoa trực thuộc bệnh viện quận Thủ Đức 41

3.1.1 Nhân sự tại 02 PKĐK Linh Xuân và Linh Tây 41

3.1.2 Cơ sở vật chất của PKĐK Linh Xuân và Linh Tây từ năm 2017-2019 43

3.1.3 Trang thiết bị y tế và dược của PKĐK Linh Xuân và Linh Tây từ 2017-2019 45

3.1.4 Về nguồn thu của PKĐK Linh Xuân và Linh Tây từ 2017-2019 49

3.1.5 Hệ thống thông tin của của PKĐK Linh Xuân và Linh Tây từ 2017-2019 52

3.2 Kết quả cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh của PKĐK Linh Xuân và Linh Tây từ 2017-2019 52

3.2.1 Kết quả hoạt động khám chữa bênh 52

3.2.2 Khả năng cung cấp dịch vụ kỹ thuật của PKĐK Linh Xuân và Linh Tây từ 2017-2019 64

Trang 6

3.2.3 Sự hài lòng của người bệnh tại PKĐK Linh Xuân và Linh Tây 67

3.3Những yếu tố ảnh hưởng tới kết quả cung cấp dịch vụ KCB của PKĐK Linh Xuân và Linh Tây 69

3.3.1 Yếu tố về cơ sở vật chất, trang thiết bị, thuốc của 02 phòng khám đa khoa trực thuộc bệnh viên 69

3.3.2 Yếu tố về nhân sự 71

3.3.3 Tài chính 73

3.3.4 Hệ thống công nghệ thông tin 75

3.3.5 Quản lý điều hành 76

Chương 4: BÀN LUẬN 78

4.1 Thực trạng cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh tại 02 phòng khám đa khoa trực thuộc bệnh viện quận Thủ Đức 78

4.1.1 Kết quả cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh của PKĐK Linh Xuân và Linh Tây 78

4.1.2 Khả năng cung cấp các dịch vụ kỹ thuật PKĐK Linh Xuân và Linh Tây 82

4.1.3 Sự hài lòng của người bệnh tại PKĐK Linh Xuân và Linh Tây 84

4.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh tại PKĐK Linh Xuân và Linh Tây: 85

4.2.1 Yếu tố về nhân lực 85

4.2.2 Yếu tố cở sở hạ tầng, trang thiết bị và thuốc của PKĐK Linh Xuân và Linh Tây 88

4.2.3 Yếu tố về tài chính 92

4.2.4 Yếu tố hệ thống công nghệ thông tin 94

4.2.5 Yếu tố về quản lý điều hành, chính sách 95

4.3 Hạn chế của nghiên cứu và sai số 96

KẾT LUẬN 98

KIẾN NGHỊ 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Phụ lục 1: Biến số nghiên cứu 105

Trang 7

Phụ lục 2: Biểu mẫu thu thập số liệu về thực trạng cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh của các PKĐKTT bệnh viện quận Thủ Đức gia đoạn 2017 – 2019 110 Phụ lục 3: Bảng trống về nhân sự, cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài chính, phần mềm, thuốc 113 Phụ lục 4: Hướng dẫn Phỏng vấn sâu cho Ban giám đốc, Lãnh đạo P.KHTH của bệnh viện 119 Phụ lục 5: Hướng dẫn Phỏng vấn sâu cho Lãnh đạo PK 123 Phụ lục 6: Hưỡng dẫn Thảo luận nhóm với đối tượng là các nhân viên y tế làm việc tại PKĐKTT 126

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BHYT

BHXH

: Bảo hiểm y tế : Bảo hiểm xã hội

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 Số lƣợng nhân sự tại 02 Phòng khám từ năm 2017-2019 41

Bảng 2 Trình độ chuyên môn của Bác sĩ tại 02 Phòng khám 42

Bảng 3 Cở sở vật chất các khoa phòng tại PKĐK Linh Xuân 43

Bảng 4 Số lƣợng trang thiết bị của từng phòng khám so với quy định Bộ Y tế năm 2017 – 2019 và Danh mục trang thiết bị cấp cứu thiết yếu của phòng khám theo quy định của Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh 45

Bảng 7 Số lƣợng thuốc cấp cứu thiết yếu của phòng khám theo quy định của Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh 48

Bảng 8 Tình hình nguồn thu của PKĐK Linh Xuân 49

Bảng 9 Tình hình nguồn thu của PKĐK Linh Tây 50

Bảng 10 Tình hình nguồn thu của 2 PKĐK 51

Bảng 11: Số liệu khám chữa bệnh Phòng khám đa khoa Linh xuân 52

Bảng 12: Số liệu khám chữa bệnh Phòng khám đa khoa Linh Tây 53

Bảng 13: Số liệu khám chữa bệnh của 02 phòng khám 54

Bảng 14 Số ca cấp cứu của 2 PKĐK 56

Bảng 15 Số lƣợt KCB theo từng chuyên khoa tại PKĐK Linh Xuân 57

Bảng 16 Số lƣợt KCB theo từng chuyên khoa tại PKĐK Linh Tây 58

Bảng 17 Số lƣợt khám chữa bệnh theo từng chuyên khoa tại 02 PKĐK 59

Bảng 18 Số lƣợng thực hiện cận lâm sàng PKĐK Linh Xuân 60

Bảng 19 Số lƣợng thực hiện cận lâm sàng PKĐK Linh Tây 62

Bảng 20 Số lƣợng thực hiện cận lâm sàng của 2 PKĐKTT 62

Bảng 21 Danh mục kỹ thuật đƣợc Sở Y tế phê duyệt/ danh mục kỹ thuật tuyến huyện tại phòng khám đa khoa Linh Xuân, Linh Tây 64

Bảng 22 Danh mục kỹ thuật triển khai thực tại các PKĐK 65

Bảng 23 Số lƣợng phẫu thuật, thủ thuật PKĐK Linh Xuân 65

Bảng 24 Tỷ lệ % hài lòng tại phòng khám Linh Xuân 67

Bảng 25 Tỷ lệ % hài lòng tại phòng khám Linh Tây 68

Trang 10

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Đặt vấn đề: Thực hiện chủ trương của Sở Y tế và Lãnh đạo Thành phố theo

hướng “mang bệnh viện tới gần dân”, nhằm cung ứng đầy đủ các loại hịnh dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh viện tới người dân nằm cách xa bệnh viện Trước nhu cầu giảm tải cho bệnh viện và thực hiện chủ trương “mang bệnh viện tới gần dân” Bệnh viện quận Thủ Đức đã lên kế hoạch triển khai mô hình hoạt động phòng khám đa khoa trực thuộc tại các phường trên địa bàn quận, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân thuận tiện trong việc khám chữa bệnh và cũng một phần giảm tải cho bệnh viện Kể từ khi đi hoạt động tới nay vẫn chưa có nghiên cứu hoặc đánh giá nào

về tình hình hoạt động cũng như tìm ra những các yếu tổ ảnh hướng tới việc cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh tại 02 phòng khám đã khoa Linh Xuân và Linh Tây

trực thuộc bệnh viện quận Thủ Đức

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp định lượng

và định tính Phương pháp nghiên cứu định lượng tổng hợp số liệu thứ cấp, quan sát dịch vụ khám chữa bệnh tại 02 phòng khám đa khoa trực từ 2017 đến 2019 và phương pháp định tính nhằm tìm ra nhưng yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh

Kết quả: Tổng số lượng nhân viên y tế công tác tại cả 2 phòng khám đều tăng

theo từng năm, trong năm 2019, PKĐK Linh Xuân là 23 bác sĩ (có 6 bác sĩ có trình

độ sau đại học), chiếm tới 33,8% so với tổng nhân viên còn PKĐK Linh Tây là 8 bác sĩ (có 4 bác sĩ có trình độ sau đại học) chiếm 26, 7% tổng nhân viên Tổng số lượt khám chữa bệnh của 02 phòng khám năm 2017 là 145.494 lượt, đến năm 2018

là 227.555 lượt và năm 2019 là 267.77 lượt Danh mục kỹ thuật của PKĐK Linh Xuân (1.194 kỹ thuật, tỷ lệ thực hiện được là 72%) và PKĐK Linh Tây (561 kỹ thuật, tỷ lệ thực hiện được là 63,2%) Tỷ lệ hài lòng chung người bệnh tại PKĐK Linh Xuân đạt 74,88% và PKĐK Linh Tây đạt 93,71% Nguồn thu của 2 phòng khám tăng và ổn định theo thời từ năm 2017 có 34,6 tỷ tăng lên 77,8 tỷ năm 2019 Một số yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động khám chữa bệnh của 02 phòng khám đó là yếu tố về nhân sự, thiếu các bác sĩ có trình độ sau đại học, đặc biệt là các chuyên khoa Cơ sở vật chất của phòng khám Linh Tây còn chật hẹp, thiếu một số trang thiết bị để phục vụ cho người dân Một số thuốc nằm ngoài danh mục cho pho phép dùng tại phòng khám hoặc không được bảo hiểm y tế chi trả Công tác phối hợp về

an ninh giữa phòng khám và chính quyền địa phương chưa được hiệu quả

Khuyến nghị: Cải tạo và nâng cấp mở rộng cơ sở vật chất cho PKĐK Linh

Tây và tăng thời gian chi trả khấu hao đối với các trang thiết bị tại 2 PKĐK

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngày 01/01/2016, Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Bảo hiểm y tế về chính sách mở thông tuyến khám, bệnh tuyến huyện, tuyến xã chính thực có hiệu lực, điều này đã dẫn tới tình trạng quá tải tại một số bệnh viện Quận Huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó có Bệnh viện Quận Thủ Đức (1) Tính đến hết ngày 31/12/2016, số lượt khám của bệnh viện tăng so với năm 2015 là 24%, cụ thể

từ 914.723 lượt khám (trong đó số lượt khám chữa bệnh bảo hiểm y tế chiếm 82%) lên tới 1.131.782 lượt khám (trong đó số lượt khám chữa bệnh bảo hiểm y tế chiếm 85%) Từ năm 2017 đến nay vấn đề quá tải bệnh viện xảy ra chủ yếu tại khu khám bệnh của bệnh viện Trung bình khám bệnh ngoại trú năm 2019 là 6.500 lượt khám bệnh/ngày, ngày khám cao nhất 7.500 lượt khám bệnh (2)

Thực hiện chủ trương của Sở Y tế và Lãnh đạo Thành phố theo hướng

“mang bệnh viện tới gần dân”, nhằm cung ứng đầy đủ các loại hịnh dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh viện tới người dân nằm cách xa bệnh viện Trước nhu cầu giảm tải cho bệnh viện và thực hiện chủ trương “mang bệnh viện tới gần dân”, Bệnh viện quận Thủ Đức đã lên kế hoạch triển khai mô hình hoạt động phòng khám đa khoa trực thuộc tại các phường trên địa bàn quận, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân thuận tiện trong việc khám chữa bệnh và cũng một phần giảm tải cho bệnh viện

Tính đến năm 2019, bệnh viện đã thành lập và cho đi vào hoạt động 3 Phòng khám đa khoa nằm ở Phường Linh Xuân và Phường Linh Tây Phòng khám đa khoa Linh Tây, Linh Xuân trực thuộc Bệnh viện Quận Thủ Đức được hình thành theo phương thức đối tác Công – Tư: Thương hiệu bệnh viện công và đội ngũ bác sĩ bệnh viện viện công kết hợp với vốn đầu tư để xây dựng phòng khám Đây là mô hình đầu tiên được triển khai tại Thành phố Hồ Chí Minh Cả 2 phòng khám được thành lập độc lập có giấy phép hoạt động riệng và đặt tại các khu vực tập trung đông dân cư, khu công nghiệp nằm cách xa bệnh viện Các phòng khám có nhiệm

vụ thực hiện chuyên môn kỹ thuật: cấp cứu, khám và điều trị ngoại trú, khám sàng lọc cho bệnh nhân trên địa bàn Quận Thủ Đức và các tỉnh lân cận với mục đích đem bệnh viện gần tới người dân, giúp người dân dễ dàng tiếp cận với những kỹ thuật

Trang 12

của bệnh viện tuyến huyện tại nơi mình cư trú, hạn chế việc đi lại cho người dân và đồng thời giảm bớt tình số lượng bệnh nhân tại khoa khám bệnh của bệnh viện Số lượt khám chữa bệnh của 02 phòng khám ngày càng tăng lên, trung bình số lượt khám trên ngày của 02 phòng khám năm 2017 là 200 lượt khám/ngày, tới năm 2018 tăng lên hơn 300 lượt khám/ngày, đến năm 2019 tăng lên hơn 350 lượt khám/ngày

Tuy nhiên kể từ khi đi hoạt động tới nay vẫn chưa có nghiên cứu hoặc đánh giá nào đề cập tới số liệu, tình hình cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh của các phòng khám đa khoa trực thuộc Bệnh viện Quận Thủ Đức, đồng thời cũng chưa phân tích được yếu tố nào ảnh hưởng tới việc cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh của các phòng khám? Cuối năm 2019, Bệnh viện đã có chủ trương tiếp tục mở rộng và thành lập các phòng khám đa khoa trực thuộc ở các phường còn lại nhằm phục vụ nhu cầu của người dân Để nhà nhà lãnh đạo có được cái nhìn tổng thể và rõ nét nhất về thực trạng hoạt động khám chữa bệnh của các phòng khám cũng như biết được các yếu tố ảnh hướng tới việc cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh tại phòng khám, từ đó đưa ra các chính sách, định hướng phát triển cho các phòng khám và đồng thời rút kinh nghiệm khi triển khai tiếp các phòng khám tại các phường khác trên địa bàn, hoặc nhân rộng mô hình phòng khám tại nơi khác Do đó, chúng tôi

tiến hành nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng tới cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh tại 02 Phòng khám đa khoa trực thuộc Bệnh viện Quận Thủ Đức Thành phố Hồ Chí Minh năm 2017-2019”

Trang 13

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh tại 02 phòng khám

đa khoa trực thuộc Bệnh viện Quận Thủ Đức giai đoạn từ năm 2017 - 2019

2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh tại 02 phòng khám trực thuộc Bệnh viện Quận Thủ Đức giai đoạn từ năm 2017 – 2019

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu

1.1.1 Khái niệm về dịch vụ y tế và dịch vụ khám chữa bệnh

Theo Tổ chức y tế thế giới định nghĩa: Dịch vụ y tế bao gồm tất cả các dịch

vụ liên quan đến phòng bệnh, chẩn đoán và điều trị bệnh hoặc chương trình nâng cao, cải thiện và phục hồi sức khỏe Chúng bao gồm các DVYT cá nhân và DVYT cộng đồng

Đặc điểm của dịch vụ y tế

Tính chất vô hình: Dịch vụ xuất hiện đa dạng nhưng không tồn tại theo một

mô hình sản xuất cụ thể như đối với sản xuất hàng hóa

Tính chất đúng thời điểm và không thể dự trữ, không thỏa mãn hai điều kiện này thì dịch vụ trở nên không có giá trị

Tính không xác định: Dịch vụ không giống nhau giữa các lần phụ vụ cho dù cũng một cơ sở y tế hay một loại hình phục vụ Chất lượng dịch vụ phụ thuộc nhiều yếu tố: Thời gian, không gian, trạng thái tâm lý…

Tính đồng thời: dịch vụ không tồn tại độc lập, mà bị phụ thuộc bởi người tạo ra dịch vụ

Tính không chuyên quyền sở hữu được: Khi mua một dịch vụ, khách hàng chỉ được quyền sử dụng dịch vụ, hưởng lợi ích dịch vụ mạng lại trong một khoảng thời gian nhất định (3)

Phân loại dịch vụ y tế

DVYT được phân loại theo tính chất cộng đồng hay cá nhân của dịch vụ, gồm 3 loại: DVYT công cộng, DVYT cá nhân và DVYT cho các đối tượng cần chăm sóc ưu tiên DVYT cá nhân là các DVYT chỉ cung ứng trực tiếp cho người sử dụng dịch vụ dựa trên yêu cầu và khả năng thanh toán của người bệnh DVYT cho các đối tượng cần chăm sóc ưu tiên là các dịch vụ dành cho một số đối tượng đặc biệt như người có công với cách mạng, trẻ em, người nghèo… DVYT công cộng là các dịch vụ mà lợi ích của các dịch vụ này không chỉ giới hạn cung cấp trực tiếp (dịch vụ khám chữa bệnh) cho người sử dụng mà còn cung ứng gián tiếp cho cộng

Trang 15

đồng như các dịch vụ phòng bệnh, tuyên truyền, giáo dục sức khỏe Khám chữa bệnh là một trong những thành phần quan trọng của DVYT (3)

Khám bệnh là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để chẩn đoán và chỉ định phương pháp chữa bệnhphù hợp đã được công nhận (4)

Chữa bệnh là việc sử dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật đã được công nhận và thuốc đã được phép lưu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng cho người bệnh (4)

Dịch vụ khám chữa bệnh là một hoạt động do các cơ cở y tế được các cấp

có thẩm quyền cấp phép cung cấp cho khách hàng (người bệnh) Dịch vụ khám chữa bệnh có tính vô hình và không chuyển giao quyền sở hữu được (5)

Dịch vụ KCB là một loài hình của DVYT bao gồm tất cả các hoạt động về quảy lý, chuyên môn, nhu cầu của người bệnh liên quan đến việc thăm khám và chữa bệnh (6)

Đặc điểm của dịch vụ khám chữa bệnh: Ngoài những đặc điểm giống với DVYT,

thì dịch vụ KCB có những đặc điểm riêng

Dịch vụ khám chữa bệnh là loại hàng hóa mà người sử dụng (người bệnh) dịch vụ khám chữa bệnh thường không thể mình tự lựa chọn được mà chủ yếu do bên cung ứng (cơ sở y tế) quyết định Cụ thể người bệnh có nhu cầu khám chữa bệnh nhưng điều trị bằng phương pháp nào, thời gian bao lâu lại do bác sĩ quyết định

Dịch vụ khám chữa bệnh là lại hàng hóa gắn liền với sức khỏe, tính mạng của con người nên không giống các nhu cầu khác, khi bị ốm, mặc dù không có tiền nhưng người ta vẫn phải mua (khám chữa bệnh) đây là đặc điểm không giống với các loại hàng hóa khác và nhiều khi không thể bình đẳng trong mối quan hệ, đặc biệt trong tình trạng cấp cứu

Bên cung cấp dịch vụ KCB có thể là một tổ chức hay một cá nhân Để được

là bên cung cấp dịch vụ KCB thì phải có giấy phép hành nghề, giấy phép hoạt động theo quy định của Nhà nước (7)

Phân loại dịch vụ khám chữa bệnh

Trang 16

Phân loại theo đối tượng phục vụ: Có ba loại dịch vụ khám chữa bệnh: Khám

chữa bệnh bảo hiểm y tế, khám chữa bệnh viện phí và khám chữa bệnh theo yêu

cầu

Dịch vụ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế: là các dịch vụ cung ứng trực tiếp cho người sử dụng có tham gia bảo hiểm y tế và các chi phí khám chữa bệnh của người sử dụng do cơ quan bảo hiểm mà họ tham gia chi trả theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế và của từng cơ quan bảo hiểm

Dịch vụ khám chữa bệnh viện phí: là dịch vụ cung ứng cho các đối tượng đến cấp cứu, khám bệnh tại các cơ sở y tế

Dịch vụ khám chữa bệnh theo yêu cầu là các dịch vụ khám chữa bệnh chỉ cung ứng trực tiếp cho người bệnh khi có yêu cầu riêng (8)

Phân loại theo phân tuyến kỹ thuật và danh mục kỹ thuật trong khám chữa bệnh

Danh mục kỹ thuật trong KCB là những dịch vụ KCB mà các cơ sở y tế đăng ký và được các cấp có thẩm quyền cấp phép thực hiện tại các cơ sở y tế Danh mục kỹ thuật được sắp xếp theo từng chuyên khoa cụ thể (Nội, Ngoại, Răng Hàm Mặt, Tai Mũi Họng )

Các loại hình dịch vụ khám chữa bệnh

Mỗi phòng khám đa khoa tùy theo năng lực, quy mô của mình để cung cấp cho người bệnh các dịch vụ khám chữa bệnh khác nhau Hiện nay, hầu hết các PKĐK đang cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh gồm (5):

- Khám chữa bệnh: Khám nội, khám ngoại, khám nhi, khám sản, …

- Siêm âm: siêu âm ổ bụng, siêu âm tim

- Chụp Xquang

- Xét nghiệm: Nước tiếu, máu, vi sinh

- Nội soi: nội soi tai mũi họng

- Điều trị ngoại trú

- Thủ thuật

- Cấp cứu

- Danh mục kỹ thuật

Trang 17

1.1.2 Khái niệm về chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh

Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh là khả năng của các dịch vụ KCB đáp ứng và thỏa mãn được nhu cầu của người bệnh Do vậy, chất lượng dịch vụ KCB được xác định bởi người bệnh Trong khi đó như cầu của người bệnh luôn biến động nên chất lượng dịch vụ KCB luôn luôn cũng biến động theo không gian, thời gian, điều kiên và mong muốn sử dụng của người bệnh và nhu cầu cầu của cộng đồng xã hội (5)

Chất lượng dịch vụ y tế bao gồm chất lượng chuyên môn kỹ thuật và chất lượng chức năng Chất lượng chuyên môn, kỹ thuật - là sự chính xác về kỹ thuật và phương pháp phòng bệnh, chẩn đoán, điều trị bệnh Chất lượng chuyên môn kỹ thuật được thể hiện qua các chỉ tiêu đo lường cụ thể như số lần khám, số xét nghiệm, số lần chụp Xquang, số lần siêu âm Chất lượng chức năng chính là các thức mà chất lượng chuyên môn, kỹ thuật được mang tới cho người bệnh như thế nào Các yếu tố của chất lượng chức năng khó có thể định lượng một cách khách quan mà mang tính chủ quan do người bệnh cảm nhận và đánh giá tùy thuộc vào mọng đợi và nhu cầu của họ Chất lượng chức năng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như người cung cấp dịch vụ, cở sở vật chất, thái độ giao tiếp, ứng xử … (5) Do đó sự hài lòng người bệnh được xem là yếu tố đánh giá chất lượng cung cấp dịch vụ Do vậy để đánh giá việc cung cấp dịch vụ có hiệu quả hay không, ở đề tài này chúng tôi đánh giá thông qua ý kiến của khách hàng: sự hài lòng của người bệnh về chất lượng của các dịch vụ KCB

1.2 Tổng quan về Hệ thống y tế Việt Nam

Hệ thống y tế là một phức hợp bao gồm con người, các tổ chức và nguồn lực được sắp xếp và liên kết với nhau bởi các chính sách, nhằm thúc đẩy, phục hồi

và duy trì sức khỏe Nó còn bao gồm các nỗ lực để tác động tới các yếu tố liên quan đến sức khỏe và các hoạt động cải thiện sức khỏe HTYT bao gồm các cơ sở y tế công lập, y tế tư nhân, chương trình y tế, các chiến dịch kiểm soát vec-tơ truyền bệnh, bảo hiểm y tế, các quy định pháp luật về sức khỏe và an toàn nghề nghiệp, và các hoạt động liên nghành giữa ngành y tế và các ngành khác

1.2.1 Khung Hệ thống y tế Việt Nam

Trang 18

Trên cơ sở Khung lý thuyết của hệ thống y tế với 6 cấu phần do Tổ chức Y

tế thế giới xây dựng, Việt Nam có điều chỉnh một số điểm nhỏ để phù hợp với tình hình của Việt Nam được mô tả lại như sau:

Khung lý thuyết hệ thống y tế Việt Nam (7)

Trong khung của HTYT Việt Nam có 5 hợp phần đầu vào đó là: Nhân lực; Tài chính; Hệ thống thông tin; Dược, TTB , công nghệ; Quản lý và quản trị Tất cả

5 hợp phần đầu vào là nhằm để cung ứng DVYT tốt nhất cho người dân bao gồm dịch vụ KCB, phục hồi chức năng, phòng bệnh và nâng cao sức khỏe

Tiêu chí kết nối các hợp phần đầu vào và đầu ra của HTYT là về sự tiếp cận

và sử dụng (về văn hóa, tài chính, địa lý, thông tin), độ bao phủ, chất lượng dịch vụ (chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng) và công bằng, hiệu quả

Kết quả và mục đích đầu ra cuối cùng của hệ thống y tế là nâng cao sức khỏe nhân dân, đồng thời góp phần đảm bảo công bằng xã hội và phát triển kinh tế -

xã hội (7)

Dựa vào khung phân tích phù hợp đối với từng cấu phần của hệ thống y tế, bao gồm phân tích về chính sách quốc gia và các văn bản pháp quy, phân tích theo các tiêu chí mà mỗi cấu phần của hệ thống y tế cần đạt được

Trang 19

Nhân lực y tế phải đủ về số lượng, cơ cấu và phân bố hợp lý, đảm bảo trình

độ chuyên môn theo nhiệm vụ được giao, làm việc với tinh thần trách nhiệm cao và ứng xử tốt

Cơ chế tài chính y tế cần huy động đủ nguồn kinh phí đầu tư cho y tế với cơ cấu hợp lý giữa chi tiêu công và chi tiêu tư cho y tế, bảo đảm người dân có khả năng tiếp cận và sử dụng được các dịch vụ y tế khi cần thiết, được bảo vệ để tránh khỏi rủi ro tài chính hoặc nghèo đói do các chi phí liên quan đến y tế; đồng thời khuyến khích việc sử dụng hiệu quả nguồn kinh phí sẵn có dành cho y tế

Hệ thống thông tin y tế phải thu thập, phân tích và cung cấp các thông tin tin cậy và kịp thời giúp cho việc hoạch định chính sách và quản lý các hoạt động của hệ thống y tế

Dược phẩm, vắc-xin, sinh phẩm y tế, trang thiết bị y tế, công nghệ và cơ sở

hạ tầng là những yếu tố đầu vào không thể thiếu cho hệ thống y tế vận hành Các yếu tố này cần có chất lượng đúng theo quy định để dịch vụ y tế có chất lượng, an toàn và hiệu quả

Lãnh đạo và quản trị bao gồm phải đảm bảo có các khung chính sách chiến lược, kết hợp với việc giám sát hiệu quả, xây dựng sự liên kết, các văn bản pháp quy, quan tâm đến thiết kế hệ thống và tính trách nhiệm

1.2.2 Đánh giá cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh:

Theo khung Hệ thống y tế Việt Nam và khuyến cáo của WHO, để đánh giá được việc cung cấp dịch vụ KCB tại cơ sở y tế phải dựa trên đánh giá về: nhân sự (bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, hành chính .) về cả số lượng và chất lượng chuyên môn, các điều kiện đảm bảo cho dịch vụ KCB: cơ sở vật chất, TTB, thuốc, tài chính; Sự sẵn có của các dịch vụ y tế tại cơ sở (danh mục kỹ thuật theo thông tư 43/2013/TT-BYT); quy trình cung cấp và sự hài lòng của người bệnh với môi trường cung cấp dịch vụ y tế và chất lượng cung cấp dịch vụ

Nhân lực y tế: hiện nay NLYT nhìn chung không thiếu về mặt số lượng, nhưng thiếu về trình độ chuyên môn và kinh nghiệm công tác Tùy thuộc vào yêu cầu nhiệm vụ và khả năng đáp ứng nhu cầu về khám chữa bệnh cho người dân, thì Phòng khám căn cứ vào Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV ngày

Trang 20

05/6/2007 của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ về hướng dẫn định mức biên chế trong các cơ

sở y tế nhà nước để cơ cấu nhân sự cho phòng khám (9)

Cơ sở hạ tầng: là một trong những yếu tố quan trọng của tất cả các cơ sở KCB CSVC tốt thì sẽ đáp ứng được nhu cầu hoạt động KCB Cở sở vật chất của các PK được xây dựng dựa trên tiêu chuẩn tại Thông tư 41/2011/BYT (10) và Nghị định 109/2016/NĐ-CP (11)

Trang thiết bị y tế (TTBYT) một lĩnh vực chuyên môn của ngành y tế bao gồm các loại thiết bị, dụng cụ, vật tư, phương tiện vận chuyển chuyên dụng phục vụ cho công tác KCB, phòng bệnh, nâng cao sức khoẻ nhân dân Là nhu cầu không thể thiếu với bất kỳ một cở sở y tế Hiện nay, TTB tại phòng khám đa khoa được quy định tại Quyết định 431/QĐ-BYT của Bộ Y tế ngày 10/2/2009 về việc Ban hành danh mục trang thiết bị y tế tại Phòng khám đa khoa khu vực tuyến huyện (12)

Thuốc chủ yếu: Thuốc cung ứng thường đi kèm với dịch vụ KCB Dựa vào

mô hình bệnh tật, tình hình kinh tế xã hội cũng như các tiến bộ về chuyên ngành dược thì Bộ Y tế sẽ ban hành danh mục thuốc chủ yếu cho các cơ sở y tế Hiện tại danh mục thuốc của phòng khám được xây dựng theo quy định tại Thông tư 19/2018/TT-BYT của Bộ Y tế ngày 30/8/2018 về việc Bàn hành danh mục thuốc chủ yếu sử dụng tại các cơ sở KCB (12)

Tài chính y tế: Tài chính y tế (TCYT), theo tổ chức Y tế Thế giới (2000) là một bộ phận của HTYT Tài chính y tế là nói đến chức năng của một hệ thống y tế

về khía cạnh huy động nguồn tài chính và phân bổ nguồn tài chính để chi cho nhu cầu CSSK của mọi người dân, ở cả góc độ cá nhân và tập thể trong HTYT Cơ chế tài chính y tế cần huy động đủ nguồn kinh phí đầu tư cho y tế với cơ cấu hợp lý giữa chi tiêu công và chi tiêu tư cho y tế, bảo đảm người dân có khả năng tiếp cận

và sử dụng được các dịch vụ y tế khi cần thiết, được bảo vệ để tránh khỏi rủi ro tài chính hoặc nghèo đói do các chi phí liên quan đến y tế; đồng thời khuyến khích việc

sử dụng hiệu quả nguồn kinh phí sẵn có dành cho y tế (7)

Phân tuyến chuyên môn và Danh mục kỹ thuật: Phân tuyến kỹ thuật là những quy định của cơ quan Nhà nước về phạm vi chuyên môn kỹ thuật cho các cơ

sở y tế, nó được phân thành 4 tuyến: tuyến Xã (tuyến 4), tuyến Huyện (tuyến 3),

Trang 21

tuyến Tỉnh (tuyến 2) và tuyến Trung Ương (tuyến 1) (Phân tuyến chuyên môn kỹ thuật được quy định tại Thông tư số 43/2013/TT-BYT ngày 11/12/2013 quy định chi tiết phân tuyến chuyên môn kỹ thuật đối với hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh) Việc phân tuyến chuyên môn kỹ thuật không làm hạn chế sự phát triển kỹ thuật của các cơ sở KCB Cơ quan quản lý Nhà nước dựa vào phạm vi hoạt động chuyên môn, quy mô hoạt động, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực và chuyên môn năng lực thực hiện chuyên môn kỹ thuật của cơ sở KCB để phê duyệt Danh mục kỹ thuật theo TT43/2013-BYT ngày 11/12/2013 cho các cơ sở KCB Hiện tại theo quy định tại TT/43/203-BYT, Phòng khám đa khoa được xếp vào tuyến Huyện (tuyến 3) với tổng số danh mục kỹ thuật nằm trong phân tuyến là 1.093 kỹ thuật (14)

Sự hài lòng của người bệnh: Sự hài lòng người bệnh là tích hợp giữa việc cảm nhận về chất lượng DV KCB mà họ thực sự được nhận và kinh nghiệm sẵn có hay kỳ vọng của họ Nhận được dịch vụ kỹ vọng cao hơn sẽ hài lòng Ngược lại, người bệnh nhận được dịch vụ thấp hơn so với kinh nghiệm của họ sẽ không hài lòng Sự hài lòng của người bệnh (chất lượng chức năng) là một chỉ số quan trọng trong việc đánh giá thực trang cung cấp như về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, môi trường cung cấp dịch vụ và đánh giá chất lượng cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế (5)

1.3 Chức năng hoạt động và nhiệm vụ chuyên môn của PKĐKTT

Hiện nay, các PKĐK thực hiện chức năng và nhiệm vụ chuyên môn được quy định tại Quyết định 1327/2002/QĐ-BYT về việc Ban hành tiêu chuẩn thiết kế phòng khám đa khoa khu vực tiêu chuẩn ngành (15)

Trang 22

mọi mặt và thực hiện các nhiệm vụ của Ban giám đốc Bệnh viện giao Phòng khám được xem là khoa khám bệnh thứ 2 của bệnh viện (16)

1.3.1.2 Nhiệm vụ chuyên môn

- Là nơi thực hiện các hoạt động chăm sóc bảo vệ sức khoẻ ban đầu, cung

cấp các dịch vụ: phòng bệnh, khám - chữa bệnh, điều trị ngoại trú, điều trị các bệnh thông thường và một số chuyên khoa

- Tiếp nhận tất cả các trường hợp người bệnh đến khám và điều trị

- Thực hiện sơ cứu, cấp cứu thông thường và hỗ trợ chuyển người bệnh lên

tuyến trên Phân công cán bộ đi cấp cứu tại hiện trường khi có yêu cầu

- Khám - chữa bệnh, phát thuốc, điều trị ngoại trú các bệnh thông thường, các

chuyên khoa Nội – Ngoại – Sản – Nhi, Răng Hàm Mặt

- Tạm lưu bệnh nhân cần phải theo dõi, các bệnh nhân nặng cần chờ chuyển

lên tuyến trên Các trường hợp phải điều trị nội trú sẽ chuyển về bệnh viện điều trị

- Quản lý sức khoẻ các đối tượng theo quy định và điều trị ngoại trú các bệnh

mãn tính, bệnh xã hội, bệnh nghề nghiệp theo phân công của tuyến trên

- Tham gia trực tiếp công tác y tế cộng đồng: tuyên truyền giáo dục về chăm

sóc sức khoẻ, tư vấn sức khoẻ sinh sản, tiêm chủng, dinh dưỡng, thuốc thiết yếu

- Phòng chống dịch bệnh và bệnh xã hội, y tế dự phòng, vệ sinh dịch tễ và tổ

chức bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ y tế cơ sở

- Hướng dẫn vệ sinh môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm, phòng chống

dịch bệnh lây nhiễm và bệnh không lây nhiễm

- Tư vấn trực tiếp hoặc gián tiếp về khám bệnh, chữa bệnh, phòng bệnh,

chăm sóc sức khỏe cho người dân và cộng đồng

- Tham gia truyền thông, giáo dục sức khỏe để góp phần nâng cao nhận thức

của người dân về phòng bệnh tích cực và chủ động, phòng ngừa các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe và bệnh tật (16), (24)

1.4 Các nghiên cứu thực trạng cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh tại các cơ

sở y tế

1.4.1 Thực trạng cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh ở một số quốc gia trên thế giới

Trang 23

Tại Lào (2013), tác giả Sathathone đã tiến hành nghiên cứu về tình hình hoạt động khám chữa bệnh tại bệnh viện tại bệnh viện Chăm Pa Sắc từ năm 1995 đến 2012 Kết quả nghiên cứu cho thấy thực trạng hoạt động KCB: Số bệnh nhân đến khám và điều trị tại các bệnh viện có xu hướng tăng lên, năm 1995 là 12.485 lượt, năm 2012 là 21.660 lượt Số phẫu thuật và làm thủ thuật cũng ngày một tăng cao, tương ứng năm 1995 là 9.378 ca và 4.356 ca, năm 2012 là 11.645 ca và 4.868

ca Công suất sử dụng giường bệnh từ 66,2% năm 2009 đến năm 2012 là 77,3% Tổng số lượt cận lâm sàng tăng, năm 2012 có 145.657 lượt xét nghiệm, trong đó xét nghiệm chiếm tới 122.285 lượt, Xquang là 15.030 lượt, siêu âm chỉ có 539 lượt Số lượng bệnh nhân chuyển tuyến ít, chỉ có 10 ca phải chuyển tuyến Tỷ lệ bệnh lây, bệnh không lây và tai nạn ngộ độc tương ứng trong năm 1995 là 49,6%; 38,4% và 11,9%; năm 2012 là 37,1%; 42,8% và 20,1%) Theo hệ cơ quan, các nhóm bệnh có

tỷ lệ cao là bệnh của hệ thống hô hấp, sinh dục tiết niệu, hệ tiêu hóa, tương ứng năm

1995 là 37,36%; 9,94%; và 8,17%, năm 2012 là 38,92%; 12,14% và 10,00%) Bệnh nhân tập trung cao nhất vào khoảng tháng 6 đến tháng 8 hàng năm Nhân sự hiện tại của bệnh viện là 296 nhân viên (có 34 nhân viên được đào tạo sau đại học) trong đó

có tới 52 bác sĩ và 136 điều dưỡng Trang thiết bị của bệnh viện được trang bị khá đầy đủ theo phạm vị hoạt động chuyên môn (17)

Tại Ukraine (2013), tác giả John W Peabody đã tiến hành đánh giá cấp quốc gia về cung cấp dịch vụ y tế thực hành chăm sóc lâm sàng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe Ngiên cứu được triển khai tại 136 bệnh viện và 125 phòng khám đa khoa với mục tiêu định lượng sự sẵn có của các vật liệu cần thiết để cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người bệnh với các chỉ số về tình trạng sẵn có của thiết bị y tế; nhân sự; tài chính; và khả năng xét nghiệm có sẵn tại cơ sở; sự sẵn có của các vật

tư lâm sàng cơ bản Kết quả nghiên cứu cho thấy thực trạng về cung cấp dịch vụ: Mỗi cơ sở được bố trí bởi một số lượng lớn nhân sự: bệnh viện Tỉnh có tới 180 bác

sĩ và 682 điều dưỡng, nhân viên cận lâm sàng, bệnh viện tuyến Huyện có 78 bác sĩ

và 262 điều dưỡng, nhân viên cận lâm sàng, phòng khám đa khoa có 43 bác sĩ và 91 điều dưỡng, nhân viên cận lâm sàng Tỷ lệ các thiết bị trong tình trạng hoạt động tốt: PKĐK là 34.7%, Bệnh viện đa khoa Tỉnh là 80% và Bệnh viện Huyện 55,7%

Trang 24

Tỷ lệ các xét nghiệm được thực hiện so với quy định tại các cơ sở đạt: PKĐK là 73%, Bệnh viện đa khoa Tỉnh là 92,2% và Bệnh viện Huyện 79,7% Tỷ lệ vật tư y

tế săn có tại các cơ sở: PKĐK là 69,6%, Bệnh viện đa khoa Tỉnh là 85,4% và Bệnh viện huyện 79,2% Chi phí hàng năm/cơ sở của bệnh viện Tỉnh là 6.411.543 USD, bệnh viện Huyện là 2.208.281 USD, phòng khám đa khoa là 724.702 USD Kết quả cung cấp dịch vụ của các cơ sở cung cấp: Phòng khám đa khoa trung bình có tổng 20.013 lượt bệnh nhân ngoại trú một tháng, trong khi các bệnh viện đa khoa Tỉnh và Huyện trung bình lần lượt là 14.631 lượt khám và 13.259 lượt khám Trong đó số lượt nhập viện điều trị nội trú/tháng/bệnh viện là 1.059 lượt (18)

Tại Hàn Quốc (2018), tác giả Doo-Sup Kim đã nghiên cứu Việc cung cấp DVYT của 2 PKĐK dành cho các vận động viên tham dự thế vận hội mùa Đông PyeongChang 2018 Thế vận hội Olympic mùa đông PyeongChang bao gồm 13 địa điểm thi đấu và 10 địa điểm không thi đấu Do đó 02 Phòng khám đa khoa PyeongChang (PC) và Phòng khám đa khoa Gangneung (GC) đã được xây dựng ở mỗi làng Olympic nhằm phục vụ cho thế vận hội diễn ra từ 26 tháng 1 đến ngày 28 tháng 2 năm 2018 Thực trạng CSVC phòng khám được xây dựng với 20 phòng và được trang bị đầy đủ các loại trang thiết bị y tế: Máy xét nghiệm, máy Xquang, siêu

âm, MRI Nhân sự phòng khám gồm có bác sĩ, nha sĩ, y tá, vật lý trị liệu, kỹ thuật viên X quang, kỹ thuật viên phòng thí nghiệm y tế, bác sĩ nhãn khoa, quản lý thông tin y tế và dịch giả với phạm vi dịch vụ cung cấp là cấp cứu, khám chấn thương chỉnh hình, phụ sản, nhãn khoa, nha khoa, mắt, tai mũi họng, nội tổng quát, tim mạch, thần kinh, châm cứu Kết quả cung cấp cho thấy có trong số 2920 vận động viên tham gia Thế vận hội Olympic mùa Đông PyeongChang, có 1402 vận động viên tới khám và điều trị tại phòng khám Trong đó các bệnh liên quan đến nhiễm trùng đường hô hấp trên chiếm tới 47,9%( bao gồm viêm xoang, viêm mũi và viêm họng cấp tính, viêm amidan, là mục thường gặp nhất trong hệ hô hấp), có 107 trường hợp mắc bệnh tai mũi họng, trong đó có ba trường hợp bị cúm, sau đó là nhãn khoa, bệnh đường tiêu hóa, da liễu, tiết niệu, thần kinh và bệnh tim mạch Bệnh đường tiêu hóa là 20 trường hợp và chấn thương là 237 trường hợp

Trang 25

Cận lâm sang gồm có 159 lượt chụp Xqung kỹ thuật số, 20 lượt siêu âm, 44 lượt chụp MRI và 515 lượt xét nghiệm trong đó có 136 xét nghiệm về cúm (19)

Tại Singapore, dịch vụ CSSK ban đầu được cung ứng thông qua mạng lưới các phòng khám đa khoa và các phòng khám tư nhân Phòng khám đa khoa cung ứng dịch vụ CSSK ban đầu tại Singapore với nhiều dịch vụ chăm sóc cho cả bệnh cấp tính và bệnh mạn tính Các loại hình dịch vụ chăm sóc sức khỏe khá toàn diện như: khám bệnh, điều trị ngoại trú, khám sức khỏe và sàng lọc bệnh, giáo dục sức khoẻ, tiêm chủng và các dịch vụ xét nghiệm Hoạt động của các phòng khám đa khoa tại Singapore đều theo nguyên tắc “1 điểm dừng”, người bệnh không phải đến

cơ sở y tế khác để làm xét nghiệm, mua thuốc hoặc thực hiện các kỹ thuật chẩn đoán Do các phòng khám đa khoa được chính phủ trợ giá nên thu hút đông bệnh nhân, trung bình khoảng 58 bệnh nhân mỗi ngày, dẫn đến thời gian chờ đợi lâu hơn (so với phòng khám tư nhân khoảng 30 bệnh nhân mỗi ngày) Tại các phòng khám

đa khoa, công dân Singapore dưới 18 tuổi và trên 65 tuổi được giảm giá tới 75% phí tham vấn và điều trị, trong khi tất cả các công dân Singapore khác được giảm 50% Singapore có 20 phòng khám đa khoa cung cấp cho khoảng 20% số lượt chăm sóc sức khỏe ban đầu; và 2.000 phòng khám tư nhân cung cấp cho 80% còn lại Tuy nhiên, có một sự mất cân đối trong quản lý bệnh không lây nhiễm: các phòng khám

tư nhân chiếm khoảng 80% tổng số lượt khám nhưng chỉ quản lý 55% bệnh nhân mắc bệnh lý mãn tính, trong khi phòng khám đa khoa phải quản lý 45% bệnh nhân mãn tính còn lại (20)

1.4.2 Thực trạng cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh tại Việt Nam

Hệ thống Bệnh viện Việt Nam được sắp xếp trên cơ sở phân bố rộng khắp, thuận tiện cho khả năng tiếp cận của người dân ở các vùng miền khác nhau Tính đến tháng 6/2014, cả nước có 1.358 bệnh viện Trong đó, bệnh viện công lập là chủ yếu, bao gồm 1188 bệnh viện, chiếm tới 87,4% tổng số bệnh viện Bệnh viện công lập thuộc ngành y tế quản lý bao gồm 1157 bệnh viện, đựợc chia thành 3 tuyến: tuyến Trung Ương, tuyến Tỉnh và tuyến Huyện và có 1.081 trung tâm y tế, 998 phòng khám đa khoa, 11.121 trạm y tế cấp xã/phường; 20.961 cơ sở khám, chữa

Trang 26

bệnh thuộc mọi thành phần kinh tế: nhà nước, ngoài nhà nước, và đầu tư trực tiếp nước ngoài

Bảng 1: Số liệu khám chữa bệnh từ năm 2013 – 2018 của cả nước (21, 22, 23)

Tại bệnh viên Đa khoa Tỉnh Đắc Nông năm 2012, tác giả Nguyễn Thế Vinh

đã tiến hành nghiên cứu về Thực trạng công tác khám chữa bệnh ngoại trú và sự hài lòng của người bệnh tại khoa khám bệnh, nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang cho thấy thực trạng khám chữa bệnh: Tổng số nhân sự tại khoa khám bệnh là 23 nhân viên trong đó 4 bác sĩ, hiện tại khoa có 21 bàn khám với 9 bàn khám chuyên khoa, nhân sự bác sĩ khám do bác sĩ lâm sàng đảm nhiệm, khoa khám bệnh được bố trí tại một tòa nhà riêng, được trang bị đầy đủ trang thiết bị y tế phục

vụ nhu cầu khám bệnh Kết quả hoạt động khám chữa bệnh: tổng số lượt KCB là 351.363 lượt Số lượt dịch vụ cận lâm sàng: Xét nghiệm sinh hóa là 440.257 lượt,

Trang 27

huyết học là 341.993 lượt, X-quang là 95.408 lượt, CT là 11.003 lượt, Điện não đồ

là 4.474 lượt, nội soi là 8.486 lượt, Siêu âm là 86.124 lượt Nghiên cứu sử dụng mô hình SEVQUAL để đo lường sự mong đợi của người bệnh và sự hài lòng thực tế sau khi sủ dụng dịch vụ Kết quả cho thấy tỷ lệ hài lòng người bệnh về khía cạnh hữu hình là 64,09%, tỷ lệ hài lòng người bệnh ở khía cạnh tin tưởng là 64,9%, tỷ lệ hài lòng người bệnh ở khía cạnh đáp ứng là 55.3%, hay tỷ lệ hài lòng ở khía cạnh đảm bảo chỉ có 52,27%, tỷ lệ hài lòng về cảm thông là 51,97% Tỷ lệ hài lòng chung của người bệnh chỉ có 57,61% (25)

Theo nghiên cứu của Trịnh Thị Mến tại Bệnh viện Đa khoa Đông Hưng, Thái Bình được thực hiện vào năm 2014 về Thực trạng khám chữa bệnh và sự hài lòng đến người bệnh ngoại trú tại khoa khám bệnh, nghiên cứu sử dụng phương pháp mổ

tả cắt ngang cho thấy thực trạng KCB: Tổng số lượt KCB năm 2013 là 118.110 lượt, trong đó số lượt BHYT là 104.173 lượt, tổng số lượt điều trị ngoại trú là 3.654 lượt, số lượt chuyển tuyến 6.838 lượt Số lượt dịch vụ cận lâm sàng: Xét nghiệm sinh hóa là 272.707 lượt, huyết học là 580.876 lượt, X-quang là 22.835 lượt, Siêu

âm là 46.541 lượt Số nhân sự tại khoa khám bệnh là 25 nhân viên trong đó 11 bác

sĩ, khoa có 11 bàn khám trong đó có 4 bàn là khám chuyên khoa Khoa khám bệnh được trang bị đầy đủ trang thiết bị để đảm bảo công tác KCB với 15 loại trang thiết

bị Hiện nay khoa căn cứ vào quy định của Bộ, xây dựng dựng các quy trình tương đối hoàn chỉnh: Quy trình khám bệnh bao gồm 7 bước Nghiên cứu sử dụng mô hình SEVQUAL để đo lường sự mong đợi của người bệnh và sự hài lòng thực tế sau khi sủ dụng dịch vụ Kết quả cho thấy điểm trung bình sự hài lòng của người bệnh về CSVC, TTB là 3,49, sự hài lòng của người bệnh ở khía cạng tin tưởng 3,74,

sự hài lòng của người bệnh ở khía cạnh đáp ứng là 3,43 và hài lòng ở khía cạnh đảm bảo chỉ có 3,23 Tuy nhiên nghiên cứu mới chỉ tập trung vào nhân sự, trang thiết bị tại khoa khám bệnh, đồng thời chưa đi sâu vào các chỉ số về chuyển tuyến, danh mục kỹ thuật (26)

Nghiên cứu của tác giả Châu Văn Mỹ tiến hành tại Phòng Khám ĐKKV Tân Bình trong thời gian năm 2015, nghiên cứu về “Thực trạng cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh tại Phòng khám đa khoa Khu vực Tân Bình, Huyện Thanh Bình, Tỉnh

Trang 28

Đồng Tháp năm 2015”, sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính Kết quả cho thấy năm 2014 số lượt khám chữa bệnh tại phòng khám là 19.794 lượt khám bệnh, trong đó khám y học cổ truyền là 540 lượt

Số lượng thực hiện dịch vụ CLS 3.535 lần Tỷ lệ người bệnh sử dụng chụp Xquang chiếm tới 32,59% trong tổng số dịch vụ CLS, xét nghiệm chiếm 42,83%, đo điện tâm đồ chiếm 3,63% Nhân sự phòng khám hiện tại có 11 biên chế trong đó có 03 bác sĩ Cở sở vật chất và trang thiết bị của phòng khám được trang bị tương đối để phục vụ người bệnh: Phòng khám gồm tất cả 15 phòng dành cho công tác chuyên môn và hành chính Có 179 trang thiết bị y tế phụ vụ nhu cầu khám bệnh trong đó

có 1 máy siêu âm, 01 điện tim, 01 Xquang… Về chuyên môn phòng khám được duyệt tới 3.669 danh mục kỹ thuật, tỷ lệ thực hiện danh mục kỹ thuật đạt 31,67% so với tổng danh mục kỹ thuật được duyệt, tỷ lệ người bệnh lựa chọn phòng khám để KCB lần sau đạt 67,3 % (27)

Tại Bệnh viện đa khoa Khu vực Triệu Hải, Quảng Trị năm 2019, tác giả Nguyễn Trí Sơn đã tiến hành nghiên cứu về “Nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện Đa khoa Khu vực Triệu Hải, Tỉnh Quảng Trị”, nghiên cứu

sử dụng phương pháp thống kê mô tả kết hợp phương pháp phân tích dữ liệu chuỗi thời gian, phương pháp so sánh và phương pháp phân tích nhân tố, kết quả cho thấy

số lượt KCB tăng từ 61.249 lượt năm 2017 lên 68.525 lượt năm 2018 Số ca Xquang từ 19.470 ca (2017) lên 22.420 ca, siêu âm từ 22.094 ca tăng lên 23.345 ca, Xét nghiệm từ năm 2017 so với 2018 tăng lên: Huyết học tăng lên 6,6%, Sinh hóa 5,5%, Vi sinh 16,8% Số lượng nhân viên 2018 hiện tại có 168 cán bộ trong đó bác

sĩ chiếm 19,6%, điều dưỡng chiếm 39,3%, dược sĩ chiếm 6%, kỹ thuật viên chiếm 11,3%, còn lại là nhân viên hành chính, nữ hộ sinh, hộ lý Tổng số trang thiết bị của bệnh viện tăng lên theo từng giai đoạn, tăng 41% giai đoạn 2013 – 2018 so với giai đoạn 2007-2012 (8)

Năm 2017, tác giả Vũ Thanh Giang đã tiến hành nghiên cứu về “Thực trạng kết quả cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại phòng khám thuộc Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2012-2016”, nghiên cứu sử dụng phương pháp thiết kế cắt ngang, kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng

Trang 29

và định tính Kết quả cho thấy số lượt khám chữa bệnh BHYT tăng theo từng năm,

từ năm 2012 là 13.944 lượt lên 22.815 năm 2016 Số lượng siêu âm giảm từ 9.857 lượt năm 2013 xuống 6.918 lượt năm 2016 Số danh mục kỹ thuật được duyệt tăng, năm 2016 có 342 DMKT Số lượt chuyển tuyến giảm từ năm 2015 với 2767 lượt xuống 1825 lượt vào năm 2016 Số lượng nhân sự Phòng khám đang có xu hướng giảm theo từng năm, năm 2016 có tới 38 nhân sự tróng đó có 7 bác sĩ (tất cả bác sĩ

có trình độ CKI trở lên) và 12 điều dưỡng, phòng khám hiện tại có 31 phòng, được trang bị đầy đủ trang thiết bị trong đó có nhiều TTB hiện đại như máy nội soi tai mũi họng, máy nội soi tiêu hóa, máy xét nghiệm miễn dịch Nguồn thu tài chính của phòng khám cũng tăng theo từng năm Năm 2012 là 15.68 tỷ đồng đến năm 2016 lên tới 18.131 tỷ đồng Hiện tại đã triển khai phần mềm FPT với nhiều chức năng như quản lý nhận bệnh, khám bệnh, quản lý chẩn doán hình ảnh và xét nghiệm…(28)

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Hậu về “Thực trạng hoạt động khám chữa bệnh tại các trạm y tế thuộc huyện Ea H‟leo tỉnh Đắk Lắk năm 2018” sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang Kết quả nghiên cứu cho thấy: Số lượt khám của các trạm giảm rõ rệt theo từng năm: Năm 2015 là 99.579 lượt khám, năm

2016 xuống còn 93.969 lượt khám, tới năm 2017 còn 94.692 lượt khám Số lượt siêu âm trung bình tăng theo từng: năm 2015 là 439 lượt, năm 2016 là 702 lượt và năm 201 là 824 lượt, số lượt điện tim tăng từ 30 ca năm 2015 lên 63 ca năm 2016 nhưng đến năm 2017 giảm xuống còn 23 ca Số lượt xét nghiệm sinh hóa trong cả 3 năm đều không thực hiện Số lượt xét nghiệm nước tiểu năm 2015 là không, năm

2016 là 66 lượt nhưng tới năm 2017 giảm còn 22 lượt Số lượt điều trị ngoại trú giảm từ năm 2015 là 99.309 lượt xuống còn 94.524 lượt vào năm 2017 Tỷ lệ chuyển tuyến giảm mạnh: năm 2015 là 12.006 lượt xuống còn 1.159 lượt năm 2017 (29)

Nghiên cứu của tác giả Đỗ Thu Hường năm 2019, tại Viện Y học dân tộc về

“Chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh và một số yếu tố ảnh hưởng tại khoa Khám bệnh đa khoa Viện Y dược học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh năm 2019”, nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính, khảo

Trang 30

sát trên 253 người bệnh, kết quả cho thấy tỷ lệ hài lòng chung của người bệnh về chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh là 82,5%, hầu hết người bệnh được hỏi có quay lại viện để KCB khi có nhu cầu thì đều trả lời có, tỷ lệ là 98,4% (30)

1.4.3 Thực trạng cung cấp dịch vụ khám bệnh chữa bệnh tại Thành Phố Hồ Chí Minh

Trong năm 2018, trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh có 14 bệnh viện Bộ, Ngành, 32 Bệnh viện Thành phố, 23 Bệnh viện quận/huyện, 53 bệnh viện tư nhân;

24 trung tâm y tế, 319 trạm y tế, có 6.385 Phòng khám chuyên khoa và 212 Phòng khám đa khoa

Bảng 2 Số liệu khám chữa bệnh của các cơ sở y tế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh từ 2016 – 2018 (31, 32, 33)

Trang 31

Trong đó Trung tâm Y tế Quận

Theo số liệu báo cáo thống kê ngành y tế Thành phố, năm 2018 có 212

PKĐK với tổng số lượt khám là 3.448.769 lượt trong đó số lượt khám BHYT là

1.366.613 chiếm 39,6% so với tổng lượt khám, số lượt khám trung bình/ngày/phòng

khám là 45 lượt, năm 2019 tổng số phòng khám đa khoa tăng lên 227 PKĐK và số

lượt khám là 5.844.001 lượt trong đó số lượt khám BHYT là 2.107.897 chiếm 36,1

% so với tổng lượt khám, số lượt khám trung bình/ngày/phòng khám là 71 lượt (34)

Hiện nay trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, các PKĐK hầu hết là các phòng

khám đa khoa tư nhân, số lượng các PKĐK công chiếm rất ít, trong đó hiện tại đang

có ba mô hình PKĐK công đang triển khai trên địa bàn thành phố: 1 Phòng khám

đa khoa khu vực 2 Phòng khám đa khoa trực thuộc 3 Phòng khám đa khoa vệ tinh

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh

Các yếu tố ảnh hưởng tới việc cung cấp các dịch vụ KCB xuất hiện trong các

yếu tố đầu vào của các cở sở y tế như: Nhân lực, cở sở vật chất, hệ thống thông tin,

thuốc, trang thiết bị, nguồn kinh phí, chính sách và quản lý điều hành

Cơ sở vật chất, trang thiết bị, thuốc

Cở sở vật chất, trang thiết bị cũng là yếu tố quan trọng trong việc thực hiện

cung cấp dịch vụ KCB, việc đáp ứng được sở sở vật chất cho người dân đến khám

có yếu tổ ảnh hướng lớn đến việc hài lòng của bệnh nhân, bệnh nhân có muốn quay

lại hay không Cở sở vật chất tốt, đầy đủ các phòng chức năng sẽ giúp hoạt động

động KCB triển khai thuận lợi, đảm bảo về chất lượng phụ vụ nhu cầu của người

dân Cở sở vật chất đảm bảo thì chất lượng và khả năng cung cấp dịch vụ KCB sẽ

Trang 32

được tăng lên, thu hút nhiều người bệnh đến phòng khám (7) Tại PKĐKKV Tân Bình (2015) của tác giả Châu Văn Mỹ, nghiên cứu đã đề cập tới một số yếu tố thuận lợi ảnh hướng tới việc cung cấp dịch vụ KCB cho người dân bao gồm cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế Kết quả nghiên cứu cho thấy có 17,8% người bệnh lựa chọn quay lại sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại phòng khám vì phòng khám đầy đủ các khoa phòng, khang trang sạch đẹp và 19,7% lựa chọn quay lại phòng khám vì đầy đủ trang thiết bị Điều này cho thấy cở sở vật chất, trang thiết bị ảnh hưởng rất lớn tới việc cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh (27) Theo nghiên cứu Hệ thống y tế ban đầu tại Hà Nội (2011), cho thấy một trong những lý do người bệnh không đến khám tại TYT là do thiếu cơ sở vật chất chiếm tỷ lệ 24%, thiếu CSVT đang ảnh hưởng tới việc cung cấp dịch vụ KCB cho người dân trên địa bàn (35) Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hậu (2017), kết quả cho thấy 100% trạm y tế có cở vật chất tốt

và đầy đủ các phòng theo quy định của Bộ Y tế, do cở sở các trạm y tế được đầu tư

từ dự án do đó được xây dựng giống nhau theo mô hình và thiết kế của dự án tuy nhiên một điều thực tế việc bố trí xây dựng chưa phù hợp, hoặc xây dựng theo kiểu mẫu chung không phù hợp với thực tế ví trí địa lý của các trạm gây rất nhiều khó khăn trong việc bố trí các phòng làm việc như phòng khám bệnh, phòng lưu bệnh, phòng kế hoạch hóa gia đình gây ảnh hưởng không nhỏ cho việc cung cấp các dịch

vụ cho người dân (29)

Trang thiết bị y tế tại phòng khám là yếu tố quyết định không nhỏ đến KCB tại PKĐK Nếu trang thiết bị PKĐK không đủ theo quy định, hoặc đã cũ, lạc hậu thì ảnh hướng đến chất lượng KCB cho bệnh nhân, cũng như thu hút người dân tới sử dụng dịch vụ tại PKĐK và bệnh nhân sẽ không tin tưởng vào chất lượng khi sử dụng tại phòng khám và ngược lại Khi phòng khám thiếu TTB thì sẽ là yếu tố khó khăn cho công tác cung cấp dịch vụ KCB (7) Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Hậu về “Thực trạng hoạt động khám chữa bệnh của các trạm y tế tại huyện

EA H‟LEO tỉnh Đắc Lắc gia đoạn năm 2015-2017”, kết quả cho thấy có 25% trạm

y tế thiếu trang thiết bị theo quy định của Bộ Y tế, TTB thiếu về dụng cụ khám ngũ quan, máy hút đờm, dụng cụ phục hồi chức năng điều này đã ảnh hướng tới việc cung cấp dịch vụ KCB cho người dân (29) Còn theo nghiên cứu của tác giả Lê Hữu

Trang 33

Qúy (2013) lý do người bệnh không sử dụng dịch vụ KCB tại TYT là do TTB chưa đầy đủ chiếm tới tỷ lệ 52,2% (36) và tỷ lệ này trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2012) là 45,5% (37) Năm 2017, nghiên cứu của Vũ Thanh Giang tại phòng khám thuộc Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2012-2016” Kết quả nghiên cứu cho thấy kết quả cung cấp dịch vụ CSSK cho các cán bộ ngày càng tốt, chất lượng dịch vụ đi lên, yếu tố thuận lợi nổi bật có ảnh hưởng tới kết quả cung cấp dịch vụ CSSK là cơ sở vật chất, trang thiết bị được trang bị khá đầy đủ, đáp ứng được yêu cầu về nhu cầu khám chữa bệnh, nguồn thuốc được đảm bảo về mặt số lượng và chất lượng (28)

Thuốc đóng vai trò quan trọng trong việc điều trị cho bệnh nhân, nếu phòng khám không đủ thuốc để phục vụ nhu cầu bệnh nhân thì hiệu quả điều trị cũng như

sự tin tưởng của bệnh nhân cũng sẽ giảm dân theo thời gian Điều này nói lên việc đáp ứng đủ nhu cầu về thuốc là cực kỳ quan trọng tại các cơ sở khám chữa bệnh nói chung và phòng khám đa khoa nói riêng Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hậu (2018), có tới 25% trạm y tế thiếu thuốc, tình trạng thiếu thuốc ảnh tới việc cung cấp dịch vụ KCB cho người dân trên địa bàn (29) Tương tự kết quả nghiên cứu tại PKĐKKV Tân bình (2015) chỉ có 238 loại thuốc trong tổng 370 loại thuốc thiết yếu dành cho PK theo quy định tại Quyết định 885/QĐ-SYT ngày 26/6/2012 của Sở Y tế tỉnh Đồng Tháp, cho thấy hiện tại phòng khám đang thiếu thuốc để cung cấp cho người dân (27) Nghiên cứu của Nguyễn Duy Luật (2010) cho thấy lý do không sử dụng dịch vụ KCB vì do thiếu thuốc với tỷ lệ 65,5% (38)

Nhân lực y tế

Nhân lực y tế có vai trò quan trọng trong hệ thống y tế, nó có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của con người Nhân lực y tế có thể nói là yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống cung cấp dịch vụ KCB của Phòng khám gồm chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, thái độ phục vụ … Khi nhân sự không đảm bảo phục vụ cho người dân, cũng như trình độ chuyên môn của các cán bộ làm việc tại phòng khám sẽ ảnh hưởng tới việc sử dụng dịch vụ của người dân Vì vậy xây dựng được đội ngũ y tế

có chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm và đạo đức tốt thì sẽ giúp nâng cao hiệu suất và chất lượng dịch vụ KCB (7)

Trang 34

Theo báo cáo thống kê ngành y tế năm 2016, Việt Nam đã xây dựng đội ngũ nhân lực y tế đủ về số lượng, cơ cấu và phân bố cân đối Số lượng và chất lượng ngày càng được cải thiện Nhằm hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng và số lượng đội ngũ cán bộ y tế, ngành y tế đã xây dựng và ban hành Chuẩn năng lực cơ bản của bác sĩ Răng Hàm Mặt, tiếp tục triển khai xây dựng Chuẩn năng lực cơ bản các ngành: Y tế công cộng, Dược, Dinh dưỡng Đặc biệt, chất lượng đào tạo liên tục cho cán bộ y tế được đặc biệt chú trọng Hiện nay, mạng lưới đào tạo liên tục về y tế khá phát triển để thực hiện đào tạo liên tục cập nhật, nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ y tế Mạng lưới này tương đối đa dạng bao gồm các cơ sở đào tạo liên tục là các trường chuyên nghiệp y dược (105 cơ sở), bệnh viện, viện nghiên cứu thuộc trung ương, hội nghề nghiệp, các Sở Y tế và các đơn vị trực thuộc Việc chuẩn hóa tài liệu và giảng viên là khâu then chốt để đảm bảo chất lượng đào tạo liên tục Bộ Y tế đã tiến hành thẩm định 25 chương trình và tài liệu đào tạo liên tục của các đơn vị trực thuộc Tổ chức khóa tập huấn, đào tạo cho giảng viên cho các

Sở Y tế và đơn vị trực thuộc Hoạt động giám sát đào tạo nhân lực y tế được tăng cường, tập trung vào công tác đào tạo liên thông, liên kết, đào tạo cử tuyển, đào tạo theo địa chỉ sử dụng, công tác tuyển sinh, đảm bảo bảo chất lượng đào tạo Thực hiện các giải pháp đảm bảo chất lượng đào tạo sau đại học đặc thù ngành y tế, tổ chức thẩm định chương trình, tài liệu đào tạo chuyên khoa cấp 1, chuyên khoa cấp

2, bác sĩ nội trú Tuy nhiên, việc cải tiến chất lượng cho cán bộ y tế còn đang gặp khó khăn, hạn chế: Chất lượng đào tạo nhân lực y tế chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế và tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế: nội dung kiểm định chất lượng giáo dục y khoa chưa được triển khai Chuẩn đầu ra của các chương trình đào tạo mới được ban hành, chưa được áp dụng để quản lý chất lượng đào tạo Chưa tăng cường, bổ sung chính sách đặc thù trong đào tạo nhân lực y tế: chế độ, chính sách đối với cán bộ y tế còn bất hợp lý, mức lương khởi điểm chưa tương xứng với thời gian đào tạo Chưa có chính sách bền vững để thu hút những thầy thuốc có trình độ chuyên môn cao, tay nghề giỏi làm việc lâu dài tại các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, Phân bổ nhân lực y tế còn nhiều bất cập: không đồng đều về chất lượng giữa các vùng, các tuyến Chất lượng nhân lực y tế còn hạn chế, đặc biệt là tuyến y tế cơ

Trang 35

sở, điều này có ảnh hướng rất lớn đến việc cung cấp dịch vụ y tế cho nhân dân (24).Theo nghiên cứu của tác giả Châu Văn Mỹ tiến hành tại PKĐKKV Tân Bình trong thời gian năm 2015, cho thấy nhân sự phòng khám chỉ có 11 người trong khi quy định tại thông tư liên tịch 08/2007/TTLT/BYT-BNV là 14 biên chế do đó chưa đáp ứng được nhu cầu về dịch vụ KCB cho người dân Số bác sĩ tại Phòng khám là bác sĩ đa khoa do đó còn thiếu bác sĩ các chuyên khoa lẻ như răng hàm mặt, tai mũi họng Do đó gây khó khăn trong việc triển khai thực danh mục kỹ thuật, hiện tại danh mục kỹ thuật thực hiện được chỉ đạt 31,67% DMKT được duyệt (27) Nghiên cứu của Vũ Thanh Giang về “Thực trạng kết quả cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại phòng khám thuộc Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2012-2016”, cũng chỉ ra rằng, việc cung cấp dịch vụ KCB gặp rất nhiều khó khăn khi Phòng khám thiếu nhân sự, đặc biệt là các nhân sự về các chuyên khoa (như răng hàm măt, tai mũi họng…) do đó tình trạng chuyển tuyến người bệnh mặc một số bệnh thông thường đi điều trị tại các cơ sở khác vẫn diễn ra, với nguồn nhân lực hiện tại của phòng khám chỉ đáp ứng được 70% nhu cầu khám chữa bệnh của các cán bộ (28)

Quản lý điều hành

Nhà nước đóng vai trò quan trong việc điều tiết các hoạt động cung cấp dịch vụ KCB, để đạt tính hiệu quả và công bằng Hiện nay, Nhà nước có rất nhiều chính sách nhằm mục đích hướng tới phát triển HTYT, nâng cao chất lượng các DVYT Chính sách xã hội hóa y tế, chính sách về viện phí, chính sách về bảo hiểm

y tế và đặ biệt là chính sách tự chủ tài chính Những chính sách này đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở cung cấp DVYT chủ động trong triển khai thực hiện nhiệm

vụ Ngoài những thuận lợi thì các cở sở cũng gặp nhiều khó khăn: Các văn bản, chính sách chưa có tính đồng nhất, còn chồng chéo ở các văn bản thông tư, nhiều văn bản không quy định cụ thể do đó việc triển khai tại các cơ sở y tế gặp nhiều khó khăn Nghiên cứu của Vũ Thanh Giang (2017) cho thấy, phòng khám thuộc Ban bảo vệ, chăm sóc cán bộ tỉnh Bắc Giang gặp rất nhiều khó khăn trong việc xác định định mức cụ thể cho nhóm hoạt động, định mức cho thuê vì các chưa có chính sách, văn bản từ các cơ quan có thẩm quyền Các chính sách quy định về sử dụng nguồn

Trang 36

thu còn bất cập, nguồn thu KCB PK đáng lẽ phải chi vào vào việc nâng cao chất lượng khám chữa bệnh nhưng theo Nghị định 43 thì phải chi vào tiền lương, thứ 2

là thu rồi không tái đầu tư được vào mua sắm trang thiết bị mà phải theo quy định phải lấy ngân sách để đầu tư, trong khi nguồn ngân sách hạn hẹp (28)

Đối với các cơ sở y tế cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh, việc xác định phương hướng hoạt động, phát triển của đơn vị là một việc quan trong trọng có ý nghĩa sống còn với sự tồn tại, phát triển của các cơ sở y tế Công tác tổ chức, điều hành tốt sẽ giúp cơ sở y tế hoạt động tốt, nhịp nhàng giữa các bộ phận trong đơn vị Việc xác định mục tiêu chủ yếu dài hạn cho đơn vị, cần xây dựng tầm nhìn, chú trọng xây dựng năng lực cốt lõi Từ đó, trên cở sở đánh giá, phân tích thực trạng về

cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân sự, nhu cầu KCB và tình hình cung cấp dịch vụ KCB để xác định rõ quy mô, mức độ đầu tư TTB, các dịch vụ kỹ thuật phù hợp Do

dó, công tác quản lý, điều hành là yếu tố ảnh hướng tới kết quả cung cấp dịch vụ KCB (7) Nguyễn Trí Sơn đã tiến hành nghiên cứu về “Nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện Đa khoa Khu vực Triệu Hải, Tỉnh Quảng Trị”, nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc quản lý điều hành và phân công nhiệm vụ và chức năng chưa rõ ràng gây ảnh hưởng tới việc cung cấp và nâng cáo chất lượng dịch vụ Việc phối hợp không nhịp nhàng gây lúng túc tại các khâu trong quy trình khám bệnh, chưa có các nhất quán về cách quản lý điều hành nên gây ảnh hướng tới việc cung cấp dịch vụ KCB và sự hài lòng của người bệnh (8)

Hệ thống thông tin

Thông tin là một cấu phần không thể thiếu của HTYT Thông tin được cung cấp đầy đủ, kịp thời và hiệu quả sẽ giúp cho việc ra quyết định và hành động hiệu quả Hệ thống công nghệ thông tin không chỉ phục vụ cho công tác báo cáo số liệu, hoạch định chính sách, quản lý điều hành, nâng cao chất lượng dịch vụ KCB (7).Theo nghiên cứu tại tại phòng khám thuộc Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh Bắc Giang việc triển khai phần mềm đã góp phần giảm thời gian chờ của người bệnh ở tất cả các khâu tại phòng khám, hỗ trợ bác sĩ giảm thời gian trong việc khai thác bệnh sử, quá trình xét nghiệm, sử dụng thuốc, hỗ trợ việc kê đơn nhanh chóng

và chính xác (28)

Trang 37

Tuy nhiên việc ứng dụng CNTT trong KCB vẫn còn gặp nhiều khó khăn gây ảnh hưởng tới việc cung cấp các dịch vụ y tế: Việc thu thập, xử lý, lưu trữ chuyển tải thông tin và công bố số liệu của vẫn còn mang tính thủ công Dữ liệu thông tin ngành y tế vẫn bị phân mảnh, mỗi đơn vị triển khai hệ thống phần mềm riêng, nhưng chưa kết nối được với nhau và chưa kết xuất được báo cáo theo yêu cầu của

Bộ Y tế nên nguy cơ gây trùng lặp, khó theo dõi, quản lý dữ liệu Việc chuyển số liệu lên cổng giám định BHYT còn gặp nhiều trục trặc tại các đơn vị (7)

Hệ thống mạng nội bộ và phần mềm quản lý bệnh viện đã cũ, không đáp ứng được nhu cầu hiện tại

Tài chính

Yếu tố tài chính có thể xem là yếu tố quyết định toàn bộ hoạt động cung cấp dịch vụ KCB Nguồn tài chính lớn và bền vững thì sẽ giúp cơ sở mở rộng việc cung cấp dịch vụ KCB, cải thiện cở sở vật chất hạ tầng, mua sắm máy móc trang thiết bị nhằm nâng cáo năng suất cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu của người bệnh Khi có nguồn tài chính lớn và ổn định, giúp bệnh viện đảo bảo về số lượng nhân sự, cũng như việc cử cán bộ đi học tập chuyên môn, có nhiều chế độ đãi ngộ, phúc lợi hơn dành cho các nhân viên y tế giúp họ yên tâm công tác và tâm huyết với công việc của mình (8) Nghiên cứu của Đỗ Đức Kiên về “Nghiên cứu tác động của chính sách tự chủ tài chính đến chất lượng bệnh viện công lập tại Việt Nam năm 2018, nghiên cứu được tiến hành tại 36 bệnh viện công lập thuộc Bộ Y tế, kết quả cho thấy mức tự chủ tài chính tác động thuận chiều tới các biến phụ thuộc như số lượt khám bệnh, số lượt người bệnh nội trú, số ca phẫu thuật thực hiện tại bệnh viện Điều đó cho thấy, khi các bệnh viện công lập tự chủ tài chính càng cao thì lại có nhiều nguồn thu đảm bảo được các khoản chi cho công tác KCB, giảm sự phụ thuộc vào kinh phí của ngân sách nhà nước thông qua việc huy động các tổ chức, cá nhân tham gia vào công tác KCB; tăng chi đầu tư cơ sở vật chất, mua sắm máy móc trang thiết bị y tế; tăng số lượng bác sỹ, tăng chi thu nhập cho cán bộ bác sỹ từ đó, số lượt khám bệnh, số lượt người bệnh nội trú, số ca phẫu thuật thực hiện tại bệnh viện tăng, qua đó đáp ứng tốt hơn nhu cầu KCB cho người bệnh, nâng cao chất lượng bệnh viện (39) Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Trí Sơn (2019) cũng chỉ ra rằng tự

Trang 38

chủ tài chính tạo điều kiện thuận lợi cho việc cung cấp và cải thiện chất lượng khám chữa bệnh, sau 10 năm tự chủ tài chính, tổng số trang thiết bị của bệnh viện tăng 41% giai đoạn 2013 – 2018 so với giai đoạn 2007-2012, tổng nguồn thu của bệnh viện tăng lên 1,6% từ năm 2017 (41,47 tỷ đồng) so với năm 2018 (45,5 tỷ đồng), KCB tăng theo từng 61.249 lượt năm 2017 lên 68.525 lượt năm 2018 Số ca Xquang từ 19.470 ca (2017) lên 22.420 ca, siêu âm từ 22.094 ca tăng lên 23.345 ca, Xét nghiệm từ năm 2017 so với 2018 tăng lên: Huyết học tăng lên 6,6%, Sinh hóa 5,5%, Vi sinh 16,8% Ngoài tự chủ tài chính thì trình độ chuyên môn cũng cũng được xem là yếu tố thuận lợi của bệnh viện, trong tổng số 33 bác sĩ tại bệnh viện thì

có tới 17 bác sĩ có trình độ từ chuyên khoa 1 trở lên, kết quả khảo sát hài lòng cho thấy đa số người bệnh được hỏi đều hài lòng với trình độ chuyên môn của bác sĩ với

tỷ lệ hài lòng là 74,2% (8)

1.6 Giới thiệu về Bệnh viện Quận Thủ Đức và các Phòng khám đa khoa trực thuộc Bệnh viện Quận Thủ Đức

1.6.1 Giới thiệu về Bệnh viện Quận Thủ Đức

Bệnh viện Quận Thủ Đức là một bệnh viện hạng 1 đầu tiên của cả nước, Ngày 28/6/2007 Bệnh viện Quận Thủ Đức được thành lập trên cơ sở tách ra từ Trung tâm Y tế Quận Thủ Đức, thành 2 đơn vị Trung tâm y tế dự phòng Quận và Bệnh viện Quận theo quyết định số 32/2007/QĐ-UBND ngày 23 tháng 02 năm

2007 của UBND Thành phố về việc thành lập Bệnh viện Quận Thủ Đức trực thuộc UBND Quận Thủ Đức

Tọa lạc tại số 29 Phú Châu, Khu phố 5, Phường Tam Phú, Quận Thủ Đức, Bệnh viện Quận Thủ Đức với qui mô ban đầu là 50 giường, bộ máy tổ chức gồm 3 phòng chức năng (Phòng Kế hoạch tổng hợp, Phòng Tài vụ và Phòng Tổ chức Hành chánh quản trị) và 4 khoa (Khoa Cấp cứu, Khoa Khám bệnh, Khoa Nội và Khoa Sản) Tổng nhân sự lúc đầu chỉ vỏn vẹn 99 người trong đó 17 bác sỹ Năng lực điều trị chuyên môn chủ yếu là sơ cấp cứu, khám và điều trị một số bệnh lý thông thường, khả năng đáp ứng nhu cầu điều trị còn nhiều hạn chế, hầu hết các bệnh nặng đều chuyển lên tuyến trên Trang thiết bị chỉ có 01 monitor của chương trình

Trang 39

Cúm tài trợ, 01 máy XQ Toshiba, 01 máy siêu âm sách tay, 01 máy hóa sinh bán tự động, 01 máy huyết học 18 thông số Mỗi ngày cấp cứu khoảng 20 lượt, khám khoảng 200 lượt, thực hiện giường bệnh nội trú chỉ 10 giường/ngày (40)

Hiện nay, Bệnh viện Quận Thủ Đức đang dần khẳng định được năng lực khám chữa bệnh đúng với tầm vóc của Bệnh viện cửa ngõ đông bắc của Thành Phố Cùng với sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của tập thể cán bộ viên chức của đơn vị nên chỉ trong vòng 11 năm từ 50 giường bệnh ban đầu năm 2007 nay số giường kế hoạch là 800 giường, bình quân tiếp nhân khoảng 150 trường hợp cấp cứu/ngày, 6.500 – 7.000 lượt khám ngoại trú/ngày (2)

Bảng 2: Kết quả công tác khám chữa bệnh của Bệnh viện Quận Thủ Đức từ

3 TS BN điều trị nội trú Người 49.147 50.424 53.563

Hiện nay tại Bệnh viện quận Thủ Đức đang triển khai thực hiện 2 mô hình 2 phòng khám đa khoa triển khai tại địa bàn Quận Thủ Đức: Phòng khám ĐKTT (Khoa khám bệnh) và Phòng Khám ĐKVT đặt tại trạm y tế

1.6.2 Giới thiệu về phòng khám đa khoa Linh Tây trực thuộc bệnh viện quận Thủ Đức (Khoa khám bệnh 2)

Phường Linh Tây có diện tích tự nhiên là 141 Ha được chia thành 04 khu phố với 68 tổ dân phố

Vị trí địa lý tiếp giáp:

Phía Bắc giáp phường Linh Chiểu, Trường Thọ – Thủ Đức;

Trang 40

Phía Đông giáp phường Linh Trung; Tân Phú; Hiệp Phú – Quận 9;

Phía Tây giáp phường Tam Phú – Thủ Đức;

Phía Nam giáp phường Linh Đông – quận Thủ Đức

Hệ thống giao thông có các tuyến đường chính: Võ Văn Ngân, Kha Vạn Cân, Phạm Văn Đồng, cùng 18 tuyến đường

Về dân số: Tổng số nhân khẩu là 31.761 người, mật độ dân số đạt 23.183 người/km²

Phường Linh Tây là khu vực tập trung đông dân cư, có chợ Thủ Đức nằm giữa giao lộ của 3 trục đường chính của quận Thủ Đức

- PKĐKTT Linh Tây được xây dựng vào năm 2017 tại địa chỉ số 18, đường

Dương Văn Cam, phường Linh Tây, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh cách bệnh viện 3km nằm ngay gần khu vực Chợ Thủ Đức, nơi tập trung khu vực buôn bán của Quận PK được xây dựng trên diện tích mặt bằng: 205 m2 , kết cấu phòng khám gồm 1 trệt một lầu

Hình 2: Hình ảnh Phòng khám đa khoa Linh Tây

- Phòng khám được cấp phép với quy mô gồm:

+ Tầng trệt: Khu để xe, Phòng cấp cứu, Phòng thay băng cát chỉ, Phòng lưu bệnh, Phòng xét nghiệm, Phòng chụp X-quang, Quầy tiếp đón, Nhà thuốc, Khu vực lấy máu

Ngày đăng: 31/01/2021, 20:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w