Nghiên cứu: “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng tới công tác chăm sóc của điều dưỡng với người bệnh nội trú tại Viện Y Dược học Dân tộc năm 2019”.. Từ kết quả trên, tác giả khuyến ng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
HÀ THỊ THÖY DIỄM
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CÔNG TÁC CHĂM SÓC CỦA ĐIỀU DƯỠNG VỚI NGƯỜI BỆNH NỘI TRÖ TẠI VIỆN Y DƯỢC HỌC DÂN TỘC
NĂM 2019
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01
HÀ NỘI – 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
HÀ THỊ THÖY DIỄM
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CÔNG TÁC CHĂM SÓC CỦA ĐIỀU DƯỠNG VỚI NGƯỜI BỆNH NỘI TRÖ TẠI VIỆN Y DƯỢC HỌC DÂN TỘC
NĂM 2019
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01 HDKH: PGS.TS NGUYỄN TUẤN HƯNG
HÀ NỘI - 2019
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ BIỂU ĐỒ v
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1 4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 4
1.1.1.Các khái niệm chung 4
1.1.2 Các khái niệm về điều dưỡng 5
1.1.3 Một số học thuyết liên quan 6
1.1.4 Chức năng nhiệm vụ của điều dưỡng 7
1.2 Các nghiên cứu về thực trạng công tác chăm sóc của điều dưỡng đối với người bệnh nội trú 10
1.2.1 Trên thế giới 10
1.2.2 Tại Việt Nam 11
1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến công tác chăm sóc của điều dưỡng 14
1.3.1 Yếu tố cá nhân 14
1.3.2 Áp lực công việc 15
1.3.3 Chính sách và môi trường làm việc 17
1.4 Giới thiệu viện y dược học dân tộc 19
1.5 Khung lý thuyết áp dụng trong nghiên cứu 20
Chương 2 22
Trang 4PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng nghiên cứu 22
2.2 Thời gian v đ a điểm nghiên cứu 22
2.3 Thiết kế nghiên cứu 22
2.4 Cỡ mẫu v phương pháp chọn mẫu 23
2.4.1 Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng 23
2.4.2 Cỡ mẫu nghiên cứu định tính 23
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 24
2.5.1 Số liệu thứ cấp 24
2.5.2 Công cụ thu thập số liệu định lượng 24
2.5.3 Công cụ thu thập số liệu định tính 26
2.6 Phương pháp phân tích số liệu 26
2.6.1 Số liệu định lượng 26
2.6.2 Thông tin định tính 27
2.7 Các biến số trong nghiên cứu 27
2.7.1 Bảng biến số phỏng vấn qua bộ công cụ 27
2.7.2 Bảng biến số qua phỏng quan sát trực tiếp 28
2.8 Tiêu chuẩn đánh giá 32
2.8.1 Tiêu chuẩn đánh giá qua khảo sát ý kiến của điều dưỡng viên 32
2.8.2 Tiêu chuẩn đánh giá qua quan sát trực tiếp của điều dưỡng viên 33
2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 35
Chương 3 37
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
3.1 Mô tả thực trạng công tác chăm sóc của điều dưỡng 37
3.1.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 37
3.1.2 Thực thực trạng công tác chăm sóc người bệnh 38
3.2 Yếu tố ảnh hưởng đến công tác chăm sóc điều dưỡng 50
Trang 53.2.1 Yếu tố cá nhân điều dưỡng viên 50
3.2.2.Yếu tố ảnh hưởng từ áp lực công việc 50
3.3 Sai số của nghiên cứu v cách khắc phục 60
3.3.1 Hạn chế, sai số của nghiên cứu 60
3.3.2 Cách khắc phục 61
Chương 4 62
BÀN LUẬN 62
4.1 Thực trạng công tác chăm sóc bệnh nhân 62
4.1.1 Công tác dinh dưỡng 62
4.1.2 Công tác vệ sinh hằng ngày 64
4.1.3 Chăm sóc tinh thần 66
4.1.4 Công tác giáo dục sức khỏe 69
4.2 Yếu tố ảnh hưởng đến công tác chăm sóc điều dưỡng 75
4.2.1 Yếu tố cá nhân 75
4.2.2 Áp lực công việc 77
4.2.3.Ảnh hưởng yếu tố chính sách và môi trường làm việc 79
KẾT LUẬN 83
KHUYẾN NGHỊ 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 89
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Số điều dưỡng viên của 5 khoa lâm sàng 23
Bảng 2.2 Trọng điểm thực hiện 6 nội dung chăm sóc theo nhóm 33
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 37
Bảng 3.2 Quan sát hoạt động chăm sóc dinh dưỡng cho người bệnh 38
Bảng 3.3 Hoạt động chăm sóc tinh thần cho người bệnh 39
Bảng 3.4 Hoạt động tư vấn giáo dục sức khỏe 41
Bảng 3.5 Hoạt động theo dõi đánh giá người bệnh 43
Bảng 3.6 Hoạt động sử dụng thuốc 44
Bảng 3.7 Kết quả đánh giá áp lực công việc 50
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ BIỂU ĐỒ Hình 1.1 Khung lý thuyết thực trạng chăm sóc của điều dưỡng 21
Biểu đồ 3.1 Nội dung chăm sóc vệ sinh cá nhân 39
Biểu đồ 3.2 Nội dung chăm sóc theo dõi và đánh giá của điều dưỡng 43
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ đạt của 6 nội dung chăm sóc của điều dưỡng 47
Biểu đồ 3.4 Mức độ phù hợp vị trí công việc 53
Trang 8TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Việc thực hiện nội dung chăm sóc của điều dưỡng đối với người bệnh hết sức quan trọng trong quá trình hồi phục của người bệnh Thực hiện các nội dung chăm sóc một cách đầy đủ, thường xuyên giúp tăng cường hiệu quả trong khám và điều trị cho bệnh nhân, giúp họ sớm lấy lại sự tự chủ Bộ y tế đã đưa ra hướng dẫn rất rõ ràng và cụ thể về nhiệm vụ và công tác chăm sóc qua 12 nội dung chăm sóc trong Thông tư 07/2011/TT-BYT Đối với Viện Y Dược học dân tộc TP.HCM là Viện đặc thù, chuyên điều trị bằng y học cổ truyền hiện tại có kết học y học hiện đại, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm cải thiện chất lượng chăm sóc của điều
dưỡng và hiệu quả chăm sóc đối với người bệnh Nghiên cứu: “Thực trạng và một
số yếu tố ảnh hưởng tới công tác chăm sóc của điều dưỡng với người bệnh nội trú tại Viện Y Dược học Dân tộc năm 2019” Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên
cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính Nghiên cứu thu thập thông tin 60 điều dưỡng và các cuộc phỏng vấn sâu ban lãnh đạo
Trong 6 nội dung quan sát trực tiếp thì có theo dõi đánh giá đạt trên 90%, chăm sóc phục hồi chức năng và chăm sóc tinh thần tỷ lệ đạt chiếm trên 80%, hoạt động chăm sóc về thuốc, chăm sóc dinh dưỡng, giáo dục sức khỏe chiếm trên 70%, tỷ lệ đạt thấp nhất là chăm sóc vệ sinh cá nhân với tỷ lệ 65.5% Từ kết quả nghiên cứu định tính tìm hiểu thấy được một số yêu tố ảnh hưởng đến công tác chăm sóc người bệnh tại Viện như yếu tố tuổi và thâm niên, số lượng người bệnh yếu tố kiến thức, yếu tố môi trường làm việc, chính sách
Từ kết quả trên, tác giả khuyến nghị Viện nên tổ chức đào tạo cung cấp kiến thức và tập huấn thực hành các công tác chăm sóc cho điều dưỡng cũng như kiến thức và kỹ năng giao tiếp để điều dưỡng tự tin trong thực hiện nhiệm vụ còn chưa thực hiện tốt, cần cải thiện; Cung cấp trang thiết bị đầy đủ và bảo dưỡng thường xuyên, bố trí nhân lực điều dưỡng sao cho phù hợp để đảm bảo công tác chăm sóc người bệnh tại khoa phòng được thực hiện tốt hơn, đồng thời cần cải tiến quy trình làm việc và chăm sóc một cách tốt nhất dựa theo nguồn lực sẵn có của viện, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc của viện cũng như chất lượng bệnh viện Khuyến nghị Viện nên tổ chức đào tạo cung cấp kiến thức và tập huấn thực hành kỹ năng kiến thức, thái độ
Trang 9cho điều dƣỡng cũng nhƣ kiến thức về tâm lý bệnh nhân để điều dƣỡng an tâm thực hiện đúng và đủ quy trình tiêm an toàn, nhấn mạnh các tiêu chí cần cải thiện
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ trước đến nay, trên thế giới công tác chăm sóc của điều dưỡng luôn là một trong nhiều vấn đề được quan tâm ở nhiều nước đặc biệt các quốc gia đang phát triển trong đó Việt Nam cũng rất lưu tâm Theo WHO, trong hệ thống y tế điều dưỡng được đánh giá là trụ cột [20, 52] Nếu bác sĩ là mảng chuyên khám và chữa bệnh cho người bệnh, người điều dưỡng là người thúc đẩy, trợ giúp, hỗ trợ giao tiếp, chăm sóc người bệnh cả về vật chất lẫn tinh thần[6],[5] Điều dưỡng (ĐD) “là một nghề nghiệp trong hệ thống y tế nhằm bảo vệ, nâng cao, tối ưu về sức khỏe và các khả năng; dự phòng bệnh và sang thương; xoa dịu nỗi đau qua chẩn đoán và điều trị đáp ứng con người; tăng cường chăm sóc các cá nhân, gia đình, cộng đồng
và xã hội” [2] Với tình hình hiện tại nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng được nâng cao thì vị thế của điều dưỡng càng quan trọng Vai trò của người điều dưỡng chăm sóc người bệnh đã được khẳng định từ rất sớm và ngày càng khẳng định được
vị thế của mình
Theo thống kê của cục Quản lý khám chữa bệnh ở Việt Nam (2018), bác sỹ làm trong công tác khám chữa bệnh có trên 73.000, gần 130.000 điều dưỡng, ngoài ra còn nữ hộ sinh làm việc tại các cơ sở chữa bệnh và khám bệnh Tỷ lệ ĐD-NHS/BS
là 1,8 thấp hơn rất nhiều so với quy định và các quốc gia trong khu vực và trên thế giới [14] Thời gian gần đây trình độ điều dưỡng được nâng lên đáng kể, nhưng tình trạng nhân lực vẫn đang thiếu và quá tải, gây nhiều trở ngại đối với hoạt động chăm sóc hằng ngày của điều dưỡng[14]
Thông tư 07/2011/TT-BYT về hướng dẫn các công tác điều dưỡng do Bộ Y tế ban hành 26/01/2011 quy định về nhiệm vụ trách nhiệm và đảm bảo điều kiện thực hiện chăm sóc tại bệnh viện [9] Tại Việt Nam nhiều nghiên cứu khác như nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Bích Ngà, Nguyễn Thị Thanh Điều (2007), Nguyễn Thị Diệu Trang và Châu Thị Hoa (2010), Dương Thị Bình Minh (2012) [19], [17], [24]
đã nói tới tầm quan trọng của công tác chăm sóc điều dưỡng qua nhận xét của NB là rất lớn, một số yếu tố tác động lên công tác chăm sóc người bệnh mà chưa có tiến hành trực tiếp hay gián tiếp quan sát cũng như từ phía người làm công tác chăm sóc trực tiếp cho người bệnh
Viện Y Dược học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh (sau đây gọi tắt là Viện) là một bệnh viện hạng 1 với quy mô giường bệnh là 300 giường công suất sử dụng tối
Trang 11đa trong năm 2018 và đầu năm 2019 Theo nhận định của cán bộ y tế tại bệnh viện thì viện đang tiếp nhận điều trị những người bệnh bệnh điều trị dài ngày hoặc các bệnh đã điều trị bằng đông y đó một số công tác chăm sóc ít thực hiện đối với điều dưỡng như vấn đề chăm sóc người bệnh trước và sau phẫu thuật hay chăm sóc người bệnh tử vong hầu như không thực hiện Mặc bệnh nổi trội của viện là những bệnh mãn tính nằm lâu ngày, lớn tuổi, nhập viện nhiều lần nên nhiều vấn đề cần phải quan tâm, về mặt tinh thần, tâm lý và thể chất nên công tác tư vấn giáo dục sức khỏe và chăm sóc hướng dẫn có nhiều vấn đề cần cần phải khắc phục Mang tính chất đặc thù của một bệnh viện đông y thường điều trị những bệnh nhẹ, bệnh mãn tính và ổn định nhưng hiện mặc bệnh cũng đa dạng, có một vài khoa có người bệnh nặng như các bệnh ung thư công tác chăm sóc cũng khó khăn Cùng tỷ lệ tổng số người bệnh điều trị nội trú năm 2018 tăng 2.3 %, tổng số ngày điều trị tăng 6.1% so với năm 2007 [44] Bên cạnh đó tại Viện còn thực hiện một số kỹ thuật kết hợp điều trị mà bắt buộc phải có sự hỗ trợ chăm sóc về chuyên khoa Lực lượng điều dưỡng hiện tại đang còn mỏng Với tình hình thực tế tại Viện với công tác chăm sóc của điều dưỡng khối lâm sàng phải đối diện với nhiều áp lực từ người bệnh, từ yếu tố nguy cơ trong nghề nghiệp, từ những căng thẳng xung quanh công tác chăm sóc Để tìm hiểu về thực trạng các công tác hiện tại của điều dưỡng như thế nào? Những yếu
tố nào ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc của các điều dưỡng lâm sàng? Vì vậy
tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng tới công tác chăm sóc của điều dưỡng với người bệnh nội trú tại Viện Y Dược học Dân tộc năm 2019” với mong muốn có cái nhìn tổng quan về công tác chăm sóc điều dưỡng, xác
định những yếu tố ảnh hưởng Nhằm có kế hoạch cải thiện nhiều hơn nữa chất lượng chăm sóc tại viện và đưa ra một số những giải pháp hướng khắc phục để góp phần nâng cao sức khỏe của người bệnh và cũng như an tâm chữa trị của người bệnh thông qua việc hỗ trợ người thực hiện công tác chăm sóc người bệnh
Trang 12MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng công tác chăm sóc của điều dưỡng với người bệnh nội trú tại Viện Y dược học dân tộc năm 2019
2 Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác chăm sóc người bệnh và đề xuất giải pháp
Trang 13cư sinh sống bao gồm cở sở hạ tầng, trang thiết bị đội ngũ cán bộ phù hợp để thực hiện việc chăm sóc nuôi dưỡng và chăm sóc cung cấp các dịch vụ y tế cho bệnh nhân
- Theo từ điển Việt Nam: “bệnh viện còn được gọi là nhà thương là tổ chức chăm sóc sức khỏe cung cấp và điều trị cho bệnh nhân với các nhân viên y tế và điều dưỡng chuyên ngành kết hợp với thiết bị y tế”[1]
Định nghĩa về người bệnh:
- Theo luật khám chữa bệnh số 40/2009/QH12 định nghĩa người bệnh là:
“người sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh”
- Theo từ điển Việt Nam:
+ Người bệnh “người bệnh còn được gọi là bệnh nhân là đối tượng được nhận dịch vụ chăm sóc sức khỏe”
+ Người bệnh nội trú “được nhập viện và ở lại qua đêm hoặc trong một khoảng thời gian không xác định, thường là vài ngày hoặc vài tuần, mặc dù trong một số trường hợp nghiêm trọng, như hôn mê hoặc tình trạng thực vật vĩnh viễn, bệnh nhân sẽ phải ở lại bệnh viện trong nhiều năm, đôi khi cho đến khi qua đời Điều trị được cung cấp theo cách này được gọi là chăm sóc nội trú Có thủ tục khi bệnh nhân nhập viện, cũng như khi xuất viện”
+ Người bệnh ngoại trú “bệnh nhân nằm viện dưới 24 giờ”
Định nghĩa chăm sóc người bệnh: TT 07/2011/TT-BYT của Bộ Y tế trong
khoản XX điều 2 đã ghi như sau: “chăm sóc bệnh ban đầu trong bệnh viện bao gồm
Trang 14đáp ứng các nhu cầu cần thiết nhất và sự hỗ trợ cho mỗi người bệnh nhằm duy trì tuần hoàn, hô hấp, dinh dưỡng, chăm sóc tâm lý, thân nhiệt, bài tiết, vệ sinh cá nhân, tư thế, vận động, nghỉ ngơi; hỗ trợ điều trị và tránh những yếu tố nguy cơ từ bên ngoài, như môi trường bệnh viện tác động vào người bệnh” [12]
Chăm sóc điều dưỡng: Trong tài liệu hướng dẫn đánh và giá chất lượng CSNB
của Hội điều dưỡng Việt Nam chương II có ghi như sau: “chăm sóc điều dưỡng là thực hiện việc chăm sóc với người bệnh trong suốt quá trình chữa trị bệnh tại Viện Nội dung chính bao gồm: tinh thần, chăm sóc thể chất, dinh dưỡng, theo dõi, lập kế hoạch chăm sóc, phục hồi chức năng, sử dụng thuốc, giáo dục sức khỏe Chăm sóc điều dưỡng là người bệnh bắt đầu đến khám, vào nhập viện đến khi người bệnh ra viện hoặc tử vong” [25]
1.1.2 Các khái niệm về điều dưỡng
Theo Florence Nightingale: “điều dưỡng sử dụng môi trường một cách nghệ thuật để hỗ trợ công tác phục hồi cho NB”[7] Đến 1960, theo định nghĩa của Handeson “nhiệm vụ lớn nhất của người điều dưỡng là hỗ trợ, nâng cao hoặc phục hồi sức của người khỏe hoặc người bệnh, hoặc giúp họ có được sức khỏe ý chí và kiến thức hoặc một cái chết nhẹ nhàng Giúp đỡ các mỗi người bệnh để họ có được
sự tự chủ cá nhân càng sớm càng tốt” [7] Vào năm 1973 định nghĩa này được Hội đồng điều dưỡng quốc tế chấp nhận và đa số các học thuyết điều dưỡng đã có sự thống nhất, đồng bộ Vai trò và nhiệm vụ của điều dưỡng là chăm sóc và hỗ trợ người bệnh thực hiện các hoạt động thường ngày theo Handerson [7]
Theo Hiệp Hội điều dưỡng Mỹ: “điều dưỡng là một ngành nghề hỗ trợ cung ứng các dịch vụ chăm sóc góp phần vào việc cải thiện sức khỏe” [7]
Vào năm 1999 tại Việt Nam nhà xuất bản xã hội: “điều dưỡng là người phụ trách các công tác điều dưỡng, chăm sóc sức khỏe, theo dõi tình trạng người bệnh các công việc khác để phục vụ cho cả quá trình từ CSSK ban đầu cho đến phục hồi và trị liệu cho người bệnh”[1]
Trước đây điều dưỡng được xem là một ngành nghề phụ thuộc vào khối điều trị nhưng hiện nay được gọi là điều dưỡng viên vì họ đã có thể độc lập trong công việc CSNB và là một nghề mang tính độc lập trong toàn hệ thống y tế Bộ Nội vụ quy định tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp điều dưỡng, mã số của nghề điều dưỡng
Trang 15Người điều dưỡng hiện có nhiều thứ bậc, trình độ và đã được quy định rất cụ thể và chi tiết trong hệ thống ngạch bậc công chức theo các văn bản quy định TT 26/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 07/10/2015 TT liên tịch của BYT và BNV [15]
1.1.3 Một số học thuyết liên quan
Học thuyết Nightingle: Florence Nightingle (1960) là nơi bắt nguồn của lịch sử
các học thuyết điều dưỡng, được xem như mô hình học thuyết và khái niệm điều dưỡng, là người đưa ra khung thực hành điều dưỡng Các nguyên lý của thực hành
về điều dưỡng của Florence Nightingle đánh giá vai trò chức năng của người điều dưỡng không chỉ đơn thuần là hướng dẫn hoặc cho người bệnh sử dụng thuốc mà còn là định hướng môi trường như một phương tiện chăm sóc Điều dưỡng cần biết mối liên hệ và sự ảnh hưởng giữa môi trường với bệnh tật, để tận dụng các yếu tố môi trường để tác động vào việc chăm sóc Môi trường: Sự thông khí trong lành, ánh sáng, sức nóng, sự sạch sẽ, yên tĩnh, vệ sinh cá nhân để lồng ghép vào điều dưỡng và điều trị Tác động của học thuyết này nhiều đến nội dung thực hành của điều dưỡng [7]
Học thuyết Virginia Henderson: Virginia Henderson có những nguyên tắc thực
hành điều dưỡng cũng ảnh hưởng đến các nhu cầu căn bản của con người Henderson đưa ra 14 nhu cầu cơ bản xác định rõ ràng hơn nội dung về thực hành điều dưỡng đó là: “ thở bình thường; bài tiết theo trạng thái bình thường cửa cơ thể; dinh dưỡng ăn uống phù hợp; ngủ và nghỉ ngơi đủ; tư thế phù hợp; duy trì thân nhiệt trong giới hạn cho phép; mặc và thay đổi quần áo; vệ sinh cá nhân được sạch sẽ; môi trường thoải mái; giao tiếp tốt đẹp hòa nhã; thỏa mãn niềm tin, được tôn trọng và tự do tôn giáo; có ích với xã hội ; thư giãn giải trí; tiếp thu kiến thức, được học hành, tiếp nhận kiến thức y học” [7]
Theo học thuyết của Virginia Henderson: “điều dưỡng là là người làm việc
độc lập người hỗ trợ cho người bệnh, giúp giúp họ có khả năng phục hồi, giữ gìn sức khỏe, được chết trong êm ả” [7]
Mục tiêu của điều dưỡng theo học thuyết của Virginia Henderson
+ Tạo cho người bệnh tính tự lập sớm nhất có thể
+ Chỉ ra 14 nhu cầu cơ bản của trong nhiều các lĩnh vực khác nhau
(1) Thở bình thường
Trang 16Orem cho rằng: Nhu cầu tự chăm sóc của cá thể Orem cho biết người điều
dưỡng chỉ là giúp đỡ người bệnh khi họ không thể tự chăm sóc cả về tâm thần lẫn
thể chất, mối quan hệ xã hội và tự phát triển hoàn thiện cho chính họ [10], [29] Học thuyết Newman: “Học thuyết cho rằng con người là một phức hợp chức năng
của các thành phần sinh lý học, xã hội học, phát triển thể chất, tâm thần và tâm linh điều dưỡng quan tâm đến toàn bộ cá nhân con người” [7]
1.1.4 Chức năng nhiệm vụ của điều dưỡng
- Những điều kiện để đảm bảo công tác chăm sóc người bệnh trong bệnh
viện
Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện của BYT (2011), TT số 07/2011/TT-BYT ngày 26 tháng 01 về việc hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện [9]
Bệnh viện phải phải đạt tiêu chuẩn về nhân lực điều dưỡng viên, hộ sinh viên theo quy định Thông tư liên tịch số 08/2007/ TTLT-BNV-BYT ngày 5 tháng 6 năm
Trang 172007 của BYT và BNV về hướng dẫn mức biên chế trong các cơ sở y tế nhà nước
để đảm bảo việc chăm sóc người bệnh được diễn ra liên tục [4]
Hội đồng điều dưỡng và phòng điều dưỡng [6] Với bệnh viện từ hạng III trở lên thành lập phạm vi thực hành của điều dưỡng theo tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức y tế điều dưỡng tại quyết định số 41/2005/QD-BNV ngày 22/4/2005 của BNV và các quy định có ảnh hưởng đến BYT [3]
Quy định mã số, chức danh nghề nghiệp, thẩm quyền, nhiệm vụ và kiến thức, kỹ năng của điều dưỡng Thông tư 26/2015/TTLT-BYT-BNV [10]
- Nội dung hoạt động chăm sóc người bệnh của điều dưỡng
Theo quyết định số 41/2005/QĐ-BNV về việc ban hành tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức điều dưỡng[8]
Nguyên tắc chăm sóc bệnh trong bệnh viện
+ Theo dõi và chăm sóc là trách nhiệm của các BV, tất cả hoạt động chăm sóc điều dưỡng và theo dõi là do ĐDV, HSV chịu trách nhiệm và thực hiện
+ Đặt trung tâm của công tác chăm sóc là người bệnh, người bệnh được chăm sóc về mọi mặt và liên tục đảm bảo người bệnh hài lòng yên tâm điều trị
- Khi có đánh giá nhu cầu của mỗi người bệnh và có yêu cầu chuyên môn thì thì điều dưỡng thực hiện can thiệp điều dưỡng [12]
- Chức năng vai trò của điều dưỡng
Điều dưỡng là một nghề nghiệp chiếm một vị trí rất quan trọng trong công tác chăm sóc người bệnh Chữa trị và điều dưỡng là hai nghề nghiệp có định hướng khác biệt nhưng trong nhiệm vụ chữa trị và chăm sóc luôn có sự kết hợp chặt chẽ giữa thầy thuốc và điều dưỡng [49] với nhau giúp cho người bệnh bình phục sớm thì điều dưỡng hay điều trị đều phải hoàn thành tốt chức năng nghề nghiệp của mình Hội điều dưỡng Mỹ và một số nước lân cận đề cập rõ nhiệm vụ và chức năng của của người điều dưỡng là:
(1) Chức năng chăm sóc
(2) Chức năng đưa thông tin về bệnh tật
(3) Chức năng giáo viên
Trang 18(4) Chức năng tư vấn giáo dục sức khỏe
(5) Chức năng biện hộ cho người bệnh
- Công tác thuộc về chuyên môn của điều dưỡng trong công tác chăm sóc người bệnh Nhiệm vụ chuyên môn chăm sóc điều dưỡng trong công tác chăm sóc người bệnh được thể hiện trong TT 07/2011/TT-BYT [9] gồm mười hai nhiệm vụ sau:
(1) Tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe cho NB/NNNB
(2) Chăm sóc hỗ trợ tinh thần và về tâm lý cho người bệnh
(3) Chăm sóc hỗ trợ hằng ngày về vấn đề vệ sinh thân thể
(4) Chăm sóc dinh dưỡng cho người bệnh
(5) Chăm sóc phục hồi chức năng
(6) Chăm sóc người bệnh trước thủ thuật, phẫu thuật
(7) Thực hiện theo dõi sử dụng thuốc cho người bệnh
(8) Chăm sóc người bệnh giai đoạn nguy kịch và người bệnh tử vong (9) Thực hiện kỹ thuật điều dưỡng
(10) Đánh giá theo dõi người bệnh
(11) Bảo đảm sự an toàn và tránh sai sót trong chuyên môn kỹ thuật
(12) Ghi chép hồ sơ
Trang 191.2 Các nghiên cứu về thực trạng công tác chăm sóc của điều dưỡng đối với người bệnh nội trú
1.2.1 Trên thế giới
Đối với đánh giá công tác chăm sóc điều dưỡng được diễn ra thường xuyên nhiều nước trên thế giới nhằm đảm bảo cải thiện chất lượng chăm sóc người bệnh Vào những năm 1993, tiêu chuẩn thực hành của điều dưỡng đã được Viện hàn lâm Mỹ
đã xây dựng: nội dung về các quy trình chăm sóc, hướng dẫn cách ghi chéo hồ sơ, phương thức giúp bảo vệ người bệnh an toàn, từ việc nghiên cứu quan sát trực tiếp nhiều hoạt động chăm sóc của điều dưỡng và dựa vào thông tin lấy được từ những đánh giá của người bệnh đưa ra kết quả chăm sóc đặc biệt [40]
Theo tác giả Linda H.Aiken thực hiện nghiên cứu trên hơn 10.000 điều dưỡng tại hơn 300 bệnh viện 4 nước Châu Âu Thấy rất rõ kết quả: tỷ lệ điều dưỡng có đánh giá chung về sự mệt mỏi đối với công việc hằng ngày hơn mức bình thường có sự biến chuyển từ Scotland là 34% đến hơn 50% ở Mỹ Vấn đề bố trí và sắp xếp lịch
và kíp trực hợp lý tác động không nhỏ đến chất lượng chăm sóc của điều dưỡng Từ kết quả của nghiên cứu thấy được các vấn đề tác động đến hiệu quả chăm sóc điều dưỡng khi có được có được hỗ trợ và sắp xếp ca kíp hợp lý cao hơn ba lần so với ca kíp không được sắp xếp, hỗ trợ Tác giả đã đưa ra kết luận: chìa khóa để nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh là bố trí sắp xếp công việc có khoa học và tăng cường hỗ trợ thật tốt việc thực hiện nhiệm vụ chăm sóc điều dưỡng, làm tăng mức
độ hài lòng, giảm căng thẳng với việc thực nhiện nhiệm vụ chăm sóc của điều dưỡng [47]
Một vài nghiên cứu khác của Hoa kỳ nói về mức độ quan trọng của điều dưỡng viên trong công tác chăm sóc người bệnh và ảnh hưởng đến mức độ tử vong của bệnh viện Theo cơ quan nghiên cứu chất lượng chăm sóc sức khỏe dịch vụ nhân sinh và Y tế Hoa Kỳ đã đưa ra kết quả như sau ở các bệnh viện tỉ lệ tử vong tỷ lệ nghịch với số lượng điều dưỡng, những bệnh viện có tỷ lệ điều dưỡng cao thì tỷ lệ
tử vong nhỏ hơn, đặc biệt đối với các đơn vị có trách nhiệm chuyên sâu như phòng chăm sóc đặc biệt nguy có biến chứng và tử vong giảm rõ rệt khi tăng cường nhân lực điều dưỡng Nghiên cứu đã đưa ra kết luận khi tăng nhân lực điều dưỡng thì chỉ
số về chất lượng dịch vụ chăm sóc sẽ được duy trì tốt nhất [51]
Trang 20Đề tài nghiên cứu đánh giá chất lượng các dịch vụ chăm sóc điều dưỡng dựa trên
sự hài lòng người bệnh của tác giả Nguyễn Thị Bích Lưu được tiến hành tại ngoại khoa tại bệnh viện Banpong trên 175 người bệnh, tỉnh Ratchaiburi, Thái Lan Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ hài lòng với dịch vụ chăm sóc là 59.4% người bệnh đánh giá cao công việc chăm sóc và 51 người bệnh rất hài lòng với nội dung chăm sóc đó [50] Công tác chăm sóc được đánh giá tỷ lệ hài lòng rất cao
1.2.2 Tại Việt Nam
Ngành điều dưỡng thế giới có nhiều mốc son lớn, ở Việt Nam trong gần đây cũng có nhiều tiến triển tốt, điều dưỡng bắt đầu khẳng định vị thế nghề nghiệp của bản thân trong công tác Y tế Có nhiều nghiên cứu ở Việt Nam khẳng định điều đó Trong một nghiên cứu vào năm 2008 của tác giả Đào Thị Thanh Bình thực hiện điều tra ý kiến 302 người bệnh tại Trung Ương Quân đội 108 (khoa Đông y bệnh viện) để đánh giá các hoạt động CSNB của điều dưỡng Kết quả đạt được thể hiện người bệnh được tiếp đón trong thời gian ngắn đạt hơn 90%, 84.4% người bệnh được tư vấn chế độ dinh dưỡng phù hợp; các kỹ thuật chuyên môn thực hiện không đạt chỉ chiếm 14.2% Với 100% việc theo dõi dấu hiệu sinh tồn được đánh giá rất tốt [23]
Vào năm 2007 nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Điều nghiên cứu về thực trạng công tác chăm sóc và đưa ra giải pháp chăm sóc bệnh nhân tại bệnh viện Quân đội
108 kết quả cho ta thấy được sự hiệu quả của nội dung tiếp đón người bệnh tại bệnh viện, tỷ lệ đánh giá chưa đạt chỉ có 4%, tuy vậy công tác hướng dẫn người bệnh tự chăm sóc đạt 77.5%, nội dung hướng dẫn PHCN sau mổ không đạt chiếm 21.7% Điểm mạnh của nghiên cứu này là chỉ ra được mức độ tự giác, chủ động trong công việc của điều dưỡng còn chưa cao, cần được quan tâm nhiều hơn và đẩy mạnh công tác tập huấn [30]
Theo kết quả nghiên cứu của Trần Ngọc Trung về đánh giá công tác chăm sóc của điều dưỡng tại bệnh viện tỉnh Lâm Đồng năm 2011, nghiên cứu được tiến hành trong thời gian 6 tháng đối tượng là điều dưỡng, điều dưỡng trưởng khoa và người bệnh Kết quả nghiên cứu cho thấy có trên 90% người bệnh có nhu cầu chăm sóc tinh thần, trên 40% người bệnh cần được hỗ trợ vệ sinh cá nhân, có gần 98% người bệnh có yêu cầu hỗ trợ thay quần áo bệnh viện và thay ga trải giường và có 48.5% đến 73% người bệnh có nhu cầu cần giúp vận động xoay trở, PHCN Nhưng tỷ lệ
Trang 21đáp ứng nhu cầu của người bệnh còn có các mức độ khác nhau nhưng việc đáp ứng không đạt 24.7 % đến 55,9 % nhu cầu chăm sóc về tinh thần và 1.6% đến 10.1 % về thể chất Kết quả trên ta thấy rất rõ vai trò của người điều dưỡng quan trọng Hoạt động hỗ trợ các nhu cầu chăm sóc của người bệnh vô cùng khó khăn, đây cũng là thách thức chung cho toàn ngành [41]
Tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu Bến Tre nghiên cứu 102 người bệnh được nuôi ăn qua đường sonde dạ dày của tác giả Võ Thị Trang Đài, nghiên cứu nói về vấn đề chăm sóc dinh dưỡng đóng vai trò đặc biệt với người nuôi ăn qua sonde Kết quả cho thấy có 91.2% gia đình người bệnh không được nhân viên y tế tư vấn, giải thích về chế độ ăn uống Điều cần ghi nhận là gần 50% bệnh nhân không được hỗ trợ cho ăn mà được người nhà người bệnh tự cho ăn [45], tuy nhiên nghiên cứu này chưa xác định các yếu tố ảnh hưởng đến công tác chăm sóc dinh dưỡng cho người bệnh của điều dưỡng
Một nghiên cứu tương tự của Nguyễn Hồng Nương (2012) về hiệu quả của việc nâng cao kỹ năng chăm sóc bằng thuốc của điều dưỡng tại bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp qua khảo sát 94 điều dưỡng tại 5 khoa lâm sàng sau đó kiểm tra giám sát và can thiệp tập huấn Kết quả cho thấy có 69.1% điều dưỡng hiểu biết về các tính chất dược lý của thuốc, 49.9% có hướng dẫn giải thích người bệnh cách sử dụng thuốc phù hợp [36] Trong nghiên cứu này cũng chưa nói đến các yếu tố ảnh hưởng không tốt đến việc thưc hiện nhiệm vụ trên
Một nghiên cứu tương tự của Bùi Thị Bích Ngà năm 2011 tiến hành đánh giá thực trạng công tác CSNB của điều dưỡng bằng phương pháp điều tra trên 266 người bệnh đang thực hiện điều trị tại bệnh viện Y học cổ truyền Trung Ương Từ kết quả thấy rất rõ một số chức năng cơ bản làm tương đối tốt như công tác trợ giúp điều trị phối hợp thực hiện y lệnh đạt hơn 80%, gần 20% theo dõi đánh giá người bệnh không đạt, công tác tiếp đón người bệnh đạt 78.9 %, đạt 66.2% với hoạt động trợ giúp về tinh tinh thần người bệnh và giáo dục sức khỏe cho người bệnh chỉ đạt dưới 50%[17, 23]
Các nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Ngà [18], Chu Thị Hải Yến [13] đa phần chưa đánh giá sơ bộ các hoạt động chăm sóc qua người bệnh là chính và một số nghiên cứu khác đánh việc ghi chép hồ sơ bệnh án tại bệnh viện Trung Ương Huế của Phan Cảnh Chương cộng sự tiến hành năm 2012 nghiên cứu trên 84 nhân viên y
tế và 60 hồ sơ bệnh án Kết quả nghiên cứu cho thấy: việc ghi chép chuyển biến của
Trang 22người bệnh vô phiếu chăm sóc chưa đầy đủ và kịp thời chiếm 22%, chưa tốt chiếm 12%, lượng giá hoạt động chăm sóc phù hợp với tỷ lệ 70% [37]
Có một số nghiên cứu gần đây như nghiên cứu của tác giả Bùi Trương Hỷ (2014), tiến hành nghiên cứu trên 216 người bệnh và tiến hành quan sát điều dưỡng
mô tả thực trạng chăm sóc người bệnh của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa khu vực Cam Ranh tỉnh Khánh Hòa Kết quả cho thấy một số công tác trong chăm sóc
tỷ lệ hoàn thành rất thấp như tỷ lệ đúng giờ trong phục hồi chức năng rất thấp chỉ đạt 12.7 % và tìm hiểu được sự khác biệt thực hiện cách nội dung chăm sóc trong và ngoài giờ có tỷ lệ làm đúng chênh nhau, kết quả thực hiện đúng trong giờ cao (P<0.05, or = 2.48) [18]
Nghiên cứu của Chu Văn Anh (2013) nghiên cứu tiến hành trên 199 điều dưỡng viên tại 11 khoa lâm sàng tại bệnh viện Nhi trung ương, thực hành chăm sóc điều dưỡng đạt chưa cao chỉ 58.8%, tỷ lệ đạt về ghi chú dinh dưỡng 63.5% và tỷ lệ đặt
về tư vấn chế độ ăn cho người bệnh là 78.4% Việc chăm sóc về dinh dưỡng tại nghiên cứu này đạt chưa cao
Qua các nghiên cứu thấy được hoạt động chăm sóc của điều dưỡng là rất cần thiết để nâng cao chất lượng cho bệnh viện, vì vậy phải thường xuyên cải thiện chất lượng chăm sóc người bệnh
Trang 231.3 Yếu tố ảnh hưởng đến công tác chăm sóc của điều dưỡng
1.3.1 Yếu tố cá nhân
1.3.1.1 Yếu tố tuổi tác, thâm niên công tác
Về yếu tố cá nhân một số nghiên cứu đã tìm thấy đây cũng là một yếu tố liên quan mật thiết đến công tác chăm sóc của người điều dưỡng với nghiên cứu của Trần Ngọc Trung số lượng điều dưỡng tại Bệnh viện Đa Khoa tỉnh Lâm Đồng cho rằng tuổi tác là yếu tố ảnh hưởng lớn đến hoạt động chăm sóc người bệnh chiếm tỷ
lệ 10% [41] Tác giả Lê Văn Thế (2018) tại bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Thanh Hóa qua kết quả nghiên cứu định tính cho thấy điều dưỡng lớn tuổi có thâm niên công tác thì hoàn thành các nội dung chăm sóc tốt hơn như vấn đề chăm sóc tư vấn giáo dục sức khỏe, những điều dưỡng trẻ thì còn ngại giao tiếp và tư vấn còn thiếu tự tin [27] Nguyễn Thị Trâm (2014) nói về mối liên quan của tuổi và mức độ hoàn thành kỹ thuật điều dưỡng những người trên 30 tuổi thì có mức độ hoàn thành gấp 2 lần sao với dưới 30 tuổi[32] Vậy tuổi tác cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến công tác chăm sóc, cần xem xét về vấn đề này
1.3.1.2 Giới
Theo một nghiên cứu của Ozdemir (2008), nghiên cứu về nghề nghiệp và giới, nhận thức của sinh viên điều dưỡng nam về của điều dưỡng nam ở Thổ Nhĩ Kỳ kết quả cho thấy một trong ngành nghề phù hợp với nữ giới [46]
Ở nghiên cứu dựa trên 175 người bệnh của tác giả Nguyễn Thị Bích Lưu được tại bệnh viện Banpong, tỉnh Ratchaiburi, Thái Lan Những yếu tác động đến sự hài lòng của người bệnh là giới, tuổi, trình độ, thời gian điều trị nội trú của người bệnh, giáo dục sức khỏe và sự cung ứng dịch vụ y tế Người bệnh hài lòng tương đối tốt với chăm sóc của điều dưỡng (P<0.001) Người bệnh nhận xét điều dưỡng có thái
độ, thái độ chăm sóc và có sự quan tâm tốt thì sự hài lòng với điều dưỡng cao (<0.001) Bệnh nhân được cung cấp đủ các thông tin y tế và GDSK đầy đủ thì mức
độ không hài lòng càng thấp (p<0.001) Bởi vậy ta thấy vấn đề từ phía điều dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình điều trị và mức độ hồi phục và mức hài lòng của người bệnh cũng tăng Người có mức độ hài lòng cao là những người đánh giá chất lượng chăm sóc điều dưỡng tốt (p<0.001) [50]
1.3.1.2 Trình độ
Trang 24Trình độ học vấn là vấn đề rất quan trọng đối với cơ chế chính sách làm việc của mọi tổ chức Ở ngành y tế trình độ cũng ảnh hưởng mức độ nào đó đến hiệu quả điều trị cho người bệnh một minh chứng tương đối cụ thể: 2015 tác giả Bùi Anh Tú cũng thực hiện nghiên cứu công tác chăm sóc người bệnh về vấn chăm sóc và họ vấn là một trong những vấn đề tác động trực tiếp đến quá trình chăm sóc cho người bệnh Nghiên cứu liên quan đến điều trị nội trú của điều dưỡng Viện Y học cổ truyền quân đội Kết quả cho thấy các yếu tố độc lập của điều dưỡng trong GDSK
tỷ lệ chưa tốt đạt 3%, chăm sóc dinh dưỡng chỉ ở mức độ hướng dẫn, NNNB là người chăm sóc chính về vệ sinh cá nhân Nghiên cứu cũng chỉ ra được các yếu tố ảnh hưởng đến công tác chăm sóc bao gồm người bệnh các tỉnh khác, người bệnh
có trình độ từ cao đẳng trở lên, người bệnh phân cấp chăm sóc cấp III đánh giá hoạt động chăm sóc tốt hơn nhóm khác (P<0.05) Công tác chăm sóc còn có một số hạn chế: trình độ chuyên môn điều dưỡng chưa tốt, vẫn còn bị động, phối hợp giữa các khoa phòng chưa tốt, sự quan tâm động viên của lãnh đạo chưa cao [16]
Nghiên cứu 2013 của tác giả Phùng Thị Phương trên 216 người bệnh tại bệnh viện Quân y 354 và 69 điều dưỡng viên trực tiếp chăm sóc người bệnh kết quả đánh giá đón tiếp tốt tỷ lệ 97.2%, 96.3% theo dõi đánh giá người bệnh được đánh gía tốt Bên cạnh đó chăm sóc hỗ trợ tinh thần, tâm đạt tỷ lệ còn thấp Tư vấn GDSK người bệnh còn thấp 48.15% Kết quả nghiên cứu về việc thực hiện chăm sóc trong giờ và ngoài giờ có sự khác biệt và trình độ chuyên môn điều dưỡng ảnh hưởng tương đối lớn đến hoạt động chăm sóc của điều dưỡng, đặc biệt tiên lượng bệnh, theo dõi, đánh giá và tư vấn GDSK người bệnh [25]
Nghiên cứu của Chu Văn Anh (2013) tiến hành trên 199 điều dưỡng viên tại 11 khoa lâm sàng tại bệnh viện Nhi TW tỷ lệ đạt cao gấp 2.5 lần (P<0.05) khi có sự hỗ trợ của các điều dưỡng khác, tỷ lệ đạt ở nhóm có kiến thức về dinh dưỡng cao gấp 5 lần so với nhóm không có kiến thức Ta thấy rõ ràng yếu tố ảnh hưởng yếu tố kiến thức thức giữa hai nhóm [27] Cũng theo tác giả Lê Văn Thế (2018) trên kết quả nghiên cứu định tính xác định rằng trình độ học vấn cũng ảnh hưởng đến hoạt động
tư vấn giáo dục sức khỏe cho người bệnh Những người có chuyên môn trình độ cao
sẽ thuận lợi hơn so với những điều dưỡng viên có trình độ thấp [34]
1.3.2 Áp lực công việc
1.3.2.1 Nhân lực
Trang 25Trong yếu tố áp lực công việc bao gồm nhiều nội dung như ảnh hưởng của yếu tố nhân lực, yếu tố từ người bệnh, yếu tố từ vị trí chuyên môn Nhiều nghiên cứu cho thấy rõ được tác động của những yếu tố này đến hoạt động chăm sóc hằng ngày của điều dưỡng viên
Trong hoạt động của bệnh viện nhân lực là yếu cố tiên quyết đến quá trình tồn tại
và phát triển của nó Như nghiên cứu Trần Ngọc Trung (2012) có 43% ĐDV cho rằng thiếu nhân lực ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc người bệnh theo kết quả định tính của tác giả của tác giả cũng cho kết quả tương tự về mức độ hoàn thành công việc của điều dưỡng so với số lượng điều dưỡng hiện tại [42] Có rất nhiều nghiên cứu khi tìm hiểu công tác chăm sóc điều dưỡng và các yếu tố ảnh hưởng, hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra nhiều yếu tố nhưng yêu tố ảnh hưởng lớn nhất là yếu tố môi trường làm việc Tuy nhiên trong nghiên cứu đánh giá toàn diện về nguồn lực điều dưỡng của Li–ming You cùng cộng sự trên 5766 người bệnh và
9688 điều dưỡng Kết quả cho thấy: có 45% điều dưỡng không hài lòng với công việc hiện và 38% trong số các điều dưỡng được nghiên cứu làm việc quá sức Gia tăng tỷ lệ điều dưỡng đánh giá môi trường làm việc và chất lượng chăm sóc người bệnh tại bệnh viện của họ với mức thấp và trung bình (29 – 61%) và mức độ an toàn của người bệnh thấp chỉ có 36% Khi tăng tỷ lệ người bệnh trên 1 điều dưỡng sẽ làm thay đổi chất lượng chăm sóc (khi mỗi điều dưỡng tăng thêm 1 người bệnh thì
sẽ tăng sự không hài lòng với nghề nghiệp và cả mức độ gắng sức là 1.04), tăng cả
tỷ lệ chất lượng chăm sóc thấp và trung bình (OR = 1.05) Có mối ảnh hưởng rất lớn giữa tăng tỷ lệ cử nhân điều dưỡng với kết quả chất lượng chăm sóc [53] Kết quả nghiên cứu cho thấy mối liên hệ mật thiết về nhân lực, cũng như số lượng người bệnh ảnh hưởng đến công tác chăm sóc người bệnh làm tăng áp lực công việc cho điều dưỡng viên
1.3.2.2 Số lượng bệnh nhân
Nhân lực đáp ứng được tốt về vấn đề chăm sóc thì tỷ lệ người bệnh phải tương xứng, nhiều hay ít đều không thể duy trì đáp ứng này được vì vậy ta thấy một số nghiên cứu rõ rõ mối quan hệ này như của Dương Thi Bình Minh (2012) cho thấy 29% điều dưỡng viên phải chăm sóc 10 đến trên 20 BN trong đêm trực và 19% chăm 10-20 bệnh nhân trong giờ hành chính [24] Công việc của điều dưỡng đòi hỏi người điều dưỡng luôn đối mặt với những vấn đề liên quan tới mạng sống với số
Trang 26lượng bệnh nhân lớn như vậy sẽ gây áp lực lên người điều dưỡng rất lớn Một nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Bích Nga (2015) số lượng một điều dưỡng chăm sóc trong giờ hành chính là <10 BN với tỷ lệ là 74.1% và ngoài giờ thì giảm xuống bất ngờ chỉ còn 21.2%, trong giờ số điều dưỡng chăm sóc trên 20 bệnh chiếm tỷ lệ 3.5% nhưng đêm trực lại tăng lên 72.9% [28] Tương tự theo một nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Thế (2018) tại bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Thanh Hóa cho kết quả là 100% ĐDV chăm sóc trên dưới 10 người bệnh và ngoài giờ lên đến
30 người [34] Tất cả các nghiên cứu trên đều nói về mức tác động tốt hay không tốt đến vấn đề số lượng người bệnh tăng hay giảm
1.3.3 Chính sách và môi trường làm việc
1.3.3.1 Đào tạo, tập huấn, chế độ đải ngộ
Với nghiên cứu của Đào Đức Hạnh [23], Dương Thị Bình Minh [24] cho rằng quy chế sát thực và đủ sức răng đe vì vậy có sự cải thiện vô cùng lớn về kiến thức thái độ của nhân viên tại viện Xây dựng cho Viện một nề nếp tác phong chuẩn mực Ngoài ra còn có các chế độ khen thưởng đột xuất cho cá nhân có thành tích đặc biệt trong công tác chăm sóc người bệnh hoặc quản lý bằng cả tinh thần lẫn vật chất
1.3.3.2 Kiểm tra giám sát
Với vấn đề kiểm tra giám sát nếu thực hiện tốt thì kết quả mang lại tương đối tốt, còn nếu quá khắc nghiệt sẽ làm cho hiệu quả bị giảm sút và có tác dụng ngược lại
Ở nghiên cứu tương tự của Nguyễn Thị Bích Lưu [50], cũng như tác giả Li–ming You và cộng sự [50], đánh giá về yếu tố nhân lực và lượng bệnh làm tăng áp lực công việc thì ở nghiên cứu mô tả cắt ngang của Dương Thị Bình Minh (2012) nghiên cứu về thực trạng chăm sóc điều dưỡng người bệnh tại các khoa lâm sàng bệnh viện Hữu Nghị Số liệu được thu thập trên 164 lần quan sát trực tiếp và 216 phiếu khảo sát người bệnh nội trú công việc hằng ngày của trong giờ và ngoài giờ hành chính Kết quả cho thấy công tác tư vấn và giáo dục sức khỏe chỉ đạt 66.2%, còn 8,1% người chăm sóc người bệnh thực hiện cho ăn qua sonde; và nghiên cứu cho thấy được việc thiếu nhân lực điều dưỡng, quá tải công việc và trình độ điều dưỡng viên, cũng như sự phối hợp kiểm tra giám sát ảnh hưởng không nhỏ đến công tác sóc người bệnh [24]
Trang 27Một nghiên cứu khác năm 2007 của tác giả Nguyễn Thị Thanh Điều về thực trạng và đưa ra giải pháp trong công tác chăm sóc bệnh chấn thương chỉnh hình quân đội 108 kết quả cho ta thấy được sự hiệu quả của công tác tiếp đón người bệnh tại bệnh viện, tỷ lệ đánh giá chưa đạt chỉ có 4%, tuy vậy việc hướng dẫn người bệnh
tự chăm sóc đạt 77.5%, hỗ trợ người bệnh cách luyện tập PHCN mổ đạt 78.3 % Điểm mạnh của nghiên cứu này là chỉ ra được điều dưỡng chưa hoàn toàn chủ động
và cần nâng cao hiệu quả chăm sóc bằng đào tạo và tập huấn[30]
1.3.3.3 Cơ sở hạ tầng
Con người là yếu tố cốt lõi nhưng cơ sở vật chất là yếu tố tiên quyết, một số nghiên cứu chứng tỏ được cơ sở vật chất là một trong yếu tố tác động đến công tác chăm sóc với người bệnh Nghiên cứu tại bệnh viện Hữu Nghị của Dương Thị Bình Minh [24], Đào Đức Hạnh tại bệnh viện Chấn thương chỉnh hình108 [23] Với điều này cần có giải pháp tốt nhất để có thể tiện lợi cho các hoạt động chăm sóc cần tạo ngân hàng máy sử dụng và bảo trì thường xuyên Theo nghiên cứu của Trần Ngọc Trung (2012) tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng qua kết quả nghiên cứu định lượng cũng cho thấy yếu tố làm ảnh hưởng trực tiếp đến công việc chăm sóc của điều dưỡng là sơ sở vật chất [2]
Trong công tác chăm sóc người bệnh người điều dưỡng đóng một vai trò không thể thay thế, góp phần việc nâng cao tình trạng sức khỏe của người bệnh Đứng trước nhiều thách thức nhiều yếu tố tác động Nghiên cứu của Trần Ngọc Trung năm 2012 chỉ rỏ ra những yếu tố tác động, ảnh hưởng đến công tác chăm sóc người bệnh như: phương tiện, trang thiết bị, cơ sở hạ tầng củ hư hỏng nhiều, nhân lực còn mỏng, trình độ chuyên môn chưa cao [41] Đó cũng là thực trạng nhiều bệnh viện khác đang gặp phải, cần phải có phương hướng và cách thức để cải thiện giúp nâng cao hoạt động chăm sóc người bệnh
Ta nhìn rõ hơn một điều hầu như các nghiên cứu đối tượng đều là người bệnh lượng giá kết quả chính cũng là người bệnh, người được nhân dịch vụ Kết quả cho
ta thấy rất nhiều vấn đề phải quan tâm: Tư vấn giáo dục sức khỏe, hướng dẫn người bệnh tự chăm sóc, trợ giúp về tâm lý, tinh thần
Một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các yếu tố ảnh hưởng tới sự hài lòng của công việc của điều dưỡng về nơi làm việc, nhân lực không đủ, trình độ, cơ hội được đào tạo, áp lực tâm lý, khối lượng công Nghiên cứu mô tả thực trạng công tác
Trang 28của điều dưỡng tại Viện được thực hiện trên 5 khoa lâm sàng của một Viện Y Dược học Dân tộc có tầm quan trọng tương đối lớn trong công cuộc phát triển của xã hội ngày càng phát triển, ngày càng tăng về nhu cầu xã hội, bệnh tật ngày càng phức tạp tôi kỳ vọng sẽ đưa ra những cách thức cải thiện chất lượng chăm sóc góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc của viện đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân
1.4 Giới thiệu viện y dược học dân tộc
Viện Y Dược Học Dân tộc thành phố Hồ Chí Minh (Viện) là một trong những đơn vị phụ trách đầu ngành khám bệnh, chữa bệnh bằng y dược cổ truyền của Việt Nam và 19 tỉnh, thành miền Nam và cả thành phố Hồ Chí Minh và 05 tỉnh Tây Nguyên, phân công công tác chỉ đạo tuyến trong lĩnh vực khám, chữa bệnh
Viện Y Dược Học Dân tộc thành phố Hồ Chí Minh được thành lập theo Quyết định Thực hiện nhiệm vụ khám chữa bệnh đa khoa và PHCN bằng chủ ý là y học cổ truyền có kết hợp với y học hiện đại mang nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, bảo tồn
và phát triển y, dược cổ truyền; đào tạo, chỉ đạo tuyến về chuyên môn kỹ thuật và là
cơ sở thực hành về y, dược cổ truyền của các cơ sở đào tạo y, dược và các đơn vị có nhu cầu
Bao gồm các khoa
- Khoa Cấp cứu – Nội tim mạch Thần kinh
- Khoa Nội Ung bướu
- Khoa Nội Cơ – Xương – Khớp
Trang 29- Khác: 179 người (Thạc sĩ: 06, Đại học 38, Cao đẳng: 02, Trung học: 05, Khác: 21)
Viện Y dược học Dân tộc là một trong hai đơn vị đầu nghành về Y học cổ truyền Tổng số người bệnh lưu trú tại Viện giao động từ 100- 200 với đặc thù tính chất bệnh và đối tượng đa dạng Do đó đòi hỏi đơn vị phải xây dựng thêm nhiều khoa Với số lượng người bệnh ngày càng tăng ở mỗi năm, mặt bệnh ngày càng đa dạng lực lượng nhân viên chưa thế đáp ứng hoàn toàn với tình trạng hiện tại vì vậy việc nâng cáo chất lượng chăm sóc điều dưỡng là mục tiêu mà Viện quan tâm rất lớn
1.5 Khung lý thuyết áp dụng trong nghiên cứu
Khung lí thuyết được xây dựng dựa trên tổng quan tài liệu chúng tôi tiến hành
xây dựng khung lý thuyết dựa trên 12 nhiệm vu trong Thông tư số 07/2011/TT-BYT ngày 26 tháng 01 về việc hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện BYT (2011) và dựa trên cơ sở tìm hiểu, xem xét kỹ lưỡng các đặc
điểm lâm sàng và điểm tương đồng của các nghiên cứu, bao gồm: nghiên cứu của Chu Thị Hải Yến “Thực trạng công tác chăm sóc toàn diện người bệnh của điều dưỡng viên khoa hồi sức cấp cứu bệnh viện Nông Nghiêp năm 2013"[20], nghiên cứu của tác giả Bùi Anh Tú “Thực trạng công tác chăm sóc người bệnh nội trú của điều dưỡng Viện Y học cổ truyền quân đội năm 2015” [16] và nghiên cứu của Dương Thị Bình Minh [24] Khung lý thuyết gồm 2 cấu phần chính: thực trạng các công tác chăm sóc và các yếu tố ảnh hưởng
Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm: các yếu tố về cá nhân, nhóm yếu tố áp lực công việc (như: nhân lực, số lượng người bệnh, vị trí chuyên môn), nhóm chính sách môi trường làm việc (như: tập huấn, kiểm tra giám sát, đào tạo….)
Chăm sóc điều dưỡng đánh giá trên 6 nội dung: chăm sóc dinh dưỡng, chăm sóc vệ sinh thân thể, chăm sóc về tinh thần, tư vấn giáo dục sức khỏe, theo dõi đánh giá
người bệnh và chăm sóc thuốc.Khung lý thuyết chi tiết được trình bày hình 1.1
Trang 30Hình 1.1 Khung lý thuyết thực trạng chăm sóc của điều dƣỡng
Trang 31Chương 2
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Số liệu thứ cấp: Báo cáo tổng kết cuối năm 2018 của Viện Y dược học dân tộc
và báo cáo nhân lực điều dưỡng tại Viện
- Điều dưỡng đang trực tiếp chăm sóc người bệnh tại Viện Y dược học Dân tộc
- Lãnh đạo Viện, điều dưỡng trưởng Viện, điều dưỡng trưởng khoa lâm sàng
- Người bệnh/ người nhà người bệnh đang điều trị tại viện
Tiêu chuẩn chọn lựa
- Điều dưỡng là nhân viên chính thức, trực tiếp chăm sóc người bệnh và có chứng chỉ hành nghề, thâm niên công tác trên 9 tháng tại Viện chấp nhận tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ
- Điều dưỡng, lãnh đạo bệnh viện có tên trong danh sách vắng mặt thời gian đi học, thai sản, nghỉ việc không hưởng lương trong thời gian nghiên cứu, thâm niên công tác dưới 9 tháng (khi còn đang trong giai đoạn tập sự, thử việc), lãnh đạo, điều dưỡng, người bệnh hoặc người nhà người bệnh không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: nghiên cứu 5 tháng từ tháng 03 đến tháng 07 năm 2019 Địa điểm nghiên cứu: 5 khoa lâm sàng có người bệnh nội trú tại Viện Y dược học Dân tộc ( nội tim mạch – thần kinh, ung bứu, nội cơ xương khớp, ngoại tổng hợp, nội tổng hơp – châm cứu dưỡng sinh)
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính
Đối với phần định lượng: sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang
Đối với phần định tính: sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu (PVS) và thảo luận nhóm (TLN)
Trang 32Phương pháp định tính thực hiện nhằm tìm hiểu những thuận lợi khó khăn và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác chăm sóc người bệnh của điều dưỡng tại 5 khoa lâm sàng của Viện và giải pháp nhằm tăng cường công tác chăm sóc người bệnh của điều dưỡng
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng
Cỡ mẫu phỏng vấn bằng bộ công cụ: Chọn mẫu chủ đích toàn bộ 60 điều dưỡng đủ điều kiện tham gia nghiên cứu
Cỡ mẫu quan sát trực tiếp 40 điều dưỡng (chọn trong 60 điều dưỡng viên chọn ra những điều dưỡng thỏa tiêu chí chung được đặt ra, đang tham gia chăm sóc bệnh nhân cả ngày lẫn đêm trong thời điểm thực hiện nghiên cứu và là những điều dưỡng
có danh sách tại các khoa lâm sàng)
Bảng 2.1 Số điều dưỡng viên của 5 khoa lâm sàng
VIÊN
2.4.2 Cỡ mẫu nghiên cứu định tính
- Phỏng vấn sâu 7 cuộc: lãnh đạo bệnh viện (LĐBV), đại diện phòng điều dưỡng (PĐD), điều dưỡng trưởng khoa (ĐDTK)
Trang 33- Thảo luận nhóm 2 cuộc: chọn ngẫu 5 điều dưỡng viên (ĐDV) đại diện và 5 bệnh nhân /người nhà bệnh nhân đại diện (BN/NNBN)
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Số liệu thứ cấp
Sử dụng số liệu theo yêu cầu của nghiên cứu trong báo cáo thống kê về nhân lực điều dưỡng tại phòng Tổ chức cán bộ và báo cáo tổng kết bệnh viện năm 2018 tại phòng kế hoạch tổng hợp ( nghiên cứu viên tự thu thập)
2.5.2 Công cụ thu thập số liệu định lượng
- Đối với phiếu phỏng vấn điều dưỡng viên (Phụ lục 1): phiếu phỏng vấn 60
điều dưỡng viên xây dựng dựa vào 12 nhiệm vụ Chăm sóc người bệnh (CSNB) được quy định tại thông tư 07/2011-BYT TT-BYT hướng dẫn công tác diều dưỡng về chăm sóc và tham khảo bộ công cụ có sẳng Nguyễn Thị Hồng Mai [25] áp dụng phù hợp vào điều kiện thực tế của Viện, được thử nghiệm trên 5 điều dưỡng để kiểm định
sự phù hợp trước khi đưa vào thực nghiệm [14], [9] Nội dung phiếu phỏng vấn gồm phần thông tin cá nhân, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến công tác chăm sóc
+ Điều tra viên (ĐTV) là 2 điều dưỡng thuộc phòng điều dưỡng của Viện
+ Quan sát viên là nghiên cứu viên
+ Cách thức thu thập:
Hằng ngày 2 điều tra viên sẽ tiến hành phỏng vấn điều dưỡng tại các khoa lâm sàng đã được chọn lựa dự kiến mỗi ngày sẽ điều tra 5 đến 10 điều dưỡng Sau khi phỏng vấn đủ danh sách điều dưỡng sẽ thu các phiếu về, điều tra viên kiểm tra sẽ tổng hợp và làm sạch trước khi nộp cho nghiên cứu viên kiểm tra, các phiếu không đạt yêu cầu điều tra viên thực hiện làm lại để đảm bảo số liệu được chính xác
Nghiên cứu viên sẽ hỗ trợ và thực hiện giám sát các điều tra viên trong quá trình lấy số liệu, và kiểm tra mức độ phù hợp của các thông tin liên quan trong phiếu phỏng vấn, khi có thông tin chưa phù hợp, nghiên cứu viên yêu cầu điều tra viên thu thập bổ sung
- Quan sát điều dưỡng viên (phụ lục 2): sử dụng bảng kiểm được thiết kế sẵn
dựa vào 12 nhiệm vụ chăm sóc ở chương II của thông tư 07/2011/TT-BYT chọn ra 6
Trang 34nhiệm vụ quan sát trực tiếp đây là những nhiệm vụ tại thời điểm nghiên cứu người bệnh có nhu cầu thường xuyên, tiện lợi cho việc quan sát trực tiếp và tham khảo bộ công cụ có sẵn Nguyễn Thị Thùy Trâm [32] xây dựng bảng kiểm và áp dụng tình hình thực tế tại viện Vì thời gian hạn chế, nguồn lực có hạn nên không đánh giá tất cả các nội dung nội dung khác vì hầu hết các nội dung này một số nội dung không thực hiện đồng bộ ở các khoa như công tác chăm sóc phục hồi chức năng, chăm sóc người bệnh có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật, một số nội dung thực hiện nhiều như: thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng, bảo đảm an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chăm sóc người bệnh, ghi chép hồ sơ bệnh án, hoặc không được thực hiện phổ biến tại Viện như chăm sóc người bệnh giai đoạn hấp hối và người bệnh tử vong) nên không chọn, 6 nội dung chăm sóc được nghiên cứu:
- Nghiên cứu được thử nghiệm trên 5 điều dưỡng viên trước khi áp dụng vào
quan sát nghiên cứu Người thực hiện quan sát, đánh giá công việc chăm sóc của điều dưỡng viên gồm 2 cán bộ phòng điều dưỡng đã được tập huấn kỹ và thống nhất về
phương pháp thu thập số liệu theo bộ công cụ có sẵn (phụ lục 1) Cách đánh giá mức
độ đạt dựa theo bản kiểm hướng dẫn tiêu chí đánh giá đã được thiết kế (phụ lục 2)
Tiến hành quan sát các nội dung tại 5 khoa: nội tim mạch – thần kinh, ung bướu, nội cơ xương khớp, ngoại tổng hợp, nội tổng hơp – châm cứu dưỡng sinh
+ Giám sát viên: nghiên cứu viên kiểm tra và giám sát các phiếu quan sát thu thập được theo từng ngày
+ Cách thức thu thập số liệu: Mỗi điều dưỡng sẽ được quan sát 3 lần (6 nhiệm
vụ phổ biến và thường xuyên được thực hiện trong giờ hành chính từ 7h30 đến 11h30
Trang 35và 13h30 đến 16h30 và ngoài giờ từ 17h đến 22h tại các khoa lâm sàng vào các ngày làm việc chính thức và hầu hết tất cả các điều dưỡng đều thực hiện
+ Điều dưỡng viên đồng ý tham gia nghiên cứu, biết mình được quan sát nhưng không biết rõ thời gian lúc nào, tiến hành thực hiện quan sát cho đến khi thực hiện gần hết các nội dung
2.5.3 Công cụ thu thập số liệu định tính
- Học viên tiến hành phỏng vấn sâu sâu 7 cuộc: lãnh đạo bệnh viện (LĐBV), đại diện phòng điều dưỡng (PĐD), điều dưỡng trưởng khoa (ĐDTK) bằng bộ công cụ
hướng dẫn phỏng vấn sâu (phụ lục 3) với nội dung liên quan đến yếu tố ảnh hưởng
đến công tác chăm sóc và biện pháp khắc phục khi ảnh hưởng không tốt của ĐDV với người bệnh nội trú tại Viện Y dược học Dân tộc Phỏng vấn này được thực hiện vào thời gian thích hợp theo lịch hẹn của các đối tượng được phỏng vấn và sẽ được ghi
âm khi có sự đồng ý của đối tượng nghiên cứu Mỗi cuộc phỏng vấn được thực hiện
30 đến 45 phút Nguồn số liệu này được học viên trực tiếp phỏng vấn, ghi biên bản phỏng vấn và gỡ băng
- Thảo luận nhóm 2 cuộc: chọn ngẫu 5 điều dưỡng viên (ĐDV) đại diện và 5 bệnh nhân /người nhà bệnh nhân đại diện (BN/NNBN) Phiếu hướng dẫn thảo luận nhóm được dùng để thu thập thông tin từ các điều dưỡng của 5 khoa lâm sàng và NB/ NNNB tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến công tác chăm sóc của điều dưỡng (phụ lục 4) Với việc thảo luận nhóm nghiên cứu viên chủ trì cuộc thảo luận nhóm đồng thời
có thư ký ghi chép nội dung chính
2.6 Phương pháp phân tích số liệu
2.6.1 Số liệu định lượng
- Số liệu định lượng sau khi làm sạch được nhập vào máy tính với phần mềm EpiData
- Xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 22.0 áp dụng các thuật toán thống kê
mô tả và thống kê phân tích, chọn mẫu ngẫu nhiên 10 % số phiếu để kiểm tra lại
- Áp dụng các phương pháp phân tích mô tả: tính tỷ lệ phần trăm, tần số đối với các biến không liên tục, giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất
Trang 36- Kiểm định được X2 sử dụng để tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động chăm sóc của điều dưỡng
2.6.2 Thông tin định tính
Thông tin định tính được gỡ băng và phân tích theo từng chủ đề
Các cuộc phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm được gỡ băng và phân tích theo từng chủ
đề (không sử dụng phần mềm) nhằm tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn, những giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động chăm sóc người bệnh của điều dưỡng
2.7 Các biến số trong nghiên cứu
2.7.1 Bảng biến số phỏng vấn qua bộ công cụ
Phương pháp thu thập
I Thông tin chung điều dưỡng được phỏng vấn
1 Tuổi
Tuổi tính theo dương lịch (hiệu số năm 2019 trừ đi năm sinh)
Trang 3710 Hình thức đào tạo Phân theo thời gian ngắn
dài
Nhị phân Phỏng
vấn
III Mục tiêu 2: các yếu tố ảnh hưởng
1 Áp lực công việc Ý kiến của đối tượng về
tình trạng công việc Phân loại Phỏng vấn
2 Nhân lực Số người tham gia làm
NB
Nhị phân Quan sát
Trang 382 CS dinh dưỡng
CS về ăn uống, tư vấn giải thích việc
ăn uống phù hợp Nhị phân
Quan sát
3 CS vệ sinh
Tư vấn giúp đỡ NB trong các hoạt động vệ sinh
cơ thể
Định danh Quan sát
6 Theo dõi, đánh giá
Kiểm tra các dấu hiệu sinh tồn, đánh giá tình trạng bệnh diễn biến bất thường của NB
Định danh Quan sát
7 Tư vấn GDSK
Tư vấn, giải thích cho NB về bệnh tật, chế độ dinh dưỡng, vệ sinh
Định danh Quan sát
8 Hỗ trợ điều trị và phối
hợp
Thực hiện y lệnh thuốc, xét nghiệm, thực hiện KTCS hỗ trợ
Định danh Quan sát
Trang 39Chủ đề Nghiên cứu định tính
Phương pháp thu thập
Danh mục PVS, TLN
1 Tập huấn quy trình quy
định
Hoạt động cung cấp thông tin về quy trình quy định
Danh mục PVS, TLN
2 Kiểm tra giám sát Hoạt động quản lý
3 Đào tạo, bồi dưỡng Công tác nâng cao
Trang 40thưởng phạt
5 Cơ sở vật chất
Những trang thiết bị và dụng cụ hỗ trợ CS bệnh
Danh mục PVS, TLN
STT Chủ đề NC/ nhóm code và code Đối tượng
Phương pháp thu thập
Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng công tác CS của ĐD với NB nội trú tại Viện Y dược học dân tộc 2019
Mục tiêu 2: Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác CS NB
Các lý do giải thích cho việc tuân thủ công tác CS của BN
1
Yếu tố các nhân của ĐD viên: tuổi,
giới tính, trình độ chuyên môn, thâm
niên công tác
Lãnh đạo BV
ĐD trưởng BV
ĐD trưởng khoa NB/ NNBN