1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại bệnh viện hữu nghị việt nam – cu ba năm 2019

105 85 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm cung cấp cho lãnh đạo bệnh viện cái nhìn rõ ràng về thực trạng VHATNB của nhân viên y tế NVYT tại bệnh viện và một số yếu tố ảnh hưởng để từ đó triển khai các kế hoạch, định hướng,

Trang 1

NGUYỄN THỊ HƯƠNG

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VĂN HÓA AN TOÀN NGƯỜI BỆNH CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT NAM – CU BA NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802

HÀ NỘI, 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN THỊ HƯƠNG

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN

VĂN HÓA AN TOÀN NGƯỜI BỆNH CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ

BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT NAM – CU BA NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Hà Văn Như, người đã trực tiếp chỉ bảo và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để tôi hoàn thiện luận văn này Ngoài ra tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo Trường Đại học Y tế Công Cộng đã đóng góp những ý kiến quý báu cho luận văn

Nhân dịp này, tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cu Ba đã tạo điều kiện cho tôi tham dự khóa học này; Cảm ơn các anh/chị/em đồng nghiệp đã hỗ trợ, phối hợp với tôi trong quá trình thu thập số liệu; Cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người thân, bạn bè đã luôn bên tôi, động viên tôi hoàn thành khóa học và luận văn này

Trân trọng cảm ơn!

Học viên

Nguyễn Thị Hương

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vii

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Một số khái niệm 4

1.2 Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh trên thế giới và tại Việt Nam 10 1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh 13

1.4 Giới thiệu tóm tắt về bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cu Ba 16

KHUNG LÝ THUYẾT 18

CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Đối tượng nghiên cứu 20

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20

2.3 Thiết kế nghiên cứu 20

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 20

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 21

2.6 Các biến số nghiên cứu 21

2.7 Phương pháp phân tích số liệu 24

2.8 Phương pháp đánh giá 24

2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 26

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27

3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 27

3.2 Thực trạng văn hóa an toàn tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba 28

3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh 37

CHƯƠNG IV BÀN LUẬN 49

Trang 5

4.1 Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên Bệnh viện Hữu nghị

Việt Nam – Cu Ba năm 2020 49

4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh 54

4.3 Điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu 58

KẾT LUẬN 60

1 Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba năm 2020 60

2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba năm 2020 60

KHUYẾN NGHỊ 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

PHỤ LỤC 68

Phụ lục 1 Biến số nghiên cứu 68

Phụ lục 2 Phiếu khảo sát ý kiến về văn hóa an toàn người bệnh 73

Phụ lục 3 Hướng dẫn phỏng vấn sâu lãnh đạo bệnh viện 78

Phụ lục 4 Hướng dẫn phỏng vấn sâu ban an toàn người bệnh 80

Phụ lục 5 Hướng dẫn phỏng vấn sâu lãnh đạo khoa ls/cls 82

Phụ lục 7 Hướng dẫn phỏng vấn sâu nhân viên 84

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AHRQ (Agency for Healthcare

Research and Qualiy)

Tổ chức nghiên cứu chất lượng và sức khỏe Hoa Kỳ

HSOPSC (Hospital Survey on

Patient Safety Culture)

Bộ câu hỏi khảo sát văn hóa an toàn người bệnh

IOM (Institute of Medicine) Viện Y học Hoa Kỳ

Trang 7

SCYK Sự cố y khoa

VHATNB Văn hóa an toàn người bệnh WHO (World Health Organization) Tổ chức Y tế Thế giới

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2 1 Định nghĩa các khía cạnh văn hóa an toàn người bệnh 22

Bảng 2 2 Chuyển đổi điểm theo thang Likert 5 mức độ đối với các tiểu mục 24

Bảng 3 1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (n=165) 27

Bảng 3 2 Khía cạnh làm việc theo ekip trong khoa (n=165) 28

Bảng 3 3 Khía cạnh quan điểm và hành động lãnh đạo khoa về ATNB (n=165) 29

Bảng 3 4 Khía cạnh cải tiến liên tục, học tập một cách hệ thống (n=165) 29

Bảng 3 5 Khía cạnh hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện cho ATNB (n=165) 30

Bảng 3 6 Khía cạnh quan điểm tổng quát về ATNB (n=165) 30

Bảng 3 7 Khía cạnh phản hồi và trao đổi về sự cố (n=165) 31

Bảng 3 8 Khía cạnh trao đổi cởi mở (n=165) 31

Bảng 3 9 Khía cạnh tần suất ghi nhận sự cố (n=165) 32

Bảng 3 10 Khía cạnh làm việc theo ekip giữa các khoa/ phòng (n=165) 32

Bảng 3 11 Khía cạnh nhân sự (n=165) 33

Bảng 3 12 Khía cạnh bàn giao và chuyển người bệnh giữa các khoa (n=165) 34

Bảng 3 13 Khía cạnh không trừng phạt khi có sự cố (n=165) 34

Bảng 3 14 Mối liên quan giữa đặc điểm ĐTNC với VHATNB chung (n=165) 37

Bảng 3 15 Mối liên quan giữa đặc điểm đối tượng nghiên cứu với hai biến đầu ra về VHATNB (n=165) 39

Bảng 3 16 Mối liên quan giữa đặc điểm đối tượng nghiên cứu vớicác khía cạnh là điểm yếu VHATNB (n=165) 41

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3 1 Số sự cố được báo cáo trong vòng 12 tháng 35 Biểu đồ 3 2 Đánh giá mức độ ATNB của khoa 36 Biểu đồ 3 3 Tỷ lệ phản hồi theo 12 khía cạnh VHATNB 36

Trang 10

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

An toàn người bệnh (ATNB) là sự quan tâm của mỗi quốc gia, mỗi cơ sở y tế, người dân và toàn xã hội Hội nghị Thượng đỉnh Bộ trưởng Y tế toàn cầu năm 2016 tại London, Vương Quốc Anh đã khởi xướng mục tiêu ATNB và đến tháng 5/2017 tại Geneva, Đại hội đồng y tế Thế giới quyết định lấy ngày 17/9 là ngày “An toàn người bệnh Thế giới” bắt đầu từ năm 2019 Xây dựng văn hoá an toàn người bệnh (VHATNB) là hoạt động không thể thiếu của bất kỳ một cơ sở khám, chữa bệnh nào và là hoạt động thiết thực góp phần nâng cao chất lượng bệnh viện, hạn chế thấp nhất các tai biến điều trị xảy ra (1)

Đây là một nghiên cứu cắt ngang có phân tích, kết hợp phương pháp định lượng

và định tính Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 2 đến tháng 11 năm 2020 tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cu Ba, Hà Nội Mục tiêu của nghiên cứu là mô tả thực trạng và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cu Ba năm 2020 Đối tượng nghiên cứu gồm toàn bộ bác sỹ, điều dưỡng/KTV có thời gian làm việc từ 1 năm trở lên tại địa bàn nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng Bộ công cụ khảo sát VHATNB của Tổ chức AHRQ được dịch sang tiếng Việt và chuẩn hóa bởi Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh Phương pháp thu thập số liệu được sử dụng là phát vấn bộ câu hỏi và phỏng vấn sâu theo hướng dẫn được thiết kế sẵn

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đáp ứng tích cực chung với VHATNB của NVYT Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cu Ba là 73,9 % Các khía cạnh: Làm việc theo êkip trong khoa, Quan điểm và hành động của lãnh đạo khoa về ATNB, Cải tiến liên tục - học tập một cách có hệ thống, Hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện cho ATNB, Phản hồi và trao đổi về sự cố, Làm việc theo ekip giữa các khoa/phòng,Tần suất ghi nhận sự cố và Quan điểm tổng quát về ATNB là những khía cạnh có tỷ lệ đáp ứng tích cực cao

Các khía cạnh: Trao đổi cởi mở, Nhân sự, Bàn giao và chuyển người bệnh giữa các khoa, Không trừng phạt khi có sự cố là những điểm yếu cần cải thiện

Trang 11

Thu nhập trung bình, khu vực làm việc, chức danh nghề nghiệp và vị trí công tác

là những yếu tố liên quan đến VHATNB Sự quan tâm của lãnh đạo bệnh viện, hệ thống quy trình/quy định đảm bảo ATNB, đào tạo/tập huấn về ATNB giúp thúc đẩy VHATNB Hệ thống báo cáo sự cố y khoa hoạt động chưa hiệu quả, lưu trữ và tiếp cận hệ thống quy trình/quy định ATNB còn nhiều hạn chế, thiếu chế tài khen thưởng – xử phạt và thiếu nhân lực giám sát ATNB là những yếu tố ảnh hưởng không tốt đến VHATNB

Từ những kết quả trên, chúng tôi đưa ra một số khuyến nghị sau: Tổ chức tập huấn về quản lý SCYK, khuyến khích tích cực trao đổi và học hỏi từ các sự cố đặc biệt cho đối tượng bác sỹ; Rà soát, chuẩn hóa quy trình bàn giao và chuyển người bệnh; Thực hiện kiểm tra, giám sát việc bàn giao giữa các ca trực; Áp dụng Bộ chỉ

số WISN để tính toán, điều chuyển nhân lực tại các khu vực; Xây dựng quy chế khen thưởng, xử phạt cụ thể đối với các hoạt động đảm bảo ATNB; Tăng cường nhân lực cho hoạt động giám sát ATNB; Tổ chức đào tạo nâng cao nhận thức cho

NVYT về ATNB, đặc biệt cho nhân viên các khối Ngoại và Cận lâm sàng

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

An toàn người bệnh (ATNB) là nguyên tắc cơ bản trong chăm sóc sức khỏe Một số quốc gia thu nhập cao đã công bố các nghiên cứu cho thấy số lượng bệnh nhân đáng kể bị tổn hại trong quá trình chăm sóc sức khỏe, dẫn đến chấn thương vĩnh viễn, tăng thời gian lưu trú tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe hoặc thậm chí là tử vong (2)

Trong 10 sự thật về ATNB và sự cố do Tổ chức y tế Thế giới (WHO) công bố

đã khẳng định: Sự cố y khoa là nguyên nhân xếp thứ 14 về gánh nặng bệnh tật toàn cầu, có thể so sánh với bệnh lao và sốt rét; Sử dụng thuốc không an toàn và sai sót dùng thuốc gây ra hàng triệu lượt tai biến và tiêu tốn nhiều tỷ đô la mỗi năm; Hơn 7 triệu lượt tai biến gây tàn tật do phẫu thuật mỗi năm trên toàn cầu và có 1 triệu người tử vong do biến chứng phẫu thuật (3)

Phát triển văn hóa an toàn người bệnh (VHATNB) là một trong những khuyến nghị của Viện Y học Hoa Kỳ (IOM) nhằm hỗ trợ các bệnh viện cải thiện an toàn người bệnh (4) Theo định nghĩa của Viện quản lý an toàn và sức khỏe (ISHM):

Văn hóa an toàn là tập hợp những niềm tin, nhận thức và giá trị mà nhân viên chia

sẻ liên quan đến rủi ro trong một tổ chức (5) Khảo sát thực trạng VHATNB là giai đoạn đầu tiên để phát triển VHATNB và là hoạt động khởi đầu không thể thiếu, giúp bệnh viện nắm bắt được những suy nghĩ, thái độ và hành vi của nhân viên bệnh viện liên quan đến ATNB

Ngày 12/5/2016, Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh ban hành “Khuyến cáo xây dựng văn hóa an toàn người bệnh tại các bệnh viện” để định hướng và thống nhất phương thức quản lý bệnh viện trong tạo dựng VHATNB (1) Tại Hà Nội, Sở Y tế

đã ban hành các văn bản triển khai các Thông tư, quy định của Bộ Y tế về an toàn người bệnh như Thông tư 19/2013, Thông tư 43/2018, Quyết định 7482/QĐ-BYT…Tuy nhiên, các văn bản đã được ban hành chưa đề cập đến văn hóa an toàn người bệnh

Bộ câu hỏi khảo sát văn hóa an toàn người bệnh tại bệnh viện (HSOPSC) của

Tổ chức nghiên cứu chất lượng và sức khỏe Hoa Kỳ (AHRQ) xây dựng và công bố

Trang 13

chính thức vào tháng 11 năm 2004 được đánh giá là phù hợp và được sử dụng tại nhiều quốc gia trên Thế giới (6) Từ năm 2016, bộ câu hỏi đã được nhóm nghiên cứu thuộc Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh do tác giả Tăng Chí Thượng thực hiện chuyển đổi sang phiên bản tiếng Việt, được tổ chức AHRQ chính thức công nhận và cho phép sử dụng tại các bệnh viện Việt Nam

Khảo sát VHATNB đã được thực hiện tại nhiều nước trên Thế giới như Bỉ (7), Đài Loan (8), Mỹ (9), Thụy Điển (10), Ả- rập- xê- út (11)… Số liệu năm 2018 của AHRQ ghi nhận tỷ lệ đáp ứng trung bình với 12 khía cạnh VHATNB của 630 bệnh viện là 65% (12)

Việt Nam cũng không phải ngoại lệ với những sự cố y khoa không mong muốn xảy ra liên tiếp trong thời gian qua Theo thống kê của Sở Y tế Hà Nội, năm 2016

có 7 trường hợp tử vong liên quan đến sự cố y khoa; năm 2017 và 2018 đều có 3 trường hợp; 4 tháng đầu năm 2019, đã có 5 trường hợp tử vong do sự cố y khoa (13) Khảo sát về VHATNB đã được thực hiện tại 43 bệnh viện trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh năm 2016 cho thấy tỷ lệ phản hồi với VHATNB trung bình đạt 78,5% (14)

Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba là bệnh viện chuyên khoa hạng II, trực thuộc Sở Y tế Hà Nội Những năm qua Ban lãnh đạo bệnh viện luôn đặt vấn đề ATNB là ưu tiên hàng đầu với mục tiêu cung cấp cho người bệnh (NB) dịch vụ chất lượng và an toàn Tuy nhiên, việc thực hiện các hoạt động đảm bảo ATNB tại bệnh viện chưa thực sự hiệu quả, các sự cố vẫn thường xuyên xảy ra, sự cố thiếu thuốc, nhầm thuốc bị lặp đi lặp lại, một số sự cố không được báo cáo ngay khi xảy ra Nhằm cung cấp cho lãnh đạo bệnh viện cái nhìn rõ ràng về thực trạng VHATNB của nhân viên y tế (NVYT) tại bệnh viện và một số yếu tố ảnh hưởng để từ đó triển khai các kế hoạch, định hướng, giải pháp đảm bảo ATNB, chúng tôi thực hiện

nghiên cứu: “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cu Ba năm 2020”

Trang 14

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế Bệnh viện

Hữu nghị Việt Nam – Cu Ba năm 2020

2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cu Ba năm 2020

Trang 15

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 An toàn người bệnh

WHO định nghĩa an toàn người bệnh là phòng ngừa các lỗi và tác dụng phụ đối với người bệnh liên quan đến chăm sóc sức khỏe (CSSK) Trong khi chăm sóc sức khỏe đã trở nên hiệu quả hơn, vấn đề ATNB cũng trở nên phức tạp hơn với việc sử dụng nhiều công nghệ, thuốc và phương pháp điều trị mới (15)

An toàn người bệnh là một môn học trong lĩnh vực CSSK áp dụng các phương pháp khoa học an toàn hướng tới mục tiêu đạt được một hệ thống cung cấp dịch vụ CSSK đáng tin cậy An toàn người bệnh cũng là một thuộc tính của hệ thống CSSK;

nó giảm thiểu tỷ lệ mắc, tác động và tối đa hóa sự phục hồi từ các sự cố (4)

Trong lĩnh vực ATNB, người ta sử dụng thuật ngữ sự cố để mô tả các tác hại lên người bệnh phát sinh do chăm sóc y tế (chứ không phải từ bệnh tiềm ẩn) Danh mục các sự cố bao gồm:

• Các sự cố có thể phòng ngừa: là những sự cố có thể không xảy ra nếu áp

dụng các biện pháp phòng ngừa hiệu quả;

• Các sự cố có thể cải thiện: các sự cố không thể phòng ngừa được nhưng có

thể ít gây hại với NB hơn nếu có sự thay đổi về chế độ chăm sóc;

• Các sự cố do sơ suất: những sự cố xảy ra do không thực hiện đúng các quy

trình/ quy định về chăm sóc người bệnh

Hai thuật ngữ khác được sử dụng để mô tả các mối nguy hiểm cho người bệnh nhưng không gây hại:

• Nguy cơ: là tình huống đã xảy ra nhưng chưa gây hậu quả hoặc gần như xảy

ra nhưng được phát hiện và ngăn chặn kịp thời, chưa gây tổn thương đến sức khỏe của người bệnh (thông qua may mắn hoặc do phát hiện sớm)

• Lỗi: một thuật ngữ rộng hơn đề cập đến bất kỳ hoạt động chăm sóc sức khỏe

nào được thực hiện sai hoặc thiếu sót khiến bệnh nhân gặp phải tình huống nguy hiểm tiềm tàng (16)

Trang 16

Thông tư 43/2018/TT-BYT do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành ngày 26/12/2018 phân SCYK thành 4 nhóm dựa trên mức độ tổn thương đến sức khỏe, tính mạng người bệnh như sau:

• Chưa xảy ra: Tình huống có nguy cơ gây ra sự cố

• Tổn thương nhẹ: Sự cố đã xảy ra, chưa tác động trực tiếp đến người bệnh;

Sự cố đã xảy ra tác động trực tiếp đến người bệnh, chưa gây nguy hại; Sự cố

đã xảy ra tác động trực tiếp đến người bệnh, cần phải theo dõi hoặc đã can thiệp điều trị kịp thời nên không gây nguy hại

• Tổn thương trung bình: Sự cố đã xảy ra gây nguy hại tạm thời và cần phải

can thiệp điều trị; Sự cố đã xảy ra, gây nguy hại tạm thời, cần phải can thiệp điều trị và kéo dài thời gian nằm viện

Những sự cố trên được báo cáo dưới hình thức tự nguyện bằng văn bản hoặc báo cáo điện tử

• Tổn thương nặng: Sự cố đã xảy ra gây nguy hại kéo dài, để lại di chứng; Sự

cố đã xảy ra gây nguy hại cần phải hồi sức tích cực; Sự cố đã xảy ra có ảnh hưởng hoặc trực tiếp gây tử vong Các sự cố này bắt buộc phải báo cáo để có hướng xử lý kịp thời (17)

1.1.2 Văn hóa an toàn người bệnh

Khái niệm về văn hóa an toàn được sử dụng lần đầu tiên bởi Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế sau vụ tai nạn Chernobyl (18) và sau đó trong chăm sóc sức khỏe với khái niệm văn hóa an toàn người bệnh

Văn hóa an toàn là tổng hợp những hoạt động mà một tổ chức đã và đang làm để triển khai an toàn người bệnh Theo ACSNI (1993): Văn hóa an toàn của một tổ chức là sản phẩm của các giá trị cá nhân, nhóm, thái độ, nhận thức, năng lực và mô hình hành vi quyết định sự cam kết, phong cách, sự thành thạo của quản lý an toàn

và sức khỏe của tổ chức Các tổ chức có VHATNB tích cực được đặc trưng bởi các thông tin liên lạc được thiết lập dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau, bởi nhận thức chung

về tầm quan trọng của an toàn và niềm tin vào hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa

Trang 17

VHATNB là một khía cạnh của nền văn hóa chung của một tổ chức và ngày càng được chú ý bởi ATNB đã trở thành vấn đề ưu tiên trong các cơ sở chăm sóc sức khỏe tại các quốc gia (19)

1.1.3 Công cụ khảo sát văn hóa an toàn người bệnh

Trên thế giới có nhiều bộ công cụ khảo sát VHATNB đã được sử dụng (20):

1.1.3.1 Các bộ công cụ được phát triển bởi tác giả Sexton và các cộng sự

a Bộ câu hỏi thái độ về an toàn (Safety Attitudes Questionare - SAQ)

Bộ công cụ SAQ (2004) đánh giá sáu yếu tố gồm: Không khí làm việc nhóm; Không khí an toàn; Mức độ hài lòng với công việc; Nhận thức về quản lý; Điều kiện làm việc và Thừa nhận căng thẳng SAQ đã được điều chỉnh để sử dụng trong các khu vực khác nhau như khu vực chăm sóc đặc biệt, khu vực phẫu thuật, khu vực điều trị nội trú và phòng khám cấp cứu Phiên bản đầy đủ của SAQ bao gồm 60 mục, trong đó 30 mục là tiêu chuẩn và giống nhau ở cả hai phiên bản Mỗi mục được trả lời theo thang điểm Likert năm mức độ, từ Rất không đồng ý đến Rất đồng

ý

SAQ là một trong những bộ công cụ được sử dụng rộng rãi và được đánh giá nghiêm ngặt để đo lường VHATNB Biểu mẫu rút gọn có thể truy cập miễn phí, thời gian hoàn thành khảo sát từ 10 đến 15 phút và được dịch thành nhiều thứ tiếng (Na Uy, Thổ Nhĩ Kỳ, Hà Lan, Trung Quốc, Thụy Điển, Đức, Bồ Đào Nha và Ả Rập) SAQ được sử dụng để so sánh thái độ của các nhóm nhân viên khác nhau và theo dõi sự thay đổi theo thời gian Tuy nhiên, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng khía cạnh Thừa nhận căng thẳng trong SAQ là một khía cạnh riêng biệt, không phản ánh môi trường an toàn và ít chịu tác động của các can thiệp nhằm cải thiện khía cạnh này

b Khảo sát môi trường an toàn (Safety Climate Survey - SCSu)

SCSu là một bộ công cụ được phát triển năm 2005 gồm 21 mục và được sử dụng

để đo lường thái độ, nhận thức của các nhân viên y tế tuyến đầu về các quy trình, nền tảng đảm bảo an toàn Điểm yếu của bộ công cụ là không cung cấp các điểm số phụ riêng biệt và không bao gồm các tiểu mục đánh giá một số khía cạnh đảm bảo không khí an toàn người bệnh (như làm việc theo nhóm)

Trang 18

c Thang đo môi trường an toàn (Safety Climate Scale - SCSc)

SCSc là thang đo gồm 13 tiểu mục, trong đó có 10 tiểu mục có nguồn gốc từ bộ công cụ SAQ và 9/13 tiểu mục của SCSc tương tự bộ công cụ SCSu Thang đo rất ngắn, với độ tin cậy tương tự như SCSu và có tỷ lệ phản hồi tốt Tuy nhiên, bộ công

cụ này không được sử dụng rộng rãi như SAQ hoặc SCSu

d Khảo sát môi trường an toàn Victoria (Victorian Safety Climate Scale – Vic SCS)

Bộ công cụ Vic SCS (2011) được phát triển bởi Cơ quan quản lý bảo hiểm Victoria (VMIA) và Hội đồng chất lượng Victoria (VQC), sử dụng để đánh giá môi trường an toàn cho người bệnh Bộ công cụ này được điều chỉnh từ bộ công cụ SAQ với nội dung các tiểu mục được giữ nguyên nhưng một số thuật ngữ đã được thay thế cho phù hợp để phổ biến rộng rãi và áp dụng cho các dịch vụ y tế của Úc Bộ công cụ có 2 phiên bản: đầy đủ (74 tiểu mục) và ngắn (42 tiểu mục) Điểm yếu của

bộ công cụ là không có thông tin về độ tin cậy và hiệu lực được công khai

e Khảo sát an toàn, truyền thông, sự cam kết và đảm bảo hoạt động (Safety, Communication, Operational Reliability and Engagement - SCORE)

Năm 2014, Sexton và cộng sự đã cập nhật bộ công cụ SAQ để phản ánh nhu cầu

an toàn chăm sóc sức khỏe thành bộ công cụ SCORE, giữ lại các lĩnh vực Không khí an toàn và Không khí làm việc nhóm của SAQ, bổ sung thêm bốn lĩnh vực mới bao gồm Cân bằng giữa công việc và cuộc sống, Sự kiệt sức, Môi trường học tập và Lãnh đạo khoa/phòng Khảo sát SCORE bao gồm 48 tiểu mục, trong đó hầu hết sử dụng thang đo Likert năm điểm Từ các nghiên cứu đã được thực hiện trên SCORE cho thấy bộ công cụ có hiệu lực và độ tin cậy tốt (ước tính từ 0,82-0,92)

1.1.3.2 Các bộ công cụ của Stanford Group

a Công cụ Stanford được sửa đổi (Stanford PSCI Culture survey and Modified Stanford Instrument – MSI-06)

Bộ công cụ Stanford ban đầu đánh giá 30 tiểu mục, dưới 5 khía cạnh: Tổ chức; Khoa/phòng; Báo cáo/ Tìm kiếm sự giúp đỡ; Xấu hổ/ Tự nhận thức Các phản hồi được đánh giá bằng ba thang đo: thang Likert 5 điểm, thang đo "có/không” và thang

đo tần số 5 điểm Do bộ công cụ này không bao phủ toàn diện các vấn đề nền tảng

Trang 19

của văn hóa an toàn vì vậy bộ Công cụ Stanford sửa đổi (MSI-06) được ra đời với

32 tiểu mục, đánh giá trên 5 khía cạnh: Lãnh đạo bệnh viện vì ATNB; Lãnh đạo khoa/phòng vì ATNB; Nhận thức thực trạng ATNB; Sự xấu hổ và các hậu quả của báo cáo sự cố; Các hành vi học tập ATNB

Điểm mạnh của công cụ Stanford được sửa đổi là nó có thể được sử dụng để đánh giá trên phạm vi rộng đối với nhân viên trong các cơ sở CSCK bao gồm các NVYT trực tiếp chăm sóc NB (bác sỹ, điều dưỡng/KTV) và các NVYT không trực tiếp chăm sóc người bệnh (các phòng ban chức năng) Mặc dù vậy, nghiên cứu của Ginsberg và cộng sự khuyến nghị công cụ này cần được sàng lọc do các tính chất tâm lý không đầy đủ

b Bộ công cụ khảo sát văn hóa an toàn người bệnh tại cơ sở y tế (Patient Safety Culture in Healthcare Organisations – PSCHO)

Bộ công cụ PSCHO (2007) được điều chỉnh từ bộ công cụ Stanford, gồm 38 tiểu mục đánh giá các chủ đề liên quan của tổ chức; đơn vị công tác và các yếu tố cá nhân; thời gian hoàn thành khảo sát ước tính 20 đến 30 phút PSCHO thu thập ý kiến từ khu vực lâm sàng, nhân viên quản lý và có thể được sử dụng trên một loạt các bệnh viện Công cụ đã trải qua nhiều kiểm tra tâm lý và đã được sử dụng để so sánh giữa các bệnh viện khác nhau

1.1.3.3 Khung đánh giá ATNB Manchester (Manchester Patient Safety

Assessment Framework - MaPSaF)

Bộ công cụ MaPSaF (2006) được sử dụng để đánh giá nhận thức của NVYT về VHATNB trong các cơ sở CSSK thông qua quá trình thảo luận và phản ánh thuận lợi Bộ công cụ này đánh giá 10 khía cạnh của VHATNB: Cam kết cải tiến liên tục;

Ưu tiên an toàn; Lỗi hệ thống và trách nhiệm cá nhân; Ghi lại sự cố và thực hành tốt nhất; Đánh giá sự cố và thực hành tốt nhất; Học tập và thay đổi hiệu quả; Truyền thông về các vấn đề an toàn; Quản lý nhân sự và các vấn đề an toàn; Giáo dục và đào tạo nhân viên; Làm việc nhóm Các khía cạnh này được đánh giá theo ma trận 5 cấp, dựa trên các giai đoạn phát triển văn hóa tổ chức của Westrum (1992)

Điểm mạnh của bộ công cụ này là được sử dụng để đánh giá quá trình phát triển VHATNB và sự trưởng thành của tổ chức, bằng cách: Tạo điều kiện cho sự phản

Trang 20

ánh về VHATNB; Khuyến khích thảo luận về điểm mạnh và điểm yếu của VHATNB; Tiết lộ bất kỳ sự khác biệt trong nhận thức giữa các nhóm nhân viên; Giúp hiểu văn hóa an toàn phát triển như thế nào; Giúp đánh giá mọi can thiệp cụ thể cần thiết để thay đổi VHATNB

Mặc dù được sử dụng rộng rãi nhưng việc đánh giá bộ công cụ này đòi hỏi nhiều thời gian (>120 phút) dẫn đến việc áp dụng để kiểm định chất lượng là không phù hợp

1.1.3.4 Bộ công cụ khảo sát văn hóa an toàn người bệnh tại bệnh viện

(Hospital Survey on Patient Safety Culture - HSOPSC) của Tổ chức AHRQ

Năm 2004, Cơ quan Nghiên cứu Y tế và Chất lượng (AHRQ) của Hoa Kỳ đã công bố bộ công cụ khảo sát về VHATNB tại bệnh viện (HSOPSC) cho các bệnh viện và nhân viên y tế để đánh giá VHATNB trong bệnh viện của họ Kể từ đó, hàng trăm bệnh viện trên khắp Hoa Kỳ và quốc tế đã sử dụng bộ công cụ này để thực hiện khảo sát VHATNB Năm 2019, AHRQ đã phát hành một phiên bản mới, gọi là HSOPSC Survey 2.0

Khảo sát VHATNB có thể được sử dụng để tăng cường nhận thức của nhân viên

về ATNB; đánh giá thực trạng VHATNB; xác định các điểm mạnh và lĩnh vực để cải thiện VHATNB; xem xét xu hướng thay đổi VHATNB theo thời gian; đánh giá tác động văn hóa của các sáng kiến và can thiệp ATNB; so sánh VHATNB trong và giữa các tổ chức (21)

Theo số liệu năm 2018 của tổ chức AHRQ, Bộ công cụ khảo sát Văn hóa an toàn người bệnh đã được thực hiện tại 630 bệnh viện với 382.834 nhân viên bệnh viện tham gia trả lời, 12 lĩnh vực văn hóa an toàn người bệnh được đánh giá (12) HSOPSC là một bộ câu hỏi khảo sát gồm 12 yếu tố, với 42 mục; đánh giá 10 khía cạnh về văn hóa an toàn người bệnh, với hai kết quả đầu ra (nhận thức chung

về an toàn người bệnh và tần suất báo cáo sự cố)

Năm 2016, Bộ câu hỏi khảo sát văn hóa ATNB (HSOPSC) được tác giả Tăng Chí Thượng và nhóm nghiên cứu của Sở Y tế TP Hồ Chí Minh chuyển đổi sang

Trang 21

phiên bản tiếng Việt Bản dịch này đã được tổ chức AHRQ công nhận và cho phép

sử dụng tại các bệnh viện Việt Nam (22)

Bộ công cụ HSOPSC được chọn cho nghiên cứu này vì nhiều lý do Đầu tiên, HSOPSC có chất lượng phương pháp tổng thể tốt với đánh giá tốt về các đặc tính tâm lý được báo cáo của công cụ (23)

Thứ hai, HSOPSC đã được sử dụng rộng rãi tại các bệnh viện ở Hoa Kỳ và được xác nhận để sử dụng ở hơn 60 quốc gia, được dịch sang 30 ngôn ngữ khác nhau (10, 24-27)

Thứ ba, HSOPSC là một biện pháp toàn diện về khảo sát an toàn vì bộ công cụ này đánh giá các khía cạnh chính liên quan đến ATNB ở nhiều cấp độ phân tích bao gồm cấp độ cá nhân, khoa/phòng và bệnh viện

Cuối cùng, công cụ này có sẵn miễn phí, sử dụng ngôn ngữ rõ ràng với quy mô đơn giản và dễ làm theo

1.2 Thực trạng văn hóa an toàn người bệnh trên thế giới và tại Việt Nam

Sự quan tâm đến văn hóa an toàn người bệnh đã tăng lên từ những năm 2000, khi các hệ thống y tế đứng trước thách thức cung cấp dịch vụ chăm sóc an toàn, chất lượng tốt hơn Phát triển và củng cố VHATNB là một phương thức quan trọng để quản lý và giảm thiểu rủi ro trong các tổ chức y tế Bước đầu tiên trong việc thiết lập toàn bộ quá trình này là đánh giá thực trạng văn hóa an toàn (28)

Trên Thế giới, đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện để đánh giá thực trạng văn hóa an toàn người bệnh sử dụng bộ công cụ HSOPSC của AHRQ với các phiên bản ngôn ngữ khác nhau Một điều dễ nhận thấy là hầu hết các nghiên cứu về thực trạng VHATNB đều sử dụng phương pháp nghiên cứu cắt ngang Trong khi phần lớn các nghiên cứu sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu bằng bảng câu hỏi trên giấy (7-9, 11, 29) thì một số nghiên cứu được sử dụng kết hợp phương pháp thu thập bằng giấy và khảo sát web (21, 30) Tại Việt Nam, Bộ câu hỏi khảo sát về VHATNB (HSOPSC) được tác giả Tăng Chí Thượng áp dụng đầu tiên năm 2012 tại Bệnh viện Nhi đồng 1 Từ đó đến nay, khái niệm VHATNB ngày càng trở lên quen thuộc đối với những người làm việc trong lĩnh vực y tế Đặc biệt, các nghiên cứu khảo sát, đánh giá về thực trạng VHATNB sử dụng Bộ công cụ HSOPSC ngày

Trang 22

càng được thực hiện nhiều tại các bệnh viện trên cả nước dưới hình thức luận văn hoặc đề tài nghiên cứu khoa học Nhìn chung, tỷ lệ đáp ứng tích cực đối với VHATNB của các bệnh viện Việt Nam dao động từ 68,1% - 78,5% (14, 33-36), khá cao so với dữ liệu khảo sát của AHRQ năm 2018 (65%) (13) Điều này có thể do khác biệt về văn hóa, nhận thức và tiêu chuẩn đánh giá của đối tượng nghiên cứu

1.2.1 Khía cạnh “Làm việc theo ekip trong khoa”; “Cải tiến liên tục, học tập

một cách hệ thống”; “Hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện cho ATNB” và

“Quan điểm và hành động của lãnh đạo khoa về an toàn người bệnh”

Nghiên cứu của tác giả I-Chi Chen và Hung-Hui Li thực hiện tại 42 bệnh viện Đài Loan năm 2010 (8); tác giả El-Jardali, Sheikh, Garcia, Jamal và cộng sự thực hiện tại Saudi Arabia năm 2014 (11); tác giả Lukman Hakim Ismail và Jasmy Yunus tại Malaysia năm 2015 (31); tác giả Hefner, Hilligoss, Knupp và cộng sự tại

Mỹ năm 2017 (21); tác giả Tereanu và các cộng sự thực hiện năm 2017 tại Rumani (19) và tác giả Danielsson và các cộng sự (2018) tại Thụy Điển (5) đều ghi nhận

“Làm việc theo êkip trong khoa/phòng” và “Cải tiến liên tục – Học tập một cách hệ thống” là những khía cạnh có tỷ lệ đáp ứng tích cực cao nhất

Kết quả khảo sát trên 43 bệnh viện tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2016 cho thấy “Làm việc nhóm trong khoa” (96,3%); “Học tập – cải tiến liên tục” (93,9%) và

“Hỗ trợ lãnh đạo bệnh viện về ATNB” (91%) là những lĩnh vực có tỷ lệ đáp ứng cao (14) Tương tự, nghiên cứu của Nguyễn Cẩm Hằng (2012) (37); Nguyễn Thị Thanh Trúc (2017) (38), Lê Trung Trọng (2017) (36); Ngô Thị Ngọc Trinh (2018) (33); Tô Thị My Phương (2019) (34); Lê Thanh Hải (2019) (35) cũng cho thấy sự quan tâm, khuyến khích của lãnh đạo bệnh viện/ trung tâm đối với các vấn đề liên quan đến ATNB; tinh thần đoàn kết, làm việc nhóm trong cùng khoa/phòng và tinh thần học tập, cầu thị, cải tiến từ những sự cố xảy ra của nhân viên y tế ngày càng cao

Dữ liệu báo cáo về VHATNB của 630 bệnh viện được thực hiện bởi Tổ chức AHRQ năm 2018 cho thấy tỷ lệ đáp ứng tích cực đối với VHATNB là 65% Trong

đó “Làm việc nhóm trong khoa/phòng”, “Hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện cho ATNB” và “Cải tiến liên tục – Học tập có hệ thống” là những điểm mạnh về

Trang 23

VHATNB; “Nhân sự”, “Bàn giao và chuyển NB” và “Không trừng phạt khi có sự cố” là những khía cạnh có tỷ lệ đáp ứng tích cực thấp Kết quả nghiên cứu cũng chỉ

ra rằng các bệnh viện nhỏ (6-24 giường) có tỷ lệ đáp ứng tích cực cao nhất với 71%

và các bệnh viện lớn (trên 500 giường) có tỷ lệ đáp ứng tích cực thấp nhất với 61% Điều này cho thấy, quy mô bệnh viện là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng và phát triển VHATNB Về khu vực làm việc nghiên cứu chỉ ra rằng những người làm việc tại khu vực cấp cứu có tỷ lệ phản hồi thấp nhất (60%) và cao nhất là khu vực phục hồi chức năng (71%) Đối tượng nghiên cứu là các nhân viên hành chính và quản lý có tỷ lệ đáp ứng tích cực cao nhất (77%) và điều dưỡng là đối tượng có tỷ lệ đáp ứng tích cực thấp nhất (63%) (12)

1.2.2 Khía cạnh “Quan điểm tổng quát về an toàn người bệnh” và “Làm việc

theo ekip giữa các khoa/phòng”

Khía cạnh “Nhận thức về an toàn người bệnh” và “Làm việc nhóm giữa các khoa/phòng” là những khía cạnh có tỷ lệ đáp ứng khá cao (~80%) (34, 35, 38) Điều này cho thấy làm việc nhóm giữa các khoa/phòng còn gặp một số khó khăn do sự khác biệt về công tác chuyên môn, định hướng và cách quản lý của từng nhà lãnh đạo tại từng khu vực khác nhau Nhận thức về ATNB của NVYT ngày càng cao, đặc biệt là khi các vấn đề về cải tiến chất lượng, an toàn và hài lòng người bệnh ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm từ cộng đồng

1.2.3 Khía cạnh “Phản hồi và trao đổi về sự cố”; “Trao đổi cởi mở”; “Không

trừng phạt khi có sự cố” và “Tần suất ghi nhận sự cố”

Hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy một nền văn hóa đổ lỗi dường như tồn tại trong các bệnh viện nói chung (8, 21, 32) Một nền văn hóa trừng phạt liên quan đến việc khi xảy ra các sự cố, nhân viên cảm thấy lo lắng, sợ hãi dẫn đến giấu diếm, không báo cáo sự cố gây khó khăn cho việc phát hiện ra các nguyên nhân gốc rễ và

do đó hạn chế việc học hỏi từ những sai lầm Khía cạnh này cần được cải thiện nhằm nâng cao VHATNB tại các bệnh viện

Phần lớn các nghiên cứu đều chỉ ra “Trao đổi cởi mở”; “Tần suất báo cáo sự cố”

và “Không trừng phạt khi có sự cố” là những khía cạnh ghi nhận tỷ lệ đáp ứng tích cực thấp (32-37) Điều này cho thấy, tại các bệnh viện Việt Nam “sự cố”, “báo cáo

Trang 24

sự cố” còn là vấn đề nhạy cảm, khi nhắc đến sự cố, người ta có khuynh hướng nghĩ đến Ai là người gây ra sự cố? để đổ lỗi, quy trách nhiệm mà không phải là Tại sao lại xảy ra sự cố? Làm thế nào để khắc phục sự cố? Phải làm gì để sự cố không tái diễn? Chính văn hóa đổ lỗi đã khiến cho nhân viên y tế lo ngại khi trao đổi, chia sẻ

và báo cáo về các sự cố đã xảy ra

1.2.4 Khía cạnh “Nhân sự”

Khía cạnh “Nhân sự” được nhiều bệnh viện trên Thế giới ghi nhận là điểm yếu

về VHATNB (8, 21, 32) Điều này cho thấy, nhân sự là vấn đề chung của các bệnh viện ở nhiều quốc gia trên Thế giới; phần lớn nhân viên cảm thấy quá tải vì sự không phù hợp đối với các công việc của họ và điều này có thể ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc người bệnh Tương tự, tại Việt Nam tình trạng nguồn nhân lực thiếu về số lượng và yếu về chuyên môn, phải làm việc quá sức dẫn đến căng thẳng, mất ngủ và ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc, an toàn, hài lòng của người bệnh là vấn đề gặp phải ở hầu hết các bệnh viện, cơ sở y tế Nghiên cứu của Nguyễn Cẩm Hằng năm 2012 ghi nhận tỷ lệ đáp ứng với khía cạnh nhân sự là 53% (32); Ngô Thị Ngọc Trinh (2018) là 51% (35); Tô Thị My Phương (2019) là 34,3% (36) và Lê Thanh Hải (2019) là 65,9% (37)

1.2.5 Khía cạnh “Bàn giao và chuyển người bệnh giữa các khoa”

Một số nghiên cứu cũng chỉ ra quá trình bàn giao và vận chuyển người bệnh còn tồn tại những vấn đề có thể ảnh hưởng đến an toàn của người bệnh (32, 34-36) Phần lớn đối tượng nghiên cứu cho rằng khi bàn giao người bệnh từ ca này sang ca kia hoặc khoa này sang khoa kia có thể dẫn đến việc một số thông tin bị bỏ sót hoặc sai lệch và điều này có thể dẫn đến những nguy cơ tiềm ẩn đối với người bệnh

1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh

Thiết lập VHATNB trong chăm sóc sức khỏe là điều cần thiết để cải thiện chất lượng chăm sóc và thúc đẩy sự an toàn của người bệnh Một số nghiên cứu cho thấy VHATNB có thể bị ảnh hưởng bởi đặc điểm của ĐTNC như khu vực làm việc, vị trí làm việc, thời gian công tác và số giờ làm việc mỗi tuần (18, 30, 38, 39)

Trang 25

1.3.1 Yếu tố cá nhân

Nghiên cứu các yếu tố tác động đến thực trạng VHATNB tại Bệnh viện quận Thủ Đức năm 2018 của tác giả Nguyễn Hữu Huấn và Nguyễn Thị Bích Phụng cho thấy thu nhập hàng tháng tác động đến các yếu tố: chính sách ATNB, vai trò lãnh đạo, giao tiếp cởi mở, giao ca và chuyển bệnh, phản ứng với các sai sót với mức ý nghĩa thống kê p<0.01 (40)

Các nghiên cứu của tác giả Y.Nie tại Trung Quốc năm 2013 (41) , El-Jadalish tại A rập xê út năm 2014 (11), Tereanu tại Rumani năm 2017 (19), Rajalatchumi tại

Ấn Độ năm 2018 (42), Trần Nguyễn Như Anh năm 2015 (43), Tăng Chí Thượng năm 2016 (14), Lê Thanh Chiến năm 2016 (44), Nguyễn Thị Thanh Trúc năm 2017 (45) và Ngô Thị Ngọc Trinh năm 2018 (35) tại Việt Nam cho thấy sự khác biệt có

ý nghĩa thống kê về tỷ lệ nhân viên y tế phản hồi tích cực với các khía cạnh VHATNB giữa các chức danh nghề nghiệp khác nhau

Kinh nghiệm làm việc tại bệnh viện cũng có mối liên quan đến VHATNB Cụ thể, nghiên cứu của Khaled A Khader (2016) và Danielsson (2018) cho thấy nhóm nhân viên y tế có kinh nghiệm chuyên môn lâu năm có tỷ lệ phản hồi tích cực cao với VHATNB (5, 18) Nghiên cứu của EL-Jardali đã chỉ ra những người có thời gian công tác ngày càng tăng có tần suất báo cáo sự cố tăng lên, mặt khác nhận thức

về an toàn người bệnh có xu hướng giảm Nhận thức về an toàn được định nghĩa là mức độ đáp ứng tốt của các quy trình, hệ thống trong việc ngăn ngừa lỗi và giảm thiểu các vấn đề về an toàn người bệnh Khi các đối tượng nghiên cứu có thời gian công tác lâu hơn, họ nhận thức rõ hơn về các thực hành an toàn được thực hiện tại khoa/phòng họ làm việc Khi nhận thức về an toàn giảm đi cùng với sự gia tăng số năm kinh nghiệm, điều đó có nghĩa là nhân viên bệnh viện không đồng ý rằng các hoạt động đảm bảo ATNB, hệ thống và quy trình trong bệnh viện đóng vai trò là rào cản ngăn ngừa sự cố xảy ra (11)

Một số nghiên cứu được thực hiện trên Thế giới và tại Việt Nam đã chỉ ra rằng

số giờ làm việc mỗi tuần có ảnh hưởng đến VHATNB (38, 46, 47) Kết quả nghiên cứu của Sintayehu Daba Wami và các cộng sự (2016) thực hiện tại 4 bệnh viện ở Ethiopia cho thấy khi tăng số giờ làm việc mỗi tuần, điểm văn hóa an toàn người

Trang 26

bệnh giảm 0,06 (β= −0,06, KTC 95%: −0,12, −0,001) Những người được phỏng vấn tin rằng khi nhân viên y tế phải làm việc nhiều giờ thì họ có xu hướng làm việc nhanh hơn để có thể chăm sóc người bệnh tốt nhất Điều này có nghĩa là khi nhân viên y tế phải làm việc nhiều giờ, họ phải cố gắng làm thật nhanh dẫn đến tác động tiêu cực đối với văn hóa an toàn người bệnh (46)

Nghiên cứu của Singer SJ (2003), Huang DT (2007), Jones KJ (2008), Nguyễn Thị Thanh Trúc (2017) và Ngô Thị Ngọc Trinh (2018) đều chỉ ra rằng khoa/phòng làm việc là một trong những yếu tố liên quan đến VHATNB (9, 35, 45, 48, 49)

1.3.2 Yếu tố môi trường, chính sách

Sintayehu Daba Wami và các cộng sự (2016) đã thực hiện nghiên cứu về VHATNB và một số yếu tố liên quan tại 4 bệnh viện ở Ethiopia với cỡ mẫu 637 người Nghiên cứu sử dụng bộ công cụ HSOPSC và phân tích bằng phương pháp hồi quy tuyến tính Kết quả cho thấy mức độ tổng thể của VHATNB là 46,7 %; số giờ làm việc mỗi tuần, tần suất ghi nhận sự cố, trao đổi cởi mở, làm việc nhóm trong bệnh viện, trình độ của nhân viên, phản hồi về lỗi và sự tham gia vào các chương trình an toàn người bệnh là các yếu tố liên quan đáng kể đến VHATNB (46) Nghiên cứu tại Bệnh viện II Lâm Đồng năm 2019 của tác giả Huỳnh Ngọc Thành cho thấy hầu hết lãnh đạo các khoa/phòng quan tâm đến ATNB; tỷ lệ “Phản hồi sự cố”, “Trao đổi cởi mở về ATNB” và “Báo cáo sự cố” chưa nhiều; “Làm việc nhóm giữa các khoa” chưa thuận lợi; 1/2 NVYT lo ngại về khả năng xảy ra sự cố khi thực hiện “Bàn giao và vận chuyển bệnh nhân giữa các khoa:; 1/3 NVYT đánh giá khoa mình có vấn đề về ATNB Các yếu tố ảnh hưởng đến VHATNB là đủ nhân sự; phản hồi về các biện pháp cải tiến dựa trên báo cáo sự cố; được thông tin về những sai sót xảy ra; báo cáo sự cố suýt xảy ra và sự cố đã xảy ra nhưng chưa gây hại; các yếu tố về quy định, hướng dẫn ATNB; hệ thống báo cáo sự cố; hoạt động kiểm tra, giám sát; hạ tầng, trang thiết bị; tình trạng quá tải và đào tạo, tập huấn cho nhân viên về ATNB (50)

Nghiên cứu về VHATNB tại Bệnh viện đa khoa Đống Đa năm 2019 cho thấy hệ thống quy trình/ quy định; đào tạo, tập huấn về ATNB và báo cáo sự cố y khoa là những yếu tố ảnh hưởng đến VHATNB (37)

Trang 27

Tác giả Tô Thị My Phương (2019) chỉ ra công tác đào tạo, tập huấn liên tục; sự sẵn có của quy trình, hướng dẫn ATNB và hệ thống báo cáo sự cố y khoa đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển VHATNB và được xem là các yếu tố vừa thúc đẩy nhưng đồng thời cũng là thách thức đối với VHATNB tại bệnh viện (36)

1.3.3 Yếu tố quản lý, lãnh đạo

Để thiết lập một môi trường đảm bảo ATNB và đưa ATNB trở thành văn hóa của tổ chức thì sự hỗ trợ, quan tâm của lãnh đạo đóng vai trò vô cùng quan trọng Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng định hướng của lãnh đạo có liên quan đến các hành vi

an toàn của nhân viên y tế và tạo thuận lợi cho các hoạt động của bệnh viện như giảm nguy cơ xảy ra sự cố, tăng cường tuân thủ các hướng dẫn, quy trình/quy định Theo Hướng dẫn lãnh đạo cho an toàn người bệnh của Botwinick và cộng sự năm 2006: “Chỉ các nhà lãnh đạo cao cấp có thể chỉ đạo một cách hiệu quả các nỗ lực trong các tổ chức chăm sóc sức khỏe để thúc đẩy văn hóa và cam kết cần thiết

để giải quyết các nguyên nhân gây ra các sai sót y khoa và tác hại đối với người bệnh” (51) Các nghiên cứu của Ngô Thị Ngọc Trinh (2018) [6]; Lê Thanh Hải (2019) (37); Tô Thị My Phương (2019) (36) cũng cho thấy sự quan tâm ủng hộ, khuyến khích của lãnh đạo là yếu tố thúc đẩy VHATNB

Kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa Đống Đa năm 2019 cho thấy yếu tố quản lý, được sự quan tâm, chỉ đạo kịp thời của Ban Giám đốc bệnh viện; công tác kiểm tra, giám sát được chú trọng triển khai; chưa có chế tài khen thưởng, xử phạt phù hợp đối với những cá nhân, tập thể thực hiện VHATNB tích cực hay chưa tích cực là các yếu tố ảnh hưởng đến VHATNB (37)

Hoạt động kiểm tra, giám sát nhằm phát hiện các nguy cơ, sự cố chưa được báo cáo, giúp bệnh viện chủ động triển khai các biện pháp cải tiến nhằm hạn chế lặp lại

sự cố và đảm bảo an toàn cho người bệnh Một số nghiên cứu về VHATNB cho thấy hoạt động kiểm tra, giám sát là yếu tố ảnh hưởng đến VHATNB (35-37, 45)

1.4 Giới thiệu tóm tắt về bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cu Ba

Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba được thành lập ngày 18/6/1969, là bệnh viện chuyên khoa hạng II, trực thuộc Sở Y tế Hà Nội Hiện nay, bệnh viện quản lý cho hơn 100.000 thẻ BHYT trên địa bàn quận Hoàn Kiếm và các quận lân cận

Trang 28

Là bệnh viện đầu ngành về 2 chuyên khoa RHM, TMH của Sở Y tế Hà Nội, mỗi năm bệnh viện khám và điều trị cho khoảng 170.000 người, thực hiện hơn 3.000 ca phẫu thuật

Từ năm 2013, cùng với sự ra đời của Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng, bệnh viện

đã thành lập Hội đồng Quản lý chất lượng (QLCL), tổ và mạng lưới QLCL, thành lập các Ban chuyên trách trong đó có Ban An toàn người bệnh Qua 6 năm triển khai Bộ tiêu chí phiên bản 1.0 và 2.0 (ra đời năm 2016), Ban lãnh đạo bệnh viện luôn đặt công tác chất lượng làm ưu tiên hàng đầu với tôn chỉ “Lấy người bệnh là trung tâm”, mục tiêu xuyên suốt là an toàn và hài lòng của người bệnh

Năm 2018, Bộ Y tế ban hành thông tư 43/2018/TT-BYT về Hướng dẫn phòng ngừa sự cố y khoa trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Tháng 3/2019, Bệnh viện phối hợp cùng đầu ngành QLCL của Sở Y tế Hà Nội – Bệnh viện Đa khoa Đức Giang tập huấn cho toàn bộ nhân viên bệnh viện nhằm nâng cao hiệu quả quản lý sự

cố y khoa trong bệnh viện

Tháng 6/2019, Bệnh viện là trong những đơn vị tham gia cùng Tổ chức Operation Smile trong dự án nâng cao năng lực an toàn phẫu thuật và là đơn vị kiểu mẫu áp dụng Bộ tiêu chí chất lượng đánh giá mức độ an toàn phẫu thuật được ban hành kèm Quyết định 7482/QĐ-BYT của Bộ Y tế

Hiện nay, tại bệnh viện chưa có nghiên cứu nào về VHATNB làm tiền đề để đánh giá thực trạng văn hóa an toàn và định hướng các chương trình, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả an toàn người bệnh

Trang 30

YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VĂN HÓA AN TOÀN

NGƯỜI BỆNH

1 Làm việc theo êkip trong khoa

2 Quan điểm và hành động của lãnh đạo khoa về ATNB

3 Cải tiến liên tục, học tập một cách hệ thống

4 Hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện cho ATNB

5 Quan điểm tổng quát về ATNB

6 Phản hồi và trao đổi về sự cố

7 Trao đổi cởi mở

- Thời gian công tác

- Khối lượng công

Yếu tố quản lý, lãnh đạo

- Sự quan tâm của lãnh

Trang 31

CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Nghiên cứu định lượng

Đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) là toàn bộ bác sỹ, điều dưỡng/KTV các khoa lâm sàng (8 khoa) và cận lâm sàng (2 khoa) tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cu

Ba có thời gian công tác từ 1 năm trở lên

Đồng ý tham gia nghiên cứu

2.1.2 Nghiên cứu định tính

Đối tượng nghiên cứu định tính bao gồm: đại diện Lãnh đạo bệnh viện, đại diện Ban chuyên trách ATNB, đại diện Lãnh đạo các khoa lâm sàng (LS), cận lâm sàng (CLS) và đại diện nhân viên các khoa LS, CLS

2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ:

Những người đang nghỉ chế độ ốm đau, thai sản, công tác hoặc đi học trong thời gian nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 2/2020 đến tháng 11/2020 tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu này sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang có phân tích, kết hợp phương pháp định lượng và định tính Nghiên cứu định lượng (NCĐL) được thực hiện trước Nghiên cứu định tính được thực hiện sau nghiên cứu định lượng nhằm

bổ sung, làm rõ thêm một số kết quả NCĐL và đáp ứng mục tiêu nghiên cứu số 2

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.4.1 Nghiên cứu định lượng:

Chọn mẫu định lượng là toàn bộ bác sỹ, điều dưỡng/KTV các khoa lâm sàng,

cận lâm sàng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cu Ba có thời gian công tác từ 1 năm trở lên Tổng số đối tượng đủ tiêu chuẩn nghiên cứu là 201 người

Trang 32

2.4.2 Nghiên cứu định tính

Chọn mẫu có chủ đích với các nhóm đối tượng: Lãnh đạo bệnh viện (1 người), Ban chuyên trách ATNB (01 lãnh đạo phòng KHTH, 01 lãnh đạo phòng Điều dưỡng), Lãnh đạo các khoa LS, CLS (01 khối Nội, 01 khối Ngoại, 01 cận lâm sàng), nhân viên tại các khoa LS, CLS có khối lượng công việc lớn, áp lực cao: Nội, Tai Mũi Họng, Xét nghiệm (01 bác sỹ, 01 điều dưỡng/KTV tuổi từ 25 – 40, có thâm niên làm việc ít nhất 3 năm tại bệnh viện) Tổng số phỏng vấn sâu (PVS) là 12 cuộc

* Khối Nội gồm các khoa Nội, Nhi, Y học cổ truyền; Khối Ngoại gồm khoa Tai Mũi Họng, Răng miệng, Phẫu thuật Hàm mặt, Phẫu thuật Tạo hình thẩm mỹ và Gây

mê hồi sức; Khối Cận lâm sàng gồm khoa Xét nghiệm và Chẩn đoán hình ảnh

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Nghiên cứu định lượng:

Đề tài sử dụng Bộ câu hỏi khảo sát VHATNB của tổ chức AHRQ với phiên bản

Tiếng Việt được công nhận, cho phép sử dụng tại Việt Nam (Phụ lục 2) Số liệu

được thu thập bằng hình thức phát vấn Sau khi gửi phiếu cho các ĐTNC, nghiên cứu viên hướng dẫn ĐTNC tự điền và thu lại ngay sau khi điền xong Phiếu thu về được kiểm tra lại và làm sạch trước khi tiến hành nhập liệu

Trong trường hợp ĐTNC vắng mặt tại thời điểm phát vấn, nghiên cứu viên liên

hệ và gửi lại phiếu cho đối tượng sau đó

2.5.2 Nghiên cứu định tính

Nghiên cứu viên liên hệ trước với các ĐTNC, trình bày mục đích, các nội dung nghiên cứu và hẹn lịch phỏng vấn Nội dung phỏng vấn dựa theo hướng dẫn phỏng

vấn sâu được thiết kế sẵn (Phụ lục 3 – 7)

Thời gian trung bình của mỗi cuộc PVS là khoảng 30 phút, nội dung các cuộc PVS được ghi âm lại sau khi được sự đồng ý của đối tượng phỏng vấn

2.6 Các biến số nghiên cứu

Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cu Ba năm 2020

42 biến số về VHATNB được chia theo 12 lĩnh vực, 2 biến số về số lượng báo cáo sự cố và mức độ ATNB được trình bày chi tiết trong Phụ lục 1

Trang 33

Bảng 2 1 Định nghĩa các khía cạnh văn hóa an toàn người bệnh

Khía cạnh

VHATNB

1 Làm việc theo

ekip trong khoa

Nhân viên hỗ trợ lẫn nhau, tôn trọng lẫn nhau và làm việc theo nhóm

4 B1, B3, B4, B11

4 C1, C2, C3R, C4R

3 Cải tiến liên tục,

3 G1, G8, G9R

6 Phản hồi và trao

đổi về sự cố

Nhân viên được thông báo về các lỗi xảy ra, đưa ra phản hồi về các thay đổi được triển khai và thảo luận về cách để ngăn chặn lỗi

3 D1, D3, D5

7 Trao đổi cởi mở Nhân viên thoải mái lên tiếng nếu họ thấy

điều gì đó có thể ảnh hưởng tiêu cực đến việc chăm sóc người bệnh và đặt câu hỏi cho những người có thẩm quyền hơn

3 D2, D4, D6R

8 Tần suất ghi

nhận sự cố

Những sai lầm sau đây được báo cáo:

1) Sai lầm mắc phải và sửa chữa trước khi ảnh hưởng đến NB

2) Sai lầm không có khả năng gây hại cho

3 E1, E2, E3

Trang 34

NB 3) Sai lầm có thể gây hại cho NB, nhưng chưa gây hại

10 Nhân sự Có đủ nhân viên để xử lý khối lượng công

việc và thời gian làm việc phù hợp để cung cấp dịch vụ chăm sóc tốt nhất cho bệnh nhân

4 B2, B5R, B7R, B14R

ca trực

4 G3R, G5R, G7R, G11R

*“R” ký hiệu các câu hỏi diễn đạt ngược, khi câu trả lời “"Rất không đồng ý/Không bao giờ" hoặc "Không đồng ý/Hiếm khi" được đánh giá là đáp ứng tích cực

Mục tiêu 2: Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh của nhân viên y tế tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cu Ba

Chủ đề nghiên cứu định tính: Các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa an toàn người bệnh:

- Yếu tố môi trường, chính sách:

+ Hệ thống văn bản, quy định về ATNB

+ Hệ thống báo cáo SCYK

+ Tập huấn, đào tạo về ATNB

- Yếu tố quản lý, lãnh đạo:

+ Sự quan tâm của lãnh đạo đến vấn đề ATNB

Trang 35

+ Cơ chế khen thưởng, xử phạt

+ Giám sát thực hiện các chương trình ATNB

2.7 Phương pháp phân tích số liệu

2.7.1 Số liệu định lượng

Sau khi làm sạch, số liệu được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0

Số liệu được phân tích bằng SPSS theo 2 hướng:

• Mô tả: Tần số và tỷ lệ các biến về VHATNB của nhân viên y tế

• Phân tích: Sử dụng kiểm định χ² với mức ý nghĩa thống kê được chọn ở p<0,05để kiểm định sự khác biệt của VHATNB với các đặc điểm của ĐTNC

2.7.2 Số liệu định tính

Nội dung ghi âm PVS được gỡ băng, mã hóa, tóm tắt vào bảng tổng hợp và phân tích theo từng nhóm yếu tố ảnh hưởng đến VHATNB Những ý kiến tiêu biểu được lựa chọn để trích dẫn minh họa

Kết quả định tính được dùng để bổ sung, giải thích cho kết quả định lượng và đáp ứng mục tiêu nghiên cứu 2

Rất không đồng ý/ Không bao giờ 1 điểm 5 điểm

Tổ chức AHRQ khuyến nghị kết quả đánh giá các tiểu mục về VHATNB nên gộp thành 3 nhóm (đáp ứng tích cực, bình thường và đáp ứng chưa tích cực) Tuy nhiên, một số nghiên cứu về văn hóa an toàn người bệnh tại Việt Nam chia kết quả

Trang 36

đánh giá thành 2 nhóm: Đáp ứng tích cực và Đáp ứng chưa tích cực (35-37, 45) Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ quan tâm đến 2 nhóm đáp ứng tích cực và đáp ứng chưa tích cực vì vậy kết quả đánh giá được phân thành 2 nhóm để phân tíchnhư sau:

• Đáp ứng tích cực: nếu câu trả lời là "Rất đồng ý/Luôn luôn" hoặc "Đồngý/Thường xuyên" với các tiểu mục diễn đạt xuôi và "Rất không đồng ý/Không bao

giờ" hoặc "Không đồng ý/Hiếm khi" với các tiểu mục diễn đạt ngược tương đương

với 4 - 5 điểm

• Đáp ứng chưa tích cực: nếu câu trả lời là "Không biết/ Đôi khi"; "Rất không đồng ý/Không bao giờ" hoặc "Không đồng ý/Hiếm khi" với các tiểu mục diễn đạt

xuôi và "Rất đồng ý/Luôn luôn" hoặc "Đồng ý/Thường xuyên" với các tiểu mục

diễn đạt ngược tương đương với 1 - 3 điểm

VHATNB được đánh giá trên 12 khía cạnh với 42 tiểu mục, ĐTNC được xác định là đáp ứng tích cực với một khía cạnh khi mỗi tiểu mục trong khía cạnh đạt từ

4 điểm trở lên ĐTNC được đánh giá là đáp ứng tích cực đối với VHATNB chung khi tổng điểm đánh giá 12 khía cạnh đạt từ 168 điểm, dưới 168 điểm đánh giá là đáp ứng chưa tích cực

Tỷ lệ đáp ứng tích cực của từng khía cạnh = Trung bình tỷ lệ đáp ứng tích cực của từng nội dung trong khía cạnh

Tỷ lệ đáp ứng chưa tích cực của từng khía cạnh = 100% - Tỷ lệ đáp ứng tích cực của khía cạnh đó

Tỷ lệ đáp ứng tích cực VHATNB = Trung bình tỷ lệ đáp ứng tích cực của 12 khía cạnh VHATNB

Theo AHRQ, dữ liệu đánh giá VHATNB tại 630 bệnh viện trên toàn Thế giới với sự tham gia của 382.834 người xác định tỷ lệ nhân viên phản hồi tích cực với VHATNB chung là 65% (12)

Xác định điểm mạnh của các lĩnh vực VHATNB tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam Cu Ba: trung bình tỷ lệ đáp ứng tích cực từ 65% trở lên

Xác định điểm yếu của các lĩnh vực VHATNB tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam Cu Ba: trung bình tỷ lệ đáp ứng tích cực dưới 65%

Trang 37

2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành sau khi thông qua Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh của Trường Đại học Y tế Công Cộng theo Quyết định số 30/2020/YTCC-HD3 ngày 13/02/2020 Những quy định về đạo đức được thực hiện nghiêm túc trong suốt quá trình nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu phù hợp và được sự cho phép của lãnh đạo bệnh viện Các ĐTNC được giải thích rõ ràng về mục đích, nội dung nghiên cứu và chỉ được tiến hành khi ĐTNC tự nguyện tham gia vào nghiên cứu

Mọi thông tin và câu trả lời của ĐTNC được giữ kín Các số liệu, thông tin được thu thập chính xác, trung thực, chỉ nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu và không sử dụng cho mục đích nào khác

Trang 38

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Cỡ mẫu dự kiến của nghiên cứu là toàn bộ bác sỹ, điều dưỡng/KTV các khoa LS/CLS có thời gian công tác từ 1 năm (201 người) Tuy nhiên, 5 tháng đầu năm

2020 do ảnh hưởng của dịch Covid-19 bệnh viện có 10 cán bộ xin nghỉ việc; 5 cán

bộ nghỉ hưu; 8 cán bộ hiện đang đi học; 6 cán bộ nghỉ thai sản và 7 cán bộ từ chối tham gia phỏng vấn Vì vậy, tổng số phiếu phát ra là 165 phiếu, thu về 165 phiếu và không có phiếu nào không hợp lệ Qua phân tích số liệu thu được kết quả như sau:

Bảng 3 1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (n=165)

Trang 39

Kết quả bảng 3.1 cho thấy, phần lớn đối tượng nghiên cứu có thu nhập trung bình hàng tháng do bệnh viện chi trả dưới 10 triệu (chiếm 84,2%); 26 người có thu nhập từ 10-15 triệu chiếm 15,8% và không có đối tượng có thu nhập trên 15 triệu

Về chức danh nghề nghiệp, 73 (44,2%) người được hỏi là bác sỹ và 92 (55,8%) người được hỏi là điều dưỡng/ KTV)

Nhân viên công tác tại khối Nội chiếm 31,5%; khối Ngoại chiếm 57%; khối Cận lâm sàng chiếm 11,5% và 95% ĐTNC làm việc tại các vị trí có tiếp xúc trực tiếp với người bệnh

Thâm niên công tác của các ĐTNC chủ yếu là từ 6-15 năm chiếm 42,4% Thời gian làm việc mỗi tuần tại bệnh viện dao động từ 20 – 79 giờ, trong đó các ĐTNC

chủ yếu làm việc trong khoảng 40 – 59 giờ/tuần (145 người chiếm 87,9%)

3.2 Thực trạng văn hóa an toàn tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba

3.2.1 Làm việc theo ekip trong khoa

Bảng 3 2 Khía cạnh làm việc theo ekip trong khoa (n=165)

Mọi người trong khoa luôn hỗ trợ lẫn nhau 161 97,6 4 2,4 Nhân viên trong khoa luôn làm việc theo

nhóm khi có nhiều việc cần phải hoàn thành

trong thời gian ngắn,

Mọi người trong khoa luôn tôn trọng lẫn

nhau

Khi một đơn vị/bộ phận trong khoa trở nên

bận rộn thì nhân viên trong khoa luôn hỗ

trợ nhau để hoàn thành công việc

Tỷ lệ ĐTNC phản hồi tích cực với các tiểu mục trong khía cạnh “Làm việc theo ekip trong khoa” đạt từ 93,3 – 97,6% “Mọi người trong khoa luôn hỗ trợ nhau” là tiểu mục được đáp ứng tích cực cao nhất với 161 người (chiếm 97,6%)

Trang 40

3.2.2 Quan điểm và hành động của lãnh đạo khoa về an toàn người bệnh

Bảng 3 3 Khía cạnh quan điểm và hành động lãnh đạo khoa về ATNB (n=165)

Lãnh đạo khoa luôn nói lời động viên khi

nhân viên tuân thủ các quy trình đảm bảo

ATNB

Lãnh đạo khoa luôn xem xét nghiêm túc

các đề xuất của nhân viên trong việc cải

tiến ATNB

Khi áp lực công việc tăng cao, lãnh đạo

khoa luôn muốn nhân viên làm việc nhanh

hơn ngay cả khi tuân thủ không đủ các

bước của qui trình

Lãnh đạo khoa bỏ qua các vấn đề về ATNB

dù biết các lỗi cứ lặp đi lặp lại 147 89,1 18 10,9 Khía cạnh “Quan điểm và hành động của lãnh đạo khoa về ATNB” với hai tiểu mục có tỷ lệ đáp ứng tích cực cao nhất là “Lãnh đạo khoa luôn nói lời động viên khi nhân viên tuân thủ các quy trình đảm bảo ATNB” và “Lãnh đạo khoa luôn xem xét nghiêm túc các đề xuất của nhân viên trong việc cải tiến ATNB” đều đạt 93,3% Tiểu mục “Khi áp lực công việc tăng cao, lãnh đạo khoa luôn muốn nhân viên làm việc nhanh hơn ngay cả khi tuân thủ không đủ các bước của qui trình” có tỷ lệ đáp ứng tích cực thấp nhất với 82,4%

3.2.3 Cải tiến liên tục, học tập một cách hệ thống

Bảng 3 4 Khía cạnh cải tiến liên tục, học tập một cách hệ thống (n=165)

Khoa chủ động triển khai các hoạt động

Những sai sót xảy ra đã giúp khoa có các

thay đổi theo chiều hướng tích cực hơn 144 87,3 21 12,7

Sau khi thực hiện các thay đổi để cải tiến

ATNB, khoa có đánh giá hiệu quả của các

can thiệp thay đổi

Ngày đăng: 31/01/2021, 20:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w