LÊ TRẦN THU THỦY HÀNH VI TÌM KIẾM DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TẠI THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG NĂM 2020 LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
LÊ TRẦN THU THỦY
HÀNH VI TÌM KIẾM DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TẠI THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG NĂM 2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701
HÀ NỘI, 2020
Trang 2LÊ TRẦN THU THỦY
HÀNH VI TÌM KIẾM DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CỦA NGƯỜI CAO TUỔI
TẠI THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG NĂM 2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của quí thầy cô, các bạn cùng lớp Với lòng kính trọng
và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học trường Đại học Y tế Công cộng đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Thầy cô hướng dẫn, hỗ trợ đã hết lòng giúp đỡ, động viên tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn
Xin cảm ơn lãnh đạo Trung tâm Y tế thành phố Mỹ Tho, lãnh đạo Hội người cao tuổi, viên chức và các cộng tác viên của Trạm Y tế phường 4 và xã Trung An, thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang đã hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập thông tin để thực hiện luận văn
Xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, các anh chị em trong lớp Thạc sĩ y tế công cộng khóa 22 (YTCC22-3B1) đã động viên, giúp đỡ tôi trong những lúc tôi gặp khó khăn
Học viên
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BKLN: Bệnh không lây nhiễm
BVĐK: Bệnh viện Đa khoa
TTGDSK: Truyền thông giáo dục sức khỏe
TTYT: Trung tâm Y tế
TYT: Trạm Y tế
YTCS: Y tế cơ sở
PVS: Phỏng vấn sâu
TLN: Thảo luân nhóm
Trang 5MỤC LỤC
TÓM TẮT LUẬN VĂN x
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm 4
1.1.1 Người cao tuổi: 4
1.1.2 Già hoá dân số: 4
1.1.3 Quá trình già hoá: 4
1.1.4 Hành vi: 4
1.1.5 Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe 4
1.1.6 Khám sức khỏe định kỳ là gì? 4
1.1.7 Nội dung khám sức khỏe định kỳ 5
1.2 Già hóa dân số và sự cần thiết phải chăm sóc sức khỏe người cao tuổi 5
1.2.1 Đặc điểm già hóa dân số ở Việt Nam 5
1.2.2 Già hóa dân số ở Tiền Giang 6
1.2.3 Tính cần thiết của việc chăm sóc sức khỏe người cao tuổi 7
1.2.4 Chính sách liên quan công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi 8
1.3 Một số lý thuyết về hành vi sức khỏe 9
1.4 Một số nghiên cứu liên quan đến đề tài 10
1.4.1 Thực trạng sức khỏe của người cao tuổi 10
1.4.2 Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi 11
Trang 61.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe
của Người cao tuổi 14
1.5 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu 21
1.5.1 Vị trí địa lý, tự nhiên và xã hội 21
1.5.2 Số liệu Người cao tuổi tại thành phố Mỹ Tho: 21
1.5.3 Thông tin về Y tế 22
1.5.4 Công tác Chăm sóc sức khỏe Người cao tuổi tại TP Mỹ Tho 22
1.6 Khung lý thuyết 23
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.1.1 Nghiên cứu định lượng: 26
2.1.2 Nghiên cứu định tính: 26
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 26
2.2.1 Thời gian nghiên cứu: 26
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu: 26
2.3 Thiết kế nghiên cứu 27
2.4 Cỡ mẫu 27
2.4.1 Nghiên cứu định lượng: 27
2.4.2 Nghiên cứu định tính: 28
2.5 Phương pháp chọn mẫu 29
2.5.1 Nghiên cứu định lượng: 29
2.5.2 Nghiên cứu định tính: 29
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 30
Trang 72.6.1 Nghiên cứu định lượng: 30
2.6.2 Nghiên cứu định tính: 31
2.7 Các biến số nghiên cứu 32
2.7.1 Nhóm biến số chính trong nghiên cứu định lượng 32
2.7.2.Chủ đề chính trong nghiên cứu định tính 33
2.8 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 34
2.9 Phương pháp phân tích số liệu 36
2.9.1 Phương pháp phân tích số liệu trong nghiên cứu định lượng: 36
2.9.2 Phương pháp phân tích số liệu trong nghiên cứu định tính: 36
2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 37
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 38
3.2 Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe của Người cao tuổi 39
3.2.1 Các vấn đề liên quan đến sức khỏe phổ biến của người cao tuổi 39
3.2.2 Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi 41
3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi 47
3.3.1 Các yếu tố thuộc về nhân cá nhân (yếu tố tiền đề) 47
3.3.2 Yếu tố thuộc về người thân, sự hỗ trợ của cộng đồng 55
3.3.3 Các yếu tố thuận lợi 58
Chương 4 62
BÀN LUẬN 62
4.1 Thông tin đối tượng nghiên cứu 62
Trang 84.2 Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi 63
4.2.1 Các vấn đề liên quan đến sức khỏe phổ biến của người cao tuổi 63
4.2.2 Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi: 65
4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tìm kiếm dịch vụ Chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi 69
4.3.1 Yếu tố cá nhân 69
4.3.2 Yếu tố thuộc về người thân 71
4.3.3 Các yếu tố thuận lợi 71
4.4 Ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu 73
KẾT LUẬN 75
KHUYẾN NGHỊ 77
Phụ lục 1: PHIẾU THU THẬP THÔNG TIN 82
Phụ lục 2: HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU VÀ THẢO LUẬN NHÓM 90
Phụ lục 3: CÁC BIẾN SỐ TRONG NGHIÊN CỨU 95
Phụ lục 4: THANG ĐO 102
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Kết quả thực hiện các hoạt động chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại
Trung tâm Y tế thành phố Mỹ Tho năm 2019 .22
Bảng 3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 38
Bảng 3.2 Hành vi khám sức khỏe định kỳ của người cao tuổi trong 1 năm qua 41
Bảng 3.3 Hành vi khám chữa bệnh của NCT trong 6 tháng gần nhất: 44
Bảng 3.4 Mối liên quan giữa yếu tố thuộc về nhân khẩu học với hành vi khám sức khỏe định kỳ của người cao tuổi: 47
Bảng 3.5 Mối liên quan giữa khỏang cách địa lý và khám sức khỏe định kỳ : 48
Bảng 3.6 Mối liên quan giữa yếu tố nhân khẩu học với hành vi khám chữa bệnh 49
Bảng 3.7 Mối liên quan giữa khoảng cách địa lý và hành vi khám chữa bệnh của người cao tuổi: 50
Bảng 3.8 Mối liên quan giữa kiến thức và hành vi khám sức khỏe định kỳ của người cao tuổi 51
Bảng 3.9 Liên quan giữa kiến thức và hành vi khám chữa bệnh của người cao tuổi 52
Bảng 3.10 Liên quan giữa thái độ và hành vi khám sức khỏe định kỳ của người cao tuổi: 53 Bảng 3.11 Liên quan giữa thái độ với hành vi Khám chữa bệnh của người cao tuổi: 54
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa yếu tố thuộc về người thân với hành vi khám sức khỏe định kỳ của người cao tuổi 55
Bảng 3.13.Mối liên quan giữa yếu tố thuộc về người thân với hành vi Khám chữa bệnh 57
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa hoạt động truyền thông và hành vi khám sức khỏe định kỳ 59
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa hoạt động truyền thông và hành vi khám chữa bệnh 59
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Tỷ lệ người cao tuổi tỉnh Tiền Giang 2015-2019 6
Hình 1.2 Tỷ lệ người cao tuổi 60 tuổi trở 2015-2019 trở lên phân theo nam, nữ 6
Hình 1.3 Mô hình niềm tin sức khỏe 9
Hình 1.4 Mô hình PRECEDE-PROCEED rút gọn 10
Hình 1.5 Tỷ lệ người cao tuổi trong tổng số lượt sử dụng các loại dịch vụ y tế, 2012 và Cơ cấu lượt sử dụng dịch vụ y tế của người cao tuổi theo loại dịch vụ y tế, 2012 14
Hình 1.6 Tỷ lệ người cao tuổi 60 tuổi trở lên 2015-2019 TP MT 21
Hình 1.7 Tỷ lệ người cao tuổi 65, 80 tuổi trở lên 2015-2019 22
Hình 1.8 Khung lý thuyết của nghiên cứu 25
Trang 12TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tại thành phố Mỹ Tho, tỷ lệ người cao tuổi khám sức khỏe định kỳ trong năm
2019 thấp (10,52%), thấp hơn so với bình quân của tỉnh 16% (1), thấp hơn nhiều so với một số nghiên cứu (27,7%) (2) Số người cao tuổi đến khám chữa bệnh tại Trung tâm y tế cũng khá thấp (6277lượt/35.473 người cao tuổi) Việc tìm hiểu hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe và các yếu tố ảnh hưởng của người cao tuổi giúp cho ngành chức năng có những giải pháp phù hợp nhằm thực hiện tốt công tác chăm
sóc sức khỏe cho người cao tuổi của địa phương trong thời gian tới
Với mục tiêu: (1) Mô tả các vấn đề liên quan đến sức khỏe phổ biến và hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi; (2) Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi tại thành phố Mỹ Tho tỉnh Tiền Giang năm 2020
Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang có phân tích kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính, được thực hiện từ 11/2019- 5/2020 trên 810 người cao tuổi ở phường 4 và xã Trung An thành phố Mỹ Tho
Kết quả: Có 32,7% người cao tuổi có khám sức khỏe định kỳ trong vòng 1 năm qua, trong đó có 47,7% khám tại y tế cơ sở, 47,9% khám tại bệnh viện tuyến tỉnh/trung ương Lý do người cao tuổi không khám sức khỏe định kỳ là vì cho rằng không cần thiết (51,8%) Trong tổng số 655 (80,9%) người cao tuổi mắc bệnh trong vòng 6 tháng gần đây, có 78,9% khám chữa bệnh tại cơ sở y tế, chủ yếu tại các bệnh viện tuyến tỉnh và tương đương (34,4% ) Lý do không khám chữa bệnh ở cơ sở y tế là vì cho rằng không cần thiết (78,9%), không có người thân đưa đi (14,5%) Các yếu tố cá nhân, kiến thức, thái độ, sự quan tâm của người thân và các yếu tố y tế có liên quan đến hành vi tìm kiếm và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi
Từ kết quả nghiên cứu, ngành y tế địa phương cần nâng cao khả năng chuyên môn, cải thiện cơ sở vật chất, trang bị đầy đủ trang thiết bị cho y tế cơ sở, đồng thời tăng cường công tác truyền thông là những việc làm cần thiết
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ năm 2011, Việt Nam đã chính bước vào giai đoạn già hóa dân số khi số người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên chiếm 10,2% tổng số dân số và dự báo sẽ trở thành nước có dân số rất già vào năm 2038 với tỷ lệ người cao tuổi 60 tuổi trở lên đạt 20,1% (4) Dự báo đến năm 2049, tỷ lệ người cao tuổi sẽ chiếm khoảng 25% dân số, tức là
cứ có 4 người dân thì có 01 người cao tuổi (4)
Đối với NCT, nhu cầu chăm sóc sức khỏe là hết sức cần thiết, bởi lẽ con người khi trở nên già đi (hay còn gọi là quá trình lão hóa) thì diễn ra sự suy giảm cấu trúc
và chức năng sinh học của cơ thể Trong giai đoạn này, bệnh tật xuất hiện ngày càng nhiều và việc chữa trị, phục hồi sức khỏe cũng trở nên khó khăn hơn so với người trẻ tuổi (5) Tại Nigeria có 62,7% người cao tuổi mắc ít nhất một trong các bệnh: huyết
áp, tim mạch, tiểu đường, đau khớp, nhiễm trùng thận, ung thư và bệnh phổi Các bệnh lý tăng dần theo độ tuổi (6) Tại Việt Nam, người cao tuổi thường mắc bệnh không lây nhiễm và thường mắc đồng thời nhiều bệnh, trung bình một người cao tuổi mắc 2,69 bệnh với các nhóm bệnh thường gặp là: bệnh về giác quan, tim mạch, xương khớp, nội tiết- chuyển hoá, tiêu hoá, tâm thần kinh, hô hấp, thận tiết niệu (7)
Tổ chức y tế thế giới (WHO) cho rằng chăm sóc sức khỏe người cao tuổi là một trong những nội dung can thiệp để hướng tới già hóa khỏe mạnh, và để làm được điểu này, người cao tuổi cần được khám sức khỏe định kỳ để chẩn đoán sớm bệnh, chăm sóc điều trị các bệnh mạn tính, phục hồi chức năng sau chấn thương hay bệnh nặng,vv (8) Thế nhưng, một số kết quả nghiên cứu cho thấy có 68,8% người cao tuổi chưa từng đến cơ sở y tế trong vòng 1 năm qua (9), hay chỉ có 27,7% người cao tuổi có khám sức khỏe định kỳ, 60,9% người cao tuổi có khám chữa bệnh tại cơ sở y
tế khi mắc bệnh (2) Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa chỉ ra được lý do vì sao tỷ
lệ người cao tuổi thực hiện khám sức khỏe định kỳ, khám chữa bệnh tại cơ sở y tế thấp, các nghiên cứu cũng không nêu được các yếu tố nào có liên quan liên quan đến hành vi khám sức khỏe định kỳ hay khám chữa bệnh tại cơ sở y tế của người cao tuổi
Tại Tiền Giang, công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đã được ngành Y
tế triển khai thực hiện theo Đề án “Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi giai đoạn
Trang 142017-2025”, trong đó nội dung khám sức khỏe định kỳ, truyền thông cung cấp kiến thức chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi, bổ sung trang thiết bị và đào tạo nguồn nhân lực có chuyên môn lão khoa,vv được nhận định là những hoạt động quan trọng Tuy nhiên, tại thành phố Mỹ Tho, tỷ lệ người cao tuổi được khám sức khỏe định kỳ do Trung tâm Y tế thực hiện trong năm 2019 chỉ đạt 10,52%, thấp hơn so với bình quân của tỉnh 16% (38.675/241.654) (1), thấp hơn nhiều so với một số nghiên cứu (27,7%) (2), đồng thời thấp hơn rất nhiều so với mục tiêu của Đề án (đến năm 2025, 80% người cao tuổi được KSK định kỳ 1 năm/1 lần) Ngoài ra, số người cao tuổi đến khám chữa bệnh tại Trung tâm y tế là 17,69% (6277lượt/35.473 người cao tuổi) (10), thấp hơn nhiểu so với một số nghiên cứu khác (60,9%) (2), trong khi có một số nghiên cứu cho thấy có 90% người cao tuổi mắc ít nhất 1 bệnh (2)
Trước thực trạng đó, câu hỏi được đặt ra là: Các vấn đề liên quan đến sức
khỏe phổ biến của người cao tuổi tại thành phố Mỹ Tho là gì?; Người cao tuổi ở thành phố Mỹ Tho tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe (khám sức khỏe định kỳ, khám chữa bệnh) ở đâu? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi? Để trả lời cho các câu hỏi trên, chúng tôi thực hiện
đề tài “Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe và một số yếu tố ảnh hưởng của người cao tuổi tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang năm 2020” Kết quả Đề
tài sẽ là cơ sở để đề xuất các giải pháp phù hợp góp phần triển khai thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi trên địa bàn thành phố Mỹ Tho nói riêng, tỉnh Tiền Giang nói chung trong thời gian tới
Trang 15MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả các vấn đề liên quan đến sức khỏe phổ biến của người cao tuổi và hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang năm 2020
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang năm 2020
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Người cao tuổi:
Luật Người cao tuổi Việt Nam quy định, tất cả công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên được gọi làngười cao tuổi (NCT) (11)
1.1.2 Già hoá dân số:
Quá trình này gồm 4 giai đoạn bao gồm già hoá, già, rất già và siêu già tương ứng với tỉ lệ NCT trong dân số lần lượt chiếm 10% 20%, 30% và 35% (12)
1.1.3 Quá trình già hoá:
Là số năm cần thiết để tăng số lượng người cao tuổi (từ 60 trở lên) từ 10% lên 20% hoặc NCT (65+) tăng từ 7% lên 14% tổng dân số (13)
1.1.4 Hành vi:
Hành vi con người là bao gồm những sự phản ứng, cư xử, những biểu hiện của một con người trong một bối cảnh không gian, thời gian xác định (14)
1.1.5 Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe
Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe (Healthcare seeking behaviour): Bất kỳ hành vi (hành động hoặc không hành động) của một cá nhân thực hiện với mục đích tìm kiếm một biện pháp trị liệu phù hợp khi họ nhận thức/cảm nhận được rằng bản thân có vấn đề sức khỏe (hoặc bị ốm đau/bệnh tật) (15)
1.1.6 Khám sức khỏe định kỳ là gì?
Là việc NCT đến cơ sở y tế kiểm tra sức khỏe để đánh giá tổng quan tình trạng sức khỏe vào một khoảng thời gian nhất định Đây là biện pháp hữu hiệu giúp đánh giá tổng quan tình trạng sức khỏe, phát hện sớm các vấn đề bất thường, các bệnh lý của cơ thể, nhờ đó mang lại hiệu quả điều trị cao, tiết kiệm thời gian, tiền bạc, sức lực Dịch vụ khám sức khỏe định kỳ thường được thực hiện 6 tháng-1 năm/lần
Khi phát hiện thấy các vấn đề thường, NCT sẽ được tư vấn để có những thay đổi hợp lý hơn về khẩu phần, dinh dưỡng và hành vi sức khỏe nhằm bảo vệ và nâng
Trang 17cao sức khỏe bản thân Phát hiện bệnh sớm sẽ giúp ích rất nhiều cho việc điều trị, tiết kiệm được thời gian, tiền bạc, tránh được các biến chứng và kéo dài tuổi thọ
1.1.7 Nội dung khám sức khỏe định kỳ
Thông tư 14/2013/TT-BYT của Bộ Y tế về Hướng dẫn khám sức khỏe, danh mục khám sức khỏe định kỳ bắt buộc sẽ bao gồm:
Khám lâm sàng: Bao gồm đo chiều cao, cân nặng, vòng bụng, tính chỉ số
BMI, kiểm tra mạch, đo huyết áp Tiếp theo, bác sĩ sẽ thăm khám, kiểm tra tổng quát các cơ quan trong cơ thể để phát hiện các bệnh lý hô hấp, tim mạch, thần kinh, tiêu hóa, thận-tiết niệu, cơ xương khớp,
Xét nghiệm: Để đánh giá các chỉ số trong cơ thể, người khám sức khỏe định
kỳ sẽ được thực hiện xét nghiệm máu và xét nghiệm nước tiểu
Chẩn đoán hình ảnh: Danh mục khám sức khỏe định kỳ bắt buộc sẽ bao gồm
chụp phim X-quang tim phổi nhằm phát hiện sớm các tổn thương ở phổi cùng các vấn đề liên quan đến tim, lồng ngực Ngoài ra, tùy tình trạng mỗi người đến khám, bác sĩ có thể chỉ định chụp phim X-quang các vị trí, bộ phận khác trên cơ thể
1.2 Thực trạng già hóa dân số và sự cần thiết phải chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
1.2.1 Đặc điểm già hóa dân số ở Việt Nam
Trong 50 năm qua, nhờ tuổi thọ trung bình được cải thiện, năm 1960 là 44,4 tuổi những đến năm 2014, con số này là 73,2 tuổi, đồng thời tỷ lệ sinh đã giảm đáng
kể từ 7 xuống còn 2,09 con (16), cơ cấu dân số Việt Nam đã có những biến rõ rệt Trong giai đoạn 1979 - 2015, dân số tăng từ 53,7 triệu lên 91,5 triệu trong những năm
1979 – 2015, đồng thời, số NCT cũng đã tăng tương từ dưới 4 triệu (6,9% dân số) lên 10,35 triệu (11,3% dân số) Kể từ cuối năm 2011, số người từ 60 tuổi ở nước ta đã chiếm 10,2% dân số và Việt Nam đã bắt đầu bước vào giai đoạn dân số già (17) và được dự báo rằng, năm 2038 sẽ trở thành nước có dân số rất già khi tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên đạt 20,1%(18) Già hóa dân số ở Việt Nam có một số đặc điểm sau:
Nước ta là một trong những quốc gia già hóa với tốc độ nhanh nhất trên thế giới: Quá trình này sẽ chỉ diễn ra trong vòng 26 năm (2011- 2037), tương tự Trung
Quốc 27 năm, Nhật Bản 26 năm và khá nhanh so với Mỹ 68 năm, Pháp 115 năm, Úc
Trang 1873 năm và Thụy Điển 85 năm (19)
Quá trình già hóa diễn đã và đang diễn ra nhanh nhất ở nhóm người cao tuổi nhất: Xu hướng thay đổi cơ cấu tuổi của nhóm NCT cho thấy già hóa dân số tiến triển
ngay trong đối tượng người cao tuổi và diễn ra nhanh nhất trong nhóm già nhất (20)
1.2.2 Già hóa dân số ở Tiền Giang
Tại tỉnh Tiền Giang dân số bước vào giai đoạn già hóa từ năm 2011, khi NCT
từ 60 tuổi trở lên chiếm tỷ lệ 10% trong tổng số dân, tỷ lệ này tiếp tục tăng trong những năm gần đây Các đặc điểm già hóa dân số của tỉnh cũng tương tự các đặc điểm của cả nước
Hình 1.1 Tỷ lệ người cao tuổi tỉnh Tiền Giang 2015-2019
Nguồn: Kho dữ liệu điện tử Chi cục Dân số-KHHGĐ Tiền Giang
Hình 1.2 Tỷ lệ người cao tuổi 60 tuổi trở 2015-2019 trở lên phân theo nam, nữ
Nguồn: Kho dữ liệu điện tử Chi cục Dân số-KHHGĐ Tiền Giang
Trang 191.2.3 Tính cần thiết của việc chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
Nhìn chung, NCT Việt Nam vẫn chưa thực sự khỏe mạnh như mong muốn Báo cáo tổng quan ngành y tế năm 2006 cho thấy số NCT tự đánh giá về sức khỏe bản thân là khá tốt chỉ là 5,7% và 22,9% đánh giá sức khỏe kém (21) Điều tra về NCT năm 2011 cũng chỉ ra rằng hơn 55% và trên 10% số NCT đánh giá sức khỏe bản thân là yếu và rất yếu (8)
Khi con người già đi, các chức năng của cơ thể sẽ suy giảm, chủ yếu là các chư cơ bản như nghe, nhìn, vận động hoặc ghi nhớ Theo Tổng Điều tra dân số và Nhà ở năm 2009, có 40% nam và 46% nữ NCT gặp phải những khó khăn với một trong 4 chức năng này; trong đó 31% nữ và 24% nam gặp khó khăn từ hai chức năng trở lên (8)
Ngoài ra, một đặc điểm nữa ở NCT nước ta, đa số họ thường mắc bệnh không lây nhiễm và lại mắc đồng thời các bệnh phối hợp Nhiều cuộc điều tra cho thấy, trung bình mỗi NCT mang trong cơ thể 2,69 bệnh, phổ biến là bệnh về giác quan, tim mạch, xương khớp, nội tiết- chuyển hoá, tiêu hoá, tâm thần kinh, hô hấp, thận tiết niệu (7) Một nghiên cứu khác vào năm 2015 cũng cho biết một người từ 80 tuổi trở lên trung bình mắc 6,9 bệnh (4)
Về yếu tố tinh thần, sự thay đổi về mặt xã hội, yếu tố tâm lý, sự suy giảm sức khỏe, bệnh tật và những lo lắng trong cuộc sống, sự cô đơn và mất đi người bạn đời,
dễ làm NCT bị sự suy sụp Kết quả nghiên cứu tại một số địa phương cho thấy, có 67% NCT gặp phải tình trạng khó ngủ, 51% NCT có lo lắng về cuộc sống, 40% thường xuyên buồn rầu; 42% chán nản và thường xuyên mệt mỏi là 34% (22) Tình trạng sa sút trí tuệ ở NCT là một vấn đề khá nghiêm trọng, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của NCT, một nghiên cứu cho biết có 4,9% NCT sa sút trí tuệ, đồng thời,
tỉ lệ người trên 75 tuổi mắc tình trạng là 9,8%, cao hơn hẳn so nhóm người từ 60 đến
74 tuổi chỉ 3,9 % (23)
Những chỉ số sức khỏe, những thông tin về tỷ lệ bệnh tật và tình trạng sức khỏe chung nói trên cho thấy sự cần thiết phải chăm sóc sức khỏe của NCT Việt Nam
Trang 201.2.4 Các chính sách liên quan công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
Quyền lợi được chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi
- Chăm sóc sức khỏe ban đầu: NCT được tuyến y tế cơ sở (YTCS) thực hiện
truyền thông, tư vấn sức khỏe, hướng dẫn về các kỹ năng phòng bệnh, chữa bệnh và
tự chăm sóc sức khỏe; được lập hồ sơ quản lý và theo dõi sức khỏe; được khám chữa bệnh (KCB) phù hợp với phân tuyến kỹ thuật và phối hợp với cơ sở y tế tuyến trên
để KSKĐK cho NCT (11)
- Khám, chữa bệnh tại cơ sở y tế: Ưu tiên KCB cho NCT từ 80 tuổi trở lên;
NCT đuợc bố trí giường nội trú phù hợp; dành một số giường để điều trị người bệnh
là NCT tại các bệnh viện; Sau các đợt điều trị cấp tính, NCT được phục hồi sức khỏe
và hướng dẫn tiếp tục theo dõi điều trị, chăm sóc sức khỏe tại gia đình, (11)
Các chính sách chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
- Chương trình hành động quốc gia về NCT Việt Nam giai đoạn 2012-2020 ban hành kèm theo Quyết định 1781/QĐ-TTg năm 2012 của Thủ tướng Chính Phủ
và Đề án CSSK NCT giai đoạn 2017-2025 theo Quyết định 7618/QĐ-BYT năm 2016 của Bộ Y tế), mục tiêu như sau: (1) 80% NCT có khả năng tự chăm sóc bản thân và được cung cấp kiến thức, kỹ năng tự chăm sóc; (2) 80% NCT được khám sức khỏe định kỳ ít nhất một lần/năm; (3) 90% NCT được tiếp cận dịch vụ y tế khi bị bệnh; (4)
Tỉ lệ NCT có thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) là 100%; (5) 100% bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến trung ương có tổ chức khoa lão khoa hoặc bố trí một số giường để điều trị người bệnh là NCT
- Các Chương trình phòng chống các bệnh không lây nhiễm (BKLN) phổ biến giai đoạn 2012-2015; Chiến lược quốc gia phòng, chống bệnh ung thư, tim mạch, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen phế quản và các BKLN khác giai đoạn 2015-2025 (Quyết định 376/QĐ-TTg năm 2015 của Thủ tướng phê duyệt); Chiến lược quốc gia phòng, chống mù lòa đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 (Quyết định 2560/QĐ-TTg năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ)
Trang 211.3 Một số lý thuyết về hành vi sức khỏe
- Mô hình niềm tin sức khỏe: được Rosenstock xây dựng vào năm 1966 và
Becker hiệu chỉnh năm 1974, năm 2008 Glanz và cộng sự đã biên soạn lại mô hình
này Đây là mô hình lý thuyết được xây dựng để giải thích hành vi sức khỏe thông
qua việc hiểu biết tốt nhất về niềm tin sức khỏe (24) (25)
Hình 1.3 Mô hình niềm tin sức khỏe (25)
Lý thuyết các giai đoạn thay đổi hành vi (Transtheoretical Model) Mô hình
các giai đoạn thay đổi hành vi được Prochaka và Diclemente phát triển dựa trên giả
thuyết sự thay đổi hành vi là một quá trình chứ không phải là một sự kiện đơn lẻ, mỗi
cá nhân có động cơ hoặc sẵn sàng thay đổi cũng ở các mức độ khác nhau (24) (25)
Các giai đoạn cơ bản của sự thay đổi là: 1) Tiền dự định; 2) Dự định; 3) Chuẩn bị; 4)
Hành động; 5) Duy trì Mô hình cũng áp dụng cho những người tự nguyện thay đổi,
những người nghe lời khuyên của chuyên gia hoặc chịu ảnh hưởng của các hoạt động
truyền thông giáo dục về sức khỏe
Mô hình lập kế hoạch PRECEDE –PROCEED: Đây là một mô hình phù
hợp đối với lập kế hoạch nâng cao sức khỏe vì nó cung cấp một khung hành động để
xác định các yếu tố liên quan với vấn đề sức khỏe, các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi
sức khỏe (26)
Trang 22Hình 1.4 Mô hình PRECEDE-PROCEED rút gọn (26)
1.4 Một số nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.4.1 Thực trạng sức khỏe của người cao tuổi
- Các nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu của Odion M Odaman và M.I Ibiezugbe trên 511 NCT sống tại Edo Central Nigeria năm 2014 cho thấy có 62,7% NCT mắc ít nhất một trong các bệnh: huyết áp, các vấn đề về tim mạch, tiểu đường, đau khớp, nhiễm trùng thận, ung thư và bệnh phổi Các bệnh lý tăng dần theo độ tuổi, tỷ lệ mắc bệnh tăng từ 62,5% lên 62,7% và 65,0% tương ứng ở độ tuổi 65-74 tuổi, 75-84 tuổi và 85 tuổi trở lên (6)
Một nghiên cứu khác cũng tại Nigeria của tác giả IS Abdulraheem khảo sát trên 756 hộ gia đình có ít nhất một cư dân từ 60 tuổi trở lên cho thấy các bệnh thường gặp nhất là đau cơ thể (89,5%), đau khớp (86,4%), suy nhược và mệt mỏi toàn thân (81,5%), thị lực kém (78,2%), sốt (71,3%)%), khó chịu, tức giận và căng thẳng thần kinh (70%),%), bơ phờ, trầm cảm và đau đầu (60%) và giảm khả năng vận động (65,8%)(9)
Nghiên cứu về hành vi tìm kiếm sức khỏe của NCT nông thôn miền tây Bengal của tác giả Satyajit Chakraborty cho thấy: Khoảng 35-50% NCT bị viêm khớp, tăng huyết áp 40%, khiếm thính 30%,15-40% khiếm thị, dị dạng và đục thủy tinh thể, 10% tiểu đường và khoảng 8% suy tĩnh mạch 1,6 Một số bệnh mãn tính có xu hướng xảy
Trang 23ra nhiều hơn ở phụ nữ và có xu hướng tăng theo tuổi Đa số người cao tuổi ở Ấn Độ phàn nàn về một số bệnh như khiếm khuyết thị lực, ung thư, huyết áp, bệnh tim, hô hấp và tiểu đường (27)
Nghiên cứu về hành vi tìm kiếm sức khỏe 250 NCT sống ở Ấn Độ năm 2015 của nhóm tác giả Rupali, A Patle, Gautam, Khakse cho thấy: Đục thủy tinh thể là tỷ
lệ mắc bệnh phổ biến nhất ở NCT Tiếp theo là rối loạn cơ xương (viêm xơ hóa, viêm
cơ, viêm thần kinh, bệnh gút, viêm khớp dạng thấp, viêm xương khớp, viêm cột sống, vv) ở phụ nữ và tăng huyết áp ở nam giới Các vấn đề về hô hấp bao gồm viêm phế quản mãn tính, khí phế thũng và hen suyễn Các bệnh về đường tiêu hóa bao gồm chứng khó nuốt, bệnh đường tiêu hóa, táo bón, tiêu chảy, viêm ruột Các vấn đề về tai chủ yếu bao gồm suy nhược thính giác Các vấn đề về thần kinh bao gồm đột quỵ,
và ngất (28)
- Các nghiên cứu tại Việt Nam
Một nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Lão khoa trung ương vào năm
2014 cho biết, bệnh phổ biến ở NCT là tăng huyết áp (THA) với tỷ lệ 45,6%, tỷ lệ mắc bệnh mạch vành là gần 10% Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính chiếm tỉ lệ 12,6% NCT và khi tuổi càng cao thì tỷ lệ này càng lớn Ngoài ra, các bệnh lý khác biểu hiện cho sự thoái hóa chức năng ở cơ thể NCT đồng thời là nguyên nhân ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống như các bệnh về thị giác, bệnh lý xương khớp, thính giác Trong đó, thoái hóa khớp khá phổ biến ở NCT (33,9%), kế đó là loãng xương (10,4%) và thấp khớp (9%) Nghiên cứu cũng cung cấp các tình trạng sa sút
về sức khỏe đáng kể khác ở cả nam giới và nữ giới cao tuổi là các bệnh tiểu đường
và bệnh của đường tiêu hóa như loét dạ dày, viêm đại tràng, nuốt nghẹn có tỷ lệ mắc tương ứng là 15,4%, 9,7% và 10,2% (5)
1.4.2 Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
- Các nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu của tác giả Tesfaye Falaha và cộng sự trên 795 NCT sống tại miền nam Ethiopia năm 2016 cho thấy có 57.9% % NCT có hành vi tìm kiếm dịch vụ CSSK phù hợp (KCB tại cơ sở y tế), trong đó có 27,7% KCB tại bệnh viện, 6,9% tại
Trang 24TTYT, 23,5% tại phòng khám tư nhân Lý do không KCB là không đủ tiền (64,8%), không được sự sự ủng hộ của gia đình (26,1%) (29)
Nghiên cứu của Odion M Odaman và M.I Ibiezugbe trên 511 NCT sống tại Edo Central Nigeria năm 2014 cho thấy NCT tìm đến các dịch vụ chăm sóc y tế như sau: 73,7% tìm đến các bệnh viện/trung tâm y tế; 10% tự mua thuốc ở tiệm thuốc tây, 6,3% đến trung tâm tôn giáo/thờ cúng, 4,9% NCT tự điều trị bằng cách sử dụng thuốc bằng thảo dược của địa phương và 1,8% thuốc truyền thống (6)
Một nghiên cứu khác cũng tại Nigeria của tác giả IS Abdulraheem năm 2013 cũng cho thấy hơn hai phần ba (68,8%) số người được hỏi chưa bao giờ đến các cơ
sở y tế trong một năm qua ngay cả đi khám sức khỏe định kỳ Chăm sóc tại gia đình hoặc tìm kiếm bác sỹ gia đình là lựa chọn đầu tiên (44,6%) Hơn một phần ba (28,7%)
ối tượng nhận thức được nhu cầu sức khỏe của họ Điều trị khi bị bệnh là nhu cầu sức khỏe được đa số (89,4%) đề cập đến của người cao tuổi (9)
Ưu tiên của gia đình với các biện pháp chăm sóc khắc phục tại nhà (tự điều trị) là phương pháp điều trị phổ biến nhất được lựa chọn bởi NCT ở Nigeria khi bị bệnh Nghiên cứu này cũng tiết lộ rằng ngoài việc tự điều trị, chăm sóc giá rẻ được cung cấp bởi các nhân viên y tế và người bán thuốc là những nguồn quan trọng khác của việc tìm kiếm chăm sóc sức khỏe của NCT Giáo dục NCT tự chăm sóc sức khỏe (CSSK) đóng một vai trò quan trọng cũng đã được tìm thấy trong nghiên cứu này (9)
Nghiên cứu Hành vi tìm kiếm sức khỏe của 729 NCT sống tại Myanma năm
2012 của nhóm tác giả Soe Moe, Kyi Tha, Daw Khin Saw Naing, Maung Maung Than cho thấy: trong vòng một năm, nơi tìm kiếm các dịch vụ CSSK thường xuyên nhất là trung tâm nông thôn tiếp theo là các y tế tư nhân Phần lớn NCT mắc bệnh được tư vấn bởi các bác sĩ y khoa, kế đến là tư vấn bởi gia đình, nhân viên y tế cơ sở Chỉ 3% nam và 13% nữ không được điều trị bệnh (30)
- Các nghiên cứu tại Việt Nam
Một nghiên cứu về thói quen khám sức khỏe cho NCT cho thấy phần lớn NCT vẫn chưa có sự quan tâm đúng mức đến sức khỏe của mình Thực tế khi đến độ tuổi này, nhiều người thường để bệnh diễn tiến nặng mới đến bệnh viện thăm khám Thực
Trang 25tế, càng cao tuổi, sức khỏe sẽ càng có dấu hiệu giảm sút Theo thống kê gần đây của Hội Dinh dưỡng Việt Nam, chỉ có 10% NCT kiểm tra sức khỏe định kỳ Đồng thời,
có đến 71% người độ tuổi này mắc bệnh kép (3-4 bệnh mãn tính), 23% sức khỏe kém
và chỉ có 6 % sức khỏe tốt (31) Do đó, quan tâm đúng đắn đến việc KSKĐK là cách tốt nhất để NCT có thể phòng tránh cũng như phát hiện kịp thời các bệnh lý thường gặp ở lứa tuổi này Phát hiện bệnh sớm thì việc điều trị và phục hồi sức khỏe sẽ đơn giản hơn (32)
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Kim Chung năm 2010, Đánh giá công tác KSKĐK và tư vấn sức khỏe dành cho người cao tuổi tại Trạm Y tế phường Nguyễn Trung Trực, quận Ba Đình, Hà Nội, năm 2008 – 2009: Tỷ lệ NCT tự đi khám sức khỏe định kỳ chiếm 33,3% Lý do chính NCT không tự đi khám định kỳ là thấy không cần thiết phải đi 66,1 %, sợ tốn thời gian 55,7 % và sợ tốn nhiều chi phí 22, 4%(33)
Nơi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi:
Ở Việt Nam, tỷ lệ NCT chiếm 25% tổng số lượt dịch vụ KCB nội trú, ngoại trú và khám sức khỏe được cung cấp Tỷ lệ này có sự dao động theo tuyến y tế Theo
đó, NCT chiếm trên 30% lượt khám sức khỏe ở Trạm Y tế (TYT); khoảng 35% lượt KCB ngoại trú, 33% lượt khám sức khỏe và 30% lượt KCB nội trú ở bệnh viện tuyến huyện Ở bệnh viện tuyến tỉnh trở lên, NCT chiếm khoảng 25% Ở các cơ sở y tế tư nhân, có khoảng 33% lượt KCB nội trú là NCT(8)
Năm 2012, theo số liệu điều tra hộ gia đình, có khoảng 9 triệu NCT toàn quốc (17) với khoảng 29 triệu lượt tiếp cận dịch vụ y tế, gồm cả KCB nội trú, ngoại trú và khám sức khỏe Trong đó, NCT chủ yếu sử dụng dịch vụ KCB ngoại trú (77% lượt
sử dụng dịch vụ), khám sức khỏe (14%) và nội trú (9%) Bệnh viện huyện là cơ sở y
tế (CSYT) được sử dụng nhiều nhất, chiếm 33% tổng số lượt sử dụng dịch vụ của NCT Trạm y tế đứng thứ hai, chiếm 22% và bệnh viện tuyến trên chiếm 20% Khám sức khỏe là dịch vụ được sử dụng chủ yếu ở cơ sở nhà nước gồm cả TYT xã; dịch
Trang 26vụ nội trú chủ yếu ở bệnh viện nhà nước Y tế tư nhân chủ yếu phục vụ nhu cầu KCB ngoại trú (8)
Hình 1 5 Tỷ lệ người cao tuổi trong tổng số lượt sử dụng các loại dịch vụ y tế,
2012 và Cơ cấu lượt sử dụng dịch vụ y tế của người cao tuổi theo loại dịch vụ y tế, 2012
1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe của Người cao tuổi
1.4.3.1 Các yếu tố thuộc về cá nhân (yếu tố tiền đề)
Bao gồm các yếu tố nhân khẩu học (Tuổi, giới tính, dân tộc, tôn giáo, trình độ học vấn, kinh tế, điều kiện đi lại/khoảng cách địa lý đến CSYT), kiến thức, thái độ
Các nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu của nhóm tác giả Soe Moe, Kyi Tha, Daw Khin Saw Naing, Maung Maung Than trên 729 NCT sống tại Myanma năm 2012 cho thấy: Có sự khác biệt đáng kể giữa hành vi tìm kiếm sức khỏe giữa những người lớn tuổi hơn và những người trẻ hơn ở Myanma Hành vi tìm kiếm dịch vụ CSSK không liên quan giới tính, dân tộc, tôn giáo Tuy nhiên, nó có liên quan đến thu nhập và trình độ học vấn (30)
Tác giả Odion M Odaman và M.I Ibiezugbe nghiên cứu trên 511 NCT sống tại Edo Central Nigeria năm 2014 cho thấy Số NCT chữa bệnh bằng thuốc truyền thống hoặc dùng thuốc thảo dược địa phương tăng theo tuổi, đặc biệt là từ 75 tuổi trở lên (6)
Trang 27Một nghiên cứu khác cũng tại Nigeria của tác giả IS Abdulraheem, về đánh giá nhu cầu sức khỏe và các yếu tố quyết định hành vi tìm kiếm sức khỏe NCT Nigeria: Nghèo đói là yếu tố chính (50,3%) quyết định hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe theo sau là bản chất của bệnh tật (28,5%) Tỷ lệ chênh lệch mà người cao tuổi thuộc các hộ nghèo tìm kiếm sự CSSK từ những người hành nghề CSSK không đủ tiêu chuẩn là 0,7%; trong khi tỷ lệ chênh lệch mà NCT thuộc các hộ nghèo
sẽ tìm kiếm sự CSSK từ những người hành nghề CSSK có trình độ là 0,8% Tự điều trị có tỷ lệ chênh lệch 1,7% Nghèo đói và một trong những yếu tố quyết định quan trọng nhất của hành vi tìm kiếm sức khỏe trong ba mô hình được sử dụng: Bác sĩ y khoa; Phương pháp điều trị tại nhà; Người bán thuốc (9)
Nghèo đói làm giảm tỷ lệ tìm kiếm sự CSSK từ bác sĩ y khoa có trình độ nhưng tăng tỷ lệ sử dụng các biện pháp khắc phục tại nhà và từ các hiệu thuốc Sau khi kiểm soát tình trạng nghèo của hộ gia đình, vẫn có sự khác biệt đáng kể ở nhóm tuổi và giới tính về hành vi tìm kiếm chăm sóc sức khỏe Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng: Các chỉ số kinh tế xã hội và bản chất của bệnh tật là yếu tố quyết định đối với hành vi tìm kiếm CSSK ở NCT, trong đó tuổi tác, giới tính, chi phí chăm sóc sức khỏe, bản chất của bệnh tật và chất lượng dịch vụ là được xếp hạng yếu tố chính quyết định (9)
Một nghiên cứu về Hành vi tìm kiếm sức khỏe của người cao tuổi của nhóm tác giả Soe Moe 1, Kyi Tha, Daw Khin Saw Naing, Maung Maung Than cho thấy: có
19 trong số 278 (6,8%) NCT dưới mức nghèo được điều trị trong khi 67 trên 541 (14,8%) NCT trên mức nghèo khổ đã điều trị bệnh hiện tại Người già nghèo có nhiều khả năng bỏ qua điều trị hơn những người có thu nhập trên chuẩn nghèo (30)
Nghiên cứu Hành vi tìm kiếm sức khỏe của người cao tuổi ở rani block, Kamrup (Rural) district, Assam của nhóm tác giả Annamika Hakmaosa1, Kanika K Baruah, Rupali Baruah1, Sudipta Hajong cho thấy 72% NCT tìm kiếm điều trị cho bệnh mãn tính của họ và 28,6% không tìm kiếm điều trị bệnh mãn tính của họ Lý do phổ biến nhất không tìm cách điều trị căn bệnh mãn tính của họ là lý do tài chính chiếm 62,3%; Xem đó là bệnh của tuổi già: 39,6%; Xem đó là bệnh nhẹ: 36,8%; Nơi điều trị xa: 27,4% Giáo dục, kinh tế xã hội tình trạng và tình trạng sống đóng một
Trang 28vai trò quan trọng đối với hành vi tìm kiếm sức khỏe (34) Nghiên cứu cũng cho thấy một trong những lý do phổ biến nhất không tìm cách điều trị căn bệnh mãn tính của
họ là nơi điều trị xa: 27.4% (34)
+ Kiến thức
Một nghiên cứu đánh giá nhu cầu sức khỏe và các yếu tố quyết định hành vi
tìm kiếm sức khỏe ở người già Nigeria của tác giả IS Abdulraheem: học vấn là một
trong những yếu tố quyết định quan trọng nhất của hành vi tìm kiếm sức khỏe Giáo dục làm tăng tỷ lệ tìm kiếm chăm sóc sức khỏe từ bác sĩ y khoa có trình độ (9)
Đối với bệnh hiện tại, 53 trong số 605 NCT (8,8%) với tình trạng giáo dục thấp hơn được điều trị và 33 trong số 124 (26,6%) với tình trạng giáo dục trung bình
và cao hơn được điều trị Người cao tuổi có kiến thức thấp hơn có nhiều khả năng bỏ qua điều trị nhiều hơn NCT có giáo dục trung học và đại học (30)
Một nghiên cứu khác ở NCT nam sống ở Catherine, Jamaica đã chứng minh rằng Mức độ hiểu biết về sức khỏe thấp có thể đặc biệt nghiêm trọng đối với những người sống ở khu vực nông thôn Có sự khác biệt giữa mức độ hiểu biết và hành vi tìm kiếm chăm sóc sức khỏe của NCT ở thành thị và nông thôn (35)
Các nghiên cứu tại Việt Nam
+ Yếu tố nhân khẩu học:
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Kim Chung năm 2010, Đánh giá công tác khám sức khỏe định kỳ và tư vấn sức khỏe dành cho người cao tuổi tại trạm y tế phường Nguyễn Trung Trực, quận Ba Đình , Hà Nội, năm 2008 -2009: Có mối liên quan giữa nhu cầu khám sức kheo định kỳ với trình độ học vấn, nghề nghiệp chính trước đây, hoàn cảnh kinh tế (33)
Nghiên cứu của tác giả Đinh Thị Tâm năm 2013, Nghiên cứu đánh giá các yếu
tố tác động đến chi tiêu cho chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi ở Việt Nam cho thấy thu nhập của hộ gia đình là nhân tố ảnh hưởng rõ rệt nhất đến chi tiêu chăm sóc
Y tế của NCT Khi thu nhập của hộ tăng chi tiêu cho chăm sóc y tế của NCT cũng tăng Đặc điểm nhân khẩu học bao gồm: Khu vực hoặc địa bàn NCT sinh sống có sự
Trang 29khác biệt chi tiêu cho y tế; tuổi, giới tính, và sắc tộc của NCT có tác động cùng chiều với mức chi tiêu y tể cho bản thân Tuổi càng cao thì chỉ phí y tế cho NCT càng lớn Nam giới cao tuổi chỉ tiêu cho y tế cao hơn so với nữ Học vấn của NCT càng cao chi tiêu y tế thấp hơn so với nhóm NCT có học vấn thấp Nhóm NCT đơn thân chi tiền cho y tế cao hơn nhi NCT không đơn thân Nhóm không có tham gia BHYT có mức chi tiên y tế bình quân cao hơn so với nhóm có BHYT(36)
Báo cáo Tổng quan ngành y tế năm 2016, mô hình sử dụng dịch vụ của các tuyến khác nhau vẫn bị ảnh hưởng bởi khả năng chi trả và khả năng tiếp cận dịch vụ, không thuần túy mức độ nặng của bệnh tật Đối với dịch vụ TYT xã, khoảng 60% lượt sử dụng là người nghèo và cận nghèo (chiếm 40% tổng số NCT) Mô hình sử dụng bệnh viện huyện và cơ sở y tế tư nhân tập trung ở nhóm cận nghèo đến khá Tuy nhiên, ở bệnh viện tuyến tỉnh và trung ương, trên 70% lượt sử dụng dịch vụ của NCT
là nhóm giàu và khá (8)
Một điều tra khác của Bệnh viện Lão khoa trung ương tại ba địa bàn Hà Nội
năm 2014, Thừa Thiên Huế và Bà Rịa-Vũng Tàu cho thấy trong nhiều lý do khiến NCT không được KCB, lý do chính là không đủ khả năng kinh tế (45,3%) (37)
Nghiên cứu của tác giả Phạm Thắng về điều tra dịch tể học về tình hình bệnh, tật và nhu cầu chăm sóc y tế của NCT Việt Nam cho biết: Trong khi chăm sóc sức khỏe ban đầu có thể thực hiện ở tuyến xã nhưng để được chữa bệnh thì chủ thẻ BHYT phải lên tuyến huyện Điều đó thực sự khó khăn đối với người dân nghèo, người sống
ở các khu vực khó khăn khoảng cách từ xã đến bệnh viện huyện gần nhất lên tới lần lượt là 13,3 km, 22,5 km và 15,6 km (37)
+ Thái độ:
Nghiên cứu của Phạm Vũ Hoàng năm 2013 về một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người cao tuổi cho biết NCT chưa hài lòng về chăm sóc sức khỏe và dịch vụ y tế, gần 47 % NCT đánh giá chất lượng CSSK và KCB ở mức bình thường và thậm chí có 4,7 % đánh giá chất lượng ở mức kém Việc
tự CSSK, khám định kỳ của chính NCT còn chưa tốt (2)
Trang 301.4.3.2 Yếu tố thuộc về người thân (yếu tố cũng cố)
Các nghiên cứu trên thế giới
+ Vai trò của người thân trong gia đình:
Nghiên cứu hành vi tìm kiếm sức khỏe của NCT tại Nigeria cho thấy rằng vợ/chồng và những người khác (bạn bè, hàng xóm và những người có liên quan cá nhân) chịu trách nhiệm về tài chính cho nhu cầu chăm sóc y tế của họ, NCT cho biết con cái của họ chịu trách nhiệm tài chính cho nhu cầu chăm sóc y tế của họ tăng theo tuổi Đó là, từ 30,6% đến 50,6% và 80,0% ở độ tuổi 65-74, 75-84 tuổi và 85+ tuổi Quan sát là sự xác nhận của Oluwabamide và Eghafona rằng, NCT được phục vụ bởi các thành viên của gia đình họ, các thành viên gia đình, bạn bè, hàng xóm chiếm vị trí quan trọng trong hành vi tìm kiếm sức khỏe của NCT (35)
+ Bạn bè, láng giềng, câu lạc bộ người cao tuổi:
Một nghiên cứu cắt ngang mô tả gồm 2.000 NCT nam sống ở Catherine, Jamaica cho rằng sự hiểu biết hạn hẹp về tình trạng sức khỏe của những người tham gia nghiên cứu đã bỏ qua chất lượng cuộc sống của họ Có thể là phần lớn những người này có mối quan hệ thân mật và nhận được hỗ trợ xã hội từ đối tác, bạn bè và người thân của họ Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng gia đình, bạn bè và nhân viên chăm sóc sức khỏe tại nhà có thể đóng vai trò là người hỗ trợ cho những người có trình độ hiểu biết không đầy đủ, hướng dẫn họ tự chăm sóc để có thể giảm thiểu những tác động tiêu cực của việc thiếu hiểu biết (35)
Các nghiên cứu tại Việt Nam
+ Vai trò của người thân trong gia đình:
Với gần 60% NCT vẫn đang sống với vợ/chồng và gần 70% NCT vẫn đang sống cùng con (38) là điều kiện tốt để NCT được thành viên gia đình chăm sóc tại nhà, phù hợp với điều kiện kinh tế và truyền thống văn hóa Việt Nam Sự chăm sóc của họ hàng chiếm vị trí đáng kể Điều tra về NCT năm 2011 cho thấy người chăm sóc nhiều nhất cho NCT là người thân Quan trọng nhất là vợ/chồng, (trong đó tỷ lệ chồng được vợ chăm sóc là trên 80%, trong khi vợ được chồng chăm sóc là gần 30%, trong số những người đang sống với vợ/chồng), con gái và con dâu
Việc chăm sóc của con cái đặc biệt có ý nghĩa về mặt tinh thần đối với NCT
Trang 31NCT sống phụ thuộc vào gia đình và con cháu mà không có một sự lựa chọn nào khác khi không còn khả năng tự chăm sóc hoặc không có khả năng tạo thu nhập bảo đảm cuộc sống hàng ngày và chi trả cho các dịch vụ KCB và chăm sóc sức khỏe (39)
+ Bạn bè, láng giềng, thành viên các câu lạc bộ người cao tuổi:
Điều tra về NCT năm 2011 của Ủy ban Quốc gia về NCT cho thấy rất ít NCT cho rằng người chăm sóc nhiều nhất là tình nguyện viên (hàng xóm) hoặc người được trả công để cấp dịch vụ chăm sóc NCT (38)
Báo cáo tổng quan ngành y tế năm 2016 cho biết CLB Liên thế hệ tự giúp
nhau, là mô hình tại cộng đồng, được thành lập ở cấp thôn/bản Tại các buổi sinh hoạt
tháng, CLB thường xuyên mời người có chuyên môn về truyền thông trong các buổi sinh hoạt CLB về các nội dung liên quan đến chăm sóc sức khỏe, đặc biệt các bệnh KLN CLB còn tổ chức các hoạt động rèn luyện thân thể, tăng cường tiếp cận BHYT, chủ động phối hợp với các cơ sở y tế KSK cho thành viên 2 lần/năm Do nhu cầu của nhiều NCT bị khuyết tật hoặc mắc bệnh mạn tính vượt khả năng của tình nguyện viên (TNV), một số CLB đang thử nghiệm cung cấp thêm dịch vụ chăm sóc y tế tại nhà (như thực hiện bài tập PHCN, tập thể dục dưỡng sinh, theo dõi huyết áp, đường huyết, theo dõi việc uống thuốc), do trợ lý chăm sóc là nhân viên y tế về hưu hoặc NVYTTB, đảm nhiệm và được trả công (40)
NCT khó khăn (bị khuyết tật, ốm yếu) và cô đơn (không có người nhà có khả năng chăm sóc) Tùy vào tình trạng của người được chăm sóc mà CLB có thể cử một hoặc một nhóm TNV thay phiên nhau đến giúp Một số TNV còn giúp NCT trong vệ sinh cá nhân, hướng dẫn tập thể dục đơn giản, theo dõi cân nặng, huyết áp, (40)
1.4.3.3 Yếu tố thuận lợi:
Các nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu Hành vi tìm kiếm sức khỏe của người cao tuổi ở rani block, Kamrup (Rural) district, Assam của nhóm tác giả Annamika Hakmaosa1, Kanika K Baruah, Rupali Baruah1, Sudipta Hajong năm 2014 cho thấy đa số NCT (51,5%) tìm cách điều trị từ các bệnh viện công lập vì ở đây có chính sách tốt hơn ở những nơi khác (34)
Trang 32Các nghiên cứu tại Việt Nam
Báo cáo “Góc nhìn Việt Nam: Quyền được chăm sóc sức khỏe và tiếp cận chăm sóc sức khỏe toàn dân cho người cao tuổi” do tổ chức phi chính phủ HelpAge
International thực hiện dựa trên báo cáo kỹ thuật của PGS Hoàng Văn Minh (trường Đại học Y tế công cộng) và PGS Kim Bảo Giang (trường Đại học Y Hà Nội), cho thấy khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế liên quan đến các bệnh không lây nhiễm (BKLN) ở NCT còn thấp Có đến 68% số người đang có bệnh ở độ tuổi 50-69 cho biết họ không được điều trị tại bất kỳ cơ sở y tế nào Khả năng tiếp cận dịch vụ phòng ngừa và điều trị cũng khác nhau đối với từng loại BKLN, chỉ có 42% NCT bị tiểu đường đã được sàng lọc, bằng một nửa tỷ lệ ở nhóm cao huyết áp (80%) (41)
Các đơn vị cung cấp dịch vụ y tế cho biết việc NCT khó tiếp cận các dịch vụ
y tế gắn với các BKLN một phần là do sự chắp vá trong việc cung cấp dịch vụ y tế, thuốc men và chuyên môn ở cơ sở y tế các cấp, một phần do các quy định liên quan đến danh mục dịch vụ y tế được Bảo hiểm Xã hội chi trả Mặc dù Kế hoạch hành động quốc gia về NCT đặt ra mục tiêu đến năm 2020, tất cả bệnh viện đa khoa và chuyên khoa tỉnh cần có khoa lão, nhưng hiện cả nước chỉ có một bệnh viện lão khoa trung ương, 97 bệnh viện tỉnh có khoa lão nhưng cũng chưa đáp ứng đầy đủ điều kiện trang thiết bị và chất lượng khám chữa bệnh (41)
Nghiên cứu của tác giả Phạm Thắng về điều tra dịch tể học về tình hình bệnh, tật và nhu cầu chăm sóc y tế của NCT Việt Nam cho biết: Khả năng chi trả là yếu tố quan trọng cản trở NCT sử dụng dịch vụ y tế Bên cạnh đó, còn nhiều lý do khác trong đó điều kiện y tế địa phương không đáp ứng được 16,5% (37)
Một số yếu tố ảnh hưởng để chương trình CSSK cho NCT: Trình độ cán bộ y
tế còn hạn chế, chưa được tập huấn sâu về quản lý, chăm sóc sức khỏe cho NCT Đội ngũ cán bộ Y tế tuyến cơ sở còn thiếu về số lượng NCT nên chưa thực sự hiểu biết đầy đủ ý nghĩa của việc KSKĐK trong việc dự phòng phát hiện sớm bệnh tật để điều trị kịp thời Ngoài ra, tâm lý khi biết phát hiện bệnh tật, chi phí KCB, NCT ngại làm phiền con cháu ảnh hưởng đảm việc tiếp cận CSSK của NCT Việc chưa tham gia BHYT của NCT cũng là yếu tố ảnh hưởng đến việc chăm sóc sức khỏe NCT (42)
Trang 331.5 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu
1.5.1 Vị trí địa lý, tự nhiên và xã hội
Thành phố Mỹ Tho là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Tiền Giang; là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa, khoa học và công nghệ của tỉnh; có nhiều cơ
sở giáo dục, đào tạo, y tế, thương mại, dịch vụ tài chính, khu công nghiệp, cụm công nghiệp; đồng thời, có vai trò là đô thị trung tâm khu vực Bắc sông Tiền, cửa ngõ chính tiếp cận với thành phố Hồ Chí Minh và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, cửa ngõ giao thương ra biển Đông của các đô thị dọc sông Tiền
Thành phố Mỹ Tho có diện tích 82,24 km2 Phía Đông và phía Bắc giáp huyện Chợ Gạo, phía Nam giáp sông Tiền và tỉnh Bến Tre, phía Tây giáp huyện Châu Thành Thành phố Mỹ Tho có 17 đơn vị hành chính cơ sở (gồm 11 phường, 6 xã) Dân số có 228.109 người, có 4 nhóm tộc người chính: Kinh, Hoa, Ấn và Khơme Có
4 tôn giáo chính: Công giáo, Tin lành, Phật giáo và Cao đài
Kinh tế thành phố Mỹ Tho luôn đạt mức tăng trưởng vượt bậc so với các địa phương còn lại trong tỉnh Năm 2018, dân số thành phố Mỹ Tho chiếm 12,93% so dân số của tỉnh nhưng tổng giá trị sản xuất (GTSX) chiếm 27,54% so tổng GTSX toàn tỉnh, trong đó, GTSX công nghiệp chiếm 37,7% và dịch vụ chiếm 36,0% so với toàn tỉnh; thu ngân sách trong cân đối (khu vực huyện) chiếm trên 41%,… Tăng trưởng nhanh dẫn đến đời sống nhân dân trên địa bàn được cải thiện nhanh; thu nhập trên địa bàn bình quân đầu người bằng 2,2 lần bình quân toàn tỉnh
1.5.2 Số liệu Người cao tuổi tại thành phố Mỹ Tho:
Hình 1.6 Tỷ lệ người cao tuổi 60 tuổi trở lên 2015-2019 TP MT
Nguồn: Kho dữ liệu điện tử Chi cục Dân số-KHHGĐ Tiền Giang
Trang 34Hình 1.7 Tỷ lệ người cao tuổi 65, 80 tuổi trở lên 2015-2019 lên phân theo nam, nữ
Nguồn: Kho dữ liệu dân cư Chi cục Dân số-KHHGĐ Tiền Giang
1.5.3 Thông tin về Y tế
Đối với cơ sở khám chữa bệnh: Trên địa bàn thành phố Mỹ Tho hiện có 05
bệnh viện tuyến tỉnh; 01 Bệnh viện Quân Y (bệnh viện hạng 2), 01 Trung tâm Y tế thành phố, 17/17 Trạm Y tế phường, xã Ngoài ra, địa bàn còn có 01 bệnh viện tư nhân, 199 phòng khám y khoa
1.5.4 Công tác Chăm sóc sức khỏe Người cao tuổi trên địa bàn TP Mỹ Tho
Trung tâm Y tế Tp Mỹ Tho là đơn vị đầu mối triển khai thực hiện Đề án số 2579/ĐA-SYT ngày 31/10/2017 của Sở Y tế Tiền Giang Đề án chăm sóc sức khỏe người cao tuổi trên địa bàn tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2018 – 2025 Các hoạt động sàng lọc điều trị bệnh KLN; sàng lọc Ung thư,… thực hiện theo hướng dẫn chỉ đạo của Sở Y tế Một số kết quả thực hiện trong năm 2019:
Bảng 1.1 Kết quả thực hiện các hoạt động chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại Trung tâm Y tế thành phố Mỹ Tho năm 2019
tính
Số lượng
2 Số khoa khám bệnh có buồng khám riêng hoặc bố trí bàn
khám riêng cho người cao tuổi
Khoa
01
3 Số giường điều trị nội trú ưu tiên cho người cao tuổi 04
4 Số nhân viên y tế được đào tạo về Lão khoa Người 01
5 Số NCT được khám sức khỏe định kỳ Người 3735
Trang 35TT Nội dung Đơn vị
tính
Số lượng
6 Số NCT được lập hồ sơ theo dõi sức khỏe Người 3735
7 Số NCT được tuyên truyền phổ biến kiến thức về chăm
sóc và tự chăm sóc sức khỏe
Người
3306
8 Số NCT bị tàn tật, di chứng chấn thương, tai nạn, tai biến,
bệnh mạn tính, bệnh nghề nghiệp … được phục hồi chức
năng dựa vào cộng đồng
Người
322
9 Số NCT cô đơn bị bệnh nặng không thể đến khám bệnh,
chữa bệnh được cán bộ y tế đến khám tại nhà
Người
352
10 Số NCT có bệnh mạn tính không lây nhiễm (ít nhất 01
11 Số lượt NCT đến khám chữa bệnh tại các cơ sở Lượt 6277
12 Số xã, phường xây dựng mạng lưới tình nguyện viên giúp
đỡ NCT
Xã/phường
17
13 Số tình nguyện viên chăm sóc người cao tuổi tại nhà theo
quy định tại Thông tư số 35/2011/TT-BYT ngày
15/10/2011
Người
82
14 Số Câu lạc bộ của những NCT mắc bệnh mạn tính theo
quy định tại Thông tư số 35/2011/TT-BYT ngày
15/10/2011
CLB
04
1.6 Khung lý thuyết
Cơ sở xây dựng khung lý thuyết
Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam cho thấy, hành vi tìm kiếm dịch vụ CSSK của NCT chịu sự tác động bởi cách mà họ nhận thức về sức khỏe, hiểu biết về lợi ích của việc KSKĐK, KCB tại CSYT khi mắc bệnh Thái độ của họ đối với sức khỏe của bản thân Ngoài ra, các nghiên cứu cũng cho thấy khi có tác động của người thân, bàn bè, láng giềng, thành viên CLB NCT, hoặc khi có được tham dự các buổi truyền thông thì NCT thực hiện hành vi tìm kiếm dịch vụ CSSK sẽ phù hợp hơn Kết quả này hoàn toàn phù hợp với nguyên lí mà Mô hình niềm tin sức khỏe đưa ra: nếu cá nhân nhận thức đúng về lợi ích của việc KSKĐK, sự nguy hiểm
Trang 36của việc không KCB ở CSYT khi mắc bệnh, sự tự tin khi thực hiện các hành vi CSSK thì cá nhân có khả năng thay đổi hành vi theo hướng tích cực
Các nghiên cứu cũng cho thấy, không chỉ kiến thức mà thái độ cũng có ảnh hưởng đến hành vi tìm kiếm dịch vụ CSSK của NCT Vai trò của thái độ đối với hành
vi cũng đã được nhấn mạnh trong Lý thuyết hành động hợp lí và Hành vi có dự định của Ajzen và Fishbein
Bên cạnh đó, mô hình PRECEDE-PROCEED của Green và Kreuter cũng chỉ rõ: ngoài các yếu tố tiền đề thuộc về cá nhân (như kiến thức, thái độ, niềm tin), hành
vi của một người còn chiu sự tác động bởi các yếu tố đến từ những người xung quanh (yếu tố tăng cường) và các yếu tố chính sách (yếu tố tạo điều kiện thuận lợi) Đối với hành vi tìm kiếm dịch vụ CSSK, tổng quan tài liệu cũng cho thấy ngoài các yếu tố cá nhân, người thân trong gia đình, bạn bè, hàng xóm láng giềng, thành viên các Câu lạc
bộ NCT, thành viên Tổ tình nguyện viên (yếu tố tăng cường); Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế, hoạt động truyền thông cung cấp kiến thức cho NCT và một số chính sách của nhà nước trong việc CSSK NCT (yếu tố thuận lợi) đều có sự ảnh hưởng đến việc thực hiện hành vi CSSK của NCT
Từ những phân tích trên, chúng tôi đã xây dựng khung lí thuyết cho nghiên cứu này dựa trên tham khảo ba mô hình lý thuyết, đó là: Mô hình niềm tin sức khỏe,
Lí thuyết hành động hợp lí và hành vi có dự định và Mô hình PRECEDE-PROCEED
để làm cơ sở cho nghiên cứu (hình 1.8)
Trang 37Hình 1.8 Khung lý thuyết của nghiên cứu
Kiến thức:
- Về sức khỏe NCT
- Về CSSK NCT
- Về các bệnh lý thường gặp ở NCT
- Khám sức khỏe định kỳ (lợi ích, mục đích)
- Các chính sách CSSK NCT của địa phương
Yếu tố thuận lợi:
+ Yếu tố thuộc về dịch vụ y tế: Cơ
sở vật chất, thuốc thiết yếu, trang
thiết bị, hoạt động truyền thông,
+ Chính sách của địa phương đối
+ Khám chữa bệnh tại CSYT
Yếu tố thuộc về cá nhân (yếu tố tiên định):
Thái độ
- Thái độ đối với KSK
ĐK, KCB tại CSYT
- Tin rằng có thể thực hiện KSKĐK, KCB tại CSYT
-Tin rằng hành vi của mình sẽ được sự ủng
hộ của người thân, bạn bè,
+ Khám sức khỏe định kỳ
+ Khám chữa bệnh tại CSYT
Trang 38Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Nghiên cứu định lượng:
- Người cao tuổi: Người từ 60 tuổi trở lên (sinh từ 01/01/1960 trở về trước) đang sinh sống tại địa bàn nghiên cứu (phường 4 và xã Trung An, thành phố Mỹ Tho)
Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Người cao tuổi thuộc danh sách được quản lý tại Trạm Y tế phường 4, xã Trung An (địa bàn nghiên cứu)
Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Người cao tuổi mới chuyển đến sinh sống ở địa bàn chưa đủ 6 tháng; + Người cao tuổi không có khả năng nói, nghe hoặc không trả lời được; người cao tuổi câm điếc hay rối loạn tâm thần;
+ Người cao tuổi không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2 Nghiên cứu định tính:
- Lãnh đạo Trung tâm Y tế TP Mỹ Tho;
- Lãnh đạo Hội người cao tuổi TP Mỹ Tho;
- Viên chức Trung tâm Y tế huyện (phụ trách Đề án NCT);
- Viên chức Trạm Y tế xã (phụ trách Đề án NCT);
- Cộng tác viên dân số;
- Thành viên Tổ tình nguyện viên chăm sóc NCT tại cộng đồng;
- Người thân của người cao tuổi;
- Người cao tuổi
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Thời gian nghiên cứu:
Từ tháng 11/2019 đến tháng 7 năm 2020
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu:
Phường 4 và xã Trung An, Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang
Trang 392.3 Thiết kế nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp định tính và định lượng Trong đó nghiên cứu định lượng và định tính được tiến hành đồng thời nhằm bổ sung và đối chiếu các thông tin/dữ liệu từ nhiều quan điểm khác nhau
- Nghiên cứu định lượng trả lời cho câu hỏi:
+ Các vấn đề liên quan đến sức khỏe phổ biến của NCT ở Tp Mỹ Tho là gì? + Người cao tuổi ở Tp Mỹ Tho tìm kiếm dịch vụ CSSK (KSKĐK KCB) ở đâu?
Tỷ lệ đối với từng loại dịch vụ/cơ sở y tế?
+ Các yếu tố: Tuổi, giới, nghề nghiệp trước đây của NCT, kiến thức, thái độ, bảo hiểm y tế, kinh tế của gia đình, sự quan tâm của người thân, khoảng cách địa lý, vv… có liên quan đến hành vi tìm kiếm dịch vụ CSSK của NCT không?
- Nghiên cứu định tính trả lời cho câu hỏi:
2.4.1 Nghiên cứu định lượng:
Số lượng NCT trong nghiên cứu được tính theo công thức:
n = Z1−a/22 P(1−P)
d 2 X HSTK Trong đó:
- n: là cỡ mẫu nghiên cứu
- Z: hệ số tin cậy, trong nghiên cứu này , chọn mức tin cậy mong muốn là 95% (tra bảng ta được Z = 1,96)
- HSTK: 2
Trang 40- p: là tỷ lệ NCT có hành vi tìm kiếm dịch vụ CSSK Trong nghiên cứu này, hành vi tìm kiếm dịch vụ CSSK gồm hai hành vi:
+ p1: Tỷ lệ NCT tìm kiếm dịch vụ CSSK khi chưa mắc bệnh (hành vi khám sức khỏe định kỳ) Theo nghiên cứu của tác giả Phạm Vũ Hoàng năm 2013, tỷ lệ NCT đến khám định kỳ là 27,7%, do đó tôi lấy giá trị p1 = 0,277 (2)
+ p2: Tỷ lệ NCT tìm kiếm dịch vụ CSSK khi có bệnh (hành vi khám chữa bệnh) Cũng theo nghiên cứu của tác giả Phạm Vũ Hoàng, tỷ lệ NCT khám chữa bệnh
là 60,9%, do đó tôi lấy giá trị p = 0,6 (2)
- d: Sai số cho phép so với tỷ lệ thật của quần thể, trong nghiên cứu này tôi chấp nhận d=0,05
Thay các thông số vào công thức, ta được: n1= 616 ; n2= 738
Để cỡ mẫu đủ lớn đánh giá cho cả 2 hành vi KSKĐK và KCB, chọn n2=738 làm cỡ mẫu nghiên cứu
Do nghiên cứu cộng đồng tại hộ gia đình, nên trong nghiên cứu này tôi cộng thêm 10% để dự phòng các trường hợp thuộc diện loại trừ hoặc phiếu không hợp lệ Như vậy tổng số đối tượng nghiên cứu là 738 + (738 x 10%) = 810 người
2.4.2 Nghiên cứu định tính:
Sử dụng kỹ thuật phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với cỡ mẫu như sau:
- 02 Phỏng vấn sâu (PVS): Lãnh đạo Trung tâm Y tế và Lãnh đạo Hội Người
cao tuổi thành phố Mỹ Tho
- 02 Thảo luận nhóm (TLN): 01 nhóm (10-người) thực hiện cung cấp dịch vụ
chăm sóc NCT: viên chức Trung tâm Y tế huyện; viên chức Trạm Y tế xã, Tình nguyện viên, Cộng tác viên Dân số-KHHGĐ ấp/khu phố
+ 01 nhóm người cao tuổi/người thân NCT
Tổng cộng: 02 cuộc PVS và 02 TLN với 20 người tham gia