Mặc dù Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi năm 2009) có một loại những điều khoản về các trường hợp hạn chế và ngoại lệ đối với quyền tác giả (Điều 25, 26) được thiết kế để cho phép, kh[r]
Trang 1CREATIVE COMMONS - SỰ HỖ TRỢ ƯU VIỆT
CHO PHÁT TRIỂN OER TẠI VIỆT NAM
TS Đinh Thị Thanh Nhàn 1
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự phát triển siêu tốc của các công nghệ kỹ thuật số trong một thập
kỷ gần đây đã dẫn đến cuộc cách mạng trong sáng tạo và truyền bá tri thức Cuộc cách mạng này đã tạo ra những khó khăn chưa từng xảy ra đối với luật bản quyền Mô hình luật bản quyền truyền thống bảo lưu tất cả các quyền của tác giả (all rights reserved), cùng với những khái niệm phức tạp và yêu cầu phải có sự chấp thuận của tác giả trong hầu hết trường hợp sử dụng tác phẩm không còn phù hợp với môi trường
số, nơi mà sự sao chép và giao tiếp không chỉ là nhu cầu mà còn là một đòi hỏi diễn ra hàng ngày hàng giờ Trong môi trường số đầy tiềm năng, trong nhiều trường hợp luật bản quyền trở thành rào cản đối với sự phát triển khoa học, kỹ thuật và mở rộng giao lưu, vui chơi, giải trí, giáo dục, đào tạo trong cộng đồng
Một trong những giải pháp đáng chú ý cho khó khăn của luật bản quyền là sự phát triển hệ thống giấy phép mới được thiết kế để mở ra
sự truy cập và sử dụng các tác phẩm có bản quyền Mô hình giấy phép nội dung mở (Open Content Licensing – OCL) được xây dựng dựa trên
sự phù hợp với luật về quyền tác giả đồng thời đưa ra sự chấp thuận trước của tác giả cho phép sử dụng rộng rãi nội dung hơn so với phạm
1 Khoa Kinh tế - Luật, Trường Đại học Thương mại.
Trang 2vi người dùng được phép sử dụng theo quy định của pháp luật quyền tác giả Những chứng chỉ này cho mang tính chung chung (generic) với những điều khoản áp dụng chung tất cả người dùng, không phân biệt đối xử (no-discriminatory) co phép mọi người có thể truy cập đến nội dung, và cho phép người dùng có quyền sao chép, sử dụng nội dung trên cơ sở các điều khoản và điều kiện sử dụng đã được ấn định trước Hơn nữa, các giấy phép này rất ngắn gọn, đơn giản, dễ đọc, dễ sử dụng Các giấy phép phổ biến nhất được sử dụng trên toàn cầu hiện nay là hệ thống giấy phép Creative Commons (CC)
Những quy định bảo hộ quyền tác giả và rào cản của nó đối với sự
mở rộng và truyền bá tri thức nhân loại là một chủ đề rộng bao trùm lên nhiều lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, đến phát triển, bảo tồn các giá trị văn hóa, nghệ thuật, vui chơi giải trí, và sự phát triển tri thức trong lĩnh vực giáo dục đào tạo Trong phạm vi bài viết, tác giả chỉ đề cập tới vấn đề này trong phạm vi tác động đến lĩnh vực giáo dục, đào tạo, thông tin thư viện Đồng thời, bàn về hệ thống giấy phép CC cũng chỉ đề cấp trong phạm vi hẹp phục vụ cho giáo dục và đào tạo
2 RÀO CẢN CỦA LUẬT BẢN QUYỀN VỚI PHÁT TRIỂN TÀI NGUYÊN GIÁO DỤC MỞ
Pháp luật là quyền tác giả là tổng thể các quy phạm pháp luật quy định và bảo vệ quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với các tài liệu, tác phẩm trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuât, khoa học, giáo dục
Pháp luật về quyền tác giả là một bộ phận của pháp luật sở hữu trí tuệ nhằm ghi nhận, bảo vệ độc quyền và tạo ra cơ chế để chủ sở hữu các sản phẩm trí tuệ có thể khai thác để bù đắp cho hoạt động lao động sáng tạo của mình, qua đó khuyến khích các nhà văn, nghệ sỹ, nhà khoa học và nhưng người sáng tạo tiềm năng khác tích cực sáng tạo và chia sẻ những
ý tưởng mới cho góp phần làm giàu thêm kho tri thức của nhân loại
2.1 Khái quát về luật bản quyền Việt Nam
Ở Việt Nam, pháp luật về quyền tác giả (hay còn gọi là luật bản quyền, hai khái niệm này từ đây tác giả sử dụng lẫn nhau) được quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ 2005, được sửa đổi vào năm 2009 và các
Trang 3văn bản hướng dẫn thi hành Bên cạnh đó, Việt Nam còn làm thành viên của Công ước Berne về Bảo hộ các tác phẩm văn học nghệ tuật 1886 (sửa đổi năm 1971 và 1979), tiếp đó cam kết thực thi Hiệp định TRIPS
về quyền sở hữu trí tuệ khi Việt Nam gia nhập WTO và gần đây nhất
là cam kết TPP, EUFTA về sở hữu trí tuệ năm 2015 Với sự tham gia rộng khắp vào các hiệp định khu vực và quốc tế về bản quyền, luật bản quyền Việt Nam ngày càng đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế về bảo
vệ quyền tác giả
Tại Điều 1 khoản 7 Luật Sở hữu trí tuệ khẳng định quyền tác giả được bảo hộ “đối với tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào” Các tác phẩm đó bao gồm: (1) tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khooa, giáo trình và các tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác; (2) bài giảng, bài phát biểu, và bài nói khác; (3) tác phẩm báo chí; (4) tác phẩm âm nhạc (5) tác phẩm sân khấu; (5) tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương phá tương tự; ( (6) tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng; (7) tác phẩm nhiếp ảnh; (8) tác phẩm kiến trúc; (9) bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản
vẽ liên quan đến địa hình, công trình khoa học; (10) tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian; (11) chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.1 Tuy nhiên, quan trọng hơn cả “tác phẩm phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động sáng tạo của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác”.2 Tức là, pháp luật bản quyền thực hiện sự bảo hộ khi sáng tạo của tác giả được biểu hiện dưới một hình thức nhất định (sự diễn tả của ý tưởng sáng tạo – expression of idea) chứ không bảo hộ ý tưởng
và tác phẩm bảo3 hộ phải có tính nguyên gốc (original), tức phải không được sao chép, bắt chước tác phẩm khác, phải là sản phẩm lao động sáng tạo thực sự của tác giả
Khi một tác phẩm được bảo vệ bởi luật bản quyền tác giả, chủ sở
1 Khoản 2 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi 2009.
2 Khoản 2 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi 2009.
3 “Sao chép là việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao của tác phẩm hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện nào, bao gồm cả việc lưu trữ thường xuyên hoặc tạm thời tác phẩm dưới hình thức điện tử” (Khoản 1 Điều 10 Luật sở hữu trí tuệ 2005)
Trang 4hữu tác phẩm có các quyền nhân thân và quyền tài sản Quyền nhân thân là những quyền gắn liền với giá trị nhân thân của tác giả mà không thể chuyển giao cho người khác, bao gồm quyền được đặt tên tác phẩm, đứng tên tác phẩm, công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công
bố tác phẩm và bảo vệ sự toàn vẹn của nội dung tác phẩm (Điều 19 Luật SHTT) Các quyền nhân thân này được bảo hộ vô thời hạn (Điều
27 Luật SHTT)
Quyền tài sản là quyền của tác giải hoặc chủ sở hữu quyền tác giả
mà có thể trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự.1 Tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả có độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác sử dụng tác phẩm, cụ thể là được quyền: (1) làm các tác phẩm phái sinh ; 2(2) Biểu diễn tác phẩm trước công chúng (performance right); (3) sao chép và phân phối, bán tác phẩm (reproduction right); (2) công bố, phổ biến, hát thanh, truyền hình (communication to the public); (3) cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính (rental right).3
Thời hạn bảo hộ quyền tác giả được quy định như sau: việc bảo
hộ quyền tác giả phát sinh từ khi tác phẩm được hình thành cộng thêm
50 năm kể từ khi tác giả qua đời, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Đối với tác phẩm điện ảnh, phát thanh, truyền hình, ghi âm, ghi hình thì thời hạn là 70 năm kể từ ngày công bố lần đầu tiên.4
Như vậy, trong thời hạn bảo hộ quyền tác giả, các tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền sử dụng tác phẩm thì phải xin phép, trả tiền nhuận bút, thù lao và các quyền lợi khác cho chủ sở hữu quyền tác giả.5Tuy nhiên, pháp luật cũng đặt ra những ngoại lệ sử dụng tác phẩm mà không phải xin hép, không phải trả tiền thù lao tại Điều 25 Luật SHTT:
1 Điều…BLDS 2005.
2 Tác phẩm phái sinh là tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng taccs, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn (Điều 1 Khoản 8 Luật SHTT).
3 Khoản 1-2 Điều 20 Luật SHTT.
4 Điều 27 Luật SHTT.
5 Khoản 3 Điều 20 Luật SHTT.
Trang 51 Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao bao gồm:
a) Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân;
b) Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình;
c) Trích dẫn tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để viết báo, dùng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu;
d) Trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ý tác giả, không nhằm mục đích thương mại;
đ) Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu; e) Biểu diễn tác phẩm sân khấu, loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hoá, tuyên truyền cổ động không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào;
g) Ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự hoặc
để giảng dạy;
h) Chụp ảnh, truyền hình tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh,
mỹ thuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó;
i) Chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị;
k) Nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng riêng
2 Tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm
3 Các quy định tại điểm a và điểm đ khoản 1 Điều này không áp dụng đối với tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình, chương trình máy tính.” Dưới sự bảo hộ quyền tác giả trong thời hạn bảo hộ thì hành vi sử dụng tác phẩm không được sự đồng ý của chủ sở hữu tác phẩm đều có thể
bị coi là các hành vi xâm phạm đến quyền tác giả tại Điều 28 Luật SHTT
Trang 62.2 Rào cản pháp lý của Luật Sở hữu trí tuệ với phát triển tài nguyên giáo dục mở tại Việt Nam
Pháp luật bản quyền Việt Nam hiện nay là sự nội luật hóa các cam kết quốc tế của Việt Nam khi gia nhập Công ước Berne, thực thi TRIPS khi gia nhập WTO Theo đánh giá của giới chuyên môn, Luật Bản quyền được thể hiện trong các Hiệp định quốc tế nói trên thể hiện và bảo vệ lợi ích cho các nước phát triển (developed countries) nơi mà chỉ chiếm 3% dân số thế giới1 nhưng chiếm 79% số lượng các sản phẩm trí tuệ được bảo hộ.2 Chính vì vậy, các quy định về quyền tác giả nói riêng và các quy định bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nói chung trong các Hiệp định quốc tế chủ yếu nhằm mục đích bảo vệ lợi ích hợp pháp cho tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả (các nhà xuất bản, các hãng phim, truyền hình…)
Sự bảo vệ độc quyền quyền tác giả đang có xu hướng ngày càng tăng cường hơn, hiệu quả hơn trong thực thi và xử lý vi phạm Thời hạn bảo hộ đối với tác phẩm, tài liệu là 50 năm sau khi tác giả mất có thể
là khá dài để cho công chúng, người học có thể tiếp nhận tri thức miễn phí Thế nhưng, thời hạn bảo hộ này có khả năng sẽ kéo dài thêm đến
70 năm sau khi Việt Nam nội luật hóa sau cam kết TPP.3 Các quốc gia
1 Population Reference Bereau, 2015 World Population Data Fact Sheet, www.prb.
org/Publications/Datasheets/2015/2015-world-population-data-sheet.aspx
2 Issaac Rutenberg in Nairobi,’ Faking it: time to rethink intellectual property
in developing countries’ The Guardian (online) (29/10/2013) < https://www theguardian.com/global-development-professionals-network/2013/oct/29/ intellectual-property-rights-google>
3 Quy định này do phía Mỹ đưa ra xuất phát từ thực tế bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu tác phẩm tại Mỹ Đến những năm 1990, thời hạn bảo hộ tác phẩm ở Mỹ cũng là
50 năm sau khi tác giả qua đời Tuy nhiên, đến cuối những năm 1990, khi một số tác phẩm nổi tiếng như phim hoạt hình Mickey Mouse, George Gershwins “Rhapsody
in Blue” sắp sửa hết hạn bảo hộ, hang Disney, gia đình Gershwin và một số chủ sở hữu tác phẩm khác đã vận động nghị viện kéo dài thời hạn bảo hộ Năm 1998 Nghị viện Mỹ ban hành Luật Sonny Bono Copyright Term Extension Act với nội dung
mở rộng thời hạn bảo hộ tác phẩm lên 70 năm sau khi tác giả qua đời Sau đạo luật này, Mỹ tếp tục gây áp lực cho các quốc gia khác khi muốn tham gia các thỏa thuận thương mại với Mỹ thì phải chấp nhận chuẩn mực bảo hộ tác phẩm dài 70 năm Thực tế Úc, Chile, Morocco, Singapore, đã phải thay đổi thời hạn bảo hộ để ký kết hiệp định song phương với Mỹ Khi tha gia TPP, Mỹ tiếp tục muốn các nước khác trong đó có Việt Nam phải kéo dài thời hạn bảo hộ tác phẩm trên lãnh thổ quốc gia.
Trang 7phát triển có nhiều tài sản trí tuệ sẽ được khai thác tài sản của họ thêm
20 năm và thu về nhiều triệu đô la từ tiền bản quyền Theo một nghiên cứu năm 2004 của Hạ viện Australia, nếu Australia tăng điều khoản bảo
hộ bản quyền từ 50 năm lên 70 năm theo yêu cầu của hiệp định thương mại song phương Australia – US, thì phía Australia sẽ phải trả thêm 25% tiền bản quyền, ước tính khoảng $88 triệu mỗi năm.1 Điều này có thể suy ra, nếu các nước thành viên TPP đều sửa đổi thời hạn bảo hộ lên
70 năm đồng nghĩa với việc hàng năm họ phải chi trả hàng trăm triệu
đô la cho các nước xuất khẩu trí tuệ mà chủ yếu là Hoa Kỳ Hơn nữa, việc kéo dài thời hạn bảo hộ đồng nghĩa với việc làm chậm quá trình
bổ sung tri thức được bảo vệ vào bể tri thức miễn phí truy cập của nhân loại (public domain), có nghĩa là loài người sẽ phải đợi lâu hơn để có thể tiếp cận được với các tác phẩm trí tuệ
Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam nhu cầu tiếp cận với tri thức mới cho giáo dục, đào tạo và phát triển kinh tế là một yêu cầu cấp bách, vì chúng ta đang trong thời kỳ phát triển nhanh và nóng Trong hơn hai thập kỷ qua, Việt Nam đã gặt hái được nhiều thành quả
ấn tượng trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước xuất phát từ nhiều lý do: chính sách mở cửa kinh tế phù hợp, nắm bắt kịp thời các
cơ hội giao lưu thương mại với các nước trong khu vực và quốc tế; sự phát triển đột phá về khoa học - công nghệ cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI đã cải thiện đáng kể năng suất và hiệu quả lao động của con người;
hệ thống pháp luật mềm dẻo theo hướng hiệu quả hóa sự vận hành của nền kinh tế; Việt Nam đang ở thời kỳ dân số vàng cho sự phát triển kinh
tế với tỷ lệ dân số ở độ tuổi lao động chiếm? Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận khách quan rằng sự phát triển rực rỡ của kinh tế Việt Nam trong những năm qua không bền vững, bởi nhìn sâu hơn có thể thấy sự phát triển dựa nhiều vào gia công xuất khẩu, sản xuất các nguyên liệu thô cho thị trường thế giới, tức là những ngành nghề mà hàm lượng trí tuệ không cao Chúng ta giàu lên bởi có một lực lượng lao động gia công giá rẻ Như vậy, khi thời kỳ dân số vàng qua đi, sự bền vững trong phát
1 Nguồn: Steven Seidenberg for IP watch, ‘US Perspectives: TPP’s Copyright Term Benefits US, Burdens Others’ (23/3/2015) IP-watch http://www.ip-watch org/2015/03/23/tpps-copyright-term-benefits-us-burdens-others/.
Trang 8triển kinh tế sẽ bị đe dọa Vì vậy, Đảng và Nhà nước trong những năm qua liên tục nhấn mạnh mục tiêu phát triển kinh tế dựa trên tri thức, đào tạo đội ngũ lao động có trình độ, tay nghề làm việc trong những ngành nghề đòi hỏi trí tuệ thay Để làm được điều này, chúng ta cần phải đầu
tư vào tri thức từ khâu giáo dục tri thức đến khâu sử dụng và sáng tạo ra tri thức Hơn nữa, chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam là đi tắt, đón đầu, nên việc tiếp cận tri thức mới để từ đó vận dụng, phát triển sáng tạo đóng góp vào sự phát triển lại càng đóng vai trò quan trọng Và như thế, tiếp cận với tri thức mới trở thành mối quan tâm hàng đầu đối với Việt Nam và các nước đang phát triển nói chung
Một thực tế là, hầu hết các tri thức mới có lợi cho sự phát triển kinh
tế, xã hội đều được sản sinh ra ở các nước phát triển, trong khi hoạt động nghiên cứu, giáo dục và đào tạo luôn có nhu cầu thường xuyên và bắt buộc phải khai thác, sử dụng các tài nguyên giáo dục, những sáng tạo mới Các nước đang phát triển như Việt Nam hoặc là phải trả tiền bản quyền hoặc là ăn cắp bản quyền hoặc là phải đợi đến khi tri thức mới hết hạn bảo hộ bản quyền để tiếp cận với tri thức mới Đợi đến khi tri thức được sử dụng miễn phí sau 50 hay 70 năm để sử dụng nó là cơ
sở cho ra đời các sáng tạo phái sinh có thể thấy không khả thi vì tri thức
đó đã trở thành lạc hậu Ăn cắp bản quyền chắc chắn không thể được
cổ vũ vì một loạt các cam kết của TRIPS, TPP, FTA đã buộc Việt Nam phải hiệu quả hóa việc xử lý dân sự và hình sự đối với các vi phạm bản quyền Trả tiền bản quyền cho sự tiếp cận tri thức mới thì thường là đắt
đỏ đối với một đất nước đang phát triển như Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục Giáo dục Việt Nam còn lạc hậu so với các nước trong khu vực cả kết cấu chương trình, nội dung giảng dạy, phương tiện giảng dạy, cũng như các tài liệu tham khảo phục vụ cho giảng dạy Trong
10 năm trở lại đây, Nhà nước ta thường xuyên dành sự ưu tiên hàng đầu cho phát triển giáo dục, cụ thể dành khoảng 13% ngân sách nhà nước chi cho giáo dục.1 Tuy nhiên, do ngành Giáo dục thiếu thốn cả về cơ
sở vật chất lẫn tri thức, vì vậy với nguồn chi của Nhà nước hiện tại chủ
1 Tin mới, ‘Việt Nam thuộc nhóm nước có tỷ lệ chi cho giáo dục cao nhất thế giới’
Tinmoi (online) (30/4/2010) Từ năm 1998-2010 Việt Nam chi ngân sách cho giáo
dục từ 13-20%.
Trang 9yếu tập trung vào nâng cấp cơ sở vật chất cũng như cải thiện đời sống giáo viên, và chưa thực sự đủ nguồn lực để đầu tư cho việc nhập khẩu tri thức mới Thực tế cho thấy, với hàng rào pháp lý ngày càng dâng lên trong việc bảo vệ quyền tác giả thì những chi trả cho việc nhập khẩu sách giáo trình, sách tham khảo và các thiết bị phục vụ cho nghiên cứu trở lên vô cùng đắt đỏ đối với một nước đang phát triển như Việt Nam Trong khi đó, mục tiêu chúng ta là sớm đào tạo được đội ngũ lao động
có trình độ cao và giáo dục nhân cách cũng như lối sống văn minh trong
xã hội hiện đại ngang tầm với các nước trong khu vực Sự mâu thuẫn giữa mục tiêu phát triển giáo dục với thực tế hạn hẹp về kinh phí thể hiện rõ trong sự chậm biến đổi về chất lượng đội ngũ lao động được đào tạo tại Việt Nam trong những năm qua Nhìn lại sau hai thập kỷ đổi mới giáo dục, chúng ta thấy những cơ sở giáo dục cao tầng khang trang, sạch sẽ mọc lên, nhưng về chất lượng tri thức trong nền giáo dục vẫn chưa có sự biến đổi nhiều Những thư viện nghèo nàn đầu sách, sự thiếu thốn giáo trình và sách tham khảo cho giáo viên và học sinh, sinh viên, và còn chưa kể đến sự lạ lẫm của cả giáo viên và sinh viên với các
cơ sở dữ liệu nghiên cứu trực tuyến Nguồn tài liệu mà được khai thác phổ biến hiện nay đối với sinh viên và giáo viên là Google Có thể nói, đây là nguồn dữ liệu mở khổng lồ, nhưng mức độ tin cậy không cao và không mang tính chuyên sâu Đối với những tác phẩm có bản quyền thì thường người sử dụng khó có cơ hội tiếp cận nếu như không trả phí bản quyền Bên cạnh đó, một số đối tượng đặc biệt khác như người tàn tật, nhà báo, nhà nghiên cứu cũng cần được tiếp cận với những kiến thức tiên tiến kịp thời phát triển năng lưc bản thân, để phục vụ cho công tác tuyên truyền, cập nhật thời sự cũng như nghiên cứu sáng tạo Những đối tượng đặc biệt này cần được ưu tiên tiếp cận với tri thức mới, nhưng nếu tuân theo đúng các quy định về bản quyền thì khả năng tiếp cận tri thức của họ sẽ trở gặp trở ngại đáng kể
Để thực hiện đúng quy định về quyền tác giả, người sử dụng tác phẩm phải làm thủ tục “xin phép, trả tiền nhuận bút và các quyền lợi vật chất khác cho tác giả, chủ sở hữu tác phẩm”.1 Việc xin phép trực
1 Khoản 3 Điều 20 Luật SHTT.
Trang 10tiếp này không mang tính khả thi trên thực tế, bởi sẽ tốn kém rất nhiều thời gian và tiền bạc cho thủ tục xin phép Chẳng hạn, nhà trường khi muốn biên soạn một cuốn sách phục vụ trong học tập tại trường, theo đúng quy định pháp luật nhà trường sẽ phải đi đàm phán với từng tác giả, chủ sở hữu các tác phẩm mà nhà trường dự định thành lập Tiếp đó, khi cuốn sách được ban hành, các tác giả, chủ sở hữu tác phẩm phải tiến hành cấp phép, thu tiền đối với từng người sử dụng Công việc này là rất phiền hà, phức tạp và vì thế đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự vi phạm bản quyền.1
Cách thứ hai mà các cơ sở giáo dục có thể phải làm để có thể truy cập và sử dụng toàn bộ các tài liệu phục vụ cho giáo dục với sự đồng ý của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm đó là xin phép thông qua các tổ chức quản lý tập thể quyền như Trung tâm bBảo về quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (thành lập năm 2002), Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Việt Nam (thành lập năm 2003), Trung tâm bBảo vệ quyền tác giả văn học Việt Nam (thành lập năm 2004), Hiệp hội Quyền sao chép Việt Nam (VIETRRO, thành lập năm 2010), Hiệp hội Bảo vệ quyền của nghệ sĩ biểu diễn âm nhạc Việt Nam (thành lập năm 2015) Các tổ chức quản
lý tập thể này thực hiện việc đàm phán chuyển nhượng quyền tác giả trên cơ sở sự ủy quyền tác giả Cách làm này là giải pháp tốt, bởi lẽ các
tổ chức giáo dục sẽ không phải xin phép từng tác giả cụ thể mà chỉ cần đàm phán với các tổ chức quản lý tập thể quyền Các tổ chức quản lý tập thể quyền này là các tổ chức nghề nghiệp, chuyên thực hiện việc cấp phép và thu phí bản quyền trên cơ sở đàm phán với người sử dụng, sau đó trả tiền bản quyền cho tác giả sau khi giữ lại một khoản đảm bảo
sự vận hành có lãi cho tổ chức Trong thời gian vừa qua, hoạt động của các tổ chức quản lý quyền còn gặp nhiều khó khăn và chưa có sự hợp tác, phối hợp từ phía Bộ GD&ĐT trong việc bảo vệ quyền tác giả trong lĩnh vực giáo dục Tuy nhiên, với áp lực từ phía các nước tham gia ký kết TPP, áp lực từ phía báo chí và các tổ chức quản lý tập thể quyền, có thể hoạt động thu tiền phí bản quyền trong giáo dục sẽ được thực hiện
1 Cao Kim Ánh, “Quyền tác giả, cấp phép và giấy phép CC” (2016) < http:// repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/11602>