1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Những trường phái khoa học về pháp luật trên thế giới và những ảnh hưởng tới luật học ở Việt Nam

15 91 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 495,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những người theo trường phái này xuất phát từ một thực tế là các quy phạm pháp luật xuất hiện và phát triển không phải do đời sống xã hội hiện thực quyết định, mà do chính sự quy định [r]

Trang 1

NHỮNG TRƯỜNG PHÁI KHOA HỌC VỀ PHÁP LUẬT

TRÊN THẾ GIỚI VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG TỚI LUẬT HỌC

Ở VIỆT NAM

GS.TS Phạm Hồng Thái – ThS NCS Nguyễn Anh Đức

Khoa Luật ĐHQGHN

Tóm tắt: Bài viết khái quát các trường phái khoa học pháp lí trên thế giới và đưa ra

một số nhận định về sự ảnh hưởng của những trường phái này cũng như của nền luật học

Xô viết đến luật học và pháp luật Việt Nam, đặc biệt là khoa học luật Hiến pháp Việt Nam qua các thời kỳ Tác giả cho rằng, những biểu hiện của nền luật học Việt Nam hiện nay phản ánh sự cấy ghép của nhiều trường phái khoa học pháp lí khác nhau Điều đó xuất phát một phần từ bối cảnh lịch sử nhưng cũng là lựa chọn phù hợp với những quốc gia nhỏ như Việt Nam trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hiện nay Tác giả sẽ cố gắng lí giải những yếu tố lịch sử khách quan và chủ quan đã ảnh hưởng đến các diễn biến này Trên cơ sở đó, tác giả sẽ nhận định về một số thách thức và nhu cầu đổi mới trong khoa học pháp lí phù hợp với điều kiện hiện nay ở Việt Nam

Từ khóa: Trường phái luật học, ảnh hưởng, luật học, pháp luật Việt Nam

Trang 2

Đặt vấn đề

Trong lịch sử tư tưởng, có nhiều trường phái khoa học khác nhau về pháp luật, nhưng mỗi trường phái cũng chỉ có thể phản ánh khía cạnh này hay khía cạnh khác của pháp luật – một hiện tượng đa diện phức tạp Nhưng mỗi trường phái lại có những tác động nhất định đến pháp luật, đời sống pháp luật của các quốc gia qua các thời đại Nói cách khác, sự tồn tại của nhiều trường phái khoa học pháp lý khác nhau cũng hướng tới phục vụ con người Đúng như

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: ―Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng‖ 559

Vì vậy, trong nhận thức và thực tiễn không nên tuyệt đối hóa bất kỳ

một quan điểm khoa học nào, cần tìm thấy sự hợp lý của từng quan điểm và vận dụng một cách sáng tạo phục vụ cho đời sống xã hội con người trong những hoàn cảnh cụ thể

1 Các trường phái pháp luật trên thế giới

1.1 Trường phái pháp quyền tự nhiên

Trường phái pháp quyền tự nhiên560

hình thành rất sớm trong lịch sử nhân loại, ngay từ thời Hy lạp, La mã cổ đại Arixtốt (Aristotel 384-332 trước Công nguyên) quan niệm pháp quyền phải là sự suy diễn từ sự hài hòa của trật tự tự nhiên Xixêrôn (Cicéron, 106-43 trước Công nguyên) trong tác phẩm ―Về nền cộng hòa‖ (De republica) cho rằng cao hơn pháp luật do con người sáng tạo ra (pháp luật thực định) là luật bất biến và vĩnh cửu của tự nhiên Nhiều nhà luật học La mã cổ đại cũng đã coi pháp quyền là công lý gắn với bản chất tự nhiên của con người Như vậy, bản chất xã hội của con người không thể tách rời khỏi bản chất tự nhiên của chính con người và bản chất tự nhiên của con người quyết định bản chất xã hội của con người

Trên cơ sở những triết lý, tư tưởng pháp quyền tự nhiện thời cổ đại, ở phương Tây vào thế kỷ XVII- XVIII hình thành trường phái pháp quyền tự nhiên, mà đại biểu là: Grôxi, T.Hôpxơ, J Lokk, S.L Vônte, S L.Môngteskiơ, J.J Rút xô, A.N Rađưxév và nhiều tác giả khác561 Tư tưởng pháp quyền tự nhiên trở thành tư tưởng chiếm ưu thế trong tư tưởng chính trị - pháp lý châu Âu lúc bất giờ Trường phái pháp quyền tự nhiên xuất phát từ quan niệm cho rằng trong đời sống xã hội có sự tồn tại của hai hệ thống pháp quyền: pháp quyền tự nhiên và pháp luật thực định Trong đó pháp quyền tự nhiên được coi là những chuẩn mực, công lý bắt nguồn từ bản chất tự nhiên của con người, được hình thành từ những nguyên tắc của đạo lý, vì vậy nó công bằng, không thể bị hạn chế bởi nhà nước, nó phổ biến ở mọi thời đại và mọi dân tộc Pháp quyền tự nhiên tồn tại vĩnh cửu và không hề bị thay đổi như là sự vĩnh cửu của tự nhiên thiên nhiên Những tư tưởng, nguyên tắc đạo đức, pháp lý cơ bản của các đạo luật được hình thành trên cơ sở của lý thuyết này coi những quyền: tự do, bình đẳng, gia đình, sở hữu, an toàn, chống áp bức là những quyền tự nhiên vốn có của con người

559

Hồ Chí Minh Toàn tập NXB Chính trị Quốc gia HN 2002 Tập 3, tr 434

560

Xem: Lý luận nhà nước và pháp luật NXB ―Sách pháp lý‖ M 1974, tr 119 – 138; 138- 215 (sách tiếng Nga);N.I Matuzova TSKH,GS (chủ biên), Lý luận nhà nước và pháp luật NXB Iurixt Maxcơva 2001.tr.130 – 145 (sách tiếng Nga)

561 Xem: A G Kha bibulina TSKH, GS; V.V.Lazarev,TSKH,GS, hoạt động khoa học công huân,Lý luận nhà nước và pháp luật (tái bản lần thứ ba, có sửa chữa, bổ sung) Nxb, „Pho Rum – Infra‖, Maxcơva, 2009,tr, 57 (sách tiếng Nga)

Trang 3

không thể bị tước đoạt, và do đó mọi nhà nước đều phải bảo vệ những quyền này của con người Còn pháp luật thực định là những quy tắc được thừa nhận chính thức, tồn tại trong nhà nước này hay nhà nước khác được thể hiện trong các đạo luật và các văn bản pháp luật khác của các cơ quan nhà nước, trong đó có cả những tập quán đã được nhà nước phê chuẩn thừa nhận Pháp luật do nhà nước đặt ra - pháp luật thực định phải phù hợp với pháp quyền tự nhiên là cái vốn có, cái tối thượng trong xã hội Vì vậy, nhà nước cùng với các cơ cấu của nó phải tuân thủ pháp quyền tự nhiên và việc tuân thủ pháp quyền tự nhiên chính là tuân thủ quy luật của đời sống tự nhiên, xã hội của con người

1.2 Trường phái lịch sử pháp luật

Trường phái lịch sử pháp luật562

hình thành vào khoảng ba mươi năm đầu thế kỷ XIX

ở Đức, các đại biểu của trường phái này như – G F Guxta, Cavin, Phuxta, đã phủ nhận trường phái pháp quyền tự nhiên và coi đó như là sự phản động đã sinh ra cách mạng Pháp

Họ phủ nhận khả năng tồn tại những quyền chung của mọi dân tộc và cho rằng dân tộc Đức cũng như các dân tộc khác có quyền riêng của mình, quyền của dân tộc này khác với quyền của dân tộc khác bởi lịch sử đã hình thành ra nó Quyền của từng dân tộc là sự biểu hiện ―ý thức chung‖, ―niềm tin chung‖ của họ, là kết quả của quá trình lịch sử lâu dài và như là

―nguồn sữa mẹ‖ được truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác

Những người theo trường phái này quan niệm vai trò quyết định sự hình thành pháp luật thuộc về sự điều chỉnh của thượng tầng kiến trúc, sự hình thành pháp luật được ví với sự hình thành các quy tắc trò chơi, vốn được xác lập dần dần trên cơ sở thực tiễn Vì vậy, các đạo luật không phải là nguồn duy nhất và càng không phải là cơ sở của pháp luật, mà là các tập quán truyền thống, điều này được họ lý giải rằng nhiều người không biết các quy định của luật, nhưng lại biết rất rõ về trật tự của đời sống xã hội đã tồn tại Cách lý giải như vậy, trong một chừng mực nhất định là có lý vì con người cụ thể có thể không biết pháp luật – những quy định của nhà nước, nhưng mọi hành vi hoạt động của họ do các quy tắc truyền thống, hay tập quán, đạo đức điều chỉnh Họ xử sự theo những chuẩn mực đó trong nhiều trường hợp cũng phù hợp với pháp luật Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay nếu quá nhấn mạnh quan điểm này cũng dễ dẫn đến sự ―khép kín‖ trong nhận thức, và khó hòa nhập vào thế giới phẳng, thế giới mở

1.3 Trường phái quy phạm học (pháp luật thực chứng)

Dưới sự ảnh hưởng của triết học I Kant, trường phái quy phạm học563

xuất hiện vào thế kỷ XIX như là lý thuyết trung dung, đã sử dụng lý thuyết pháp quyền tự nhiên vốn thừa nhận pháp luật bắt nguồn từ đạo đức và pháp luật thực định là do nhà nước ban hành hay thừa nhận Những người theo trường phái quy phạm học quan niệm pháp luật là những đòi hỏi bắt buộc chung của ý chí, không hề chịu ảnh hưởng của bất kỳ nhân tố bên ngoài nào

562

N.I Matuzova TSKH,GS (chủ biên), Lý luận nhà nước và pháp luật NXB Iurixt Maxcơva 2001.tr.130 – 145 (sách tiếng Nga) Lý luận nhà nước và pháp luật NXB Iurixt Maxcơva 2001.tr.130 – 145 (sách tiếng Nga)

563 Xem: Lý luận nhà nước và pháp luật Nxb ―Sách pháp lý‖Maxkova1974 tr 119-138; 138-215.;N.I Matuzova TSKH,GS (chủ biên), Lý luận nhà nước và pháp luật Nxb Iurixt Maxcơva 2001.tr.130 – 145 (sách tiếng Nga)

Trang 4

Sự ra đời của trường phái quy phạm học pháp luật đã góp phần củng cố pháp chế, trật

tự nhà nước và hạn chế sự tuỳ tiện của quan tòa và các cơ quan hành chính Chính trường phái quy phạm học đã hình thành nên quan niệm về nhà nước pháp quyền, tư tưởng tự hạn chế quyền lực nhà nước bằng luật Nhưng vào cuối thế kỷ thứ XIX và hai mươi năm đầu thế kỷ

XX trường phái quy phạm học đã có những thay đổi căn bản của nó G Kenzen và những người ủng hộ ông quan niệm pháp luật chỉ thuần tuý là những quy phạm pháp lý tách rời khỏi đời sống chính trị, kinh tế, xã hội Những người theo trường phái này xuất phát từ một thực

tế là các quy phạm pháp luật xuất hiện và phát triển không phải do đời sống xã hội hiện thực quyết định, mà do chính sự quy định chính thức của nhà nước, từng quy phạm pháp luật có hiệu lực đối với xã hội và hiệu lực có tính thứ bậc của nó trong các văn bản quy phạm pháp luật theo hình tháp, tuỳ theo địa vị của cơ quan đã ban hành ra nó

Chống lại lý thuyết pháp quyền tự nhiên, G Kenzen khẳng định rằng, pháp luật tồn tại không dựa vào bất kỳ một cái gì khác, ngoài dựa vào nhà nước, tính bắt buộc của các quy phạm pháp luật không bắt nguồn từ đạo đức mà bắt nguồn từ quyền uy nhà nước G Kenzen coi pháp luật là ― tổng thể các quy phạm pháp luật của sự cần thiết trừu tượng hóa‖ Quan điểm này cũng có những hạn chế của nó là nếu nhấn mạnh vai trò chủ quan của nhà nước trong ban hành pháp luật cũng dễ dẫn đến sự tùy tiện, duy ý chí, đôi khi vì ―sự độc ác‖ của nhà cầm quyền, mà đưa cả dân tộc vào trật tự chật hẹp; sự tự do, dân chủ bị hạn chế; quyền con người, quyền côn dân dễ bị xâm phạm

1.4 Trường phái hội học pháp luật

Trường phái xã hội học pháp luật564

là tiền thân của ―trường phái pháp luật tự do‖, đấu tranh cho ―pháp luật sống của nhân dân‖, vốn quan niệm pháp luật không phải dựa trên các đạo luật, mà trên cơ sở sự tự phán quyết của quan tòa

Trường phái xã hội học pháp luật là một khuynh hướng cơ bản của khoa học pháp lý ở nhiều quốc gia trên thế giới, về hình thức chống lại trường phái coi pháp luật là kết quả của sự trừu tượng hóa Trường phái này xuất hiện vào khoảng ba mươi năm đầu thế kỷ XX, trước hết

là ở Châu âu, sau đó rất phát triển ở Mỹ Những đại biểu của trường phái này như: Đ.j Điu, P Paunđ, Đ P penk, Levilin coi các quyết định hành chính, quyết định và bản án của tòa án, các tập quán, ý thức pháp luật của quan tòa và các quyết định của những người có chức vụ, quan hệ pháp luật, và các quy phạm pháp luật đều nằm trong khái niệm ―pháp luật‖, chúng đều tác động đến hành vi con người ―Pháp luật là hoạt động nhờ đó mà có thể thực hiện sự can thiệp vào hoạt động khác‖ Trường phái xã hội học pháp luật có ảnh hưởng thực tiễn rất sâu sắc đến đời sống pháp lý hiện thực ở các nước Âu- Mỹ hiện nay, nơi áp dụng rất phổ biến tập quán pháp và tiền lệ pháp - là những nguồn của pháp luật cùng với văn bản quy phạm pháp luật

1.5 Trường phái duy vật lịch sử - trường phái Mác

Sự xuất hiện của trường phái này thường được gắn với tên tuổi của C Mác và Ph

564 Xem: Lý luận nhà nước và pháp luật, NXB ―Sách pháp lý‖M 1974 tr 119-138; 138-215 (sách tiếng Nga); N.I Matuzova TSKH,GS (chủ biên), Lý luận nhà nước và pháp luật NXB Iurixt Maxcơva 2001.tr.130 – 145 (sách tiếng Nga);

Trang 5

Anggen, nên đôi khi người ta quên rằng, trước đó đã có những nhà tư tưởng như L.Moóc găng và những người khác đã bàn luận về những vấn đề căn bản của trường phái duy vật lịch

sử pháp luật565

Trường phái duy vật lịch sử dựa trên cơ sở triết học biện chứng và duy vật coi pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng dựa trên cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội Pháp luật chịu sự tác động quyết định của các điều kiện kinh tế, đồng thời pháp luật tác động ngược lại các quan hệ kinh tế - xã hội Các Mác viết ―Trong thời đại nào cũng thế, chính vua chúa phải phục tùng những điều kiện kinh tế, chứ không bao giờ vua chúa ra lệnh cho những điều kiện kinh tế được Chẳng qua chế độ pháp luật về chính trị, cũng như dân sự là cái việc nói lên, ghi chép lại quyền lực của những quan hệ kinh tế‖566

C Mác và Ph.Anggen cho rằng trong điều kiện như vậy, các cá nhân thống trị cần phải hiến pháp hóa sức mạnh của mình dưới dạng nhà nước, họ cần phải tạo cho ý chí của mình, vốn chịu sự quyết định của các quan hệ này, biểu hiện dưới dạng quyền lực nhà nước, dưới dạng các đạo luật- sự biểu hiện, nội dung của nó luôn luôn phản ánh các quan hệ của giai cấp này Việc khẳng định bản chất giai cấp của pháp luật, thực chất là nhìn nhận pháp luật từ khía cạnh chính trị, xã hội học của pháp luật

Trường phái Mác xem xét pháp luật luôn gắn liền với nhà nước, do nhà nước ban hành, bảo đảm thực hiện, pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, nội dung, hình thức của pháp luật chịu sự quy định của các điều kiện kinh tế, điều kiện tồn tại của giai cấp thống trị Nếu so sánh trường phái Mác với các trường phái pháp luật nói trên có thể nhận thấy những tương đồng và những khác biệt Trường phái Mác như là sự kế thừa của trường phái quy phạm học, trường phái ý chí, trường phái duy vật lịch sử, nhưng khác nhau căn bản là pháp luật không thuần tuý là sản phẩm của sự tư duy trừu tượng, sản phẩm của ý chí con người, mà nguyên nhân ra đời, phát triển của pháp luật là do những điều kiện vật chất, điều kiện kinh tế quyết định, những thay đổi của điều kiện, quan hệ kinh tế dẫn đến những thay đổi của pháp luật

Trường phái Mác về pháp luật có ảnh hưởng sâu sắc tới sự phát triển nhận thức vật chất

về pháp luật, là trường phái chính thống được đưa vào giáo khoa ở Việt Nam, chi phối cách tiếp cận, giải quyết các vấn đề về pháp luật, nhà nước và các hiện tượng xã hội khác Tuy vậy, cũng cần phải nhận thấy rằng ngoài cơ sở kinh tế, pháp luật còn chịu ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp của nhiều nhân tố khác: chính trị, đạo đức, truyền thống quốc gia, dân tộc, điều kiện tự nhiên, thiên nhiên, quan hệ quốc tế, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ

1.6 Trường phái pháp luật Xô viết (Liên Xô)

Trường phái pháp luật Xô viết567

sau Cách mạng Tháng Mười Nga Vĩ đại hình thành

565

Xem: A G Kha bibulin TSKH, GS; V.V.Lazarev,TSKH,GS, hoạt động khoa học công huân, Lý luận nhà nước và pháp luật (tái bản lần thứ ba, có sửa chữa, bổ sung) Nxb, „Pho Rum – Infra‖, Maxcơva, 2009,tr, 57 (sách tiếng Nga)

566

C Mác, Sự khốn cùng của triết học, Nxb, Sự thật, Hà Nội, 1971,tr,93

567 Xem: A V Mixkevich TS.KH GS và A Fh Sebanov, TS KH, GS (biên tập cho lần xuất bản lần thứ hai), Lý luận nhà nước và pháp luật‖Nxb, ―Sách pháp lý‖Maxkova 1974 tr 119-138; 138-215; N.I Matuzova TSKH,GS (chủ biên), Lý

Trang 6

trên cơ sở học thuyết Mác về nhà nước và pháp luật, nhưng trong một chừng mực nhất định cũng chịu ảnh hưởng của nhiều trường phái pháp luật ở các nước Châu âu lục địa, đặc biệt là trường phái ―quy phạm học pháp luật‖ Các nhà bác học - luật học nổi tiếng ở nước Nga như M.A.Apgianôv, M.M Agarkov, C.A.Golunxky, N.N.Nolianxky, M.C Xtrogovích, N.G Alekxanđrov, C.N Bratuxơ và nhiều người khác, vào cuối những năm ba mươi đầu những năm 40 thế kỷ XX bằng mọi cố gắng của mình cố chứng minh pháp luật là hệ thống các quy phạm pháp lý tồn tại trong nhà nước Trải qua bao biến cố thăng trầm nhưng nhận thức quy phạm về pháp luật vẫn là một giá trị, thành tựu của trường phái pháp luật này, mặc dù trường phái này cũng có những hạn chế nhất định của nó là đã nhấn mạnh nhiều tới tính giai cấp, tính

ý chí giai cấp của pháp luật Bên cạnh trường phái quy phạm học pháp luật, vào cuối những năm ba mươi - bốn mươi, sau đó vào những năm năm mươi thế kỷ XX, các nhà khoa học khác như: C.Ph.Ketrekian và A.A Piontkốpxky cho rằng cần phải hiểu pháp luật gồm cả quy phạm pháp luật và quan hệ pháp luật Về sau, IA Ph Mikolenko còn đưa vào định nghĩa pháp luật cả ý thức pháp luật Thực chất của điều này là muốn mở rộng khái niệm pháp luật, không khác gì với trường phái xã hội học pháp luật ở Châu Âu và Mỹ như đã nêu ở trên Thực chất ở đây, các nhà luật học đi tìm công lý, công bằng không chỉ ở các quy tắc, quy định- trạng thái tĩnh của pháp luật, mà còn đi tìm công lý, công bằng ở các hiện tượng pháp luật - pháp luật trong hành động Điều này phù hợp với thực tiễn cuộc sống vì rằng cùng một chuẩn mực pháp luật, nhưng tuỳ thuộc vào nhận thức, ý thức của con người mà pháp luật được thực hiện- được hiện thực hóa trên thực tế như thế nào Do đó, nếu pháp luật là chuẩn mực, công lý, công bằng nhưng nó lại khó có thể là công lý, công bằng khi người ta áp dụng vào cuộc sống.Thực tiễn

sự không công bằng, hay không là công lý lại biểu hiện nhiều nhất trong áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan đó

Vào cuối những năm sáu mươi, đầu những năm bẩy mươi thế kỷ XX ở Liên xô lại nẩy sinh những cuộc tranh luận sôi nổi về pháp luật Trong ―Hội nghị bàn tròn‖ do tạp chí ―Nhà nước xô viết và pháp luật‖ tổ chức người ta đã không những không tìm được tiếng nói chung

về pháp luật mà ngược lại còn khẳng định rằng cần phải tiếp tục nghiên cứu để tìm ra chân lý

và các quan điểm về pháp luật cần phải xích lại gần nhau

Ngày nay ở nước Nga, những vấn đề lý luận về pháp luật, các hiện tượng pháp luật vẫn kế thừa, phát triển lý luận Xô viết trước đây – trường phái quy phạm học, nhưng bổ sung vào khái niệm pháp luật những yếu tố khác ngoài các quy phạm pháp luật, coi pháp luật bao gồm các yếu tố: quy phạm pháp luật, ý thức pháp luật, quan hệ pháp luật và các văn bản áp dụng pháp luật568

Bên cạnh những trường phái phổ biến nêu trên, còn nhiều trường phái khác như: trường phái: tâm lý học pháp luật, kinh tế học pháp luật

luận nhà nước và pháp luật NXB Iurixt Maxcơva 2001.tr.130 – 145 (sách tiếng Nga)

568

Xem: N.I Matuzova TSKH,GS (chủ biên), Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb Iurixt Maxcơva 2001.tr.130 - 145

Trang 7

2 Sự ảnh hưởng của một số trường phái pháp luật đến khoa học pháp lý ở Việt nam hiện nay

Khoa học pháp lý ở Việt Nam là ngành khoa học phát triển chậm so với các khoa học khác và chịu ảnh hưởng của nhiều trường phái pháp luật khác nhau trên thế giới, chủ yếu là từ các nước phương Tây, qua những con đường, cơ chế khác nhau Sự ảnh hưởng có thể được nhìn thấy thông qua ba phương thức: ―một là sự áp đặt của bên gây ảnh hưởng đối với bên chịu ảnh hưởng; sự tiếp nhận chủ động của bên tiếp nhận; và cuối cùng là ảnh hưởng bởi hấp lực tự nhiên như con người ta vẫn thường hấp dẫn nhau bởi những giá trị của chính mình‖569

Chẳng hạn như trong thời kỳ pháp thuộc, pháp luật thực định và khoa học pháp lý Việt Nam chịu sự ảnh hưởng của pháp luật, tư tưởng pháp luật Pháp theo cơ chế áp đặt: ―pháp luật Pháp

đã ―theo chân‖ đội quân xâm lược và thực dân của Pháp Sau khi giành được độc lập, chúng

ta lại thấy có ―sự tiếp nhận chủ động tư tưởng pháp luật tiến bộ‖ (như thể hiện ở bản Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh hay trong Hiến pháp 1946) cũng như sự hấp dẫn tự nhiên thông qua ―quá trình hợp tác trong khuôn khổ hỗ trợ pháp luật của Chính phủ Pháp‖570

2.1 Sự ảnh hưởng của trường phái pháp quyền tự nhiên

Trường phái pháp quyền tự nhiên trong một chừng mực nhất định có ảnh hưởng đến

tư tưởng của các nhà lập hiến Việt Nam, đến tư tưởng lập Hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh Không ngẫu nhiên mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn quan điểm của Thô-mát Gie-phec-xơn (Thomas Jeffeson) - nhà khai sáng vĩ đại trong lịch sử đấu tranh giải phóng của nhân dân

Mỹ, và đưa vào Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam: ―Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền

ấy, có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc‖571 Từ quyền tự nhiên của con người Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển, khái quát nâng lên thành quyền của dân tộc, Người viết: ―Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do‖572 Đây là sự sáng tạo cách mạng, vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh về pháp quyền tự nhiên, quyền con người, từ quyền tự nhiên, quyền con người của cá nhân đã được nâng lên quyền tự nhiên, quyền con người của cả một dân tộc Vì nếu không có quyền tự nhiên, quyền con người của dân tộc thì

sẽ không thể có quyền tự nhiên, quyền con người của những cá nhân Quyền tự nhiên, quyền con người của từng cá nhân tùy thuộc vào quyền tự nhiên, quyền con người của quốc gia, dân tộc Một dân tộc bị nô lệ, thì các thành viên trong xã hội đó cũng không khác gì nô lệ

Trên cơ sở những triết lý đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể tìm thấy những biểu hiện của tư tưởng pháp quyền tự nhiên và quyền con người trong các Hiến pháp Việt Nam năm 1946, 1959, 1980 thể hiện ở các chương về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, đặc biệt Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001), lần đầu tiên đã sử dụng chính

569

Arnaud de raulin GS.TS, Jean –paul pasrorel GS.TS, Trịnh Quốc Toản PGS.TS, Nguyễn Hoàng Anh PGS.TS (chủ biên), Ảnh hưởng của truyền thống pháp luật Pháp tới pháp luật Việt Nam, Nxb, ĐHQGHN, 2016,tr, 16

570

Tài liệu đã dẫn, tr 17 – 19

571 Tuyên ngôn độc lập năm 1945 và các Hiến pháp Việt Nam, Nxb, Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012, tr, 1

572

Tài liệu đã dẫn, tr.1

Trang 8

thức thuật ngữ quyền con người Hiến pháp quy định: ―Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật‖573 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã giành một chương ghi nhận về quyền con người, quyền và nghĩa vụ

cơ bản của công dân, trong đó khẳng định ―Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng‖574

Đây là bước tiến đặc biệt quan trọng trong nhận thức lập hiến Việt Nam về quyền con người, quyền công dân, là kết quả lâu dài của quá trình tiếp thu, kế thừa, phát triển tư tưởng pháp quyền tự nhiên, tư tưởng về quyền con người của nhiều thế hệ những nhà khoa học, chính trị, đặc biệt của các nhà khoa học, chính trị cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI – những người trực tiếp tham gia vào quá trình truyền bá các tư tưởng đó, hoặc trực tiếp tham gia vào quá trình biên soạn dự thảo Hiến pháp năm 2013 Chính nhờ sự tác động của trường phái pháp quyền tự nhiên, của những tư tưởng về quyền con người, ở Việt Nam đã hình thành nên một chuyên ngành luật học mới – Pháp luật về quyền con người

Những quy định của Hiến pháp Việt Nam năm 2013, mở ra một xu hướng mới nghiên cứu về quyền con người, về cách tiếp cận dựa trên quyền Vì vậy, trong các ấn phẩm khoa học nghiên cứu về quyền con người, hay nghiên cứu nhà nước, các hoạt động nhà nước, pháp luật

và các hiện tượng pháp luật, các nhà khoa học Việt Nam ở một mức độ nhất định đều tiếp cận

từ khía cạnh quyền tự nhiên của con người, hay cách tiếp cận dựa trên quyền để nghiên cứu575

2.2 Ảnh hưởng của khoa học luật Xô viết đến luật học Việt Nam

Lý thuyết pháp luật Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của trường phái quy phạm học

và như là sự kế thừa trực tiếp từ lý luận pháp luật Xô viết chính thống trước đây vốn chịu ảnh hưởng nhất định của các trường phái pháp luật ở các nước Châu Âu lục địa

Sự ảnh hưởng của lý luận pháp luật Xô viết tới khoa học pháp lý ở Việt Nam có mang tính lịch sử khá rõ ràng Trong một thời gian dài, ở Việt Nam đã không có đầy đủ các điều kiện, tiền đề cho sự hình thành, phát triển ngành khoa học pháp lý Để hình thành một ngành khoa học nói chung, luật học nói riêng cần phải có những điều kiện, tiền đề sau: Nhu cầu của đời sống xã hội con người; có người am hiểu lý luận về pháp luật; có trường học, có cơ sở đào tạo về pháp luật (có người dạy học và người học); có nơi công bố các công trình khoa học, từ

đó mới hình thành được trường phái khoa học Đây là những điều kiện cần và đủ để hình thành và phát triển của một ngành khoa học Việt Nam một thời kỳ dài không có đầy đủ các

573 Điều 50 Hiến pháp Việt Nam 1992

574

Điều 14 Hiến pháp Việt Nam năm 2013

575

Xem: Phạm Hồng Thái (chủ biên), Tư tưởng Việt Nam về quyền con người, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội; 2016; Nguyễn Đăng Dung, Đặng Minh Tuấn, Vũ Công Giao (đồng chủ biên), Luật Hiến pháp Việt Nam, Nxb ĐHQGHN, Hà Nội, 2018; Nguyễn Thị Quế Anh, Vũ Công Giao, Nguyễn Hoàng Anh (đồng chủ biên), Các lý thuyết, mô hình, cách tiếp cận về quản trị nhà nước và phòng, chống tham nhũng, Nxb, Hồng Đức, Hà Nội, 2018, và có thể dẫn ra nhiều công trình khác

Trang 9

điều kiện và tiền đề đó Nói như vậy, không có nghĩa là từ xa xưa không có ai nghĩ về pháp luật, nhưng nhìn lại toàn bộ lịch sử thời kỳ quân chủ ở Việt Nam, những bậc tiền bối dường như không để lại hậu thế những công trình khoa học về pháp luật, mặc dù thời phong kiến đã

có những bộ luật, chẳng hạn như ―Quốc triều hình luật‖576 Các nhà tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX tuy tiếp thu những triết lý khoa học pháp lý của Pháp nhưng thực tiễn cũng ít tác động đến nền khoa học pháp lý Việt Nam sau này

Từ năm 1930 Đảng cộng sản Đông dương ra đời, lãnh đạo nhân dân làm cách mạng Tháng 8 năm 1945, lật đổ chế độ thực dân phong kiến, xây dựng nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng cũng bắt đầu từ đó nhân dân Việt Nam lại tập trung cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 – 1954) Sau năm 1954 miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam vẫn bị đế quốc Mĩ xâm lược và đăt dưới sự cai trị của chính quyền Việt Nam cộng hòa – tay sai của đế quốc Mĩ Nhân dân Việt Nam bước vào thời kỳ mới với hai nhiệm vụ cơ bản: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc, đấu tranh giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước Trong suốt giai đoạn này mọi nguồn lực xã hội tập trung cho cuộc kháng chiến chống

Mĩ cứu nước, với khẩu hiệu „ tất cả vì Miền Nam ruột thịt‖ „ thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người‖, để bảo đảm sự thống nhất, tập trung phục vụ cho cuộc kháng chiến, nên việc điều hành đất nước chủ yếu dựa vào đường lối, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam, quản lý nhà nước chủ yếu bằng những mệnh lệnh, quyết định hành chính, vì vậy mà không có điều kiện, tiền đề cho luật học phát triển

Năm 1975 Miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, bước sang một giai đoạn mới: xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn quốc và bảo vệ Tổ quốc Để đáp ứng yêu cầu của đời sống nhà nước, xã hội, tư tưởng quản lý xã hội bằng pháp luật dần hình thành Năm 1976, Khoa Luật thuộc Đại học tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Quốc gia Hà Nội) được thành lập, có nhiệm vụ đào tạo cử nhân luật học Mặc dù trước đó đã có một số trường như: trường Cán bộ tòa án, trường Cán bộ kiểm sát, thực chất là những trường đào tạo cán bộ ngành tư pháp, nhưng chưa phải là trường đại học Đến năm 1977, trường Đại học pháp lý được thành lập trên cơ sở hợp nhất Khoa Luật trường Đại học tổng hợp với trường Cao đẳng pháp lý Nhưng những bài giảng ở các cơ sở đó và các cơ sở bồi dưỡng cán bộ, công chức cũng được xây dựng trên cơ sở những triết lý của khoa học pháp lý Xô Viết, vốn được hình thành, tiếp thu qua các bài giảng của các chuyên gia Liên Xô, hay qua đội ngũ giảng viên được đào tạo ở Liên Xô, hoặc ở các nước xã hội chủ nghĩa khác Dù rằng những khóa đào tạo đầu tiên vẫn có sự tham gia giảng dạy của một số chuyên gia được Pháp đào tạo trước năm

1945, nhưng dấu ấn dường như không đáng kể Bên cạnh đó việc đào tạo tiến sĩ luật học chuyên ngành: lý luận nhà nước pháp quyền (nay là chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật) được đào tạo đầu tiên ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, nơi mà các nhà khoa học chủ yếu được đào tạo ở Liên Xô, hay tiếp thu những tri thức lý luận Xô viết bằng những con đường khác nhau Do đó những lý luận pháp luật Xô viết cũng được truyền

576 Quốc triều hình luật (còn gọi là Luật hình triều Lê, hay Bộ luật Hồng Đức) là bộ luật của triều đại nhà Lê (1428 – 1789), Nxb, Tư pháp dich và xuất bản, Hà Nôi 2013

Trang 10

bá, tiếp thu thông qua hệ thống này, ở các cơ sở đào tạo khác cũng diễn ra như vậy Cứ như vậy hình thành nên đội ngũ các nhà khoa học mang nặng, thấm đượm những lý luận pháp luật

Xô viết, những lý luận nào không phải là Xô viết, không phải là xã hội chủ nghĩa được đề cập đến chỉ là những đối tượng để phê phán, hay bị coi là „ tư bản chủ nghĩa‖ Điều này diễn ra trên thực tế là do ý thức hệ quyết định Thế giới trong một thời gian dài được chia thành hai phe xã hội chủ nghĩa và phe tư bản chủ nghĩa Do đó khoa học pháp lý Xô viết ảnh hưởng đến

sự phát triển của luật học Việt Nam cũng là điều tất yếu mang tính lịch sử

Con đường ảnh hưởng của luật học Xô viết đối với luật học Việt Nam chủ yếu bằng những con đường kể trên Những ảnh hưởng trực tiếp của luật học Xô viết đối với luật học Việt Nam có thể kể ra để minh chứng như:

Thứ nhất, chương trình đào tạo cử nhân luật học ở Việt Nam, chủ yếu do những người được đào tạo ở Liên Xô trước đây xây dựng nên được mô phỏng như chương trình đào tạo cử nhân luật học ở Liên Xô Tuy có những cải biến nhất định về chương trình, nội dung, phương thức đào tạo cho phù hợp với yêu cầu mới

Thứ hai, cách biên soạn giáo trình cũng chịu ảnh hưởng nhiều của cách biên soạn giáo trình của Liên Xô Do đó các giáo trình thường tập trung giải quyết những vấn đề lý luận về các hiện tượng pháp luật được luận giải và khái quát lên thành các khái niệm, định nghĩa Giáo trình các môn học chủ yếu được viết ra vào cuối những năm tám mươi, đầu những năm chín mươi của thế kỷ 20 nên chủ yếu dựa vào các giáo trình của Liên Xô để biên soạn Tới nay nhiều giáo trình đã được sửa đổi, bổ sung, cập nhật những tri thức mới, nhưng những vấn

đề cơ bản cũng không có những thay đổi mà vẫn thường rất quan tâm đến những vấn đề lý luận, ít quan tâm đến các tình huống và giải quyết tình huống trong thực tiễn Chính điều này làm cho người học rất thiếu những tri thức thực tiễn sau khi tốt nghiệp đại học

Thứ ba, các giáo trình đào tạo cử nhân về cơ bản vẫn được thiết kế theo „khuôn mẫu‖ giáo trình giảng dạy từ thời Xô Viết Chẳng hạn như giáo trình „ Lý luận nhà nước và pháp luật‖577

là môn học cơ sở, nền tảng để xây dựng các giáo trình khoa học pháp lý chuyên ngành, vẫn có kết cấu các chương, mục, nội dung tương tự như giáo trình „Lý luận nhà nước

và pháp luật‖578

ở Liên Xô trước đây, nước Nga ngày nay Trong đó, các khái niệm cơ bản về pháp luật và các hiện tượng pháp luật như: định nghĩa pháp luật, thuộc tính, hay đặc điểm của pháp luật, nguồn gốc, vai trò, bản chất, chức năng, kiểu pháp luật, nguồn pháp luật; quy phạm pháp luật, cơ cấu của quy phạm; hệ thống pháp luật; hành vi pháp luật; vi phạm pháp luật; trách nhiệm pháp lý; trật tự pháp luật, quan hệ pháp luật; cơ chế điều chỉnh pháp luật; ý thức pháp luật; thực hiện pháp luật, pháp chế và nhiều khái niệm khác được xây dựng trên nền tri

577 Xem:Hoàng Thị Kim Quế (chủ biên) giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb, ĐHQGHN, Hà Nội, 2018; Nguyễn Minh Đoan, Giáo trình Lý luận về nhà nước và pháp luật, Nxb, Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010; Đinh Văn Mậu và Phạm Hồng Thái, Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb, Giao thông vận tài, Hà Nội 2009 và nhiều giáo trình, tài liệu khác cũng tương tự như vậy

578 Xem: Lý luận nhà nước và pháp luật Lý luận nhà nước và pháp luật‖Nxb, ―Sách pháp lý‖Makova 1974 ―Lý luận nhà nước và pháp luật Nxb Iurict Maxcơva 2001

Ngày đăng: 31/01/2021, 18:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w