1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổng quan tài liệu mô tả về các đặc điểm dịch tễ học của bệnh nhân nhiễm covid 19 trên thế giới

59 111 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, chúng tôi thực hiện tiến hành nghiên cứu “Tổng quan tài liệu mô tả về các đặc điểm dịch tễ học của bệnh nhân nhiễm COVID‐19 trên thế giới”.. Nghiên cứu này thực hiện tổng quan mô

Trang 2

PHẠM THỊ HỒNG VÂN

TỔNG QUAN TÀI LIỆU MÔ TẢ VỀ CÁC ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC CỦA BỆNH NHÂN NHIỄM COVID-19 TRÊN THẾ GIỚI

TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y TẾ CÔNG CỘNG

Giảng viên hướng dẫn: Thạc sĩ Lê Tự Hoàng

Mã sinh viên: 1613010175

Lớp: K15A2

HÀ NỘI, 2020

Trang 4

MỤC LỤC

1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

2 TỔNG QUAN 2

2.1 Giới thiệu về coronavirus và sự xuất hiện của SARS ‐ CoV- 2 2

2.2 Tình hình dịch bệnh Covid-19 trên toàn thế giới 3

2.2.1 Sự bùng phát của đại dịch COVID-19 3

2.4 Sự cần thiết tiến hành tổng quan 10

3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 11

3.1 Mục tiêu cụ thể 11

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12

4.1 Tiêu chuẩn lựa chọn tài liệu trong tổng quan 12

4.1.1 Thiết kế nghiên cứu 12

4.1.2 Đối tượng nghiên cứu 12

4.2 Phương pháp tìm kiếm tài liệu 13

4.2.1 Tìm kiếm tài liệu điện tử 13

4.2.2 Các nguồn tìm kiếm khác 14

4.3 Phương pháp trích xuất và phân tích số liệu 14

4.3.1 Phương pháp lựa chọn tài liệu 14

4.3.2 Trích xuất và quản lý số liệu 16

4.3.3 Khía cạnh đạo đức của nghiên cứu 17

5 KẾT QUẢ 17

5.1 Đặc điểm các tài liệu 17

5.1.1 Kết quả tìm kiếm 17

5.2.1 Đặc điểm về tuổi của bệnh nhân nhiễm COVID-19 24

5.2.2 Đặc điểm về giới của bệnh nhân nhiễm COVID-19 29

5.2.3 Đặc điểm về tiền sử bệnh tật và tử vong của các bệnh nhân nhiễm COVID-19 30

5.2.4 Tỉ lệ nhập viện do COVID-19 30

5.2.5 Đặc điểm lây truyền của COVID-19 trên bệnh nhân 31

5.2.6 Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân nhiễm COVID-19 40

5.2.7 Tỷ lệ tử vong do COVID-19 42

6 BÀN LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 44

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 49

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Thống kê 10 quốc gia có số lượng người nhiễm và tử vong do COVID-19 lớn nhất trên thế giới……… .4 Bảng 4.1 Các câu hỏi sàng lọc tài liệu trong bước sàng lọc………15 Biểu đồ 5.1: Kết quả tìm kiếm tài liệu 17 Bảng 5.2 Tuổi trung bình của bệnh nhân nhiễm COVID-19 trong các nghiên cứu

mô tả 24 Bảng 5.3: Thời gian ủ bệnh trong các nghiên cứu mô tả……… 33 Bảng 5.4: Thời gian từ khi có triệu chứng đến khi nhập viện trong các nghiên cứu

mô tả ….……… 35 Bảng 5.5 Giá trị R0 trong các nghiên cứu mô tả 38 Bảng 5.6: Tỉ lệ tử vong ca bệnh do COVID-19 trong các nghiên cứu mô tả ……42

Trang 6

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Kể từ tháng 12 năm 2019, tại Vũ Hán – thành phố của tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc đã ghi nhận những trường hợp đầu tiên mắc bệnh viêm phổi cấp tính không rõ nguyên nhân (1) Mà đến nay, bệnh có tên gọi là COVID-19 (Corona Virus Disease 2019) Theo Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007, COVID-19 được Bộ

Y tế xếp vào bệnh truyền nhiễm nhóm A – là các bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm, có khả năng lây truyền rất nhanh, phát tán rộng và có tỷ lệ tử vong cao hoặc chưa rõ tác nhân gây bệnh (2)

Trên thực tế, COVID-19 là một bệnh truyền nhiễm mới nguy hiểm ở người

do chủng mới của họ Coronavirus gây ra (tên gọi hiện nay là SARS-CoV-2) (6) Họ Coronavirus này đã từng tạo ra những đợt dịch bùng phát lớn trên thế giới như: dịch SARS tại Châu Á (năm 2002), dịch MERS-CoV tại khu vực Trung Đông (năm 2012)…(3) Việc lây truyền COVID-19 là vô cùng mạnh mẽ, với tốc độ lây nhiễm nhanh Các báo cáo ban đầu cho thấy, nguồn gốc của bệnh có thể là do loài dơi gây

ra (3) Nó truyền từ người sang người qua các tuyến nhỏ giọt và tiếp xúc, nhưng cũng không loại bỏ một số nghi ngờ về lây truyền qua đường không khí, trong phân hay tử cung (4) Hệ số lây nhiễm R0 trung bình của bệnh là 2,3 nhưng cũng có thể lên tới 5,7 (4, 5) COVID-19 có những biểu hiện đặc trưng như sốt, mệt mỏi, ho khan

và khó thở… Ngoài ra, bệnh có thể gây ra các biến chứng hô hấp nghiêm trọng như viêm phổi, suy phổi và có thể dẫn đến tử vong (6) Vì trên thế giới hiện nay không

có vắc xin phòng bệnh và thuốc điều trị đặc hiệu cho COVID-19, nên phác đồ điều trị chủ yếu dựa trên điều trị hỗ trợ triệu chứng của bệnh Ngoài ra, các trường hợp mắc bệnh nặng cần được chăm sóc, điều trị hồi sức tích cực hơn về đường hô hấp (6)

Trong vòng khoảng 4 tháng kể từ báo cáo đầu tiên, SARS-CoV-2 đã lan rộng khắp Trung Quốc và trên toàn thế giới, đạt đến mức độ đại dịch (7, 8) Ngày 31/1/2020, Tổ chức Y tế thế giới đã tuyên bố dịch bệnh COVID-19 là “ Tình trạng

y tế công cộng khẩn cấp toàn cầu” (8) Vì COVID-19 đã gây ra thương vong lớn cho con người và thiệt hại kinh tế nghiêm trọng, gây ra mối đe dọa toàn cầu (9) Theo

Trang 7

số liệu cập nhật từ Tổ chức Y tế thế giới, tính đến ngày 25/4/2020: toàn cầu đã ghi nhân 2.834.366 người mắc COVID-19; trong đó 197.409 trường hợp tử vong liên quan (tỷ lệ tử vong trung bình là 6,9%); bệnh xuất hiện ở 210/254 quốc gia và vùng lãnh thổ Khu vực Châu Âu là ổ dịch lớn nhất thế giới, có 1.284.216 ca mắc trong

đó Tây Ban Nha là nước có số trường hợp mắc lớn nhất ở khu vực (219.764 ca – chiếm 16,6%) Ổ dịch lớn thứ hai thế giới hiện nay là Hoa Kỳ, quốc gia này có số

ca mắc là 925.758 trường hợp, chiếm 37,9% các ca nhiễm trên toàn cầu (10)

Tại Việt Nam, theo Hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm quốc gia, hiện có

270 người mắc COVID-19 (tính đến ngày 24/4/2020), trong đó 225 ca được chữa khỏi và chưa có trường hợp nào tử vong Tuy nhiên, nước ta đã xuất hiện 05 trường hợp tái dương tính sau khi xác nhận điều trị khỏi tại bệnh viện, cụ thể là: bệnh nhân

số 188, 52, 149, 137 và 36 (11)

Hiện nay, khi dịch COVID-19 vẫn tiếp tục bùng phát trên toàn thế giới, với những ảnh hưởng tiêu cực đến mọi khía cạnh đời sống, từ sức khỏe, kinh tế, chính trị đến tâm lý xã hội, việc tổng hợp các bằng chứng hiện có về đặc điểm dịch tễ của những bệnh nhân nhiễm COVID‐19 là thực sự cần thiết, nhằm hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách trong việc ra quyết định dựa trên bằng chứng Do đó, chúng tôi thực

hiện tiến hành nghiên cứu “Tổng quan tài liệu mô tả về các đặc điểm dịch tễ học của bệnh nhân nhiễm COVID‐19 trên thế giới” Nghiên cứu này thực hiện tổng quan mô

tả (narrative reviews) các tài liệu có sẵn về một số đặc điểm dịch tễ của những bệnh nhận nhiễm COVID-19 trên toàn thế giới, qua các nghiên cứu mô tả đã được tiến hành

2 TỔNG QUAN

2.1 Giới thiệu về coronavirus và sự xuất hiện của SARS ‐ CoV- 2

Các coronavirus (CoVs) là các virut ARN sợi đơn chiều dương, thuộc phân họ coronavirinae Bộ gen của CoV, có chiều dài từ 26 đến 32 kilobase, có lẽ là RNA virus lớn nhất được biết đến (12) Trước đây, có sáu CoV được biết là gây bệnh cho người và chúng có thể được chia thành 2 nhóm Nhóm 1 gồm 4 loại virus gây ra các nhiễm trùng đường hô hấp trên với biểu hiện không nguy hiểm và nhóm 2 bao gồm

Trang 8

Hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS) và Hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS- CoV) , chủ yếu gây nhiễm trùng đường hô hấp dưới, gây viêm phổi và có thể dẫn đến

tử vong (13)

Vào cuối tháng 12 năm 2019, một loại Coronavirus mới, được đặt tên là SARS

‐ CoV- 2 đã được xác định là mầm bệnh gây ra sự bùng phát của một căn bệnh giống SARS ở thành phố Vũ Hán của Trung Quốc(12) Theo dữ liệu hiện tại, những trường hợp đầu tiên nhiễm COVID‐19 có liên quan đến chợ bán buôn thủy sản Vũ Hán và không loại trừ khả năng lây truyền từ người sang người Báo cáo của WHO đã chỉ ra rằng, SARS ‐ CoV- 2 đã được phát hiện trong các mẫu môi trường được thu thập từ khu chợ này, nhưng vẫn chưa xác định được chính xác loài động vật cụ thể nào đã mang virus lây truyền SARS ‐ CoV ‐ 2 Một nghiên cứu của Ji và cộng sự đã chỉ ra rằng SARS ‐ CoV ‐ 2 là một loại virut liên quan giữa dơi và một loại coronavirus từ một loại động vật không rõ nguồn gốc (14) Bằng cách so sánh với các động vật khác,

họ phát hiện ra rằng rắn có thể là loài động vật hoang dã có khả năng này nhất đối với SARS ‐ CoV 2 (14) Bên cạnh đó, Benvenuto cùng các cộng sự qua một nghiên cứu khác đã cho thấy SARS ‐ CoV ‐ 2 liên quan chặt chẽ với coronavirus phân lập từ dơi Trung Quốc năm 2015 (15) Và một nghiên cứu của Chu Bành dựa trên kết quả giải trình tự bộ gen của virus và phân tích tiến hóa cũng ủng hộ lý thuyết rằng chuỗi truyền bắt đầu từ dơi, bên cạnh đó đặt ra giả thuyết virus SARS ‐ CoV 2 có thể được truyền từ dơi qua vật chủ trung gian không xác định rồi mới lây nhiễm sang người (16) Cuối cùng, mặc dù đã có nhiều thập kỷ nghiên cứu, chúng ta vẫn chưa tìm thấy một loại vắc-xin hoặc phương pháp điều trị cụ thể cho CoVs ở người (12)

2.2 Tình hình dịch bệnh Covid-19 trên toàn thế giới

2.2.1 Sự bùng phát của đại dịch COVID-19

Kể từ đầu tháng 12 năm 2019, các bệnh nhân đầu tiên nhiễm COVID‐19 đã xuất hiện tại thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc và nhân lên nhanh chóng trên toàn đất nước này (17) Sau đó, lần lượt nhiều quốc gia đã tuyên bố các trường hợp đầu tiên nhiễm COVID‐19 (18) Và số người bệnh cũng như số người tử vong tăng với tốc độ chưa từng có tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới (27)

Trang 9

Theo số liệu cập nhật trên trang thống kê Worldometer, đến 12h ngày 25/4/2020, COVID‐19 đã xuất hiện ở 210 quốc gia và vùng lãnh thổ, số ca mắc được xác nhận

là 2.834 366 và số ca tử vong do căn bệnh này lên đến 197.409 người (1)

Cũng theo số liệu cập nhật từng ngày tại trang Worldometer, những quốc gia

bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi COVID‐19 trên thế giới theo số liệu tính đến 12h ngày

Chiếm tỉ lệ (%)

Tổng số người chết (người)

Chiếm tỉ

lệ (%)

Trang 10

Tình hình dịch bệnh COVID‐19 đang diễn biến rất phức tạp trên toàn thế giới, nổi bật tại cả những nước đã phát triển, có điều kiện kinh tế hàng đầu và thậm chí là các cường quốc như Mỹ, Anh, Pháp, Trung Quốc,… COVID -19 đã và đang ảnh hưởng rất tiêu cực đến rất nhiều khía cạnh của đời sống

2.2.2 Ảnh hưởng của COVID-19 đến hệ thống y tế của các quốc gia

Số lượng bệnh nhân mắc mới COVID‐19 và số ca tử vong vì căn bệnh này vẫn đang tăng lên từng ngày tạo nên những gánh nặng khó kiểm soát lên hệ thống y

tế tại nhiều quốc gia (19) Sự quá tải bệnh viện do COVID-19 đã xảy ra tại nhiều nơi trên thế giới Theo thống kê tại Tây Ban Nha vào ngày 18/03/2020, đất nước này sẽ thường xuyên duy trì tình trạng quá tải bệnh viện với mức thiếu hụt là 216%, nghĩa

là các khoa ICU ( đơn vị chăm sóc đặc biệt ) trong các bệnh viện sẽ phải hoạt động với công suất gấp đôi mới đáp ứng được nhu cầu điều trị (13) Một nghiên cứu tại

Mỹ đưa ra nhận định dịch bệnh ở Mỹ gây ra nhiều hơn năng lực hiện tại của các bệnh viện có thể quản lý, đặc biệt là chăm sóc ICU (20) Khi so sánh nhu cầu sử dụng hiện tại với công suất chăm sóc y tế hàng năm tại đây, kết quả cho thấy nhu cầu sử dụng trong tuần thứ hai của tháng 4 sẽ vượt quá là 64.175 tổng số giường và 17.380 phòng ICU (20).Tính trạng tương tự cũng xảy ra ở nhiều quốc gia khác trên thế giới, gây ra những áp lực nặng nề lên hệ thống chăm sóc sức khỏe

Bên cạnh đó, nhân viên y tế tại các quốc gia đang phải đối mặt với nhiều thách thức khác nhau Họ phải chịu sự kiệt quệ cả về thể chất và tinh thần khi phải đối mặt với sự dằn vặt trước các quyết định xử lý khó khăn, nỗi đau mất bệnh nhân và đồng nghiệp, bên cạnh quá tải thời gian làm việc và nguy cơ nhiễm bệnh (21) Cụ thể về tình trạng bệnh tật, theo số liệu từ Ủy ban Y tế Quốc gia Trung Quốc cho thấy hơn

3300 nhân viên y tế đã bị nhiễm bệnh từ đầu tháng 3 và theo truyền thông địa phương, vào cuối tháng 2, ít nhất 22 người đã chết (21) Ở Ý, 20% nhân viên y tế trả lời đã bị nhiễm bệnh, và một số đã chết (8) Và tại 14 bang tại COVID- NET tại Mỹ, tính đến ngày 09/04/2020 đã có 9282 nhân viên y tế nhiễm COVID-19 (11)

2.2.3 Ảnh hưởng của COVID-19 đến nền kinh tế toàn cầu

Trang 11

Những báo cáo mới nhất cho thấy hệ thống tài chính đã bị ảnh hưởng một cách mạnh mẽ từ các biện pháp ngăn ngừa lây nhiễm COVID-19 Chênh lệch tín dụng tăng vọt, biến động thị trường liên tục, suy giảm nghiêm trọng triển vọng kinh tế,… là những tác đông tiêu cực đến sự ổn định của nền kinh tế toàn cầu (22) Tại Mỹ, ngân hàng “Bank of America” thống kê GDP của Mỹ trong quý 2 năm 2020 giảm 30% và tổng sản phẩm nội địa Hoa Kỳ sẽ thấp hơn so với của năm ngoái hơn 10%, chỉ số sản xuất công nghiệp trong tháng 03/2020 giảm hơn 6% và đặc biệt là kho dữ trữ xăng dầu của Mỹ đang quá tải, với giá bán là dưới 0 USD/ thùng, nghĩa là Mỹ phải trả thêm tiền để người ta có thể mang dầu đi (22) Bên cạnh đó, tại Trung Quốc, tăng trưởng kinh tế cũng sụt giảm rõ rệt (18) Dịch bệnh COVID-19 làm cho nền kinh tế lớn thứ hai thế giới có mức tăng trưởng GDP giảm xuống mức thấp kỷ lục, ước tính chỉ còn khoảng 4% GDP (quý I - 2020) so với mức tăng trưởng cùng kỳ năm 2019 là 6,4%

và được dự báo sẽ còn tiếp tục giảm (21) Đồng thời, sản lượng công nghiệp tại Trung Quốc cũng giảm mạnh Theo đánh giá của Cục Thống kê quốc gia Trung Quốc, sản lượng công nghiệp của Trung Quốc giảm 15,7%, trong khi đầu tư giảm tới 31,5% - đây là mức giảm sản lượng công nghiệp mạnh nhất trong vòng 30 năm (1990 - 2020) Doanh số bán lẻ giảm 20,5% trong cùng kỳ, so với dự báo 4% Đầu tư tài sản cố định cũng sụt giảm 24,5%, so với con số dự báo là 2% (18) Sự suy yếu của các nền kinh

tế hàng đầu như Mỹ, Trung Quốc, đã dẫn đến sụt giảm đầu tư và thương mai quốc

tế, ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế của các quốc gia khác và toàn cầu (18)

Một ảnh hưởng tiêu cực rõ ràng khác đó là tỉ lệ thất nghiệp của các quốc gia Phát biểu tại Geneva qua cầu truyền hình, tổng giám đốc Liên Hợp Quốc Guy Ryder lưu ý rằng vào đầu năm - trước khi COVID-19 lan rộng trên toàn thế giới - tỷ lệ thất nghiệp toàn cầu đã ở mức khoảng 190 triệu và với cú sốc thêm của virus, rõ ràng là thế giới công việc đang phải chịu một sự sụp đổ hoàn toàn chưa từng có, vì những ảnh hưởng của đại dịch và các biện pháp được thực hiện để đối phó với nó (23) Người lao động ở những nước đang phát triển thậm chí phải đối mặt với nguy cơ cao rơi vào tình trạng nghèo đói và sẽ gặp nhiều thách thức hơn trong việc lấy lại sinh kế trong giai đoạn phục hồi (23) Một ví dụ điển hình khác về thất nghiệp là những tác

Trang 12

động đối với người lao động ở Ấn Độ, nơi có tỷ lệ gần 90% người làm việc trong nền kinh tế phi chính thức, dẫn tới 400 triệu công nhân trong nhóm lao động dễ bị tổn thương hiện đang phải đối mặt với tình trạng ngày càng nghèo khó hơn do dịch COVID-19 (23) Bên cạnh đó, các biện pháp ngăn ngừa dịch bệnh vẫn đang tiếp tục được tiến hành có thể dẫn tới những cuộc biến động lớn hơn nữa và những tác động xấu hơn nữa đến nền kinh tế toàn cầu, đòi hỏi phải có những giải pháp tích cực, kịp thời (22)

2.2.4 Ảnh hưởng của COVID-19 đến tâm lý xã hội

Khi đại dịch COVID-19 nhanh chóng lan rộng trên toàn thế giới, nó gây ra một mức độ mức độ lo lắng, hoang mang và sợ hãi trong mỗi người dân, đặc biệt trong các nhóm nhạy cảm như người lớn tuổi, người có tình trạng sức khỏe tiềm ẩn, (24) Vào cuối tháng 2 năm 2020, ngay trước khi các nước châu Âu bắt buộc các hình thức hạn chế dịch bệnh, The Lancet đã công bố một bản đánh giá của 24 nghiên cứu chứng minh tác động tâm lý của việc hạn chế di chuyển với những người có khả năng

bị mắc bệnh truyền nhiễm Những phát hiện này cung cấp một cái nhìn tổng thể về những gì đang xảy ra trong hàng trăm triệu hộ gia đình trên khắp thế giới (25) Kết quả có lẽ không có gì đáng ngạc nhiên, những người bị cách ly rất có khả năng phát triển một loạt các triệu chứng căng thẳng và rối loạn tâm lý, bao gồm tâm trạng thấp, mất ngủ, căng thẳng, lo lắng, tức giận, khó chịu, kiệt quệ về cảm xúc, trầm cảm và căng thẳng sau chấn thương triệu chứng Tâm trạng xấu và cáu kỉnh đặc biệt là rất phổ biến Ở Trung Quốc, những ảnh hưởng sức khỏe tâm thần này cũng đã được báo cáo trong các tài liệu nghiên cứu, đặc biệt trong trường hợp cha mẹ bị cách ly với trẻ

em, những vấn đề sức khỏe tâm thần càng trở nên trầm trọng hơn Cụ thể, không dưới 28% cha mẹ bị cách ly gặp vấn đề chẩn đoán rối loạn sức khỏe tâm thần khi không được gặp con của họ (18) Trong một nghiên cứu khác tại Bỉ, gần 10% các nhân viên bệnh viện đã được báo cáo có các triệu chứng trầm cảm cao (25)

Có rất nhiều lý do có thể dẫn đến căng thẳng trong đại dịch COVID-19 như sợ

bị nhiễm bệnh hoặc mất người thân, khó khăn tài chính, Tất cả những điều này cho

Trang 13

thấy COVID-19 đang thực sự tác động xấu đến tâm lý của mỗi người dân trong toàn

xã hội

2.2.5 Các chiến lược ứng phó với COVID-19

Tổ chức WHO đã đưa ra những chiến lược toàn cầu cơ bản để ứng phó với đại dịch COVID-19 như sau (26):

- Huy động tất cả các ngành và cộng đồng để đảm bảo rằng mọi lĩnh vực thuộc xã hội và chính phủ đều có quyền sở hữu và tham gia các hoạt động ngăn ngừa lây nhiễm thông qua rửa tay thường xuyên và đảm bảo dãn cách hợp lý dưới cấp độ

cá nhân

- Kiểm soát các trường hợp, các cụm nhiễm COVID-19 và ngăn chặn lây nhiễm cộng đồng bằng cách nhanh chóng tìm kiếm và cach ly tất cả các trường hợp, đảm bảo cung cấp cho họ sự chăm sóc thích hợp, và truy tìm, cách ly và hỗ trợ tất cả các người có liên quan tiếp xúc

- Ngăn chặn lây truyền cộng đồng thông qua phòng ngừa và kiểm soát nhiễm trùng phù hợp với bối cảnh, điều kiện của mỗi quốc như tăng cường thời gian dãn cách

xã hội, hạn chế du lịch trong nước và quốc tế,

- Giảm tỷ lệ tử vong bằng cách có những biện pháp chăm sóc lâm sàng thích hợp đối với những người bị ảnh hưởng bởi COVID ‑ 19, đảm bảo tính liên tục của các dịch vụ y tế và xã hội thiết yếu, bảo vệ nhóm công nhân tiền tuyến và những nhóm dân số dễ bị tổn thương

- Tất cả những biện pháp trên là tạm thời nhưng phải tiến hành liên tục, sát sao cho đến khi phát triển thành công loại vắc-xin an toàn và hiệu quả, có thể được phân phối ở quy mô lớn, có thể tiếp cận được với mọi quốc gia trên thế giới và đáp ứng được nhu cầu của thế giới

Tình hình dịch bệnh vẫn đang diễn biến rất phức tạp, với sự gia tăng nhanh chóng

cả về số trường hợp mắc mới, số ca tử vong mỗi ngày trên thế giới, tuy nhiên mọi hành động ứng phó với COVID-19 đều mang tính duy trì cho đến khi vắc-xin được sản xuất thành công

2.3 Các đặc điểm giám sát dịch tễ học trong quản lý bệnh truyền nhiễm

Trang 14

2.3.1 Định nghĩa bệnh truyền nhiễm

Bệnh truyền nhiễm ( hay bệnh lây ) là bệnh phát sinh do sự lan truyền của một tác nhân bệnh đặc thù tới cơ thể cảm nhiễm (27)

Các tác nhân truyền nhiễm có thể truyền sang người qua con đường:

- Trực tiếp, từ người hay động vật bị nhiễm khác

- Gián tiếp, thông qua véctơ, các vật thể trong không khí hay vật chuyên chở Trong đó, véctơ là những côn trùng hay động vật mang tác nhân truyền nhiễm

từ người này sang người khác Vật chuyên chở là những đồ vật hay phần tử trong môi trường bị nhiễm (chẳng hạn như quần áo, dao kéo, nước, sữa, thức ăn, máu, huyết thanh, dịch ruột hay các dụng cụ phẫu thuật)

Các bệnh lây truyền qua tiếp xúc là những bệnh có thể được lan truyền từ người này sang người khác mà không có véc tơ hay vật chuyên chở trung gian Ví dụ như sốt rét là một bệnh truyền nhiễm nhưng không phải lây truyền qua tiếp xúc, còn sởi và bệnh giang mai là hai bệnh truyền nhiễm qua tiếp xúc Một số tác nhân gây bệnh không chỉ thông qua sự nhiễm trùng mà còn thông qua độc tố của các hợp chất hóa học tạo ra Ví dụ Staphylococcus aureus là một vi khuẩn có thể gây bệnh trực tiếp cho con người, nhưng ngộ độc thức ăn có chứa staphylococcal gây ra bởi việc tiêu hóa thức ăn có nhiễm độc tố mà vi khuẩn sản sinh ra (27)

2.3.2 Định nghĩa về dịch

Dịch được định nghĩa là sự bùng phát của một căn bệnh trong một khu vực với tốc độ lây nhiễm không lường trước được Khi mô tả một vụ dịch, phải mô tả rõ về thời gian xuất hiện bệnh, về địa dư và các đặc tính cụ thể của quần thể nơi xuất hiện bệnh (27)

Việc đánh giá số lượng trường hợp bệnh thế nào là một vụ dịch thay đổi tùy thuộc vào tác nhân, kích thước và loại quần thể phơi nhiễm, bên cạnh thời gian và địa điểm xuất hiện bệnh Việc xác định một vụ dịch còn phụ thuộc vào tần số thông thường của bệnh trong cùng khu vực vào một mùa tại một quần thể xác định

Trang 15

Động lực của một vụ dịch được quyết định bởi các đặc tính như tác nhân, phương thức lây truyền và tính mẫn cảm của vật chủ con người Một số ít vi khuẩn,

vi rút và ký sinh trùng gây ra hầu hết các vụ dịch và việc hiểu rõ đặc điểm sinh học của chúng có thể cải thiện các biện pháp dự phòng (27)

2.3.3 Vai trò của dịch tễ học trong kiểm soát các bệnh truyền nhiễm

Dịch tễ học được định nghĩa là “ Việc nghiên cứu sự phân bố và các yếu tố quyết định các tình trạng hay sự kiện liên quan đến sức khoẻ trong các quần thể xác định và việc ứng dụng nghiên cứu này vào phòng ngừa và kiểm soát các vấn đề sức khoẻ” Nhà dịch tễ học không chỉ quan tâm tới tử vong, bệnh tật mà còn cả với trạng thái sức khoẻ tốt và quan trọng nhất là các giải pháp tăng cường sức khoẻ Từ “bệnh” bao hàm tất cả sự thay đổi không mong muốn của tình trạng sức khoẻ, bao gồm cả chấn thương và sức khoẻ tâm thần (27)

Trong kiểm soát các bệnh truyền nhiễm, dịch tễ học nghiên cứu các vụ bùng

nổ dịch bệnh truyền nhiễm và sự tương tác giữa tác nhân, vật chủ, véc tơ và ổ chứa Khả năng mô tả của dịch tễ học trong quần thể người đã làm tăng khả năng kiểm soát

sự lan truyền bệnh truyền nhiễm thông qua giám sát, dự phòng, cách ly và điều trị

Đối với dịch COVID-19, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu các khía cạnh của dịch tễ học nhằm tăng khả năng kiểm soát sự lan truyền của căn bệnh này Theo thống

kê, đã có hơn 300 bài báo nghiên cứu được công bố trên các tạp chí học thuật trong hai tháng 2,3 năm 2020 về các đặc điểm dịch tễ học liên quan đến bệnh COVID-19, trong đó có 150 bài báo nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học của bệnh nhân nhiễm COVID-19 (30) Tổng quan này mong muốn tổng hợp và mô tả một số đặc điểm dịch

tễ học của bệnh nhân nhiễm COVID-19 trong các nghiên cứu, bao gồm: tuổi, giới, tiền sử bệnh, tỉ lệ nhập viện, các đặc điểm lây truyền, đặc điểm và tiến triển lâm sàng,

tỉ lệ tử vong ca bệnh

2.4 Sự cần thiết tiến hành tổng quan

Trang 16

Ngày 30 tháng 1 năm 2020, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã chính thức tuyên

bố dịch COVID-19 là một trường hợp khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng (28) Liên tiếp sau đó, COVID- 19 đã thực sự chứng minh nó không chỉ mang đến những tác động tiêu cực rõ rệt đến tình hình sức khỏe toàn cầu, áp lực nặng nề lên hệ thống y tế của nhiều quốc gia mà đồng thời còn đem đến sự khủng hoảng chưa từng có đối với những khía cạnh khác như kinh tế, tâm lý xã hội, Điều này, đòi hỏi sự quan tâm của toàn cầu, đặc biệt với những nhà Y tế công cộng để tìm ra những giải pháp thích hợp kịp thời ngăn chặn dịch bệnh này

Tính đến thời điểm 29/04/2020, khi mà vẫn chưa có vắc-xin COVID ‐ 19 nào được phát triển và thử nghiệm thành công thì cách tốt nhất để các nhà Y tế công cộng giúp hỗ trợ đối phó với đại dịch COVID‐19 vẫn là kiểm soát nguồn lây nhiễm (29) Một bước quan trong trọng chiến lược kiểm soát nguồn lây nhiễm là đưa ra các thông tin về đặc điểm dịch tễ của những người nhiễm COVID‐19 Những thông tin này đã liên tiếp được các nhà Y tế công cộng toàn cầu đưa ra và phân tích, giúp hỗ trợ ra quyết định của các nhà chính sách Cụ thể, theo thống kê, đã có 150 bài báo nghiên cứu được công bố trên các tạp chí học thuật trong hai tháng 2,3 năm 2020 về các đặc điểm dịch tễ liên quan của người bệnh nhiễm COVID‐19 (30) Việc tổng hợp những thông tin này và mô tả lại chúng là điều cần thiết, để cung cấp những thông tin bao quát, toàn cảnh về những bệnh nhân nhiễm COVID-19 – những nguồn lây nhiễm cần phải quan tâm để kiểm soát dịch bệnh

Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành tổng quan những tài liệu về đặc điểm dịch

tễ của những người nhiễm COVID‐19 qua những bài báo khoa học đã được đăng tải trên Pubmed và Hinary, với mục đích mô tả một cách toàn diện hơn về một số đặc điểm dịch tễ của người bệnh nhiễm COVID‐19 tại các quốc gia trên thế giới Từ đó, giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra giải pháp, can thiệp phù hợp dựa trên bằng chứng và cung cấp thông tin cần thiết liên quan đến dịch bệnh này cho các nhà khoa học tại những nghiên cứu tiếp theo

3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

3.1 Mục tiêu cụ thể

Trang 17

Mô tả một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh nhân nhiễm COVID‐19 ở các quốc gia trên thế giới

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1 Tiêu chuẩn lựa chọn tài liệu trong tổng quan

4.1.1 Thiết kế nghiên cứu

Tất cả các nghiên cứu với thiết kế nghiên cứu thuộc loại dịch tễ học quan sát thỏa mãn điều kiện lựa chọn, bao gồm: nghiên cứu cắt ngang, nghiên cứu thuần tập, nghiên cứu bệnh chứng, nghiên cứu sinh thái, nghiên cứu trường hợp bệnh/nhóm ca bệnh và các nghiên cứu tổng quan hệ thống/ tổng quan mô tả

Các tài liệu có đặc điểm sau đây bị loại trừ:

Các thiết kế nghiên cứu thực nghiệm (nghiên cứu can thiệp) vì lý do: không phù hợp với mục tiêu nghiên cứu khi chỉ mô tả các đặc điểm dịch tễ của bệnh nhân nhiễm COVID-19

Các thông tin khoa học dưới dạng: các đánh giá, bình luận, bài biên tập hoặc các bài báo không chính thức khác vì lý do: các kết quả dữ liệu từ các dạng thông tin này không cung cấp những bằng chứng dạng số liệu đáng tin cậy phù hợp cho nghiên cứu này, do vậy, không có cơ sở để so sánh với các nghiên cứu được lựa chọn ở trên

4.1.2 Đối tượng nghiên cứu

Quần thể quan tâm trong nghiên cứu này là những bệnh nhân nhiễm

COVID-19 trên toàn thế giới trong mọi lứa tuổi Bệnh nhân nhiễm COVID-COVID-19 trong nghiên cứu tổng quan này bao gồm những người đã được khẳng định là nhiễm COVID-19 qua các nghiên cứu mô tả mà chúng tôi lựa chọn đưa vào tổng quan trong mọi độ tuổi Những phương pháp khẳng định bệnh nhân nhiễm COVID-19 là khác nhau tùy thuộc mỗi nghiên cứu, như thông qua test trực tiếp các mẫu bệnh phẩm hô hấp qua xét nghiệm phản ứng sao chép ngược chuỗi polymerase (RT-PCR) 1 lần kết hợp yếu

tố dịch tễ hoặc có những nghiên cứu là xét nghiệm đủ 3 lần mới kết luận mắc bệnh

Trang 18

hoặc các dữ liệu thứ cấp lấy từ các bệnh viện và trung tâm nghiên cứu trên toàn thế giới

4.2 Phương pháp tìm kiếm tài liệu

4.2.1 Tìm kiếm tài liệu điện tử

Tổng quan này sử dụng thông tin tìm kiếm được từ nguồn PubMed và Hinary

Từ khóa tìm kiếm được cấu thành bởi ba thành phần:

• Quần thể quan tâm: trong tổng quan này quan tâm đến quần thể bệnh nhân

nhiễm COVID-19, các từ khóa khác liên quan đến “bệnh nhân- Patients ” được tìm kiếm trên cơ sở dữ liệu Tiêu đề từ vựng Y khoa (MeSH) của Pubmed và Hinary Các từ khóa liên quan được gợi ý bao gồm: infectors, cases

• Biến đầu ra (tình trạng bệnh): từ khóa về COVID-19 cũng được tìm kiếm

trên cơ sở dữ liệu Tiêu đề từ vựng Y khoa (MeSH) của Pubmed và Hinary Bên cạnh đó, từ khóa liên quan được gợi ý bao gồm 10 từ khóa: “2019 novel coronavirus disease, COVID-19 pandemic, COVID-19 virus infection, coronavirus disease- 19, 2019 novel coronavirus infection, 2019- nCoV infection, coronavirus disease 2019, 2019- nCoV disease, COVID-19 virus disease, SARS-CoV-2”

• Biến độc lập: Nghiên cứu được bắt đầu tìm kiếm với từ khóa “đặc điểm dịch

tễ học – epidemiology characteristics” trong cơ sở dữ liệu MeSH

Chuỗi tìm kiếm nghiên cứu sử dụng có cấu trúc như sau:

• Với Pubmed:

(((((((((((((patients[Title/Abstract]) OR infectors[Title/Abstract]) OR

cases[Title/Abstract]))) AND 2019 novel coronavirus disease[Title/Abstract]) OR COVID-19[Title/Abstract]) OR COVID-19 pandemic[Title/Abstract]) OR COVID-

19 virus infection[Title/Abstract]) OR coronavirus disease- 19[Title/Abstract]) OR

2019 novel coronavirus infection[Title/Abstract]) OR 2019- nCoV

infection[Title/Abstract]) OR coronavirus disease 2019[Title/Abstract]) OR 2019-

Trang 19

nCoV disease[Title/Abstract]) OR [Title/Abstract]) OR COVID-19 virus

disease[Title/Abstract] OR SARS-CoV-2[Title/Abstract]) AND epidemiology characteristics

• Với Hinary:

((Abstract:(patients)) OR (Abstract:(cases)) OR (Abstract:(infectors))) AND

((Abstract:(2019 novel coronavirus disease)) OR (Abstract:(COVID-19)) OR

(Abstract:(COVID-19 pandemic)) OR (Abstract:(COVID-19 virus infection)) OR (Abstract:(coronavirus disease- 19)) OR (Abstract:(2019 novel coronavirus

infection)) OR (Abstract:(2019- nCoV infection)) OR (Abstract:(coronavirus

disease 2019)) OR (Abstract:(2019- nCoV disease)) OR (Abstract:(COVID-19 virus disease)) OR (Abstract:(SARS-CoV-2))) AND (epidemiology characteristics

Việc tìm kiếm chỉ giới hạn ở ngôn ngữ là tiếng Anh hoặc tiếng Việt Nhằm giảm thiểu tối đa nguy cơ loại bỏ các tài liệu tham khảo có liên quan, danh sách tài liệu tham khảo trong các tài liệu được chọn cũng được đưa vào sàng lọc Các tài liệu được lọc ra từ danh sách tài liệu tham khảo này cũng được sàng lọc và đưa vào danh sách các tài liệu hợp lệ nếu như thỏa mãn điều kiện đặt ra

4.2.2 Các nguồn tìm kiếm khác

• Tìm bằng tay (handsearching)

• Tài liệu tham khảo của các nghiên cứu sẵn có

4.3 Phương pháp trích xuất và phân tích số liệu

4.3.1 Phương pháp lựa chọn tài liệu

Tất cả các tài liệu được tìm thấy thông qua từ khóa tìm kiếm nói trên được trích xuất và nhập vào phần mềm quản lý tài liệu tham khảo EndNote X7 Các kết quả này cũng được loại bỏ trùng lặp một cách tự động nhờ phần mềm

Việc sàng lọc các tài liệu tìm thấy được thực hiện như sau: sinh viên đọc tiêu

đề và tóm tắt của tài liệu để trả lời những câu hỏi sàng lọc Đối với những tài liệu mà tiêu đề và tóm tắt không đưa ra được câu trả lời rõ ràng, sinh viên đọc toàn văn của tài liệu đó và đưa ra lựa chọn thích hợp

Trang 20

Bảng 4.1 Các câu hỏi sàng lọc tài liệu trong bước sàng lọc:

Cấu phần được sàng lọc và

câu hỏi sàng lọc

Các lựa chọn khi đánh giá

Tiếng Anh/ Tiếng Việt

Tài liệu sử dụng các ngôn ngữ khác => loại và không cần xét đến các tiêu chí khác

2 Thiết kế nghiên cứu:

Tên/tóm tắt của tài liệu có đề

cập đây là một nghiên cứu

quan sát

Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu quan sát

Nghiên cứu là một đánh giá, tổng quan bình luận, bài biên tập, các bài báo không chính thức khác hoặc là một nghiên cứu thực nghiệm, nghiên cứu ca bệnh/nhóm ca bệnh

3 Loại tài liệu: Tên/tóm tắt

của tài liệu có phải từ một

nghiên cứu gốc, tài liệu/ báo

cáo của chính phủ hay từ luận

văn/luận án?

Nghiên cứu này là nghiên cứu gốc, tài liệu/báo cáo của chính phủ hay từ luận văn/luận án

Nghiên cứu này không phải là nghiên cứu gốc, tài liệu/báo cáo của chính phủ hay từ luận văn/luận

Quần thể đề cập/bao gồm trong tên/tóm tắt của tài liệu không phải là nhóm người nhiễm COVID-19

Trang 21

5 Biến số đầu ra: Liệu tên

/tóm tắt của tài liệu có mô tả

các yếu tố dịch tễ học quan

tâm của bệnh nhân nhiễm

COVID-19, bao gồm: tuổi,

giới, tiền sử bệnh, tỉ lệ nhập

viện, các đặc điểm lây truyền

của COVID-19 (phương thức

lây truyền, một số môi trường

dễ lây nhiễm, thời gian ủ

bệnh, thời gian từ khi có triệu

chứng đầu tiên đến khi nhập

viện, hệ số lây nhiễm cơ bản )

, đặc điểm và tiến triển lâm

sàng, tỉ lệ tử vong ca bệnh?

Một hoặc nhiều biến đầu ra đề cập tới các yếu tố dịch tễ học của bệnh nhân nhiễm COVID-19

Không có biến đầu ra nào liên quan tới các yếu tố dịch tễ học của bệnh nhân nhiễm COVID-19

4.3.2 Trích xuất và quản lý số liệu

4.3.2.1 Các thông tin được trích xuất

Các thông tin được trích xuất từ các tài liệu được lựa chọn bao gồm: thông tin định danh của tài liệu và các thông tin về: đối tượng nghiên cứu, địa điểm nghiên cứu, thời gian tiến hành nghiên cứu, kết quả nghiên cứu của các nghiên cứu Trong đó, chi tiết phần kết quả nghiên cứu bao gồm trích xuất những đặc điểm dịch tễ của đối tượng tham gia nghiên cứu: tuổi, giới, tiền sử bệnh, tỉ lệ nhập viện, các đặc điểm lây truyền của COVID-19 ( phương thức lây truyền, một số môi trường dễ lây nhiễm, thời gian

ủ bệnh, thời gian từ khi có triệu chứng đầu tiên đến khi nhập viện, hệ số lây nhiễm cơ bản ) , đặc điểm và tiến triển lâm sàng, tỉ lệ tử vong ca bệnh

4.3.2.2 Quy trình trích xuất

Bước 1: Lập bảng các nội dung cần tìm

Bước 2: Đọc và lựa chọn thông tin phù hợp điền vào bảng

Trang 22

Bước 3: Đọc lại và phân tích, so sánh thông tin

4.3.3 Khía cạnh đạo đức của nghiên cứu

Nghiên cứu này hoàn toàn sử dụng những thông tin đã công bố và khuyết danh (không ghi rõ tác giả) từ các bài báo/công trình nghiên cứu đã được đăng tải

5 KẾT QUẢ

5.1 Đặc điểm các tài liệu

5.1.1 Kết quả tìm kiếm

Biểu đồ 5.1 Kết quả tìm kiếm tài liệu

Các tài liệu bị loại

Trong tổng số 90 tài liệu bị loại bỏ trong giai đoạn này, các tài liệu bị loại vì

Các tài liệu được đưa vào sàng

Trang 23

• Ngôn ngữ không phù hợp (16 tài liệu): Tài liệu sử dụng ngôn ngữ khác ngoài tiếng Anh/ tiếng Việt, bao gồm: 15 tài liệu Tiếng Trung và 1 tài liệu Tiếng Pháp

• Chỉ số biến đầu ra không phù hợp (44 tài liệu ): những tài liệu này bị loại vì biến đầu ra không đề cập đến những đặc điểm dịch tễ học của bệnh nhân nhiễm COVID-19, mặc dù có thể đề cập đến những đặc điểm liên quan đến COVID-

19 như đặc điểm dịch tễ học của virus SARS ‐ CoV- 2, kiến thức, thái độ của người dân với COVID-19,

• Thiết kế nghiên cứu không phù hợp (17 tài liệu): những tài liệu này sử dụng thiết kể nghiên cứu khác với thiết kế nghiên cứu quan sát, đa số là các nghiên cứu can thiệp hoặc thử nghiệm

• Tài liệu trùng giữa 2 trang Pubmed và Hinary (13 tài liệu)

Kết thúc giai đoạn này có 35 tài liệu được đưa vào đọc toàn văn và phân tích số liệu

Bảng 5.1 Chi tiết các tài liệu được chọn

Trang 24

STT Tác giả Đối tượng nghiên

cứu

Thiết kế nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu

Thời gian xuất bản

Các kết quả đầu ra Tuổi Giới Tiền

sử

Tỉ lệ nhập viện

Các đặc điểm hoặc chỉ

số lây nhiễm

Đặc điểm, tiến triển lâm sàng

Tỉ lệ

tử vong

ca bệnh

1 Giuseppe

Banna và

cộng sự

Bệnh nhân mắc các bệnh mạn tính nhiễm COVID-19 trên thế giới

Tổng quan

1/12/ 2019- 11/3/ 2020

4/2020 X X X X

2 CDC Mỹ 9282 nhân viên y tế

nhiễm COVID-19 tại Mỹ

Cắt ngang

12/01- 09/04/ 2020

20/01- 06/02/ 2020

Cắt ngang

12/02- 02/04/ 2020

5 CDC Hàn

Quốc

28 ca đầu tiên nhiễm COVID-19 tại Hàn Quốc

số quốc gia

Tổng quan

14/04/ 2020 X X X X X

8 Zhiliang Hu

và cộng sự

24 bệnh nhân mắc COVID-19 không biểu hiện triệu chứng tại Nam Kinh, TQ

CN 28/01-

19/02/ 2020

Trang 25

9 Xiufen

Vương và

cộng sự

Bệnh nhân nhiễm COVID-19 tại Trung Quốc

Tổng quan

Tổng quan

31/03/ 2020 X X X X

15 Sijan Tian

và cộng sự

262 nhiễm COVID-19 tại Bắc Kinh

CN 23/ 1- 04/02/

2020

28/02 /2020

Trang 26

19 Juanjuan và

cộng sự

8579 trường hợp tại

31 tỉnh Trung Quốc

Thuần tập hồi cứu

24/12 – 27/01/ 2020

02/04/ 2020 X X X

20 Min Zhou

và cộng sự

Bệnh nhân nhiễm COVID-19 trên thế giới

Tổng quan hệ thống

19/ 01- 17/02/ 2020

21 Yinghao

Cao

Phân tích trên 31 nghiên cứu toàn văn, tương đương với 46 959 bệnh nhân nhiễm COVID-19

Tổng quan hệ thống

TQ

Thuần tập hồi cứu

08/02/2020

Tổng quan

Vũ Hán

Thuần tập hồi cứu

16 / 12 /2019 – 02/01/2020

Thuần tập hồi cứu

20/01 – 10/02/2020

19/02/

2020

X

Trang 27

28 CDC Hàn

Quốc

28 trường hợp COVID-19 tại Hàn Quốc

Thuần tập hồi cứu

20/01 – 10/02/2020

29 Minah Park

và cộng sự

Bệnh nhân nhiễm COVID-19 trên thế giới

Tổng quan

ở Singapore

Thuần tập hồi cứu

Đến ngày 15/02/2020

CN 08/01/2019

– 19/02/2020

32 Liang Su và

cộng sự

9 trẻ em và 14 người lớn lây nhiễm trong cụm gia đình tại Trung Quốc

Thuần tập hồi cứu

24/01- 24/02/2020

Tổng quan mô

Thuần tập hồi cứu

01/01- 31/01/2020

36 David và

cộng sự

79 968 bệnh nhân nhiễm COVID-19 tại Trung Quốc

Thuần tập hồi cứu

01/01 01/03/2020

Trang 28

37 Qua Li và

cộng sự

425 bệnh nhân nhiễm COVID -19 đầu tiên tại Vũ Hán, Trung Quốc

Thuần tập hồi cứu

23/01-13/

02/2020

Trang 29

5.2 Những đặc điểm dịch tễ học của bệnh nhân nhiễm COVID-19

trên toàn thế giới 5.2.1 Đặc điểm về tuổi của bệnh nhân nhiễm COVID-19

Những bệnh nhân mắc COVID ‐ 19 có ở tất cả các độ tuổi (31) Trong các nghiên cứu được tìm thấy, tuổi trung bình của những bệnh nhân nhiễm COVID-19 dao động từ 38 đến 59 tuổi, và những người trong nhóm tuổi từ 40- 69 có tỉ lệ nhiễm

COVID-19 cao nhất và thấp nhất ở nhóm trẻ em dưới 18 tuổi (17,31) Bảng 5.2 mô

tả tuổi trung bình của các bệnh nhân nhiễm COVID-19 trong các nghiên cứu mô tả tìm được

Bảng 5.2 Tuổi trung bình của bệnh nhân nhiễm COVID-19 trong các nghiên cứu mô tả

STT Tên nghiên cứu Tác giả Loại

thiết kế nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu

Tuổi trung bình của bệnh nhân (tuổi)

8579 bệnh nhân nhiễm COVID-

19 tại Trung Quốc

24/12 – 27/01/2020

53,5

Ngày đăng: 31/01/2021, 16:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w