sở cho can thiệp nâng cao nhận thức của bà mẹ về lĩnh vực này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Kiến thức, thái độ của phụ nữ từ 20 - 35 tuổi về dự phòng dị tật bẩm sinh và một số
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
ĐỖ THỊ NHIÊN
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ CỦA PHỤ NỮ TỪ 20-35 TUỔI
VỀ DỰ PHÕNG DỊ TẬT BẨM SINH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TRÊN ĐỊA BÀNTHÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK NĂM 2019
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH : 87.02.701
HÀ NỘI, 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ CỦA PHỤ NỮ TỪ 20-35 TUỔI
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Đinh Thị Phương Hòa và Ths
Lê Minh Thi đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo để tôi có thể hoàn tất luận văn cao học này
Tôi cũng xin gửi lời tri ân đến Quý thầy cô trường Đại học Y tế công cộng - những người đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu làm nền tảng
để tôi thực hiện luận văn này
Trong quá trình thực hiện, mặc dù đã cố gắng hoàn thiện luận văn, trao đổi và tiếp thu các ý kiến đóng góp của Quý thầy cô và bạn bè, song cũng không thể tránh khỏi những hạn chế trong nghiên cứu Tôi rất mong sẽ nhận được những ý kiến đóng góp và thông tin phản hồi quý báu từ Quý thầy cô cùng bạn đọc!
Hà Nội, tháng 7 năm 2019
Người thực hiện luận văn
ĐỖ THỊ NHIÊN
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
TÓM TẮT LUẬN VĂN vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 4
1.1.1 Khái niệm về dị tật bẩm sinh 4
1.1.2 Nguyên nhân gây dị tật bẩm sinh 5
1.1.3 Hậu quả của dị tật bẩm sinh 7
1.2 Tình hình dị tật bẩm sinh trên thế giới và tại Việt Nam 7
1.2.1 Trên thế giới 7
1.2.2 Tại Việt Nam 9
1.3 Dự phòng dị tật bẩm sinh 9
1.3.1 Kiểm soát tình trạng sức khỏe và chế độ dinh dưỡng hợp lý 10
1.3.2 Phòng tránh một số bệnh nhiễm khuẩn trong thời kỳ thai nghén 10
1.3.3 Sàng lọc phát hiện để can thiệp và điều trị sớm một số dị tật bẩm sinh 10
1.4 Một số nghiên cứu về Kiến thức - Thái độ dự phòng dị tật bẩm sinh: 11
1.4.1 Trên thế giới 11
1.4.2 Tại Việt Nam 12
1.5 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ về dự phòng dị tật bẩm sinh 13 1.5.1 Yếu tố cá nhân và gia đình 13
1.5.2 Yếu tố hỗ trợ cộng đồng 14
1.5.3 Yếu tố dịch vụ y tế 15
1.6 Giới thiệu một số đặc điểm về địa bàn nghiên cứu 15
1.7 Khung lý thuyết 16
CHƯƠNG 2.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 18
Trang 52.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 18
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 18
2.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 18
2.3 THIẾT KẾ 18
2.4 CỠ MẪU VÀ PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU 18
2.5 CÔNG CỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU 19
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu 19
2.5.2 Phương pháp và qui trình thu thập số liệu 20
2.6 XỬ LÝ VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 21
2.7 CÁC BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU (Phụ lục 4) 21
2.8 TIÊU CHUẨN ĐO LƯỜNG, PHÂN LOẠI VÀ ĐÁNH GIÁ 21
2.8.1 Phân loại một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 21
2.8.2 Đánh giá kiến thức của phụ nữ từ 20-35 tuổi về dự phòng dị tật bẩm sinh 22
2.8.3 Đánh giá thái độ của phụ nữ từ 20-35 tuổi về dự phòng dị tật bẩm sinh 22
2.9 ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU 22
2.10 HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU, SAI SỐ VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC 23 2.10.1 Hạn chế của nghiên cứu 23
2.10.2 Cách khắc phục các sai số 23
CHƯƠNG 3.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24
3.1 THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 24
3.1.1 Thông tin chung 24
3.1.2 Lịch sử sinh đẻ và bệnh tật……… 28
3.1.3 Nguồn thông tin về dị tật bẩm sinh mà phụ nữ nhận được 25
3.2 KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VỀ DỰ PHÒNG DỊ TẬT BẨM SINH……….29
3.2.1 Kiến thức về dị tật bẩm sinh, nguy cơ và dự phòng 26
3.2.2 Thái độ về dự phòng dị tật bẩm sinh 30
3.3 MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ CỦA PHỤ NỮ VỀ DỰ PHÕNG DỊ TẬT BẨM SINH 32
3.3.1 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức 32
3.3.2 Một số yếu tố liên quan đến thái độ 33
3.3.3 Mối liên quan giữa kiến thức và thái độ 35
CHƯƠNG 4.BÀN LUẬN 36
4.1 Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 36
Trang 64.2 Kiến thức, thái độ của phụ nữ từ 20-35 tuổi về dự phòng dị tật bẩm sinh 37
4.2.1 Kiến thức của phụ nữ từ 20-35 tuổi về dự phòng dị tật bẩm sinh 37
4.2.2 Thái độ của phụ nữ từ 20-35 tuổi về dự phòng dị tật bẩm sinh 42
4.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ của phụ nữ từ 20-35 tuổi về dự phòng dị tật bẩm sinh 47
4.3.1.Một số yếu tố liên quan đến kiến thức 43
4.3.2.Một số yếu tố liên quan đến thái độ 43
KẾT LUẬN 45
1 Tỷ lệ PN có kiến thức đúng và thái độ tích cực về dự phòng dị tật bẩm sinh 45
2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ của PN từ 20-35 tuổi về dự phòng dị tật bẩm sinh 45
KHUYẾN NGHỊ 51
1 Đối với chính quyền và Ngành y tế tại địa bàn nghiên cứu: 46
2 Đối với nhân viên y tế chịu trách nhiệm quản lý thai và khám thai: 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
PHỤ LỤC 51
Phụ lục 1: PHIẾU ĐỒNG Ý THAM GIA NGHIÊN CỨU 51
Phụ lục 2: 52
Phụ lục 3: TIÊU CHÍ CHO ĐIỂM 62 Phụ lục 4: CÁC BIẾN SỐ, ĐỊNH NGHĨA VÀ PHÂN LOẠI BIẾN SỐ NC Error!
Bookmark not defined
Trang 7ĐTNC: Đối tƣợng nghiên cứu
ĐTV: Điều tra viên
Trang 8Bảng 3.12: Liên quan giữa yếu tố cá nhân, gia đình và kiến thức về DTBS 32
Bảng 3.13: Liên quan giữa lịch sử sinh đẻ và kiến thức về dị tật bẩm sinh 33
Bảng 3.14: Yếu tố thông tin liên quan đến thái độ về dự phòngdị tật bẩm sinh 33 Bảng 3.15: Yếu tố về lịch sử dinh để liên quan đến thái độ dự phòng DTBS 34 Bảng 3.16: Liên quan kiến thức và thái độ dự phòng dị tật bẩm sinh 35
Trang 9sở cho can thiệp nâng cao nhận thức của bà mẹ về lĩnh vực này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Kiến thức, thái độ của phụ nữ từ 20 - 35 tuổi về dự phòng dị tật bẩm sinh và một số yếu tố liên quan trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk năm 2019” với 2 mục tiêu 1 Mô tả kiến thức và thái độ về dự phòng dị tật bẩm sinh của phụ nữ từ 20 - 35 tuổi tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk và 2 Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ dự phòng dị tật bẩm sinh của phụ
nữ từ 20 - 35 tuổi tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk năm 2019
Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang trên đối tượng là phụ nữ từ
20 - 35 tuổi hiện đang sinh sống tại Phường Tân Tiến và Xã Hòa Thuận thuộc thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Cỡ mẫu được chọn ngẫu nhiên hệ thống với tổng
số đối tượng là 380 người Thời gian tiến hành nghiên cứu từ tháng 03/2019 đến tháng 7/2019 Thu thập số liệu bằng bảng hỏi đối tượng phỏng vấn trực tiếp; Số liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS 22.0
Kết quả nghiên cứu: tỷ lệ PN đạt kiến thức về dự phòng DTBS là 64,5%, có thái độ tích cực về dự phòng DTBS là 81,8% Nhóm PN người DTTS có kiến thứckhông đạt về dự phòng DTBS cao gấp 1,92 lần (p< 0,01) và có thái độchưa tích cực về dự phòng DTBS cao gấp 3,12 lần nhóm PN người Kinh (p<0,05).Giữa kiến thức và thái độ cũng có mối liên quan có ý nghĩa thống kê Nhóm phụ nữ không đạt về kiến thức có thái độ chưa tích cực về dự phòng DTBS cao hơn 24 lần nhóm phụ nữ có kiến thức đạt (p< 0,001)
Khuyến nghị: Cần tăng cường đẩy mạnh các hoạt động truyền thông nhằm nâng cao kiến thức về dự phòng DTBS cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, đặc biệt ưu tiên các phụ nữ người dân tộc tại điạ bàn nghiên cứu
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Dị tật bẩm sinh (DTBS) là những bất thường về cấu trúc hoặc chức năng (bao gồm
cả bất thường chuyển hóa) xảy ra từ thời kỳ bào thai và có thể được phát hiện trước, trong
và sau khi sinh [17] Dị tật bẩm sinh có ở tất cả các quốc gia và đang là một vấn đề về sức khoẻ cộng đồng vì có thể gây sẩy thai, thai chết lưu và là nguyên nhân quan trọng gây tử vong cho trẻ sơ sinh và trẻ em dưới 5 tuổi [39] Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi năm ước tính có khoảng 7,9 triệu trẻ em được sinh ra với một DTBS nghiêm trọng,chiếm tỷ lệ 1,73% [39]
Ở Việt Nam, tuy chưa có số liệu về tỷ lệ DTBS chung cho toàn quốc nhưng qua nghiên cứu ở một số vùng, miền có thể ước tính số trẻ sinh ra bị DTBSchiếm khoảng 1,5%
- 2% Với ước tính này, mỗi năm nước ta có khoảng 41.000 trẻ sinh ra bị DTBS [5] Một số trong những trẻ DTBS này có thể nặng và tử vong ngay khi sinh Những trẻ sống được thường bị cản trở sự phát triển về thể chất, tâm thần và có thể tàn tật suốt đời Trẻ bị DTBS không chỉ là gánh nặng về vật chất mà còn cả về tinh thần cho gia đình và xã hội Số trẻ sống sót tích luỹ qua các năm tiếp tục nâng tổng số những người tàn tật, khuyết tật ngày càng gia tăng ở nước ta [16]
Nguyên nhân gây DTBS cho đến nay vẫn chưa được xác định rõ ràng Tuy nhiên, theo một số tác giả thì có khoảng hơn 50% dị tật bẩm sinh là chưa rõ nguyên nhân [13],[14],[24].Một số DTBS được xác định có liên quan đến môi trường sống, đến bệnh tật của bố, mẹ và chăm sóc bà mẹ trong thời gian mang thai, phần lớn các trường hợp này có thể phòng tránh được.Đối với các DTBS do di truyền, cho đến nay ở nước ta vẫn chưa có biện pháp phòng ngừa hiệu quả [5]
Hiểu biết tốt về dị tật bẩm sinh và các biện pháp phòng ngừa là yếu tố cơ bản giúp thực hiện các can thiệp dự phòng DTBS Giảm nguy cơ dị tật ở trẻ sơ sinh là một trong những yếu tố quan trọng góp phần làm giảm tỷ lệ bệnh, tật và tử vong ở trẻ em Phụ nữ, gia đình và cộng đồng cần được cung cấp các thông tin về tầm quan trọng của việc phòng ngừa sớm để thực hiện các can thiệp nhằm giảm nguy cơ gây dị tật cho trẻ
Trong các can thiệp nâng cao kiến thức về DTBS và các biện pháp phòng ngừa, phụ
nữ là đối tượng cần được ưu tiên nhất vì họ đang và sẽ là những bà mẹ, họ cần hiểu biết những kiến thức cơ bản nhất về những việc cần làm để sinh ra những đứa trẻ khỏe mạnh Các can thiệp này mang tính nhân văn cao, đưa lại hạnh phúc cho mỗi gia đình, cộng đồng
và toàn xã hội.Thực hiện tốt công việc này cũng là cách chuyển tải các chính sách của Nhà
Trang 11nước về nâng cao chất lượng dân số vào thực tế Chiến lược can thiệp tập trung vào đối tượng cần ưu tiên nhất, vì thế chương trình dân số quốc gia chọn đối tượng là những phụ
nữ từ 20 - 35 tuổi trong các can thiệp truyền thông Đây là độ tuổi sinh đẻ tốt nhất trong cuộc đời người phụ nữ và cũng là lứa tuổi sinh đẻ phổ biến ở hầu hết các địa phương trong
cả nước
Tại thành phố Buôn Ma Thuột, chưa có nghiên cứunào về kiến thức dự phòng dị tật bẩm sinh ở phụ nữtrong độ tuổi sinh đẻ.Tuy nhiên, qua những buổi tuyên truyền về chăm sóc sức khoẻ tại cộng đồng cho thấy hầu hết người dân còn chưa quan tâm tới các hoạt động
dự phòng dị tật bẩm sinh Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ chưa chủ động tìm hiểu các thông tin, theo dõi và chăm sóc sức khỏe cho chính bản thân mình cũng như chưa tự nguyện tham gia sàng lọc để phát hiện và dự phòng dị tật cho con và hàng năm vẫn còn có một số trẻ sinh ra
bị DTBS tại địa bàn Để có cơ sở khoa học cho các can thiệp nâng cao kiến thức, thực hành
về dự phòng DTBS nhằm giảm số trẻ sinh ra có dị tật, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài
“Kiến thức, thái độ của phụ nữ từ 20 - 35 tuổi về dự phòng dị tật bẩm sinh và một số yếu tố liên quan trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk năm 2019”
Trang 12MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả kiến thức và thái độ của phụ nữ từ 20 - 35 tuổi về dự phòng dị tật bẩm sinh tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk năm 2019;
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ của phụ nữ tử 20 - 35 tuổi về
dự phòng dị tật bẩm sinh tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk năm 2019
Trang 13Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
Sàng lọc: là việc sử dụng các biện pháp thăm dò đơn giản, dễ áp dụng, có độ chính
xác tương đối cao để phát hiện các cá thể trong một cộng đồng nhất định có nguy cơ cao hoặc có thể sẽ mắc một bệnh lý nào đó [1]
Sàng lọc trước sinh (SLTS):là việc thực hiện sàng lọc trong thời gian mang thai
[1]
Sàng lọc sơ sinh (SLSS):là thực hiện sàng lọc trong những ngày đầu của thời kỳ sơ
sinh [1]
Chẩn đoán trước sinh: là thực hiện các biện pháp thăm dò đặc hiệu trong thời gian
mang thai để chẩn đoán xác định những trường hợp nghi ngờ mắc bệnh thông qua việc sàng lọc [1]
Chẩn đoán sơ sinh: là thực hiện các biện pháp thăm dò xét nghiệm đặc hiệu đối với
trẻ ngay trong những ngày đầu sau khi sinh để chẩn đoán xác định những trường hợp nghingờ mắc bệnh thông qua việc sàng lọc [1]
Bất thường nhiễm sắc thể: là sự bất thường về số lượng hoặc cấu trúc của một
hoặc nhiều nhiễm sắc thể [1]
1.1.1 Khái niệm về dị tật bẩm sinh
Dị tật bẩm sinh là dị tật ở trẻ có ngay sau khi sinh do bất cứ nguyên nhân gì Dị tật bẩm sinh có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe hoặc là bất thường về hình thể Đối với những dị tật nhẹ, chỉ biểu hiện bằng những bất thường ở các bộ phận cơ thể nhưng không gây ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe Tuy nhiên, có nhiều dị tật nặng nề liên quan đến cấu trúc, chức năng hoạt động của các cơ quan và thường đe dọa đến tính mạng trẻ ngay khi sinh hoặc trong suốt quá trình phát triển của trẻ [39]
Theo số liệu của WHO năm 2016, tỷ lệ DTBS ở trẻ sơ sinh trung bình hàng năm trên thế giới vào khoảng 1,73% [41] Các dị tật hay gặp là tim bẩm sinh, sứt môi hở hàm ếch, hội chứng Down và dị tật ống thần kinh Các trường hợp nặng, gây tử vong trong giai đoạn sơ sinh thường là những dị tật nặng ở tim, não hoặc là đa dị tật chiếm khoảng 10% trong số tử vong sơ sinh [41]
Trang 141.1.2 Nguyên nhân gây dị tật bẩm sinh
Nguyên nhân gây dị tật bẩm sinh được chia làm 3 nhóm: Nhóm do yếu tố di truyền; Nhóm do yếu tố môi trường và nhóm kết hợp cả nguyên nhân di truyền với môi trường, thường gọi là di truyền đa yếu tố[7],[20],[21] Tuy nhiên, để xác định nguyên nhân cho từng trường hợp vẫn là vấn đề khó khăn Theo các tác giả của một số nghiên cứu, hơn một nửa số dị tật bẩm sinh không xác định được nguyên nhân cụ thể [7],[24],[30]
1.1.2.1 Các dị tật bẩm sinh nguyên nhân do di truyền
Các dị tật bẩm sinhcó nguyên nhân từ di truyền bao gồm cha mẹ truyền cho con cái những gen bất thường, cũng như các tế bào mầm sinh ra thai nhi bị đột biến Tế bào mầm ở nam đột biến với tốc độ nhanh hơn nhiều so với tế bào mầm nữ và việc đột biến ở tế bào mầm xảy ra nhanh chóng hơnkhi người cha càng lớn tuổi.Vì vậy khi người cha đã lớn tuổi nguy cơ sinh con bị DTBS cũng cao hơn [31].Hôn nhân cận huyết thống cũng là một trong những yếu tố nguy cơ làm gia tăngsố trẻ bị mắc các DTBS di truyền hiếm gặp,đồng thời làm tăng nguy cơ tử vong ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ [8]
1.1.2.2 Các dị tật bẩm sinh do nguyên nhân môi trường
Bất cứ giai đoạn phát triển nào của phôi thai đều có thể gây ra dị tật bẩm sinh nếu như có sự tác động của các tác nhân môi trường [7] Các yếu tố môi trường chính baogồm: Yếu tố dinh dưỡng của mẹ; Các tác nhân vật lý, hóa học; Tác nhân sinh vật học và nhóm các tác nhân khác
- Dinh dưỡng của người mẹ: Trong thời gian mang thai, người mẹ cần bổ sung đầy đủ các
chất dinh dưỡng cho sự hình thành và phát triển của thai nhi đồng thời bảo đảm đủ năng lượng cho sức khoẻ của bà mẹ và quá trình tạo sữa, nuôi con sau này Một số vi chất cần chú trọng cho phụ nữ trong thời gian mang thai là Canci, Sắt, Kẽm, Vitamin A, D, B1, C,đặc biệt là axit folic (vitaminB9), rất cần cho sự phát triển của não bộ và tủy sống ngay trong tháng đầu tiên của thai kỳ [21] Nếu khẩu phần ăn của người mẹtrong thời gian mang thai bị thiếu axit folic thì có thể dẫn tới thai nhi bị dị tật ống thần kinh.Nhiều nghiên cứu đã chứng minh dị tật bẩm sinhcó liên quan tới việc thiếu hụt folate và phụ nữ sử dụng acid folic trước thời điểm thụ thai có thể giúp ngăn ngừa dị tật ống thần kinh ởthai nhi từ 50% -70% [24], [31], [39].Một số báo cáo cũng khẳng định là 95% trẻ bị dị tật ống thần kinh liên quan đến thiếu hụt axit folic và không có liên quan đến tiền sử của gia đình
Thiếu iode cũng làyếu tố gây tổn thương não và chậm phát triển trí tuệ ở trẻ [39] Phát hiện sớm các bệnh về thiểu năng tuyến giáp và can thiệp bổ sung dẫn xuất hooc mon tuyến giáp sớm ngay giai đoạn sơ sinh có thể giảm nguy cơ khuyết tât về trí tuệ, thể chất ở
Trang 15trẻ [16]
- Tác nhân vật lý, hóa học:
Phụ nữ mang thai tiếp xúc với hóa chất độc hại (thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật, rượu, thuốc lá ) có nguy cơ ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của thai nhi dẫn đến dị tật bẩm sinh[24] Nơi ở hoặc làm việc của bà mẹ có phơi nhiễm với rác thải, các
lò sản xuất kim loại, khai thác mỏ cũng tăng nguy cơ đẻ con có dị tật bẩm sinh[37]
- Tác nhân nhiễm khuẩn:
Ở một số nước có thu nhập thấp và trung bình, nguyên nhân gây DTBS ở trẻ thường gặp ở những người mẹ bị mắc các bệnh nhiễm khuẩn như: cúm, Rubella, thủy đậu, giang mai [24]
Gần đây, virus Zika được cho là nguyên nhân gây ra tật đầu nhỏ ở trẻ mới sinh đã được một số tác giả đặc biệt quan tâm nghiên cứu Lần đầu tiên vi rútZika được phát hiện tại châu Phi năm 1947 và lan truyền thành dịch ở một số nước trên thế giới Sau khi dịch Zika bùng phát ở Polynesia của Pháp năm 2013 và đặc biệt là đại dịch ở Brazil năm 2015,
số lượng trẻ sơ sinhbị dị tật đã gia tăng bất thường và được một số cơ quan y tế báo cáo trong giai đoạn này[8].Theo WHO, đến nay đã có 148 quốc gia bị ảnh hưởng bởi vi rút Zika và khẳng định vi rút Zika gây hội chứng đầu nhỏ ở trẻ sơ sinh và hội chứng Guillain Barre ở người lớn [41]
- Một số tác nhân khác như: Nguy cơ sinh con bị dị tật bẩm sinh ở những bà mẹ mang thai
lớn tuối ( >35 tuổi ) cao hơn ở nhóm phụ nữ ít tuổi hơn hoặc nhữngngười mẹ bị bệnhbéo phì, bị đái đường,có sử dụng các chất kích thích như cocain, hút thuốc lá và một số thuốc
an thần, thuốc chống động kinh cũng làm tăng nguy cơ trẻ sinh ra bị dị tật bẩm sinh [24], [35],[39]
1.1.2.3 Dị tật bẩm sinh do di truyền đa yếu tố
Là sự kết hợp giữa các yếu tố di truyền và môi trường với các DTBS như khe hở môi, hàm, các dị tật ống thần kinh Nhiều bệnh phổ biến ở người trưởng thành như ung thư, bệnh tim mạch, tâm thần phân liệt, đái đường có nguy cơ cao sinh con bị dị tật đều thuộc nhóm nguyên nhân này [9]
Điều kiện kinh tế xã hội cũng được xác định là một yếu tố gián tiếp liên quan đến nguy cơ sinh con bị dị tật bẩm sinh Điều kiện kinh tế, xã hội thấp cản trờ việc tiếp cận chăm sóc y tế, không theo dõi được sự phát triển của thai, không phát hiện sớm dị tật là các nguy cơ tăng tỷ lệ mắc dị tật và dị tật nặng ở trẻ sơ sinh [39]
Trang 161.1.3 Hậu quả của dị tật bẩm sinh
Là nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ sơ sinh và trẻ em:
Tại một số quốc gia,dị tật bẩm sinhlà một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ Theo WHO, trong số 2,68 triệu tử vong trẻ sơ sinh hàng nămcó đến 303.000 trẻ tử vong là do DTBS, chiếm 11,3% [39].Tại Việt Nam dị tật bẩm sinh chiếm 22% trong số tử vong trẻ em và là một trong các nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi Tử vong sơ sinh do DTBS chiếm 11% với ước tính khoảng 1.700 trẻ mỗi năm[5]
Tăng gánh nặng bệnh tật:
Theo thống kê của ngành Y tế cho thấy, Việt Nam có khoảng gần 1,5 triệu trẻđược sinh ra mỗi năm, ngoài số trẻ sơ sinh tử vong do DTBS thì có tới 40.039 trẻ mắc DTBS còn sống sau giai đoạn sơ sinh [12] Với các dị tật này, khả năng điều trị và duy trì ổn định trong cuộc sống là rất tốn kém Các chi phí cho phẫu thuật, phục hồi chức năng đòi hỏi thời gian và kinh phí cho cả gia đình và khả năng của các cơ sở y tế Những trẻ suy tuyến giáp bẩm sinh cần phải được điều trị, theo dõi cả đời là thử thách lớn đối với gia đình về cả thời gian và kinh phí
Giảm chất lượng cuộc sống:
Đối với trẻ bị DTBS, dù nặng hay nhẹ cũng đều cóảnh hưởng đến khả năng sinh hoạt cũng như tuổi thọ và sự hoà nhập cộng đồng của trẻ.Hầu như các bệnh lý về rối loạn chuyển hóa và di truyền đều tác động tới quá trình phát triển của cơ thể với các biểu hiện như chậm phát triển về thể chất và đần độn về trí tuệ Những trẻ này thường bị cản trở sự phát triển về thể chất và tâm thần có thể tàn tật suốt đời, không nhữnglà gánh nặng về vật chất mà còn cả về tinh thần cho gia đình và xã hội
1.2 Tình hình dị tật bẩm sinh trên thế giới và tại Việt Nam
1.2.1 Trên thế giới
Kết quả của một số nghiên cứutrên thế giới cho thấy, tỷ lệ mắc dị tật bẩm sinh chung ở trẻ sơ sinh không khác nhau nhiều lắm giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ với tỷ lệ khoảng từ 2-4% Tuy nhiên, các thể loại dị tật có thể khác nhau tuỳ theo các vùng kinh tế,
xã hội, ví dụ như các dị tật liên quan đến di truyền, hôn nhân cận huyết có tỷ lệ cao hơn ở một số dân tộc nhất định; các dị tật liên quan đến dinh dưỡng, môi trường lại có tỷ lệ cao ở các nước nghèo Mối liên quangiữa các yếu tố phơi nhiễm với dị tật được phản ánh khá rõ rệt ở các nghiên cứu ở các địa bàn khác nhau [26],[27]
Trang 17Số liệu chính xác về trẻ có DTBS hiện nay chưa có ở tất cả các nước cũng như cho toàn cầu, tuy nhiên theo ước tính mới nhất của WHO cho thấy trên thế giới mỗi năm có khoảng 8 triệu trẻ sơ sinh có DTBS nặng, trong đó 90% ở các nước có thu nhập thấp và trung bình Tỷ lệ tử vong do DTBS chiếm 9% trong tổng số tử vong trẻ < 5 tuổi Một nửa
số trẻ tử vong này xẩy ra ở giai đoạn sơ sinh (trong vòng 1 tháng sau đẻ) Như đã đề cập ở trên, những trẻ sống sót phải đối diện với những khó khăn về thể chất và tinh thần trong cả cuộc đời Các can thiệp sớm có thể cải thiện được cuộc sống của các trẻ bị dị tật nhưng rất tốn kém và thực sự là khó khăn đối với các các nước nghèo [41]
Theo báo cáo của hệ thống giám sát dị tật bẩm sinh quốc tế (ICBDMS: International Clearinghouse for Birth Defect Monitoring System) năm 2013 được thực hiện ở Israel, Mexico và Bắc Mỹ năm 2011 với 151.981 ca sinh đã ghi nhận 879 ca DTBS trong đó có hai DTBS nặng Tỷ lệ dị tật chung cho 3 nước này là 0,6% [21]
Trong một phân tích tổng hợp năm 2018 từ 878 bài báo đã xuất bản ở Ấn độnghiên cứu ở cả bệnh viện và cộng đồng đưa ra ước tính tỷ lệ ở Ấn độ là 1.9% Các loại dị tật chủ yếu là về hệ thống cơ, xương và các bệnh lý về não Với các kết quả này, các tác giả nhận định là nhiều trong số dị tật đó có thể phòng được với các can thiệp trước sinh hoặc tiến hành can thiệp sớm [23].Một nghiên cứu tại một bệnh viện vùng Riyadh của Saudi Arabia năm 2014, Majeed-Saidan và cộng sự cho kết quả về tỷ lệ dị tật bẩm sinh là 4,1% trong tổng số trẻ đẻ sống Tỷ lệ này nếu tính trên tổng số trẻ sinh ra có thể thấp hơn một chút, tương đương với số ước tính chung cho toàn cầu là từ 2-4%[32].Các thể loại dị tật ở Saudi Arabia được 2 tác giả Ahmed M Kurdi and Muhammad A Majeed-Saidan mô tả bao gồm
dị tật về tim mạch (2,5%); thận (20,3%); Hệ thống thần kinh (13,6%,); Bộ phận sinh dục (10,7%); Dị tật các chi (8,4%); Bất thường về nhiễm sắc thể (6,6%), Tiêu hoá (6,3%); Hàm mặt (5,5%); Xương, cơ (4,4%); Gen (5,0%) và các dị tật khác (7,0%) [23]
Nghiên cứu về nguyên nhân dị tật, Marcia và cộng sự đã tiến hành khảo sát 270.878 trẻ sinh từ năm 2005 - 2009 tại Utah’s và phát hiện có 5.504 trẻ có DTBS (tỷ lệ là 2,03%) Phân tích nguyên nhân cho thấy 30,2% số dị tật có tìm được nguyên nhân với hầu hết dị tật liên quan đến gen và NST; tiếp theo là nhiễm chất độc hại (4,1%) và nguyên nhân phối hợp
là 1,4% Có đến 79,8% số DTBS không tìm được nguyên nhân Có 88,2% số trẻ dị tật không tìm thấy mối liên quan; 4,8% có yếu tố gia đình [33] Một nghiên cứu dịch tễ gần đây ở thành phố Guangxi, Trung quốc với đối tượng là các trẻ sinh từ 2011- 2015 nhằm xác định tình hình dịch tễ về DTBS cho thấy có 6.591 trẻ trong số 260.722 trẻ có dị tật bẩm sinh, chiếm tỷ lệ 2,5% Nhóm tác giả cũng chỉ ra có sự khác biệt về tỷ lệ DTBS giữa 5
Trang 18nhóm dân tộc tai địa bàn nghiên cứu với tỷ lệ ở trẻ người Han là cao nhất (2,9%); tiếp theo
là trẻ dân tộc Zhuang (2,5%); Yao (1,9%); Miap (1,6%) và thấp nhất là trẻ dân tộc Dong (1,4%) Các thể loại dị tật cũng khác nhau theo nhóm dân tộc với tỷ lệ dị tật về hệ cơ, xương và thận, tiết niệu thấp hơn ở nhóm trẻ người Han; Zhuang, Miao, Yao, and Dong Nhóm trẻ người Miao và Yao cũng có tỷ lệ DTBS về tim mạch thấp và trẻ dân tộc Dong có
dị tật tim mạch và sọ não thấp [25]
1.2.2 Tại Việt Nam
Từ những năm 70 ở nước ta, một số tác giả đã công bố những nghiên cứu đầu tiên
về dị tật bẩm sinh Mặc dù chưa nhiều nhưng kết quả thu được đã cho thấy một phần về tình hình DTBS ở các vùng khác nhau Tỷ lệ DTBS ở trẻ sơ sinh cũng có sự khác biệt rõ rệt theo từng vùng[3], [5]
Theo kết quả nghiên cứuở Khoa sản Bệnh viện Bạch Mai năm 1995-1999 do Nguyễn Việt Hùng và Lê Hanh thực hiện cho thấy tỷ lệ DTBS là 0,88% và kết quả năm 1999-2003 là 1,31% [15].Nghiên cứu của Nguyễn Đức Vy tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ 01/02/2001 đến 31/12/2003ở tất cả phụ nữmang thai đến khám và sinh cho thấy có tới 933 trường hợp trẻ có DTBS trên tổng số 33.816 bà mẹ mang thaichiếm tỷ lệ 2,7% [9] Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoàn năm 2014 tại Khoa phụ sản Bệnh viện Trung Ương Huế trong tổng số 11.135 trẻ sơ sinh phát hiện 201 trẻ có DTBS, chiếm tỷ lệ 1,8% [15].Ở Miền Nam, tỷ lệ trẻ bị DTBS trong nghiên cứu của Huỳnh Thị Kim Chi tại Sông Bé lại cao hơn, có tới 2,4% [5]
1.3 Dự phòng dị tật bẩm sinh
Qua nhiều nghiên cứu cho thấy DTBS đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe
và tinh thần của trẻ ở ngay từ những năm đầu tiên của cuộc sống, ước tính có khoảng 70% DTBS là chưa rõ nguyên nhân, trong đó phần lớn DTBS hoàn toàn có thể phòng ngừa được
60-Theo báo cáo của Howson C.P năm 2008 cho thấy, ở các nước phát triển thì dị tật bẩm sinh có nguyên nhân từ trước thụ thai chiếm tới 40% và chỉ 10% dị tật bẩm sinh có nguyên nhân sau khi thụ thai [14], [28] Do vậy, việc dự phòng dị tật bẩm sinh là vấn đề rất cần được quan tâm để hạn chế số trẻ được sinh ra có DTBS và tử vong do dị tật bẩm sinh hàng năm Vì thế, chăm sóc dinh dưỡng cũng như một số biện pháp phòng chống bệnh tật trong thời gian mang thai được áp dụng và đã chứng minh là hiệu quả trong việc giảm DTBS ở trẻ
Trang 191.3.1 Kiểm soát tình trạng sức khỏe và chế độ dinh dưỡng hợp lý
Ngay từ khi có dự định mang thai, người mẹ cần chú trọng đến việc chăm sóc sức khỏe và bổ sung đầy đủ những dưỡng chất cần thiết để giúp thai nhi phát triển được tốt hơn Tất cả phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ được khuyến cáo nên sử dụng acid folic, tốt nhất
là phải uống trước khi mang thaiít nhất một tháng và duy trì cho đến khi thai được 12 tuần [16].Trong thực tế, có nhiều trường hợp khó định trước được thời gian mang thai, chính vì thế các nhà khoa học khuyên tất cả phụ nữ mang thai nên sử dụng acid folic hàng ngày với liều từ 0,4-1mg/ngày sẽ giúp giảm thiểu tới gần một nửa số trường hợp dị tật ống thần kinh [16]
Ở phụ nữ mang thai, nhu cầu sử dụng iode cũng tăng hơn bình thường khoảng 50%
Vì vậy, để đảm bảo người mẹ mang thai không bị thiếu hụt iode, WHO khuyến cáo, mỗi ngày phụ nữ mang thai nên sử dụng 200 - 300 µg iode Ngoài ra, chế độ ăn uống của bà
mẹ trong thời gian này cần đảm bảo đầy đủ các dưỡng chất cần thiết, đặc biệt không được uống rượu, hút thuốc lá và tránh tiếp xúc với các chất độc hại [28]
1.3.2 Phòng tránh một số bệnh nhiễm khuẩn trong thời kỳ thai nghén
Trong thời gian mang thai, sự thay đổi của môi trường bên ngoài rất dễ tác động đến sức khỏe của người mẹ như dễ bị lây nhiễm khi người mẹ tiếp xúc với người bệnh hoặc dễ mắc các bệnh trong môi trường có dịch bệnh
Khi mang thai, nếungười mẹ bị mắc một số nhiễm khuẩn như: cúm, Rubella, thủy đậu, giang mai thì có thể gây ra cho trẻ những DTBS nghiêm trọng và để lại hậu quả nặng
nề cho trẻ Vì vậy, trước và trong khi mang thai người mẹ nên đi khám để phát hiện và điều trị sớm các bệnh nhiễm khuẩn có thể gây ảnh hưởng đến thai nhi
1.3.3 Sàng lọc phát hiện để can thiệp và điều trị sớm một số dị tật bẩm sinh
Sàng lọc có thể được thực hiện ở 3 giai đoạn: Giai đoạn trước khi mang thai bà mẹ cần được phát hiện các nguy cơ do di truyền có thể truyền sang cho trẻ như tiền sử gia đình, hôn nhân cận huyết Giai đoạn tiếp theo là thời điểm chuẩn bị mang thai cần quan tâm đến các yếu tố tuối, sử dụng rượu, thuốc lá Siêu âm có thể phát hiện Down hoặc một
số dị tật về chức năng Xét nghiệm máu mẹ giúp phát hiện một số bệnh về NST, một số nguy cơ do nhiễm khuẩn Giai đoạn thứ 3 là giai đoạn sơ sinh cần khám trẻ để phát thiện sớm các rối loạn về hình thể, xét nghiệm máu phát hiện bệnh nội tiết, chuyển hoá, di truyền
Đối với các rối loạn về NST, ngoài việc gây ra những khiếm khuyết ở nhiều bộ phận
Trang 20trên cơ thể thì việc điều trị các khiếm khuyết này cũng đòi hỏi chi phí rất lớn, mặc dù vậy các khiếm khuyết cũng chỉ được giải quyết phần nào mà thôi
Thiểu năngvề trí tuệ là hậu quả của bệnh rối loạn NST thường gặp ở trẻ mà hiện nay
y học chưa thể can thiệp được Vì vậy, thực hiện sàng lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh giúpphát hiện sớm và điều trị kịp thời các bệnh, tật, các rối loạn chuyển hóa, di truyền ngay trong gian đoạn bào thai và sơ sinh giúp cho trẻ sinh ra phát triển bình thường, tránh được hậu quả nặng nề cho trẻ
1.4 Một số nghiên cứu về Kiến thức - Thái độ dự phòng dị tật bẩm sinh:
về dự phòng dị tật bẩm sinh của người dân trong cộng đồng vẫn còn nhiều hạn chế
Trong thập niên trước, một số nghiên cứu cho thấy kiến thức về DTBS bao gồm cả nguyên nhân, nguy cơ và cách phòng tránh còn hạn chế Nghiên cứu của Taiwo A Lawa ở
2 bệnh viện lớn ở Nigeria năm 2012 trên 714 bà mẹ cho thấy chỉ có 183 bà mẹ (25,6%) biết
về DTBS[36] Trong một nghiên cứu khác trên 433 bà mẹ mang thai ở Ghana năm 2013 của A.Bello cho kết quả là có 33,6% số phụ nữcho rằng DTBS không phải là bệnh lý mắc phải trong thời gian mang thai [24] Kết quả của Vitale K (2009) nghiên cứu về kiến thức, thái độ và sử dụng acid folic ở 603 phụ nữ có thai ở Croatia cho thấy có 47,6% phụ nữ không biết gì về acid folic và chỉ có 26,2% cho rằng acid folic là hữu ích vì nó giúp phòng ngừa được DTBS [38]
Do hạn chế hiểu biết về DTBS nên kiến thứcvề yếu tố nguy cơ sinh con bị DTBS cũng ít được phụ nữ quan tâm đến Một nghiên cứu ở Mỹ năm 2010 cho thấy có 87,8% phụ
nữ cho rằng nguyên nhân chủ yếu gây DTBS là trong thời gian mang thai có sử dụng một
số thuốc mà không có chỉ định của bác sĩ [27]
Can thiệp được sử dụng phổ biến nhất là sử dụng acid folic phòng các dị tật ống thần kinh đã được khẳng định và có ở trong tất cả các khuyến nghị về chăm sóc trước sinh của WHO, tuy nhiên rất nhiều phụ nữ không biết về tác dụng này Nhiều phụ nữ mang thai
sử dụng acid folic theo các chương trình chăm sóc trước sinh nhưng không có kiến thức về thời gian, liều lượng sử dụng sao cho hiệu quả cũng như tác dụng phòng DTBS của acid
Trang 21folic Nghiên cứu của Wu D.Y.et al (2007) về kiến thức và việc sử dụng acid folic ở 508 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ cho thấy chỉ có 45% biết về acid folic và chỉ 30% trong số đó biết được thời gian thích hợp để bổ sung acid folic [42]
Tuy nhiên, theo thời gian vấn đề phòng tránh DTBS đã được cộng đồng thế giới quan tâm can thiệp Có nhiều hoạt động truyền thông, giáo dục sức khoẻ cho cộng đồng về gánh nặng bệnh tật, tử vong do DTBS được thực hiện ở nhiều quốc gia Những nghiên cứu gần đây cho thấy kiến thức về DTBS cũng như các biện pháp dự phòng đã có cải thiện Nghiên cứu cắt ngang giai đoạn 2015 - 2016 ở thành phố Dongguan, Trung quốc về kiến thức, thái độ và thực hành sử dụng acid folic ở tuổi sinh đẻ cho thấy hơn 88% số đối tượng biết acid folic có thể phòng dị tật ống thần kinh cho trẻ và hơn 86% biết sử dụng đúng theo khuyến nghị [43].Hiểu biết tốt cũng là cơ sở để người dân có thái độ tích cực trong dự phòng Nếu như trong nghiên cứu ở bà mẹ Croatianăm 2009 cho thấy chỉ có các bà mẹ có
dự định mang thai ủng hộ việc dự phòng DTBS bằng acid folic [38] thì kết quả nghiên cứu gần đây cũng ở Trung quốc cho thấy 81,6% phụ nữ trong tuổi sinh đẻ kể cả những phụ nữ chưa có gia đình, chưa có kế hoạch sinh con ủng hộsử dụng acid folic hàng ngày [25]
1.4.2 Tại Việt Nam
Các nghiên cứu về DTBS trong cộng đồng chưa có nhiều mà chủ yếu là các nghiên cứu trong bệnh viện chủ yếu là phát hiện sớm và các hình thái dị tật Một số nghiên cứu tại cộng đồng được tiến hành trong thập kỷ qua về kiến thức, thái độ và thực hành của người dân và phụ nữ nói chung cũng tương tự như một số nước trên thế giới và còn nhiều vấn đề cần được cải thiện Nghiên cứu của Nguyễn Thị Túy Hà (2015) trên 400 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ tại Thừa Thiên Huế cho thấy có 64,2% số phụ nữ biết đúng về phòng ngừa và 75,8% biết đúng về khả năng có thể được sàng lọc phát hiện để can thiệp và điều trị sớm.Kiến thức về các yếu tố nguy cơ sinh con bị DTBS được biết nhiều nhất là tuổi mẹ ≥
35 (83,3%); tiếp đến là yếu tố gia đình (56,7%) và người mẹ bị đái đường, béo phì(41,9%) [14]
Mặc dù, phần lớn phụ nữ biết về nguy cơ tuối mẹ nhưng ít bà mẹ hiểu biết về các xét nghiệm sàng lọc Kết quả nghiên cứu của Lê Phạm Sỹ Cường (2016) với 180 phụ nữ mang thai lớn tuổi (≥ 35 tuổi) tại trung tâm Chẩn đoán trước sinh của Bệnh viện Phụ sản Trung ương và Bệnh viện Đại học YDược Huế cho thấy tỷ lệ thai phụ có kiến thức đúng về xét nghiệm Double test trong 3 tháng đầu ở cả hai trung tâm này đều ở mức thấp là 49,1% [6]
Việc thiếu kiến thức dẫn tới thái độ chưa tích cực trong việc dự phòng DTBS đãđược
Trang 22chứng minh trong một số nghiên cứu.Cũng theo kết quả củaNguyễn Thị Túy Hà (2015), cho thấy chỉ có 62,2% phụ nữ không mang thai và 59,2% phụ nữ đang mang thai tin là DTBS
có thể phòng ngừa được; Có 73,3% phụ nữ không mang thai và 68,9% phụ nữ đang mang thai cho rằng có thể sàng lọc phát hiện để can thiệp và điều trị sớm một số DTBS (p>0,05) [14]
Việc thực hành sàng lọc trước, trong sinh ở nước ta chưa phải là một qui định thường qui và các cơ sở thực hiện sàng lọc còn khó tiếp cận, vì thế cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào đưa ra được số liệu về tỷ lệ thực hiện sàng lọc trong cộng đồng Nghiên cứu của Lê Phạm Sỹ Cường (2016) cho kết quả làhầu hết các thai phụ (76% - 93,3%) đều đồng ý với quan điểm tất cả các phụ nữ mang thai đều nên làm SLTS và 80,5% - 93,9% đồng ý là sẽ làm SLTS ở những lần mang thai sau [6] cũng chỉ là dự định thực hiện hoặc thể hiện thái độ tích cực Hơn nữa,đối tượng của nghiên cứu này làđối tượng phụ nữ từ 35 tuổi trở lên, đã được CBYT tư vấn, tuyên truyền về DTBS nên họ nhận thức được sự cần thiết của việc phòng và điều trị bệnh, vì vậy tỷ lệ này cùng chỉ phản ánh về dự định, thái độ cho một nhóm nhỏ phụ nữ có nguy cơ
1.5 Một sốyếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ về dự phòng dị tật bẩm sinh
1.5.1 Yếu tố cá nhân và gia đình
- Trình độ học vấn: Kiến thức và thái độ của mỗi người về chăm sóc sức khỏe nói
chung và dự phòng DTBS nói riêng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó yếu tố cá nhân
có vai trò vô cùng quan trọng Nhiều nghiên cứu cho thấy trình độ học vấn có liên quan chặt chẽ với trình độ nhận thức của cá nhân đó, trình độ càng cao thì sự hiểu biết vềcác kiến thức xã hội và khoa học sức khỏe càng tốt, do đó họ sẽ nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của việc chăm sóc sức khỏe cũng như dự phòng dị tật bẩm sinh để tránh sinh ra
những đứa con bị dị tật Nghiên cứu của Xiao cho thấy bà mẹ có trình độ học vấn cao có
điểm kiến thức về dự phòng DTBS cao hơn và có thái độ tích cực hơn về dự phòng
[43].Trình độ học vấn cũng được Taiwo khẳng định là yếu tố quan trọng trong kiến thức và
thái độ của bà mẹ Nigeria về dự phòng DTBS Những phụ nữ tiếp tục học sau khi tốt nghiệp phổ thông có kiến thức về DTBS cao gấp hơn 5 lần so với các phụ nữ chỉ học ở các cấp trong trường phổ thông [36] Kết quả tương tự cũng được chứng minh trong một nghiên cứu cắt ngang năm 2016 về mối liên quan với kiến thức ở các bà mẹ đang mang thai tại Sri Lanka khẳng định trình độ học vấn của bà mẹ là yếu tố hỗ trợ nâng cao kiến thức cả về DTBS, yếu tố nguy cơ và khả năng dự phòng [29]
Trang 23Tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu của Lê Phạm Sỹ Cường (2016) cũng cho thấy thai phụ có trình độ học vấn đại học, trung cấp và cao đẳng có khả năng ra quyết định thực hiện chẩn đoán trước sinh cao gấp 6 lần so với những thai phụ có trình độ học vấn tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông [6]
- Thu nhập gia đình: Kinh tế gia đình là yếu tố quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến
việc ra quyết định về các nhu cầu trong cuộc sống hàng ngày, trong đó có nhu cầu về chăm sóc sức khỏe Thực tế cho thấy, người dân có kinh tế khá giả họ sẽ có điều kiện quan tâm, chăm sóc tới sức khỏe cho gia đình và bản thân tốt hơn những người có thu nhập kinh tế thấp, đặc biệt là các hoạt động dự phòng về DTBS trong đó có sàng lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh Rất nhiều nghiên cứu trên thế giới đều thống nhất về mối liên quan giữa điều kiện kinh tế, xã hội mà cụ thể là thu nhập của mỗi gia đình và kiến thức, thái độ về dự phòng DTBS Những phụ nữ sống trong gia đình kinh tế khá hơn có trình độ hiểu biết cao hơn về DTBS, các yếu tố nguy cơ cũng như một số biện pháp dự phòng [29], [36],[43].Ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu của Lê Phạm Sỹ Cường (2016) cũng cho thấy những người
có thu nhập gia đình trên 5 triệu có khả năng ra quyết định thực hiện chẩn đoán trước sinh cao gấp 27 lần so với những thai phụ có thu nhập dưới 5 triệu [6]
- Yếu tố về tiền sử đã từng sinh con bị DTBS cũng là một trong số những vấn đề
quan trọng có ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện các hoạt động dự phòng Với kết quả nghiên cứu của Lê Phạm Sỹ Cường (2016) thì thai phụ có con bị dị tật bẩm sinh có khả năng ra quyết định thực hiện chẩn đoán trước sinh cao gấp 8 lần so với thai phụ không có con sinh ra bị dị tật bẩm sinh[6] Qua một số nghiên cứu cho thấy những phụ nữ đã từng sinh con bị DTBS thì họ sẽ có kiến thức và thái độ phòng bệnh tích cực hơn nhóm đối tượng là người dân trong cộng đồng Vì với những người có con bị DTBS họ đã từng chịu những áp lực về kinh tế cũng như áp lực về tâm lý khi phải chăm sóc những đứa trẻ bị dị tật nên họ sẽ có thái độ tích cực hơn trong việc phòng và điều trị bệnh
1.5.2 Yếu tố hỗ trợ cộng đồng
Thực tế cho thấy dị tật bẩm sinh để lại một gánh nặng rất lớn không chỉ cho gia đình
mà còn cho cả xã hội Ở những nơi, việc thực hiện sàng lọc chẩn đoán trước sinh đã đi vào thường qui của bà mẹ mang thai thì việc tuân thủ để tham gia chẩn đoán trước sinh sẽ trở nên dễ dàng hơn Còn ở những nơi mà dịch vụ chẩn đoán trước sinh chưa có hoặc chưa phát triển thì bà mẹ thường có tâm lý không muốn tham gia vì họ sợ ảnh hưởng đến thai nhi [6] Do vậy, việc hỗ trợ cộng đồng có ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện chẩn đoán trước sinh và sơ sinh của bà mẹ Một khi chúng ta tuyên truyền tốt về vai trò và tầm quan trọng của sàng lọc và chẩn đoán trước sinh thì sẽ tạo môi trường thuận lợi để mọi người
Trang 24hiểu rõ về lợi ích của sàng lọc và chẩn đoán trước sinh và như vậy họ dễ dàng chấp nhận
dịch vụ này [6]
Tại thành phố Buôn Ma Thuột, các hoạt động truyền thông về đề án SLTS và SLSS tới người dân tại cộng đồng còn hạn chế do hàng năm kinh phí được phân bổ quá ít Đội ngũ Cộng tác viên (CTV) dân số thời gian qua thường xuyên thay đổi nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác truyền thông, cung cấp thông tin đến người dân trên địa bàn Vì vậy, người dânkhông hiểu được tầm quan trọng của việc dự phòng DTBS, từ đó dẫn đến việc người dân không nhiệt tình ủng hộ các hoạt động về dự phòng DTBS, đặc biệt là họ không muốn tham gia SLTS và SLSS vì sợ ảnh hưởng đến thai nhi [18]
1.5.3 Yếu tố dịch vụ y tế
Để thu hút được phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ tiếp cận với dịch vụ về chăm sóc sức khỏe sinh sản một cách dễ dàng thì đòi hỏi việc cung cấp dịch vụ có chất lượng đóng vai trò quan trọng hàng đầu, nhất là dịch vụ về dự phòng dị tật bẩm sinh Tại thành phố Buôn
Ma Thuột,đề án sàng lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh đã được triển khai trên toàn thành phố từ năm 2012 đến nay nhưng dịch vụ về SLTS và SLSS chưa sẵn có, mớicó 2 địa điểm: Bệnh viện Đa khoa thành phố và Bệnh viện Đa khoa Thiện Hạnh triển khai thực hiện
Bệnh viện Đa khoa thành phố Buôn Ma Thuột mới chỉ thực hiện dịch vụ SLTS và SLSS cho những đối tượng thuộc diện ưu tiên miễn phí là hộ nghèo và cận nghèo nên những đối tượng có thu nhập trung bình vẫn chưa được tiếp cận với dịch vụ này
Công tác tư vấn trước sàng lọc cho thai phụ chưa được tốt nên khi thực hiện lấy máu nhiều thai phụ và người nhà không chịu phối hợp thực hiện, việc lấy máu làm xét nghiệm của một số cán bộ y tế (CBYT)chưa đúng theo yêu cầu dẫn đến việc một số thai phụ và trẻ sơ sinh phải thực hiện lấy máu và làm xét nghiệm lại đã làm cho người dân lo lắng, từ đó họ không tin tưởng vào trình độ chuyên môn của đội ngũ y bác sĩ Chính vì thế, hàng năm trên địa bàn thành phố các chỉ tiêu về SLTS và SLSS đều đạt rất thấp [18]
1.6 Giới thiệu một số đặc điểm về địa bàn nghiên cứu
Buôn Ma Thuột là thành phố tỉnh lỵ của Đắk Lắk có diện tích tự nhiên 37.718 ha Dân số trung bình năm 2018 là 370.191 người, trong đó phụ nữ 15-49 tuổi là 106.995 người Thành phố có 13 phường và 8 xã với 248 thôn, buôn, tổ dân phố, người dân tộc thiểu số (DTTS) chiếm khoảng 15% dân số (trong đó có 12/21 xã, phường có buôn đồng bào DTTS, gồm 5 phường và 7 xã) với 04 tôn giáo chính là: Phật giáo, Thiên Chúa giáo, đạo tin lành, đạo Cao đài
Cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, năm
Trang 252019 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 1,34% Trong những năm gần đây, các chế độ chính sách về công tác dân số không còn được hỗ trợ rộng rãi cho các đối tượng trên địa bàn mà chỉ tập trung ưu tiên miễn phí cho các đối tượng là hộ nghèo và hộ cận nghèo, trong đó có dịch vụ SLTS và SLSS.Hiện nay, tại thành phố Buôn Ma Thuột Bệnh viện Đa khoa thành phố mới triển khai SLTS và SLSS cho những đối tượng ưu tiên miễn phí là hộ nghèo và cận nghèo do thành phố chưa ban hành được bảng giá thu phí dịch vụ nên những trường hợp sàng lọc thu phí phải đến cơ sở y tế tư nhân để thực hiện Chi phí dịch vụ SLTS và SLSS khách hàng phải chi trả theo quy định giá dịch vụ của Bệnh viện tư nhân nên giá cả cũng cao Do đó, những đối tượng có thu nhập trung bình vẫn chưa được tiếp cận với dịch vụ sàng lọc nhiều
Theo số liệuthống kê của Trung tâm DS-KHHGĐ thành phố Buôn Ma Thuột, qua 7 năm triển khai Đề án SLTS và SLSStoàn thành phố đãcó 6.216/41.652 PN mang thai được SLTS, trong đó phát hiện 93 trường hợp mắc các DTBS chiếm tỷ lệ 1,49% và 9.665/34.650 trẻ mới sinh được SLSS đã phát hiện 82 trẻ bị mắc bệnh (02 trẻ bị suy giáp trạng bẩm sinh
và 74 trẻ bị thiếu men G6PD) chiếm tỷ lệ 0,84% [18] Vì vậy, việc tuyên truyền cho người dân trên địa bàn hiểu được tầm quan trọng của việc dự phòngdị tật bẩm sinh là việc làm hết sức cần thiết nhằm tránh sinh ra những đứa trẻ bị dị tật
tế, gia đình có người bị dị tật); Hỗ trợ cộng đồng (các kênh thông tin PN nhận được, các chính sách của Nhà nước về SLTT và SLSS) và phía dịch vụ y tế (tính sẵn có, khả năng tiếp cận, chất lượng dịch vụ…)
Tuy nhiên, trong khuôn khổ của nghiên cứu này chúng tôi chỉ đề cập tới những yếu
tố ảnh hưởng từ phía người sử dụng dịch vụ, bao gồm: Các yếu tố thuộc về cá nhân vàcác yếu tố về gia đình
Kiến thức của phụ nữgồm: Hiểu biết về dị tật bẩm sinh, yếu tố nguy cơ, yếu tố dự phòng dị tật bẩm sinh và hiểu biết về sàng lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh
Thái độ của phụ nữ gồm: Quan điểm về dự phòng DTBS, nhận định về nguy cơ cao sinh con bị DTBS ở phụ nữ lớn tuổi, quan điểm về sự cần thiết làm SLTS và SLSS nói chung và nhận định về sự cần thiết triển khai các dịch vụ sàng lọc tại Bệnh viện công lập
Trang 26THÁI ĐỘ DỰ PHÒNG DTBS
- Nguy cơ gây DTBS
- Tầm quan trọng của việc dự phòng DTBS
- Sự cần thiết của việc tham gia SLTS và SLSS
+ Yếu tố thay đổi được: Môi trường,
chế độ ăn uống, nhiễm vi khuẩn, virut,
tiêm phòng một số vaccine, SLTS và
SLSS
YẾU TÔ CÁ NHÂN
Tuổi, trình độ văn hóa, nghề
nghiệp, dân tộc, số con hiện có,
Trang 27Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) là những phụ nữ từ 20-35 tuổi sinh sống trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột Là đối tượng ưu tiên can thiệp của chương trình dân số
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
- Phụ nữ từ 20-35 tuổi đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Những người mắc bệnh câm, điếc, không có khả năng trả lời, mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh rối loạn trí nhớ
2.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
- Thời gian: từ tháng 03/2019 đến tháng 7/2019
- Địa điểm: 2/21 phường xã thuộc thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk:Phường Tân Tiến và Xã Hòa Thuận là 2 địa bàn có số trẻ bị dị tật bẩm sinh nhiều nhất so với các phường, xã khác
2.3 THIẾT KẾ
Sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang (cross – sectional survery)
2.4 CỠ MẪU VÀ PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU
Cỡ mẫu:
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho một tỷ lệ
Trong đó:
n: Cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu
p: tỷ lệ phụ nữ có kiến thức đúng về dự phòng DTBS, theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Túy Hà, tỷ lệ phụ nữcó kiến thức đúng về dự phòng DTBS là 55.3% nên chúng tôi chọn p = 0,55 [14]
d: Là sai số tuyệt đối cho phép giữa mẫu và quần thể nghiên cứu, trong nghiên cứu này chúng tôi chọn d = 0,05
Trang 28Z: Hệ số tin cậy, với mức tin cậy 95%, kiểm định 2 phía, Z(1-α/2) = 1,96 Thay vào công thức, ta được n = 380 Vì đối tượng nghiên cứu của chúng tôi đã có danh sách quản lý cụ thể, không sợ bị thiếu mẫu nên chúng tôi không cần điều tra thêm số mẫu dự phòng Vì vậy, tổng số phụ nữ điều tra trong nghiên cứu của chúng tôi là 380người
Chọn mẫu:
- Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống
- Đơn vị lấy mẫu: Phụ nữ từ 20-35 tuổi trong danh sách tại Phường Tân Tiến và Xã Hòa Thuận được lập sẵn
- Các bước chọn mẫu:
+ Bước 1:Lập khung mẫu danh sách phụ nữ từ 20-35 tuổi tại Phường Tân Tiến và
Xã Hòa Thuận có đánh số thứ tự theo từng phường, xã với tổng số 7.885 người
+ Bước 2:Tính hộ số k với cỡ mẫu 380 người Hệ số k = 7.855/380 = 20
+ Bước 3: Từ danh sách khung mẫu, ĐTNC đầu tiên được chọn ngẫu nhiên có số
thứ tự là 1, các đối tượng được chọn tiếp theo có khoảng cách là 20 cho đến khi đủ 380 người
Đối với phụ nữ từ chối tham gia nghiên cứu, chúng tôi sẽ chọn đối tượng kế tiếp trong danh sách Những phụ nữ đi vắng, nhóm nghiên cứu sẽ đến nhà lần thứ 2 Nếu đến lần thứ 2 mà vẫn không tiếp cận được chúng tôi cũng sẽ chọn đối tượng kế tiếp trong danh sách chọn mẫu
Trên thực tế chúng tôi đã phỏng vấn đủ 380 phụ nữ để đưa vào nghiên cứu
2.5 CÔNG CỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu
Phiếu phỏng vấn có cấu trúc (phụ lục 2): Phiếu được xây dựng theo tổng quan tài liệu, mục tiêu nghiên cứu và tham khảo các tài liệu có liên quan(Hướng dẫn của Bộ Y tế về Chăm sóc sức khoẻ sinh sản và Sàng lọc trước sinh [1],[2]; Tài Liệu tập huấn sàng lọc và chẩn đoán trước sinh của tác giả Hoàng Thị Thủy Tiên [4]; Một số nhiễm trùng ảnh hưởng đến thai kỳ của PGS.Ts Nguyễn Viết Nhân, Trường Đại học Y dược Huế năm 2010[10]
Nội dung bộ câu hỏi gồm 3 phần chính:
+ Thông tin cá nhân của ĐTNC;
+ Kiến thức về dự phòng DTBS của ĐTNC
+ Thái độ về dự phòng DTBS của ĐTNC
Trang 292.5.2 Phương pháp và qui trình thu thập số liệu
- Chọn 2 Điều tra viên (ĐTV) là 2 Điều dưỡng viên trung cấp của Trạm y tế phường Tân Tiến và xã Hòa Thuận (mỗi Trạm y tế chọn 1 người); 2 giám sát viên (GSV) là cán bộ của Trung tâm DS-KHHGĐthành phố Buôn Ma Thuộtcó trình độ cử nhân sản phụ khoa Người dẫn đường là Cộng tác viên (CTV) dân số của thôn, Tổ dân phố điều tra
- Trước khi điều tra, chúng tôi tổ chức tập huấn cho ĐTV và GSV đồng thời tiến hành điều tra thử 10 phiếu tại phường Tân Thành (giáp ranh với phường Tân Tiến có điều kiện kinh tế - xã hội tương tự với địa bàn nghiên cứu) sau đó chỉnh sửa một số nội dung cho phù hợp
- Tiến hành thu thập thông tin:Quá trình điều tra được chia thành 2 nhóm, mỗi nhóm gồm: 01 GSV, 01 ĐTV và 01 CTV
+ Các nhóm bắt đầuđiều tra vào cùng thời gian, tìm đến hộ gia đình đầu tiên trong khung mẫu đã được xác định cho mỗi phường, xã tự giới thiệu về bản thân cho gia đình biết để hợp tác
+ ĐTV đọc "Trang thông tin giới thiệu nghiên cứu" và "Phiếu chấp thuận tự nguyện tham gia nghiên cứu" cho phụ nữ tham gia nghiên cứu nghe, đề nghị họ ký vào Phiếu chấp thuận nếu họ đồng ý tham gia
+ ĐTV trực tiếp phỏng vấn ĐTNC và điền các thông tin vào phiếu phỏng vấn Điều tra viên chỉ giải thích thêm khi đối tượng hỏi về nội dung câu hỏi, không gợi ý cách trả lời
+ Giám sát viên kiểm tra thông tin các phiếu phỏng vấn ngay sau khi ĐTV vừa hoàn thành và yêu cầu ĐTV bổ sung những thông tin còn thiếu hoặc điều chỉnh những thông tin chưa chính xác ngay tại hộ gia đình
+ Nghiên cứu viên (NCV) tham gia cùng ĐTV và GSV để hỗ trợ trong quá trình điều tra tại 2 địa bàn nghiên cứu Đối với phường Tân Tiến là địa bàn phường của trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột, việc tiếp cận phụ nữ tại nhà có khó khăn hơn do đối tượng
là cán bộ công chức bận đi làm nên hàng tuần, nhóm nghiên cứu phối hợp với Trạm Y tế rà soát những phụ nữ thuộc ĐTNC có con trong danh sách tiêm chủng mở rộng và tiến hành phỏng vấn họ ngay tại Trạm y tế Tổng số có 15 phụ nữ có con nhỏ được phỏng vấn ngay tại Trạm y tế
Sau khi hoàn thành toàn bộ 380 phiếu điều tra, ĐTV nộp lại phiếu phỏng vấn có đầy
đủ chữ ký của ĐTV và GSV cho NCV Nghiên cứu viên kiểm tra đầy đủ các thông tin ghi trên từng phiếu Tuy nhiên, có 3 phiếu bị thiếu thông tin, NCV đã yêu cầu ĐTV và GSV đến nhà và gọi điện thoại cho đối tượng để bổ sung đầy đủ thông tin vào phiếu điều tra Kết
Trang 30quả nhóm nghiên cứuđã thu thập được đầy đủ 380 phiếu điều tra Trước khi nhập các thông tin vào phầnmềm nhập liệu (Epidata 3.1) nhóm NC đã tiến hành ghi mã số phiếu từ 01 đến hết số lượng phiếu thu được cho mỗi xã, phường
2.6 XỬ LÝ VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
Sau khi số liệu được thu thập, nhóm nghiên cứukiểm tra đầy đủ thông tin trên các phiếu, mã hóa, làm sạch, nhập số liệu và phân tích bằng phần mềm SPSS 22.0
Kết quả phân tích theo:
- Mô tả đặc điểm nhân khẩu, yếu tố gia đình, thông tin ĐTNC tiếp cận, kiến thức và thái độ dự phòng DTBS của ĐTNC
- Dùng kiểm định p, OR, CI 95% để xácđịnh các mối liên quan, mức độ liên quan đến kiến thức, thái độ dự phòng DTBS của ĐTNC
- Kết quả nghiên cứu đã được chúng tôi trình bày dưới hình thức bảng, biểu đồ và được phân tích theo các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra
2.7 CÁC BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU(Phụ lục 4)
- Biến độc lập: gồm 04 nhóm biến liên quan: Yếu tố cá nhân (Tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, số lần mang thai…); Yếu tố gia đình (kinh tế hộ gia đình, tiền sử gia đình); Yếu tố dịch vụ y tế ( tính sẵn có, khả năng tiếp cận, chất lượng dịch vụ y tế) và Yếu
tố cộng đồng xã hội (các kênh thông tin, chính sách hỗ trợ của Nhà nước về SLTS và SLSS)
- Biến phụ thuộc: Kiến thức và thái độ của phụ nữ về dự phòng DTBS
2.8 TIÊU CHUẨN ĐO LƯỜNG, PHÂN LOẠI VÀ ĐÁNH GIÁ
2.8.1 Phân loại một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Điều kiện kinh tế: áp dụng chuẩn hộ nghèo theo quy định tại Quyết định số
59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 19/11/2015, ban hành chuẩn nghèo tiếp
cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 [17], cụ thể:
+ Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000
đồng trở xuống Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 900.000 đồng/người/tháng trở xuống
+ Hộ có mức sống trungbình ở nông thôn là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng.Hộ có mức sống trungbình ở thành thị là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.300.000 đồng đến 1.950.000 đồng
Trang 312.8.2 Đánh giá kiến thức của phụ nữ từ 20-35 tuổi về dự phòng dị tật bẩm sinh
Dựa vào kết quả tổng hợp được mã hóa theo bảng câu hỏi với 23 câu hỏi, trong đó phần kiến thức về DTBS gồm 3 câu hỏi, kiến thức về các yếu tố nguy cơ gây DTBS gồm 6 câu hỏi, kiến thức dự phòng DTBS gồm 3 câu hỏi và kiến thức về SLTS và SLSS gồm 11 câu hỏi Kiến thức chung là tổng điểm kiến thức của tất cả các nội dung trên với điểm tối
đa là: 46 điểm Điểm cắt 50% được chọn là đạt, có nghĩa là khi điểm kiến thức đạt ≥ 23 điểm và Kiến thức chưa đạt nếu số điểm < 23 điểm [6] (Tiêu chí tính điểm được mô tả chi tiết ở Phụ lục 3)
2.8.3 Đánh giá thái độ của phụ nữ từ 20-35 tuổi về dự phòng dị tật bẩm sinh
-Đánh giá thái độ dự phòng DTBS được thực hiện bằng phương pháp cho điểm theo thang điểm, mỗi câu hỏi được đánh giá theo thang điểm Likert 5 mức: 1- Hoàn toàn không đồng ý, 2 - Không đồng ý, 3 - Không có ý kiến, 4 - Đồng ý, 5 - Hoàn toàn đồng ý
- Thái độ dự phòng DTBS được đánh giá qua 4 nội dung gồm 28 câu hỏi Điểm cắt để đánh giá thái độ tích cực trong nghiên cứu này là 50% số câu đạt từ mức 4 trở lên Tổng số câu hỏi cho phần đánh giá thái độ là 28 câu, nghĩa là phân loại thái độ tích cực khi số câu được chọn từ mức 4 trở lên đạt từ 14 câu và thái độ chưa tích cực khi số câu được chọn từ mức 4 trở lên đạt dưới 14 câu [6] (Tiêu chí tính điểm chi tiết được mô tả ở Phụ lục 3)
2.9 ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện sau khi Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y tế công cộng xét duyệt và thông qua theo Quyết định số 245/2019/YTCC-HD3, ngày 24/04/2019
Nghiên cứu được thực hiện có sự đồng ý của Lãnh đạo Trung tâm DS-KHHGĐ thành phố, sự phối hợp của Trung tâm Y tế thành phố, Trạm Y tế và đặc biệt là sự tham gia của các ĐTV, GSV và CTV dân số
Thực hiện nghiên cứu khi đã có sự đồng ý của đối tượng và không làm tổn hại đến thể chất cũng như tinh thần của ĐTNC Đồng thời ĐTNC cũng được thông báo trước và giải thích đầy đủ về nội dung cũng như mục đích nghiên cứu một cách rõ ràng
Những thông tin về người tham gia nghiên cứu được giữ bí mật theo đúng quy định trong nghiên cứu Các số liệu thu được chỉ phục vụ cho mục đích học tập và nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cuối cùng được phản hồi cho UBND thành phố, Trung tâm Y tế thành phố Buôn Ma Thuột, UBND và Trạm Y tế 2 đơn vị phường Tân Tiến vàxã Hòa Thuận để
có giải pháp can thiệp kịp thời
Trang 322.10 HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU, SAI SỐ VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC
2.10.1 Hạn chế của nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, địa bàn chúng tôi chọn chỉ có 2/21 phường, xã nên tính khái quát chưa cao và với khả năng hạn chế tác giả chưa phân tích đa biến hồi quy logistics nên không kiểm soát được các yếu tố nhiễu trong các mối liên quan
Hiện tại ở Việt Nam có rất ít nghiên cứu về kiến thức, thái độ về dự phòng dị tật bẩm sinh được công bố, vì thế việc so sánh, bàn luận còn hạn chế Lĩnh vực nghiên cứu chưa có các qui trình chuẩn về cách đánh giá nên các tiêu chí đo lường của đề tài trong một
cỡ mẫu nhất định cho kết quả ban đầu tham khảo trong địa bàn nghiên cứu
2.10.2 Cách khắc phục các sai số
Trước khi tiến hành điều tra, nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm bộ công cụ điều tra để
từ đó xây dựng bộ câuhỏi dễ hiểu,đồng thời lựa chọn những cán bộ điều tra có kỹ năng vàkinh nghiệm
Tập huấn kỹ cho các ĐTV và GSV, thống nhất cách thu thập số liệu và kỹ năng phỏng vấn, đưa ra nhiều cách hỏi khác nhau để có được thông tin chính xác
Các phiếu điều tra được kiểm tra và chỉnh lý ngay trong ngày Số liệu được làm sạch trước và sau khi nhập vào phần mềm
Trang 33Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1.1 Thông tin chung
Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Kết quả bảng 3.1 cho thấy có 47,1% số phụ nữthuộc nhóm tuổi từ 30-35, nhómphụ
nữ từ 25-29 tuổi chiếm 35,0% Hầu hết các đối tượng là người dân tộc Kinh (93,2%) Có 41,1% số phụ nữ có trình độ học vấn là Trung cấp/Cao đẳng, tiếp đến là THPT (28,4%), Đại học (26,3%) Chỉ có 4,2% số phụ nữ có trình độ văn hoá THCS và Tiểu học.Số phụ nữ làm nghề tự do chiếm tỷ lệ cao nhất (34%), tiếp đến là cán bộ nhà nước (24,7%), kinh
Trang 34doanh(17,9%) và làm rẫy (12,4%) Hơn một nửa số hộ gia đình (59,6%) có kinh tế trung bình và 39,2% số hộ có kinh tế khá trở lên Chỉ có 6 hộ gia đình nghèo
Tình trạng mang thai Đang mang thai 54 14,2
Số liệu bảng 3.2 cho thấy đối tượng nghiên cứu đã có chồng chiếm đa số (70,5%);
Số phụ nữ hiện đang mang thai là 14,2% Số phụ nữ mang thai 2 lần chiếm tỷ lệ cao nhất 40,3%; Phụ nữ có 2 con chiếm tỷ lệ 38,4%, có 1 con là 24,7% Không có bà mẹ nào có tiền sử sinh con bị dị tật Có 3 gia đình (0,8%)có người bị dị tật bẩm sinh
3.1.3 Nguồn thông tin về dị tật bẩm sinh mà phụ nữ nhận được
Bảng 3.3 Nguồn thông tin về dị tật bẩm sinh mà phụ nữ nhận được
Nguồn cung cấp thông tin về DTBS Tần số
(n=380)
Tỷ lệ (%)
Trang 353.2 KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VỀ DỰ PHÕNG DỊ TẬT BẨM SINH
3.2.1 Kiến thức về dị tật bẩm sinh, nguy cơ và dự phòng
Về nguyên nhân gây dị tật bẩm sinh, có 50,8% phụ nữ biết nguyên nhân gây dị tật bẩm sinh ở thai nhi là do tiếp xúc với môi trường độc hại, 48,4% biết nguyên nhân do di
Trang 36truyền và 16,1% phụ nữ biết dị tật bẩm sinh là do yếu tố kết hợp gồm di truyền và môi trường
Bảng 3.5: Biết yếu tố nguy cơ gây sinh con bị dị tật bẩm sinh
(n=380)
Tỷ lệ (%)
Nguyên nhân từ gia đình bên bố có
người bị DTBS(bố, mẹ, anh chi em
ruột của bố)
179 (47,1) 77 (20,3) 124 (32,6)
Nguyên nhân từ mẹ bị DTBS 211 (55,5) 55 (14,5) 114 (30,0)
Nguyên nhân từ gia đình bên mẹ có
người bị DTBS (bố, mẹ, anh chi em
ruột của mẹ)
197 (51,8) 64 (16,8) 119 (31,3)
Kết quả từ bảng 3.6 cho thấy tỷ lệ phụ nữ biết khả năng di truyền dị tật bẩm sinh từ
mẹ là cao nhất (55,5%), tiếp đến là di truyền từ gia đình bên mẹ (51,8%) Tỷ lệ biết khả
Trang 37năng di truyền do bố bị dị tật bẩm sinhvà gia đình bên bố có người bị dị tật bẩm sinhlà 47,1%
Bảng 3.7: Biết khả năng phòng tránh DTBS
DTBS có thể phòng tránh Tần số
(n=380)
Tỷ lệ (%)
Kết quả bảng 3.7 cho thấy 67,9% số phụ nữ trong nghiên cứu biết dị tật bẩm sinh có khả năng phòng tránh được và có tới 32,1% phụ nữ cho rằng dị tật bẩm sinh không thể phòng tránh được
Bảng 3.8: Biết cần làm gì để phòng DTBS khi chuẩn bị mang thai
(n=380)
Tỷ lệ (%)
Sử dụng muối iod, kiêng rượu, không
75,5
Kiểm soát tốt bệnh: béo phì, đái đường 201 52,9
Tiêm chủng một số loại vaccine: cúm,
82,1
Số liệu ở bảng 3.8 cho thấy tỷ lệ phụ nữbiết một số biện pháp dự phòng DTBS khi chuẩn bị mang thai Tỷ lệ phụ nữbiết về tiêm chủng vaccine: cúm, thủy đậu, Rubella là cao nhất (82,1%); tiếp đến là bổ sung acid folic (79,2%); sử dụng muối iod, kiêng rượu, không hút thuốc (75,5%) và biết kiểm soát tốt bệnh: béo phì, đái đường (52,9%) Vẫn còn 5% số
bà mẹ không biết về dự phòng dị tật bẩm sinh
Bảng 3.9: Kiến thức về sàng lọc trước sinh
(n=380)
Tỷ lệ (%)
Kiến thức về các phương tiện sàng lọc trước sinh
Trang 38Xét nghiệm mẫu máu 25 6,6
Kiến thức về thời điểm sàng lọc trước sinh đúng
Khi thai được 11 tuần - 13 tuần 6 ngày 116 30,5
Kết quả bảng 3.9 cho thấy, tỷ lệ phụ nữ biết đúng về thời điểm sàng lọc trước sinh biện pháp được tiến hành trong thời gian mang thai (87,4%) Tỷ lệ phụ nữ biết để sàng lọc trước sinh thai phụ cần được làm cả siêu âm sàng lọc và xét nghiệm mẫu máu (70,8%), chỉ biết siêu âm sàng lọc (9,7%) và chỉ biết xét nghiệm mẫu máu (6,6%)
Tỷ lệ phụ nữ biết thời điểm thực hiện sàng lọc trước sinh trong thai kỳ là khi thai được 11 tuần đến 13 tuần 6 ngày (30,5%), khi thai được 15 tuần đến 22 tuần (25,0%), biết được sàng lọc trước sinh cần làm trong cả 2 thời điểm trên (23,4%)
Tỷ lệ phụ nữ biết đúng nơi cótriển khaisàng lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh là
Bệnh viện Đa khoa Thiện Hạnh và Bệnh viện Đa khoa Thành phố là 76,6%
Bảng 3.10 Kiến thức về sàng lọc sơ sinh
(n=380)
Tỷ lệ (%) Hiểu biết về sàng lọc sơ sinh
Là biện pháp phát hiện bất thường bệnh
bẩm sinh của trẻ sơ sinh
Kiến thức về thời gian tốt nhất để làm SLSS cho trẻ sơ sinh
Trang 39Tỷ lệ PN dự định sẽ làm SLSS cho bé trong lần mang thai tới
Qua bảng 3.10 cho thấy tỷ lệ phụ nữ biết sàng lọc sơ sinh là biện pháp phát hiện bất thường bệnh bẩm sinh của trẻ sơ sinh (85,3%).Tỷ lệ phụ nữ biết về thời gian tốt nhất để làm sàng lọc sơ sinh cho trẻ là sau sinh từ 48-72 giờ là 47,6% và ngay sau khi sinh là 37,9%
Có 10,5% số phụ nữ không biết về thời gian để làm sàng lọc sơ sinh tốt nhất cho trẻ
và 3,9% phụ nữ cho rằng không cần làm sàng lọc sơ sinh
Tỷ lệ phụ nữ biết sàng lọc sơ sinh có thể phát hiện được bệnh suy giáp bẩm sinh là 75%, bệnh thiếu men G6PD là 53,9% và có tới 28,4% phụ nữ không biết sàng lọc sơ sinh phát hiện được bệnh nào
Có 89,5% số phụ nữ dự định sẽ làm sàng lọc DTBS cho con trong lần sinh con lần sau
Đánh giá kiến thức chung về dự phòng dị tật bẩm sinh
Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ đạt kiến thức tổng hợp về dự phòng dị tật bẩm sinh
Tỷ lệ phụ nữ đạt kiến thức về dự phòng dị tật bẩm sinh chiếm 64,5% và không đạt chiếm 35,5%
Trang 40Đồng ý về nguyên nhân và hậu quả của DTBS
Qua bảng 3.11 cho thấy thái độ biểu hiện sự đồng ý về nguyên nhân và hậu quả của
dị tật bẩm sinhlà 60,5%;Đồng ý về những yếu tố nguy cơ gây dị tật bẩm sinh chiếm tỷ lệ 83,2% và đồng ý về dự phòng dị tật bẩm sinh chiếm tỷ lệ 90% Thái độ đồng ývề sàng lọc trước sinh và cho con tham gia sàng lọc sơ sinhlà 86,8%
Tổng hợp chung về thái độ về dự phòng dị tật bẩm sinh của phụ nữ trong nghiên cứu được trình bày theo phân loại tích cực (đồng ý với các ý kiến đúng) và không tích cực