1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Khảo sát sự lưu hành của vi khuẩn Pasteurella multocida trên bò khỏe tại Châu Thành và thử tính mẫn cảm với kháng sinh của chủng vi khuẩn phân lập được

15 85 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài các đặc điểm dịch tễ, nhiều tác giả cũng đã đi sâu nghiên cứu đặc tính sinh vật hoá học của vi khuẩn Pasteurella multocida, phương pháp chẩn đoán, phân lập và chế tạo vắc–xin phò[r]

Trang 1

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2

2.1 Tình hình nghiên cứu bệnh tụ huyết trùng tại Việt Nam 2

2.2 Đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng 3

2.1.1 Quá trình sinh dịch 3

2.2.2 Tuổi mắc bệnh 5

2.2.3 Mùa vụ phát bệnh và tần suất xuất hiện dịch 5

2.2.4 Vùng phát bệnh 6

2.2.5 Hiện tượng mang vi khuẩn Pasteurella multocida ở đường hô hấp trên của động vật khoẻ 7

2.3 Vi khuẩn Pasteurella multocida 8

2.3.1 .Đặc tính sinh vật học của vi khuẩn Pasteurella multocida 8

2.3.2 Đặc tính hình thái của vi khuẩn Pasteurella multocida 8

2.3.3 Đặc tính nuôi cấy 9

2.2.4 Đặc tính sinh hoá của vi khuẩn Pasteurella multocida 11

2.3.5 Cấu trúc kháng nguyên của vi khuẩn Pasteurella multocida 14

2.3.6 Sức đề kháng 16

2.4.Bệnh tụ huyết trùng do vi khuẩn Pasteurella multocida gây ra 16

2.4.1.Biểu hiện đặc trưng của bò mắc bệnh tụ huyết trùng 16

2.4.2.Triệu chứng của trâu, bò mắc bệnh tụ huyết trùng 16

2.4.3.Bệnh tích của trâu, bò mắc bệnh tụ huyết trùng 17

2.4.4.Chẩn đoán bệnh 18

2.4.5.Phòng và trị bệnh 19

2.5 Hiện tượng kháng kháng sinh của vi khuẩn 20

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

Trang 2

3.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm 24

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24

3.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24

3.2 Nội dung nghiên cứu 24

3.2.1 Điều tra một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng tại huyện Châu Thành 24

3.2.2 Kiểm tra sự hiện diện của vi khuẩn Pasteurella multocida trong dịch mũi bò khỏe và làm kháng sinh đồ 24

3.3 Vật liệu dùng cho nghiên cứu 25

3.3.1 Dụng cụ 25

3.3.2 Môi trường và hóa chất 25

3.4 Phương pháp nghiên cứu: 25

3.4.1 Phương pháp lấy mẫu 25

3.4.2 Phương pháp nuối cấy và phân lập vi khuẩn 25

3.4.3 Phương pháp kiểm tra hình thái vi khuẩn băng nhuộm Gram 26

3.4.4 Phương pháp xác định một số đặc tính sinh hóa 26

3.4.5 Phương pháp kiểm tra khả năng mẫn cảm của vi khuẩn với kháng sinh 28

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 29

4.1 Kết quả điều tra tinh hình chăn nuôi bò tại 3 xã 29

4.1.1 Số lượng bò tại huyện Châu Thành 29

4.1.2 Loại hình chăn nuôi bò 30

4.1.3 Giồng bò 30

4.1.4 Tình hình sử dụng thức ăn và nước uống trong chăn nuôi 31

4.2 Kết quả khảo sát triệu chứng lâm sang của bệnh Tụ huyết trùng trên bò tại Châu Thành 32

4.3 Kết quả điều tra tình hình phòng bệnh ở 3 xã 34

4.4 Kết quả giám định một số đặc tính sinh vật – hoá học của các chủng vi khuẩn Pasteurella multocida phân lập được 35

4.5 Kết quả xác định tỷ lệ nhiễm vi khuẩn Pasteurella multocida từ mẫu dịch mũi bò khỏe 37

Trang 3

4.6 Kết quả kiểm tra tính mẫn cảm của vi khuẩn Pasteurella multocida phân lập được với

một số loại kháng sinh 40

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 43

5.1 Kết luận 43

5.2 Đề nghị 43

PHỤ LỤC 1: PHIẾU KHẢO SÁT 44

PHỤ LỤC 2: MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG ĐỀ TÀI 47

PHỤ LỤC 3: PHỤ LỤC THỐNG KÊ 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

I – Tài liệu tiếng Việt 62

II – Tài liệu tiếng anh 64

Trang 4

Mục lục hình

Hình 2 1: Vi Khuẩn Pasteurella multocida dưới kính hiển vi điện tử 9

Hình 4 1: Tỷ lệ nhiễm Pasteurella multocida tại 3 xã 38

Hình 4 2: So sanh tỷ lệ nhiễm vi khuẩn Pasteurella multocida và tỷ lệ tiêm phòng 38

Hình 4 3: Kháng sinh đồ được thực hiện để tim kháng sinh kháng khuẩn 40

Hình 1: Vi khuẩn Pasteurella multocida mọc trên thạch máu 47

Hình 2: Phản ứng Indole test dương tính 47

Hình 3: Oxydase test dương tính 47

Hình 4: Catalase test dương tính 48

Hình 5: Phản ứng Citrate âm tính 48

Hình 6: Phản ứng trong môi trường Triple Sugar Iron Agar 48

Hình 7: Bò con nghi nhiễm tụ huyết trùng 49

Trang 5

Mục lục bảng

Bảng 2 1: Phân biệt các loài Pasteurella với nhau 12

Bảng 2 2: Phân biệt các loài vi khuẩn bằng thử sinh hóa 13

Bảng 4 1: Số lượng bò tại huyện Châu Thành 29

Bảng 4 2: Loại hình chăn nuôi bò 30

Bảng 4 3: Giống bò được nuôi tại 3 xã 30

Bảng 4 4: Thức ăn và nước uống 31

Bảng 4 5: Kết quả điều tra triệu chứng lâm sàn của bệnh tụ huyết trùng trên bò tại 3 xã 33

Bảng 4 6: Tình hình phòng bệnh tại 3 xã 34

Bảng 4 7: Kết quả thử sinh hóa vi khuẩn phân lập được 36

Bảng 4 8: Tỷ lệ nhiễm vi khuẩn Pasteurella multocida trên bò khỏe 37

Bảng 4 9: Kết quả thử kháng sinh 41

Trang 6

GVHD: Nguyễn Văn Tùng Lâm 1 SVTH: Nguyễn Thị Thảo Sương

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề

Chăn nuôi bò trên địa bàn tỉnh Trà Vinh cũng phát triển theo từng năm nhờ vào được sự quan tâm dầu tư của nhà nước Cụ thể là, tình hình chăn nuôi bò năm 2014 trên địa bàn toàn tỉnh là 151.294 con, năm 2015 là 176.961 con, năm 2016 là 206.165 con, 7 tháng đầu năm 2017, số lượng bò là 198.650 con, có giảm nhưng không đáng kể (Cục thống kê tỉnh Trà Vinh, 2017)

Là một tỉnh ven biển Đồng bằng sông Cửu Long, Trà Vinh có nhiều lợi thế trong phát triển chăn nuôi, nhất là chăn nuôi bò Trong đó, Châu Thành là huyện tiêu biểu để phát triển chăn nuôi bò vì có lợi thế diện tích đất nông nghiệp lớn, thuận lợi cho việc trồng trọt và chăn nuôi Nhiều hộ dân còn coi con bò là vật nuôi chủ lực của gia đình, giải quyết được việc làm trong những lúc nông nhàn

Để phát triển ngành chăn nuôi một cách toàn diện, ngoài công tác giống thì việc kiểm soát tốt dịch bệnh cũng là một yếu tố rất quan trọng Hiện nay tinh hình dịch bệnh diễn ra phức tạp trong đó bệnh tụ huyết trùng là một trong những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, hàng năm gây chết hàng loạt gia súc, gia cầm làm thiệt hại đáng kể cho nền kinh tế nước ta

Những năm gần đây thời tiết diễn biên thất thường mà sự diễn biến bất thường của thời tiết là nguyên nhân chính gây ra bệnh tụ huyết trùng trên trâu, bò, vì thế mà đề tài:

“Khảo sát sự lưu hành của vi khuẩn Pasteurella multocida trên bò khỏe tại Châu

Thành và thử tính mẫn cảm với kháng sinh của chủng vi khuẩn phân lập được”

được thực hiện

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Xác định tỷ lệ nhiễm và sự lưu hanh của vi khuẩn Pasteurella multocida trên bò

khỏe

Thử tính mẫn cảm với kháng sinh của chủng vi khuẩn phân lập được

Trang 7

GVHD: Nguyễn Văn Tùng Lâm 2 SVTH: Nguyễn Thị Thảo Sương

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Tình hình nghiên cứu bệnh tụ huyết trùng tại Việt Nam

Theo Phan Đình Đỗ và Trịnh Văn Thịnh (1958), bệnh tụ huyết trùng trâu, bò được Cudamie phát hiện đầu tiên vào năm 1868 ở trâu thuộc tỉnh Bà Rịa và Long Thành, sau

đó Gemain (1869) phát hiện bệnh ở Gò Công, Shein (1901) xác nhận có bệnh này ở Tây Ninh

Theo Đoàn Thị Băng Tâm (1987), tại Việt Nam bệnh thường xảy ra ở Nam bộ và đặc biệt ở miền tây Nam bộ, vào những năm 1910, 1919, 1920, 1933, 1935 dịch xảy ra rất lớn và mạnh Bệnh gây thiệt hại và lây lan nhiều hơn ở những vùng đất trũng, thấp, khí hậu ẩm ướt Bùi Quý Huy (1998) cũng cho biết: Trước đây bệnh tụ huyết trùng xảy

ra mạnh ở các tỉnh phía Nam và xảy ra lẻ tẻ ở các tỉnh phía Bắc Trong những năm 70

có 80% số ổ dịch tụ huyết trùng và 84% số thiệt hại agia súc do bệnh tụ huyết trùng thuộc về các tỉnh ở phía Nam Đến những năm 90 phân bố địa lý của bệnh nghiêng về các tỉnh phía Bắc, số địa phương có dịch tụ huyết trùng cũng tăng lên nhiều, hàng năm

có 20 – 25 tỉnh thông báo có bệnh lưu hành

Ở nước ta khí hậu nóng ẩm, mỗi miền Bắc – Trung – Nam có điều kiện khí hậu và

hệ sinh thái khác nhau Các tác giả (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978, Nguyễn Ngã, 1996, Nguyễn Thiên Thu, 1996) đã nhận định bệnh tụ huyết trùng trâu, bò xảy ra thường trùng với những cơn mưa ở từng vùng và kéo dài đến hết mùa mưa

Ngoài các đặc điểm dịch tễ, nhiều tác giả cũng đã đi sâu nghiên cứu đặc tính sinh

vật hoá học của vi khuẩn Pasteurella multocida, phương pháp chẩn đoán, phân lập và

chế tạo vắc–xin phòng bệnh

Phan Thanh Phượng (1986 – 2000) tiến hành nghiên cứu, chế tạo và sử dụng vắc– xin nhũ hoá bằng công nghệ lên men sục khí để phòng chống bệnh tụ huyết trùng trâu,

bò, heo và gia cầm có nhiều ưu việt hơn vắc–xin cũ

Dương Thế Long (1995) đã phân lập được vi khuẩn Pasteurella multocida gây

bệnh cho các loài vật nuôi (trâu, bò, heo và gà) tại tỉnh Sơn La

Nguyễn Ngã (1996), Nguyễn Thiên Thu (1996) đã phân lập được vi khuẩn

Pasteurella multocida từ trâu, bò mang trùng ở khu vực miền Trung và xác định tính

tương đồng kháng nguyên của các chủng vi khuẩn phân lập được với chủng vắc–xin Iran Trần Xuân Hạnh và Tô Thị Phấn (2007) tiến hành nghiên cứu một số đặc tính của

vi khuẩn Pasteurella multocida phân lập từ trâu, bò, heo

Trang 8

GVHD: Nguyễn Văn Tùng Lâm 3 SVTH: Nguyễn Thị Thảo Sương

2.2 Đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng

2.1.1 Quá trình sinh dịch

2.1.1.1 Nguồn bệnh

Nguồn lây bệnh tụ huyết trùng là những trâu, bò, heo và gia cầm bị bệnh và mang trùng Theo Bùi Quý Huy (1998), ổ dịch đầu tiên trong vùng xảy ra từ trâu, bò của địa phương bị bệnh, do việc mổ thịt đem phân tán, làm cho dịch lây lan rộng Dịch thường xảy ra và lan rộng theo các triền sông do dòng nước bị nhiễm vi khuẩn gây bệnh Các nguồn bệnh khác có thể là dê, cừu hay ngựa bị bệnh

Tại các vùng dịch cũ, phần lớn những gia súc sống sót sau khi dịch thường trở thành những con vật mang trùng tiềm ẩn và thường xuyên bài tiết mầm bệnh ra ngoài ngoại cảnh, nhưng bệnh không xảy ra Bệnh chỉ phát ra khi xuất hiện những gia súc cảm thụ mới là những gia súc mới sinh ra sau dịch hay gia súc mới nhập chưa có miễn dịch (De Alwis, 1999)

Trong cơ thể gia súc khoẻ mạnh, Pasteurella multocida thường tồn tại ở trạng thái

cộng sinh với vật chủ Khi sức đề kháng của cơ thể giảm, vi khuẩn tăng độc lực và gây bệnh

Nguyễn Vĩnh Phước và cs (1986a), thấy rằng con vật mang trùng là nguồn bệnh tiềm tàng có liên quan đến tần số xuất hiện dịch tụ huyết trùng trong vùng Theo Chung

và cs (1992), Pasteurella multocida có sẵn trong cơ thể, khi gặp điều kiện thuận sẽ gây

chứng viêm phổi Một số tác giả cho rằng nguồn tàng trữ mầm bệnh là động vật hoang dại (chồn, cáo, thỏ rừng, loài gặm nhấm và các loài côn trùng như bọ chó, ruồi trâu v.v)

Chuột nhắt rất mẫn cảm với Pasteurella multocida

2.1.1.2 Yếu tố truyền lây

Sự xuất hiện bệnh có liên quan đến các yếu tố stress do môi trường, hoặc do quản

lý chăm sóc (nóng, lạnh, các kích động, chăn nuôi kém vệ sinh, thức ăn không tốt) kèm theo những vi khuẩn gây bệnh như nấm độc, vi khuẩn độc hoặc độc tố làm giảm sức đề kháng của cơ thể là nguyên nhân làm tăng tỷ lệ nhiễm trùng và phát sinh bệnh Gia súc bị nuôi nhốt quá chật trong những chuồng kém thông gió, ẩm ướt, gia súc phải làm việc quá sức, làm việc trong những điều kiện không thuận lợi ảnh hưởng đến sức khoẻ, bệnh cũng dễ phát ra

Cho đến nay không rõ vi khuẩn tồn tại bằng cách truyền lần lượt trong một số dãy

cá thể của một quần thể hay nó còn tồn tại lâu dài một số con Có nhiều cách lây bệnh khác nhau: Nhiễm qua đường hô hấp, đường tiêu hoá, qua vết xây xước trên da

Trang 9

GVHD: Nguyễn Văn Tùng Lâm 4 SVTH: Nguyễn Thị Thảo Sương

Bệnh có thể lây lan trực tiếp từ con ốm sang con khoẻ qua tiếp xúc: Ở chung một chuồng, cùng chăn thả một bãi, uống chung

Bệnh lây lan do việc mổ gia súc ốm, phân tán thịt da Chó mèo và một số côn trùng hút máu như ruồi, mòng v.v, cũng có thể là vật môi giới truyền mầm bệnh đi xa (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978)

Trong giai đoạn đầu của bệnh, khi con vật còn đi lại được, vi khuẩn từ nước dãi và phân, nước tiểu được bài ra xung quanh Ổ dịch rộng hay hẹp tuỳ theo điều kiện tồn tại của vi khuẩn và sức miễn dịch của đàn (Phan Thanh Phượng, 1994)

2.1.1.3 Động vật mẫn cảm

Trong tự nhiên hầu hết các loài gia súc, gia cầm, loài có vú hoang dại và chim đều mẫn cảm với với bệnh Theo Lignieres (1900) ít nhất có 6 dạng bệnh tụ huyết trùng khác nhau: Ở gà, cừu, trâu, bò, heo, ngựa và chó, cả 6 dạng bệnh này đều thấy ở thỏ

Theo De Alwis (1982b) động vật cảm nhiễm mạnh nhất đối với bệnh tụ huyết trùng trâu bò là trâu, bò trong đó trâu mẫn cảm hơn bò Bệnh có thể lây sang heo, ngựa, chó v.v, nên trong ổ dịch tụ huyết trùng trâu bò cần chú ý phòng bệnh cho cả ngựa, heo, chó Đặc biệt là dê cũng dễ mắc bệnh tụ huyết trùng này Tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết của các loài vật bị bệnh tụ huyết trùng trâu, bò phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Mức độ cảm nhiễm, sức đề kháng cơ thể, lứa tuổi v.v

Vi khuẩn Pasteurella multocida có thể đóng vai trò tiên phát hoặc kế phát đối với nhiều bệnh ở nhiều loài động vật và ở người Bệnh do Pasteurella multocida đóng vai

trò gây bệnh tiên phát được gọi là Pasteurellosis như bệnh tụ huyết trùng trâu bò, bệnh

tụ huyết trùng gia cầm, bệnh tụ huyết trùng heo v.v, trong những trường hợp này bệnh

phát sinh do chỉ nhiễm Pasteurella multocida

Trong một số trường hợp như viêm vú, viêm teo mũi ở heo, viêm phổi bò có vai

trò thứ phát của Pasteurella multocida (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001)

Bệnh tụ huyết trùng heo thường gặp ở Malaysia, Thái Lan, Ấn Độ và Việt Nam v.v (FAO, 1999) De Alwis (1999) cho rằng, mặc dù không phải là vật chủ thường xuyên của bệnh tụ huyết trùng, nhưng heo vẫn là loài mẫn cảm với bệnh

Bệnh có thể lây từ trâu, bò sang ngựa, chó và heo Khả năng cảm nhiễm của dê,

cừu với Pasteurella multocida rất lớn Bệnh cũng xảy ra ở heo và truyền từ heo sang

trâu, bò, gà và ngược lại

Trang 10

GVHD: Nguyễn Văn Tùng Lâm 5 SVTH: Nguyễn Thị Thảo Sương

2.2.2 Tuổi mắc bệnh

Bệnh xảy ra hầu hết ở các lứa tuổi Những con đang bú mẹ ít mắc hơn những con trưởng thành Gia súc non dễ mắc hơn gia súc già Bệnh thường xảy ra ở heo 3 – 6 tháng tuổi Trâu, bò 1 – 3 tuổi dễ mắc hơn trâu, bò già và khi mắc bệnh thì có tỷ lệ chết cao hơn Trâu, bò càng béo, khoẻ, trẻ càng dễ mắc bệnh và có tỷ lệ chết cao Bê, nghé dưới

6 tháng tuổi ít mắc bệnh (Bùi Quý Huy, 1998)

Theo De Alwis (1984) mức độ cảm nhiễm của động vật non mạnh hơn động vật già Khi nghiên cứu vùng có dịch tại Srilanka tác giả cho biết, tỷ lệ mắc bệnh tụ huyết trùng đối với trâu bò dưới hai năm tuổi là 30 – 32%, trong khi đó trâu bò trên hai năm tuổi chỉ mắc bệnh 3 – 5 % ở bò và 8 – 9 % ở trâu De Alwis (1999) trong vùng có dịch, phần lớn gia súc trưởng thành có lượng kháng thể cao hơn trong cơ thể và kháng thể tự nhiên này sẽ được trâu, bò dưới 6 tháng tuổi hấp thu qua sữa mẹ Cũng theo tác giả, kháng thể có trong sữa đầu có thể tồn tại liên tục cho đến ngày thứ 28 và giảm dần cho đến ngày thứ 58

Dương Thế Long (1995) theo dõi bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở Sơn La thấy tuổi cảm nhiễm với bệnh nhất là dưới 36 tháng tuổi Đỗ Văn Được (1998) cho biết bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở Lạng Sơn xảy ra ở mọi lứa tuổi, gây thiệt hại không nhỏ về mặt kinh tế Bùi Quý Huy (1998) thống kê trên 1000 trường hợp cho thấy 75% trâu, bò mắc bệnh lứa tuổi 2 – 6 năm, các lứa tuổi khác chỉ chiếm 25% Cao Văn Hồng (2001) tại ĐăkLăk cũng cho thấy, lứa tuổi cảm nhiễm với bệnh nhất là dưới 36 tháng tuổi Hoàng Đăng Huyến (2004) cho biết tại Bắc Giang trâu bò nhỏ hơn 2 năm tuổi mẫn cảm với bệnh nhất

2.2.3 Mùa vụ phát bệnh và tần suất xuất hiện dịch

Bệnh tụ huyết trùng ở gia súc phụ thuộc nhiều vào thời tiết khí hậu, nhiều nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ tới bệnh tụ huyết trùng đã nhận xét bệnh thường liên quan đến điều kiện khí hậu ẩm ướt Khí hậu và địa lý của từng vùng vì những yếu tố này ảnh hưởng đến sự tồn tại, phát triển của mầm bệnh trong môi trường sinh sống của động vật cảm nhiễm

Mùa phát bệnh tụ huyết trùng ở các nước Châu Á tập chung vào các tháng và mùa khác nhau trong năm Carter và De Alwis (1989) nhận xét bệnh tụ huyết trùng xảy ra quanh năm song tập chung vào các tháng mưa, ẩm Ở Lào bệnh phát ra từ tháng 5 đến tháng 8, ở Pakistan bệnh xảy ra rải rác quanh năm song thường ở tháng 4 đến tháng 6 hàng năm (FAO, 1991)

Ngày đăng: 31/01/2021, 15:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w