1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận thức và thực hành giảm thiểu đồ nhựa dùng một lần trong sinh hoạt của sinh viên hai trƣờng đại học khu vực phƣờng đức thắng, bắc từ liêm, hà nội năm 2020

66 76 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ ĐỀ TÀI Nhận thức và thực hành giảm thiểu đồ nhựa dùng một lần trong sinh hoạt của sinh viên hai trường

Trang 1

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ

ĐỀ TÀI

Nhận thức và thực hành giảm thiểu đồ nhựa dùng một lần trong sinh hoạt của sinh viên hai trường Đại học khu vực phường Đức

Thắng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội năm 2020

Chủ nhiệm đề tài: SV Nguyễn Thị Thanh Xuân

Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Y tế Công cộng

Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Quỳnh Anh

Mã số đề tài (nếu có): SV 19.20 - 02

Năm 2020

Trang 2

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ

ĐỀ TÀI

Nhận thức và thực hành giảm thiểu đồ nhựa dùng một lần trong sinh hoạt của sinh viên hai trường Đại học khu vực phường Đức

Thắng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội năm 2020

Chủ nhiệm đề tài: SV Nguyễn Thị Thanh Xuân

Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Y tế Công cộng

Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Quỳnh Anh

Mã số đề tài (nếu có): SV 19.20 - 02

Thời gian thực hiện: từ tháng 01/2020 đến tháng 08/2020 Tổng kinh phí thực hiện đề tài: 7,710 triệu đồng Trong đó: kinh phí SNKH 7,710 triệu đồng Nguồn khác (nếu có) 0 triệu đồng

Năm 2020

Trang 3

Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài cấp cơ sở

Tên đề tài: Nhận thức và thực hành giảm thiểu đồ nhựa dùng một lần trong sinh hoạt của sinh viên hai trường Đại học khu vực phường Đức Thắng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội năm 2020

Chủ nhiệm đề tài: SV Nguyễn Thị Thanh Xuân - CNCQ YTCC15 1-A1

Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Y tế công cộng

Cơ quan quản lý đề tài: Trường Đại học Y tế công cộng

Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Quỳnh Anh

Thư ký đề tài: SV Nguyễn Việt Anh

Phó chủ nhiệm đề tài hoặc ban chủ nhiệm đề tài (nếu có):

Danh sách những người thực hiện chính:

- SV Nguyễn Việt Anh – CNCQ YTCC15 1-A1

- SV Trần Thị Hà - CNCQ YTCC15 1-A1

- SV Dương Thị Thanh Bình - CNCQ YTCC15 1-A1

- SV Ngô Thùy Dương - CNCQ YTCC15 1-A3

Các đề tài nhánh (đề mục) của đề tài (nếu có): Không

Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 01 năm 2020 đến tháng 08 năm 2020

Trang 4

Mục lục

Danh mục viết tắt ii

Danh mục bảng, biểu đồ iii

PHẦN A: BÁO CÁO TÓM TẮT NGHIÊN CỨU 1

Tóm tắt tiếng Việt 1

Tóm tắt tiếng Anh 2

PHẦN B: TÓM TẮT CÁC KẾT QUẢ NỔI BẬT CỦA ĐỀ TÀI 3

1 Thực trạng nhận thức và thực hành giảm thiểu sử dụng đồ nhựa dùng một lần của sinh viên 3

2 Các yếu tố liên quan đến thực hành giảm thiểu sử dụng đồ nhựa dùng một lần của sinh viên 3

PHẦN C: NỘI DUNG BÁO CÁO CHI TIẾT 4

1 ĐẶT VẤN ĐỀ 4

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 5

3 TỔNG QUAN 6

3.1 Một số khái niệm 6

3.2 Thực trạng sử dụng đồ nhựa dùng một lần 6

3.3 Nhận thức của sinh viên về giảm thiều đồ nhựa dùng một lần 8

3.4 Thực trạng giảm thiểu đồ nhựa dùng một lần 11

3.5 Các yếu tố liên quan đến thực hành giảm thiểu đồ nhựa dùng một lần ở sinh viên 15 4 KHUNG LÝ THUYẾT 17

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

5.1 Đối tượng nghiên cứu 17

5.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 17

5.3 Thiết kế nghiên cứu 18

5.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 18

5.5 Biến số phân tích 18

5.6 Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu 19

5.7 Quy trình thu thập số liệu 19

5.8 Quản lý, làm sạch và phân tích số liệu 20

5.9 Sai số và phương pháp khắc phục 20

5.10 Đạo đức trong nghiên cứu 21

Trang 5

6 KẾT QUẢ 22

6.1 Thông tin chung của sinh viên 22

6.2 Mô tả thực trạng nhận thức và thực hành giảm thiểu đồ nhựa dùng một lần trong sinh hoạt của sinh viên 2 trường đại học khu vực phường Đức Thắng, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội năm 2020 23

6.3 Phân tích các yếu tố liên quan đến thực hành giảm thiểu đồ nhựa dùng một lần của sinh viên 2 trường đại học khu vực phường Đức Thắng, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội năm 2020 32

7 BÀN LUẬN 36

7.1 Thực trạng nhận thức và thực hành giảm thiểu đồ nhựa dùng một lần của sinh viên 36

7.2 Các yếu tố liên quan đến thực hành giảm thiểu sử dụng đồ nhựa dùng một lần của sinh viên 38

7.3 Một số hạn chế của nghiên cứu 39

8 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 40

8.1 Kết luận 40

8.2 Khuyến nghị 41

TÀI LIỆU THAM KHẢO 43

PHỤ LỤC 46

Phụ lục 1: Bảng biến số trong nghiên cứu 46

Phụ lục 2: Giấy đồng ý tham gia nghiên cứu 50

Phụ lục 3: Bộ câu hỏi nghiên cứu 52

Phụ lục 4: Bảng chấm điểm nhận thức giảm thiểu và thực hành giảm thiểu 59

Trang 6

Danh mục viết tắt

ĐH Đại học ĐTNC Đối tƣợng nghiên cứu ĐLC

KTC

Độ lệch chuẩn Khoảng tin cậy

Trang 7

Danh mục bảng, biểu đồ

Bảng 1 Thông tin chung của sinh viên 22

Bảng 2 Nhận thức giảm thiểu sử dụng đồ nhựa dùng một lần của sinh viên (%) 26

Bảng 3 Hành vi giảm thiểu đồ nhựa dùng một lần của sinh viên 27

Bảng 4 Thực hành giảm thiểu đồ nhựa dùng một lần của sinh viên (%) 28

Bảng 5 Các yếu tố môi trường-xã hội 29

Bảng 6 Mức độ tiếp cận với các thông tin về sản phẩm thân thiện với môi trường thay thế đồ nhựa dùng một lần của sinh viên 30

Bảng 7 Mức độ sẵn sàng sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường thay thế đồ nhựa dùng một lần của sinh viên 31

Bảng 8 Mối liên quan giữa thực hành giảm thiểu đồ nhựa dùng một lần và các thông tin chung của sinh viên 32

Bảng 9 Mối liên quan giữa thực hành giảm thiểu và nhận thức giảm thiểu sử dụng đồ nhựa dùng một lần của sinh viên 33

Bảng 10 Mối liên quan giữa thực hành giảm thiểu với các yếu tố môi trường-xã hội 34

Bảng 11 Mối liên quan giữa thực hành giảm thiểu với độ sẵn sàng sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường thay thế đồ nhựa dùng một lần 35

Biểu đồ 1 Khung lý thuyết 17

Biểu đồ 2 Mức độ sử dụng một số đồ nhựa dùng một lần của sinh viên trong một tuần (%) 23 Biểu đồ 3 Địa điểm thường sử dụng đồ nhựa dùng một lần của sinh viên trong vòng một tuần đi học (%) 24

Biểu đồ 4 Lý do sử dụng đồ nhựa dùng một lần của sinh viên trong vòng một tuần (%) 24

Biểu đồ 5 Nhận thức về tác hại sử dụng đồ nhựa dùng một lần của sinh viên (%) 25

Trang 8

PHẦN A: BÁO CÁO TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

KTC95%: 1,975-4,989), sinh viên có nhận thức giảm thiểu đạt (OR: 1,697; KTC95%:

1,043-2,763), sinh viên cho rằng không phải người bán nào cũng bao gói đồ bằng đồ nhựa dùng một lần (OR: 2,506; KTC95%: 1,157-5,435), bạn bè không có thói quen sử dụng đồ nhựa dùng một lần (OR: 2,817; KTC95%: 1,451-5,464), biết về quy định giảm thiểu ở trường (OR: 2,860; KTC95%: 1,510-5,416) và tham gia các hoạt động giảm thiểu ở trường (OR: 2,959; KTC95%: 1,788-4,897) là những yếu tố liên quan đến việc thực hành giảm thiểu sử dụng đồ nhựa dùng một lần ở sinh viên Kết quả của nghiên cứu là cơ sở để tìm hiểu các yếu tố liên quan tới thực hành giảm thiểu sử dụng

đồ nhựa dùng một lần, từ đó cung cấp thêm thông tin dự thảo các chiến lược can thiệp giảm thiểu đạt hiệu quả cao và phổ biến các sản phẩm thân thiện với môi trường đến cộng đồng trong tương lai

Từ khóa: đồ nhựa dùng một lần, thực hành giảm thiểu, sản phẩm thân thiện với môi trường

Trang 9

330 students The results showed that females (OR: 3.139; KTC95%: 1.975-4.989), students with reduced awareness achieved (OR: 1.697; KTC95%: 1.043-2.763), students said that not all sellers packed single – use plastic (OR: 2.506; KTC95%: 1.157-5.435), their friends who do not have the habit of using single – use plastic (OR: 2.817; KTC95%: 1.451-5.464), students who know about minimization rules at school (OR: 2.860; KTC95%: 1.510-5.416) and student participation in minimization activities at school (OR: 2.959; KTC95%: 1.788-4.897) are factors related to practices

of minimizing the use of single – use plastic products in students The results of the study are the basis for understanding the factors related to the practice of minimizing the use of single – use plastic, thereby providing more information on the draft of effective minimization intervention strategies and dissemination of environmentally friendly products to the community in the future

Key words: single – use plastic/disposable plastic, practice minimizing, eco – friendly products

Trang 10

PHẦN B: TÓM TẮT CÁC KẾT QUẢ NỔI BẬT CỦA ĐỀ TÀI

1 Thực trạng nhận thức và thực hành giảm thiểu sử dụng đồ nhựa dùng một lần của sinh viên

Nghiên cứu thực hiện với 330 sinh viên hầu hết là dân tộc Kinh (96,7%) với tỷ lệ

nam nữ khá đồng đều (47,9% nam và 52,1% nữ) và tuổi trung bình là 20,5 Tỷ lệ sử dụng túi nilon thường xuyên chiếm tỷ lệ cao là 42,1% Tỷ lệ thường sử dụng đồ nhựa một lần tại cửa hàng/quán ăn uống cao tới 68,5%; sau đó là tại nhà (63,9%) và siêu thị (50,3%) Phần lớn sinh viên sử dụng đồ nhựa dùng một lần vì sự tiện lợi/tiện dụng (85,1%), sự sẵn có (62,7%) và không mất chi phí (41,5%). Tỷ lệ sinh viên có nhận thức giảm thiểu sử dụng đồ nhựa dùng một lần đạt chiếm 71,8% Tỷ lệ sinh viên có

thực hành giảm thiểu đồ nhựa dùng một lần không đạt chiếm 38,2% Tỷ lệ sinh viên đã từng nghe/đọc về các sản phẩm thân thiện với môi trường chiếm tới 98,5% nhưng chỉ

có 76,7% sẵn sàng mua và sử dụng

2 Các yếu tố liên quan đến thực hành giảm thiểu sử dụng đồ nhựa dùng một lần của sinh viên

Nữ giới có xu hướng thực hành giảm thiểu hơn 3 lần so với nam (KTC95%:

1,975-4,989) Sinh viên nhận thức giảm thiểu đạt có thực hành giảm thiểu hơn 1,7 lần so với sinh viên có nhận thức không đạt (KTC95%: 1,043-2,763) Sinh viên cho rằng không

phải người bán nào cũng bao gói đồ bằng đồ nhựa dùng một lần có thực hành giảm thiểu hơn 2,5 lần so với những sinh viên luôn nhận được sự bao gói đồ từ người bán hàng (KTC95%: 1,157-5,435) Sinh viên có bạn bè không có thói quen sử dụng đồ nhựa dùng một lần có hành vi giảm hiểu hơn 2,8 lần sinh viên bị ảnh hưởng bởi bạn bè

có thói quen (KTC95%: 1,451-5,464) Sinh viên biết về quy định giảm thiểu ở trường

có xu hướng thực hành giảm thiểu hơn 2,8 lần so với sinh viên không biết (KTC95%: 1,510-5,416) Sinh viên tham gia các hoạt động giảm thiểu ở trường có thực hành giảm thiểu hơn 3 lần sinh viên không tham gia mặc dù những hoạt động này diễn ở trường (KTC95%: 1,788-4,897)

Trang 11

PHẦN C: NỘI DUNG BÁO CÁO CHI TIẾT

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Đồ nhựa dùng một lần đáp ứng nhu cầu sử dụng và khả năng kinh tế với người tiêu dùng với những ưu điểm như giá thành rẻ, mẫu mã đa dạng, phong phú Đặc biệt với các cơ sở kinh doanh thực phẩm, hộp nhựa, thìa nhựa, và túi nilon là những vật liệu đóng gói tiện dụng và không gây khó khăn khi vận chuyển Đồ nhựa dùng một lần được coi là thành tựu khoa học nổi bật có đóng góp lớn cho đời sống, sinh hoạt hằng ngày Tuy nhiên, đi kèm những lợi ích đối với sinh hoạt, đồ nhựa dùng một lần đồng thời lại chứa vô số hiểm họa môi trường Hiểm họa từ rác nhựa thể hiện ở chỗ là chất liệu bền, chậm phân hủy nhưng lại dễ sản xuất Một chiếc ống hút nhựa phải mất từ

100 đến 500 năm mới phân hủy hết, một chiếc túi nhựa cần thời gian khoảng 1.000 năm Liên hợp quốc đã đưa ra lời cảnh báo cho biết, trong khoảng thời gian kể

500-từ 60 năm trước, con người đã sản xuất khoảng 6,3 tỷ tấn chất thải nhựa và vẫn còn 90,5% đang hiện hữu trên Trái Đất Con số này có thể lên đến 12 tỷ tấn vào năm 2050 Nhựa đang trở thành thứ gây ô nhiễm môi trường lớn nhất có ở cả lòng đất, trên không khí và dưới đại dương Những hạt vi nhựa lơ lửng trong bầu không khí, qua đường hô hấp và tích tụ trong phổi của con người, gây ra các bệnh về hô hấp Bên cạnh đó, chúng còn vào cơ thể qua đường ăn uống, thậm chí qua cả đường máu [1]

Báo cáo của Liên hợp quốc năm 2018, Việt Nam xếp thứ 17/109 quốc gia có mức

độ ô nhiễm do rác thải nhựa lớn trên thế giới, 80% lượng rác thải ra biển của Việt Nam xuất phát từ các hoạt động trên đất liền [1] Theo một khảo sát của cơ quan môi trường, trung bình một người Việt Nam trong một năm (2016 - 2017) sử dụng ít nhất

45 kg các sản phẩm có nguồn gốc từ nhựa trong đó 40% là nhựa cho bao bì (khoảng 16% không thu hồi được còn lại thải ra môi trường) [2] Trong nỗ lực làm xanh hóa môi trường, dần loại bỏ túi nilon, từ ngày 01/01/2012, theo Luật Bảo vệ môi trường, các doanh nghiệp sản xuất túi nilon sẽ chịu thuế “Đề án tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường do sử dụng túi nilon khó phân hủy trong sinh hoạt đến năm 2020”, theo đó, đến năm 2020, giảm 65% khối lượng túi nilon khó phân hủy sử dụng tại các siêu thị, trung tâm thương mại so với năm 2010; giảm 50% khối lượng túi nilon khó phân hủy

sử dụng tại các chợ dân sinh so với năm 2010; thu gom và tái sử dụng 50% tổng số lượng chất thải túi nilon khó phân hủy phát sinh trong sinh hoạt [3] Vì vậy, sử dụng các sản phẩm, đồ dùng thân thiện với môi trường thay thế đồ nhựa dùng một lần là giải pháp hữu hiệu trong tương lai vì chúng có thời gian phân hủy nhanh, giúp hạn chế các chất thải ra môi trường mỗi năm do chúng có thể tái sử dụng nhiều lần làm giảm việc ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí [4]

Trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Khoa, kết quả mức sẵn lòng của các đối tượng

Trang 12

tham gia vào chương trình giảm thiểu túi nilon cho thấy, tuy tỷ lệ đồng ý tham gia vào chương trình giảm thiểu túi nilon rất cao (80,6%), nhưng phần lớn (72,3%) các đơn vị đều cho biết lý do là nếu Nhà nước bắt buộc thì mới thực hiện, chỉ có rất ít (8,3%) là

để bảo vệ môi trường Kết quả khảo sát trên 300 người dân cho thấy phần lớn người dân có thói quen không mang theo giỏ/túi xách khi đi chợ, siêu thị (78,0%), trong đó 32,05% cho rằng mang theo giỏ là bất tiện và 67,95% cho rằng khi đi chợ siêu thị không cần mang theo giỏ/túi xách vì người ta phát miễn phí túi nilon Có 28% người được hỏi trả lời rằng vứt ngay túi nilon không sử dụng lại mặc dù có đến 82% người dân cho rằng túi nilon gây hại cho môi trường [5]

Mỗi ngày, Hà Nội thải ra từ 4.000 đến 5.000 tấn rác, trung bình một ngày thải ra môi trường khoảng 80 tấn nhựa [2] Trong đó, phần lớn rác thải phát sinh từ sinh hoạt

và những nơi tập trung nhiều dân cư Phường Đức Thắng, Bắc Từ Liêm là khu vực tập trung nhiều trường học vì thế các loại hình dịch vụ ăn uống hay mua sắm ở đây rất phát triển hướng đến đối tượng học sinh, sinh viên Thêm vào đó, đối tượng này tương đối tự do chi tiêu, chi tiêu cho mua sắm và ăn uống chiếm một phần lớn trong tổng chi phí của họ Do đó, thực trạng sử dụng đồ nhựa dùng một lần trên địa bàn là một trong những vấn đề cần được chú trọng, tuy nhiên chưa có thống kê hay nghiên cứu nào khai

thác đề tài liên quan tại đây Chính vì thế, nghiên cứu “Nhận thức và thực hành giảm

thiểu đồ nhựa dùng một lần trong sinh hoạt của sinh viên hai trường Đại học khu vực phường Đức Thắng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội năm 2020” được tiến hành nhằm: (1)

Mô tả thực trạng nhận thức và thực hành giảm thiểu đồ nhựa dùng một lần trong sinh hoạt của sinh viên hai trường Đại học khu vực phường Đức Thắng, quận Bắc Từ Liêm,

Hà Nội năm 2020 và (2) Phân tích các yếu tố liên quan đến thực hành giảm thiểu đồ nhựa dùng một lần của sinh viên hai trường đại học khu vực phường Đức Thắng, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội năm 2020

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng nhận thức và thực hành giảm thiểu đồ nhựa dùng

một lần trong sinh hoạt của sinh viên 2 trường đại học khu vực phường Đức Thắng, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội năm 2020

Mục tiêu 2: Phân tích các yếu tố liên quan đến thực hành giảm thiểu đồ nhựa dùng

một lần của sinh viên 2 trường đại học khu vực phường Đức Thắng, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội năm 2020

Trang 13

3 TỔNG QUAN

3.1 Một số khái niệm

Nhựa dùng một lần (Single – use plastic/disposable plastic) thường được sử dụng

cho bao bì nhựa và bao gồm các vật phẩm chỉ được sử dụng một lần trước khi chúng

bị vứt đi hoặc tái chế Chúng bao gồm: túi nilon, bao bì thực phẩm, chai nhựa, ống hút, hộp đựng, cốc và dao kéo [1]

Sản phẩm thân thiện với môi trường (Eco –friendly products) là sản phẩm không

gây hại cho môi trường, dù là trong sản xuất, sử dụng hay thải bỏ [4]

Bao bì nhựa tự phân hủy sinh học là loại túi sản xuất từ vật liệu nhựa có khả năng

bị phân hủy sinh học hiếu khí hoặc yếm khí thành CO2 và H2O Quá trình phân hủy sinh học loại túi nhựa này được thực hiện nhờ hàng trăm các vi sinh vật trong thời gian ngắn từ 3 năm trở xuống thay vì hàng trăm năm như các loại bao bì nhựa thông thường

Tái chế (Recycle) là hoạt động thu hồi lại từ chất thải các thành phần có thể sử dụng

để chế biến thành những sản phẩm mới sử dụng lại cho các hoạt động sinh hoạt và sản xuất

Giảm thiểu (Reduce) là giảm thiểu lượng chất thải thông qua việc thay đổi lối sống

hoặc/và cách tiêu dùng, cải tiến các quy trình sản xuất, mua bán sạch…

Tái sử dụng (Reuse) là sử dụng lại các sản phẩm hay một phần của sản phẩm cho

chính mục đích cũ hay cho một mục đích khác

Tái chế nhựa là quá trình thu hồi phế liệu hoặc chất thải chất dẻo và tái chế vật liệu

thành các sản phẩm hữu ích

Ô nhiễm chất dẻo là sự tích tụ các sản phẩm nhựa trong môi trường ảnh hưởng xấu

đến động vật hoang dã, môi trường sống động vật hoang dã, hoặc con người

3.2 Thực trạng sử dụng đồ nhựa dùng một lần

Cuộc cách mạng hóa học những năm giữa thế kỷ XX đã mang tới cho nhân loại nhiều sản phẩm mới có giá trị, điển hình là sáng chế ra một loại vật liệu polyme sản xuất từ sản phẩm của dầu mỏ với nhiều đặc tính ưu việt như rất nhẹ, bền trong môi trường, dễ chế tạo thành các loại hàng hóa theo nhu cầu cuộc sống và giá thành thấp so với các vật liệu khác , đó chính là plastic hay còn gọi là nhựa

Đồ nhựa dùng một lần đáp ứng nhu cầu sử dụng và khả năng kinh tế với người tiêu dùng với những ưu điểm như giá thành rẻ, mẫu mã đa dạng, phong phú Đặc biệt với các cơ sở kinh doanh thực phẩm, hộp nhựa, thìa nhựa và túi nilon là những vật liệu

Trang 14

đóng gói tiện dụng và không gây khó khăn khi vận chuyển Các đồ nhựa dùng một lần được coi là thành tựu khoa học nổi bật có đóng góp lớn cho đời sống, sinh hoạt hằng ngày Việc sản xuất nhựa trên toàn cầu đã tăng trong suốt 50 năm qua do nhu cầu về nhựa ngày càng tăng Khối lượng sản phẩm từ nhựa đã tăng gấp 20 lần trong 50 năm qua và dự kiến sẽ tăng gấp đôi trong 20 năm tới [1] Khi so sánh năm 2002 với 2013, sản lượng nhựa toàn cầu đã tăng từ 204 lên 299 triệu tấn, tăng 45,6% trong vài năm qua [6] Năm 2014, toàn thế giới đã sản xuất 314 triệu tấn nhựa, dự báo tới 2050 con

số này sẽ là 1.124 triệu tấn [1] Những số liệu này phản ánh sự phụ thuộc ngày càng tăng vào các sản phẩm nhựa tiêu thụ trên toàn thế giới

Nhu cầu sử dụng đồ dùng nhựa hiện nay là rất lớn Nó đã trở thành một thứ thói quen không thể thiếu, “ăn sâu” vào hoạt động mua bán của nhiều người Từ những mặt hàng bình dân và phổ thông nhất, đến những vật dụng công nghiệp đều có thể được chứa đựng trong đồ nhựa phù hợp Mỗi ngày trên khắp thế giới có một khối lượng khổng lồ rác thải rắn polime, trong đó có hàng triệu túi nilon bị thải ra môi trường sau khi sử dụng Rác thải nhựa chiếm khoảng 10% tổng lượng rác thải do con người tạo ra Theo công bố của Liên hợp quốc, mỗi năm thế giới sử dụng khoảng 5 nghìn tỷ túi nilon và mỗi phút có 1 chai nhựa được sử dụng, trong đó ít nhất 13 triệu tấn rác thải nhựa bị đẩy vào đại dương Một nghiên cứu gần đây đã báo cáo kết quả rằng kể từ những năm 1950 cho tới nay, con người đã thải ra đại dương khoảng 9,1 tỉ tấn rác thải nhựa Theo thống kê của Tổ chức Hòa bình xanh (Greenpeace), mỗi năm có hơn 6,4 triệu tấn rác thải bị tống xuống biển, trong đó từ 60% đến 80% là chất dẻo, và 70% số rác này bị chìm xuống đáy biển Bằng số lượng rác khổng lồ này, con người đang gián tiếp đầu độc biển cả [7] Theo một nghiên cứu khác vào năm 2017, mỗi năm các đại dương trên thế giới đang phải hứng chịu từ 8 đến 9 triệu tấn rác thải nhựa Có tới hơn phân nửa số rác thải này đến từ 5 quốc gia châu Á, nhiều nhất là Trung Quốc với 2,4 triệu tấn (chiếm khoảng 30%) Việt Nam là nước đứng thứ 4 trong bảng xếp hạng này, chỉ sau Trung Quốc, Indonesia và Philippines

Tại Việt Nam, trung bình một người mỗi năm sử dụng ít nhất 30 kg các sản phẩm

có nguồn gốc từ nhựa Từ 2005 đến nay, con số này là 35 kg/người/ năm [8] Theo số liệu công bố tại sự kiện Ngày Trái đất do Tổng lãnh sự quán Mỹ tại Việt Nam thống

kê, mỗi ngày Việt Nam thải ra khoảng 18.000 tấn rác thải nhựa Chỉ riêng hai thành phố lớn là Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh, trung bình mỗi ngày thải ra môi trường khoảng 80 tấn nhựa, lượng tiêu thụ túi nilon ở đây là 5 – 9 triệu túi nilon/ngày [5] Tại Thừa Thiên Huế, theo khảo sát mới nhất, mỗi ngày toàn tỉnh thải ra môi trường 650 tấn rác (riêng Tp Huế 200 tấn), trong đó có 6% là rác nhựa, tương đương 35 tấn Mỗi ngày, Hà Nội thải ra từ 4.000 đến 5.000 tấn rác, trong đó, rác thải nilon chiếm đến 7 – 8% Đáng chú ý là lượng túi nilon này tăng theo từng năm [9] Đây chính là “gánh

Trang 15

nặng” cho môi trường, thậm chí còn dẫn đến vấn nạn mà các chuyên gia môi trường gọi là “ô nhiễm trắng” Tại TP Hồ Chí Minh, qua khảo sát thực tế được thực hiện với

39 cơ sở sản xuất - tái chế túi nilon, trong đó có 31 cơ sở về mua bán, sản xuất túi nilon và 8 cơ sở chuyên về tái chế phế liệu nilon Về chương trình giảm thiểu sử dụng túi nilon, số cơ sở tán thành và không tán thành chương trình có tỷ lệ tương đương nhau 10% cơ sở còn lại không có ý kiến về chương trình này Do lợi ích kinh tế, các

cơ sở chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà không nghĩ đến các vấn đề môi trường có liên quan Có đến 23/39 cơ sở cho rằng số túi nilon hiện nay sử dụng vừa phải, đôi khi còn

ít hơn mức cần thiết và 24/39 cơ sở không nhận ra tác hại của túi nilon Họ cho rằng túi nilon được sản xuất nhiều chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân [5] Lĩnh vực tái chế chất thải nhựa ở Việt Nam vẫn chưa phát triển, có tới 90% doanh nghiệp ngành nhựa không chủ động được nguồn nguyên liệu vì nguồn nguyên liệu trong nước chỉ đáp ứng được 15- 20% và chủ yếu là tái sinh từ chất thải nhựa, còn hạt nhựa nguyên sinh phải nhập khẩu hoàn toàn, tỷ lệ phân loại chất thải nhựa tại nguồn rất thấp Bên cạnh một số nhà máy sản xuất hoặc tái chế nhựa có quy mô trung bình đặt rải rác ở một vài địa phương, hầu hết các cơ sở còn lại đều có quy mô nhỏ, công nghệ thô sơ, lạc hậu, chủ yếu tập trung tại các làng nghề nên hiệu quả thấp, giá thành rẻ, chất lượng không cao…[10] Do đó hoạt động sản xuất cũng như tái chế nhựa thường gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường đất, nước và không khí

Cho tới nay, phần lớn sản phẩm nhựa mà con người đang sử dụng là nhựa dùng một lần, sau đó thải bỏ (điển hình là trong các đồ dùng phục vụ sinh hoạt) và như vậy

số lượng rác thải nhựa cũng tăng lên không ngừng cùng với nhu cầu sử dụng các sản phẩm nhựa Những năm gần đây chỉ có khoảng 14% chất thải nhựa được thu hồi để tái chế hoặc tái sử dụng so với 60% chất thải giấy và 90% chất thải thép Đây là một thách thức lớn cho môi trường bởi với đặc tính bền trong môi trường tự nhiên, phải mất một thời gian rất lâu, có thể lên tới hàng trăm năm, những rác thải nhựa này mới

có thể phân hủy được [11]

3.3 Nhận thức của sinh viên về giảm thiều đồ nhựa dùng một lần

3.3.1 Vai trò của đồ nhựa dùng một lần

Đồ nhựa dùng một lần đáp ứng nhu cầu sử dụng và khả năng kinh tế với người tiêu dùng với những ưu điểm như giá thành rẻ, mẫu mã đa dạng, phong phú Đặc biệt với các cơ sở kinh doanh thực phẩm, hộp nhựa, thìa nhựa, và túi nilon là những vật liệu đóng gói tiện dụng và không gây khó khăn khi vận chuyển Các đồ nhựa dùng một lần được coi là thành tựu khoa học nổi bật có đóng góp lớn cho đời sống, sinh hoạt hằng ngày Nó thường được sản xuất từ nhựa PP hoặc nhựa PET

Trang 16

3.2.1 Tác hại của đồ nhựa dùng một lần

Ô nhiễm nhựa có thể ảnh hưởng không tốt đến đất đai, đường thủy và đại dương Các sinh vật sống, đặc biệt là động vật biển, cũng có thể bị ảnh hưởng bởi sự vướng víu, ăn trực tiếp phế thải nhựa, hoặc do tiếp xúc với hóa chất trong chất dẻo làm gián đoạn các chức năng sinh học Con người cũng bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm nhựa, chẳng hạn như thông qua sự gián đoạn trục hoocmon tuyến giáp hoặc mức hoocmon…

“Ô nhiễm trắng” là cụm từ mà các nhà khoa học dùng để gọi về một loại ô nhiễm

do đồ nhựa dùng một lần gây ra cho môi trường Ô nhiễm trắng xảy ra khi con người

xử lý đồ nhựa dùng một lần đã qua sử dụng không đúng cách, với hàng loạt hệ lụy khôn lường Việc sử dụng đồ nhựa dùng một lần đang tăng lên đáng kể và có thể được tìm thấy ở mọi nơi [7] Do thời gian phân hủy quá chậm trong khi thời gian sử dụng lại ngắn, khả năng lưu giữ các thành phần độc hại lâu nên khối lượng rác thải nhựa tăng nhanh sẽ gây tác động xấu tới môi trường và sức khỏe cộng đồng; đồng thời là nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm đất, nước và đại dương

Rác thải nhựa là một thách thức lớn cho môi trường bởi với đặc tính bền trong môi trường tự nhiên, phải mất một thời gian rất lâu, có thể lên tới hàng trăm năm, những rác thải nhựa này mới có thể phân hủy được Một chiếc ống hút nhựa phải mất từ 100 đến 500 năm mới phân hủy hết, một chiếc túi nhựa cần thời gian khoảng 500-1.000 năm Nhựa là chất liệu không tự phân hủy sinh học mà chỉ có thể phân hủy bởi ánh sáng mặt trời hoặc phân rã thành những mảnh nhỏ Điều này sẽ làm thay đổi tính chất vật lý của đất, làm cho đất không giữ được nước, dinh dưỡng, ngăn cản oxy đi qua đất làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây cỏ, dẫn đến xói mòn đất [12] Một vấn đề đáng lo ngại ở Việt Nam là phần lớn rác thải nhựa khó phân hủy hiện nay chủ yếu được xử lý bằng cách chôn lấp Số còn lại vương vãi khắp nơi (như ao, hồ, sông, ngòi, cống ) gây tắc nghẽn các đường dẫn nước thải, dòng chảy, ngập lụt đô thị, dẫn đến ruồi muỗi phát sinh, lây truyền dịch bệnh, phá hoại mỹ quan và hệ sinh thái đô thị Nghiêm trọng hơn, môi trường đất và nước bị ô nhiễm bởi đồ nhựa dùng một lần sẽ ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới sức khỏe con người vì trong rác thải nhựa còn có các kim loại nặng như phụ gia tạo màu và các chất hóa học độc hại như PCBs Nếu rác thải có lẫn nhựa khi đốt sẽ thải ra khí độc như dioxin và furan gây ngộ độc, ảnh hưởng tới tuyến nội tiết, gây ung thư, giảm khả năng miễn dịch… Ngoài ra những hạt vi nhựa

li ti khác lơ lửng trong bầu không khí, qua đường hô hấp và tích tụ trong phổi của con người, gây ra các bệnh về hô hấp Theo số liệu thống kê của Liên hợp quốc, mỗi năm

có ít nhất 13 triệu tấn rác thải nhựa trôi ra biển - tương đương mỗi phút có một chiếc

xe tải chở đầy rác đổ ra biển Ước tính, hiện tại lượng rác thải nhựa trên biển vào khoảng 140 triệu tấn Rác thải nhựa khi trôi ra biển có thể tồn tại hàng trăm năm Khi

Trang 17

bị thải ra biển, đồ nhựa dùng một lần gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường của các sinh vật ở đây, gây phá vỡ môi trường tự nhiên Hơn 660 loài gặp phải rắc rối với những mảnh rác từ túi nilon trên biển như bị vướng vào người, nuốt phải túi nilon, nghẹt thở, và có cả trường hợp tử vong được ghi nhận ở cả các loài chim, động vật có

vú và động vật không xương sống khác [13] Ngoài ra, do bị cọ xát, dưới tác động của nước biển và tia cực tím, rác thải nhựa sẽ phân rã thành những mảnh nhỏ (như các hạt

vi nhựa) và có thể bị các loài hải sản ăn vào để rồi lại có mặt trong chuỗi thức ăn của con người, gây ra một số rối loạn nghiêm trọng với sức khỏe con người Các nhà khoa học đã cảnh báo nhiều loại nhựa có chứa hóa chất gây ung thư như DEHP (Diethylhexyl phthalate) hoặc BPA (bisphenol-A), gây rối loạn hormone, dị tật khi mang thai Không chỉ với con người, hệ sinh thái trên Trái đất cũng bị đe dọa nghiêm trọng Rác thải nhựa không chỉ ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe con người, ngành thủy sản và du lịch cũng bị ảnh hưởng rất lớn và phải mất rất nhiều phí tổn để khắc phục[13]

3.3.2 Nhận t hức của sinh viên về giảm thiểu đồ nhựa dùng một lần

Đồ nhựa dùng một lần là vật dụng hiện hữu hằng ngày quá đỗi quen thuộc với con người, đặc biệt là túi nilon, tuy nhiên không phải ai cũng có hiểu biết về tác hại của nó Trong nghiên cứu của N Srinivasan, chỉ có 46% sinh viên có kiến thức tốt về đồ nhựa dùng một lần [14], [15], [16] Tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu ở học sinh trung học tại Sharjah (52%), Singapore (70,9%) và Malaysia (74,4%)

Theo 1 nghiên cứu về hành vi sử dụng túi nilon của người dân quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ cho thấy phần lớn người dân đều cho rằng tác hại to lớn nhất của túi nilon là làm mất vẻ mỹ quan của môi trường sống với giá trị là 1,76 đạt mức “rất ảnh hưởng”, ngoài ra, họ cũng đồng ý rằng túi nilon gây nguy hại đến môi trường, gây xói mòn đất cũng như gây ra biến đổi khí hậu vơi giá trị điểm lần lượt là 1,89; 2,57 và 2,34 với mức ý nghĩa là ảnh hưởng, tuy nhiên đối với việc túi nilon gây ra lũ lụt, giảm

sự đa dạng sinh học và là 1 trong số các nguyên nhân gây chết các loại động vật thì người dân chưa ý thức được điều này với số điểm lần lượt là 2,74; 2,8; 3,24 mang ý nghĩa “bàng quan” [17] Đối với tác hại gây chết động vật, có đến 44,78% người có trình độ học vấn từ trung học trở lên đồng ý với ý kiến này, trong khi đó, người có trình độ học vấn mức trung học là 21,3%, tiểu học là 6,08%, mù chữ là 0,43 % đồng ý với ý kiến này Tuy vậy, trong nghiên cứu tại Karnataka, có tới 12,5% người dân cho biết đồ nhựa dùng một lần không có bất kỳ ảnh hưởng nào tới các loài động vật Theo một nghiên cứu khác cho thấy khi được hỏi về sử dụng túi nilon ảnh hưởng đến môi trường như thế nào thì người dân cho rằng ảnh hưởng đến môi trường nhiều nhất (68%) tiếp đó là đến sức khỏe cộng đồng (48%), ô nhiễm không khí (47,5%), nguồn

Trang 18

nước (38,5%), làm biến đổi khí hậu (30,5%) [18]

Ngoài tác hại đến môi trường, đồ nhựa dùng một lần còn gây ra tác hại to lớn cho sức khỏe con người, tuy nhiên hiểu biết vẫn còn hạn chế Có rất nhiều ý kiến cho rằng

sử dụng túi nilon có thể gây bệnh về đường hô hấp (57,5%), tiếp đến là gây bệnh ung thư (55%), 6,5% thì cho là nó có ảnh hưởng gây dị tật ở trẻ nhỏ và 7,5% không biết gây ra các bệnh gì [18] Theo một nghiên cứu khác trong 8 tác hại đối với sức khoẻ con người được đưa ra để người dân đánh giá có đến 6 tác hại người dân đánh giá ở mức giá trị mang ý nghĩa không nhận được nhiều sự quan tâm đó là các tác hại như ngộ độc thực phẩm (2,88), ảnh hưởng tuyến nội tiết (2,71), giảm khả năng miễn dịch (2,64), rối loạn chức năng tiêu hoá (2,88), các dị tật bẩm sinh ở trẻ (2,74) và gây tác hại cho não (2,9) Chỉ có 2 tác hại là túi nilon gây ra ung thư phổi và tạo ra môi trường sinh sản cho nhiều vi khuẩn gây bệnh được đánh giá ở mức ảnh hưởng với điểm lần lượt là 2,29 và 1,85 [17]

3.4 Thực trạng giảm thiểu đồ nhựa dùng một lần

3.4.1 Vai trò của việc giảm thiều đồ nhựa dùng một lần

Chế tạo và khuyến khích sử dụng các sản phẩm thay thế thân thiện với môi trường đang là một vấn đề cấp thiết và cần được quan tâm Việc thay thế những nguyên liệu

có khả năng tái sinh thay vì sử dụng nguồn nguyên liệu khoáng có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên không có khả năng tái tạo, đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững Bên cạnh đó, việc sử dụng các sản phẩm thân thiện môi trường sẽ nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của toàn xã hội

Các sản phẩm, đồ dùng thân thiện với môi trường sẽ có thời gian phân hủy nhanh Khi bị phân hủy sẽ tạo ra các chất hữu cơ và giúp tái tạo và cải thiện chất lượng đất và bắt đầu sinh ra một chu kỳ tuần hoàn mới và sẽ không gây hại cho môi trường sống Các đồ dùng từ các vật liệu tái chế sẽ giúp hạn chế các chất thải ra môi trường mỗi năm vì nó có thể tái sử dụng nhiều lần làm giảm việc ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí [19] Tuy nhiên, dựa theo một nghiên cứu LCA của các loại túi thay thế do

Cơ quan môi trường Úc thực hiện, việc chuyển từ sử dụng túi nilon dùng một lần sang các lọai túi dùng một lần khác như túi giấy, túi nilon phân hủy sinh học không đem lại hiệu quả đáng kể về mặt môi trường do lượng năng lượng và tài nguyên tiêu thụ, lượng khí nhà kính phát sinh Phân tích vòng đời các loại túi cho thấy việc chuyển từ sử dụng các loại túi sử dụng một lần sang các loại túi sử dụng nhiều lần sẽ đem lại hiệu quả môi trường đáng kể Trong đó, loại túi dệt HDPE dùng nhiều lần loại lớn đem lại hiệu quả môi trường lớn nhất [20]

Trang 19

Vật liệu xây dựng thân thiện môi trường là những sản phẩm tạo ra một môi trường

an toàn trong nhà, không gian sống bằng cách không phóng thích những chất ô nhiễm quan trọng như sơn có dung môi hữu cơ bay hơi thấp, bám chắc, loại bỏ hoặc ngăn ngừa sự lan truyền chất ô nhiễm như sản phẩm từ sự thông gió hoặc bộ lọc không khí trong máy lạnh (bụi, nấm mốc, vi khuẩn ) và cải thiện chất lượng chiếu sáng Với vật liệu thân thiện môi trường, sự chọn lựa sản phẩm được đặt mục tiêu là giảm thiểu ô nhiễm, giảm tiêu thụ tài nguyên và giảm lượng chất thải sinh ra trong quá trình sử dụng sản phẩm [21]

3.4.2 Thực trạng giảm thiểu đồ nhựa dùng một lần

Việc giảm thiểu đồ nhựa dùng một lần có ý nghĩa lớn với môi trường và sức khỏe cộng đồng Tuy vậy, điều này còn gặp nhiều khó khăn Nghiên cứu trên sinh viên tại trường đại học Annamalai cho thấy tỷ lệ sinh viên có thực hành giảm thiểu tốt chỉ chiếm 27,6%, trong khi tỷ lệ sinh viên có kiến thức tốt là 46% [14] Theo kết quả một đánh giá tại TP Hồ Chí Minh, tỷ lệ các đơn vị siêu thị, chợ vẫn sử dụng túi nilon để phát không cho khách rất cao, chiếm đến 50% tổng các đơn vị Tuy nhiên, tỷ lệ các đơn vị có sử dụng thêm bao bì bằng vật liệu khác (như túi giấy, vải …) tương đối cao Cũng trong đánh giá này, kết quả mức sẵn lòng của các đối tượng tham gia vào chương trình giảm thiểu túi nilon cho thấy, tuy tỷ lệ đồng ý tham gia vào chương trình giảm thiểu túi nilon rất cao (80,6%), nhưng trong đó phần lớn (72,3%) các đơn vị đều cho biết lý do là nếu Nhà nước bắt buộc thì mới thực hiện, chỉ có rất ít (8,3%) là để bảo vệ môi trường Tuy nhiên, tất cả các đơn vị trên đều cần sự hỗ trợ của nhà nước về mặt kinh phí triển khai chương trình, ngay cả các đơn vị có quy mô lớn Chỉ có 2,8% cho biết sẽ không tham gia, nhưng không có lý do Kết quả khảo sát trên 300 người dân cho thấy phần lớn người dân có thói quen không mang theo giỏ/túi xách khi đi chợ, siêu thị (234 người chiếm 78,00%) Trong 234 người hoàn toàn không mang theo giỏ/túi xách khi đi chợ/siêu thị thì có 75 người (chiếm 32,05%) cho rằng mang theo giỏ là bất tiện và có 159 người (chiếm 67,95%) cho rằng khi đi chợ siêu thị không cần mang theo giỏ/túi xách vì người ta phát miễn phí túi nilon Có 28% người được hỏi trả lời rằng vứt ngay túi nilon không sử dụng lại và có đến 72% cho rằng có để lại túi nilon sạch để sử dụng Tuy nhiên khi được hỏi về tác hại của túi nilon, đa số người dân được hỏi đều cho rằng việc sử dụng túi nilon quá mức có gây hại cho môi trường Kết quả khảo sát trên 300 người dân cho thấy có đến 82% cho rằng túi nilon gây hại cho môi trrường [17] Ngoài ra, trở ngại lớn nhất của việc thay thế đồ nhựa dùng một lần truyền thống cũng như nhựa tổng hợp bằng các loại polyme phân hủy sinh học là sự chênh lệch giá thành quá lớn Mặc dù còn những hạn chế để phát triển dòng sản phẩm polymer phân hủy sinh học nhưng xu hướng sử dụng các sản phẩm thân thiện môi

Trang 20

trường đã tạo điều kiện cho thị trường này ngày càng mở rộng hơn Theo dự báo của Business Communication Co Inc., Norwalk, Cann, sản lượng các sản phẩm polymer

có khả năng phân hủy sinh học sinh học trên thế giới dự báo đến 2010 là 206.000 tấn, tương ứng chiếm 0,025 và 0,037 % nhu cầu tiêu thụ nhựa của thế giới [20] Bao bì PHSH là một dòng sản phẩm mới cần thời gian để thể hiện những ưu thế và sự chấp nhận của người tiêu dùng Bước khởi đầu tiếp cận thị trường với giá thành không có tính cạnh tranh sẽ là một trở ngại lớn cho việc triển khai dòng sản phẩm này Thêm vào đó, phạm vi ứng dụng của bao bì PHSH được xem là bị hạn chế hơn so với túi nilon nên khả năng cho sự khởi đầu của bao bì PHSH chỉ là mở rộng dịch vụ và tạo hình ảnh về những ưu điểm về bảo vệ môi trường của sản phẩm đối với người tiêu dùng

3.4.3 Các biện pháp giảm thiểu đồ nhựa dùng một lần

Giải pháp về chính sách:

Trên thế giới, nhiều nước đã áp dụng việc giảm sử dụng túi nilon như chương trình

“Nói không với túi nilon” ở Úc; cấm sử dụng túi nilon ở Đài Loan, San Francisco; giảm sử dụng túi nilon ở Pháp, Sydney… Đến nay, các quy định này đã được áp dụng tại hơn 60 quốc gia Ngoài ra, cấm sử dụng đồ nhựa dùng một lần có thể là bước đầu

để hướng tới các chính sách tốt hơn nhằm giảm thiểu rác thải nhựa dùng một lần Như tại Antigua và Barbuda, lệnh cấm túi nilon đã dẫn đến các biện pháp tiếp theo để cấm

nhập khẩu hộp nhựa đựng thực phẩm và sử dụng đồ dùng bằng nhựa [1]

Tại Việt Nam, trong nỗ lực làm xanh hóa môi trường, dần loại bỏ túi nilon, từ ngày 01/01/2012, theo Luật Bảo vệ môi trường, các doanh nghiệp sản xuất túi nilon sẽ chịu thuế Thuế Bảo vệ môi trường được xác định là loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm hàng hóa khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường Theo nghị định số 67/2011/NĐ-CP, túi nilon thuộc diện chịu thuế (túi nhựa), quy định tại khoản 4, điều 3 của luật Thuế bảo vệ Môi trường, Bộ Tài chính đề nghị mức thu Thuế Bảo vệ môi trường với mặt hàng túi nilon là 40.000 đồng/kg [22] Việc quy định mức thuế cao nhằm làm tăng giá bán, hạn chế việc phát miễn phí túi nilon, từ đó giảm dần việc sử dụng, góp phần thay đổi hành vi, thói quen sử dụng túi nilon của người tiêu dùng, dần dần chuyển sang sử dụng sản phẩm thay thế mà không ảnh hưởng đến thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình [23] “Đề án tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường do sử dụng túi nilon khó phân hủy trong sinh hoạt đến năm 2020”, theo đó, đến năm 2020, giảm 65% khối lượng túi nilon khó phân hủy sử dụng tại các siêu thị, trung tâm thương mại

so với năm 2010; giảm 50% khối lượng túi nilon khó phân hủy sử dụng tại các chợ dân sinh so với năm 2010; thu gom và tái sử dụng 50% tổng số lượng chất thải túi nilon khó phân hủy phát sinh trong sinh hoạt [3]

Trang 21

Giải pháp công nghệ:

Hiện nay, nhiều nước trên thế giới, dẫn đầu là các nước châu Âu như Đức, Hà Lan, Pháp đang thực hiện việc thay thế túi nilon thông thường bằng các sản phẩm thân thiện với môi trường như túi giấy; túi vải sử dụng nhiều lần; túi dệt plastic sử dụng nhiều lần; và túi nilon tự rã, phân hủy sinh học … Công ty CRC sản xuất thực phẩm

và bao bì quốc tế ở Australia đã sản xuất loại nhựa tinh bột nhiệt dẻo có hàm lượng amylozơ cao hơn 70% Người ta đã thử nghiệm thành công sử dụng polime bột ngô làm màng phủ đất và cho thấy màng này có tính chất tốt ngang màng PE với ưu thế là sau một vụ thu hoạch, màng có thể vùi lấp vào đất để tự phân hủy Nhấn mạnh rằng các sản phẩm đó là phân hủy sinh học, nghĩa là phân hủy đến CO2, nước và sinh khối Giá thành còn cao vẫn là điểm yếu cố hữu của những sản phẩm trên [20] Ngoài ra, các sản phẩm này không chỉ nhận được sự quan tâm của các công ty tư nhân hay các tổ chức môi trường mà còn được hỗ trợ từ phía nhà nước như cấp chứng chỉ chất lượng, chứng chỉ môi trường, nhãn môi trường, hỗ trợ đầu tư,… Bên cạnh đó, hệ thống quản lý/tiêu chuẩn chất lượng, quản lý môi trường đối với các sản phẩm này cũng rất chặt chẽ và có sự phối hợp với các hoạt ñộng khác của hệ thống quản lý chất thải sinh hoạt

Trang 22

Cốc nhựa dùng một lần Cốc giấy Cốc Inox

* Một số hình ảnh các sản phẩm thay thế đồ nhựa dùng một lần thân thiện với môi trường

Giải pháp nâng cao nhận thức của sinh viên:

Nhận thức cộng đồng là một trong những yếu tố giúp định hình và khuyến khích những thay đổi trong hành vi tiêu dùng, Tuy vậy, một thay đổi về văn hóa đối với môi trường sẽ không thể đạt được bằng các chiến dịch nâng cao nhận thức độc lập và ngắn hạn Để đạt được điều đó, chiến lược truyền thông cần phải được thiết kế khéo léo vào các chương trình giáo dục, hoạt động tập thể và tìm kiếm những đối tượng có sức lan truyền nhanh chóng [1] Trong đó, cộng đồng sinh viên là một trong những nhóm đối tượng dễ đào tạo, dễ tiếp cận và có khả năng tham gia nhiệt tình trong bất kỳ hoạt động truyền thông - giáo dục sức khỏe góp phần thay đổi hành vi ở cấp địa phương nhất [24]

3.5 Các yếu tố liên quan đến thực hành giảm thiểu đồ nhựa dùng một lần ở sinh viên

Kết quả của nghiên cứu tại Jimma City chỉ ra với bất kể giới tính nào, phần lớn người dân thành phố đều sử dụng rộng rãi đồ nhựa dùng một lần, đặc biệt là túi nilon trong sinh hoạt hằng ngày Các lý do chính dẫn đến việc sử dụng túi nilon rộng rãi là

do giá thành thấp ( 159 – 69,13%), sự sẵn có ( 152 – 66,08%) và tính gọn nhẹ (95 – 41,3%) Bên cạnh đó, các yếu tố góp phần sử dụng nhiều túi nilon là do thiếu sản phẩm thay thế (62 – 26,95%) và độ bền của túi (32 – 13,91%) [25] Trong quá trình khảo sát họ quan sát thấy rằng nhiều chủ cửa hàng và các nhà bán lẻ phát túi nhựa miễn phí cho khách hàng của họ khi mua kèm mặt hàng khác, điều này cũng tương tự như trong các nghiên cứu khác ở các thành phố lớn trên thế giới [13], [26] Nghiên cứu tại Hà Nội năm 2012, khi được hỏi lý do người dân sử dụng túi nilon thì có đến 51,5%

là do sự tiện dụng của nó, 60,5% là thói quen sinh hoạt hàng ngày, 59,5% là do không

Trang 23

mất tiền mua, 31% do không có sự lựa chọn nào khác và chỉ có 22,5% là do túi nilon bền, dẻo đai [27]

Ngoài các yếu tố xã hội, thói quen sử dụng đồ nhựa dùng một lần của bạn bè và gia đình cũng phần nào ảnh hưởng đến lựa chọn tiêu dùng của một cá nhân [28] Một nghiên cứu tại Kosova về việc áp dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường cho đồ uống không cồn (2018) cũng chỉ ra rằng gia đình và bạn bè có tác động mạnh mẽ đến hành vi tiêu dùng các sản phẩm thân thiện với môi trường ở đối tượng nghiên cứu [29]

Một nghiên cứu đánh giá tác động của Luật thuế bảo về môi trường đối với hành vi

sử dụng túi nilon của người dân nội thành Hà Nội cho thấy trong số 200 người được hỏi thì chỉ có 38% đồng ý trả tiền cho việc sử dụng túi nilon, 46% chọn mang theo túi riêng, điều này cho thấy mức độ sẵn lòng của người dân khi tham gia ở mức trung bình thấp và sự nhận thức, quan tâm đến việc bảo vệ môi trường và vấn đề thu nhập là 2 yếu tố có ảnh hưởng Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, việc áp dụng luật tại các siêu thị dẫn đến ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận của mình [23] Tại 2 siêu thị được khảo sát là BigC và Co.op Mart đều đồng ý tham gia cam kết hay giảm thiểu sử dụng, nhưng không đơn vị nào đồng ý giải pháp tính thêm tiền túi nilon cho khách hàng với

lý do: Khách hàng cảm thấy khó chịu, đôi khi không quay lại siêu thị nữa gây mất lợi nhuận Qua nghiên cứu về mức độ biết/không biết luật thuế bảo vệ môi trường, 62% người dân biết tới luật này, tuy nhiên có tới 50,5 % trong số đó sử dụng 4 – 6 túi nilon/ngày Số người dân sử dụng dưới 3 túi/ngày thì 100% đã biết hoặc nghe tới luật thuế bảo vệ môi trường, sử dụng 4 – 6 túi/ngày thì chỉ có 30% trong số đó biết đến luật Còn trong số người sử dụng trên 7 túi/ngày thì không có ai nghe hoặc biết tới luật thuế bảo về môi trường Do đó có thể thấy, việc nghe/biết đến thuế này có ảnh hưởng đến mức độ tiêu thụ túi nilon ở người dân, luật thuế bảo vệ môi trường đối với nilon đã

có một phần tác dụng trong hạn chế sử dụng sản phẩm túi nilon trong sinh hoạt hàng ngày [23]

Trang 24

4 KHUNG LÝ THUYẾT

Biểu đồ 1 Khung lý thuyết

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Sinh viên hệ cử nhân chính quy đang học tập tại 2 trường Đại học (ĐH) khu vực phường Đức Thắng, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội

* Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Đối tượng từ 18 tuổi trở lên

- Đối tượng đang học tập tại 2 trường ĐH được lựa chọn trong khu vực

* Tiêu chuẩn loại trừ:

- Những người không có khả năng đọc, viết, tình trạng tâm thần không ổn định

5.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1/2020 đến tháng 8/2020

- Địa điểm nghiên cứu: ĐH Y tế công cộng, ĐH Mỏ - Địa chất

- Yếu tố cá nhân: nhu cầu, thói quen, thái độ

Nhận thức giảm thiểu sử dụng đồ

nhựa dùng một lần

- Các biện pháp giảm thiểu

- Lợi ích của các sản phẩm thay

thế thân thiện với môi trường

Trang 25

5.3 Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang

5.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Công thức tính cỡ mẫu 1 tỷ lệ với sai số tương đối được áp dụng trong nghiên cứu:

Trong đó:

 ⁄ : Mức ý nghĩa thống kê mong muốn (với α=0,05 ta có giá trị z=1,96);

 p: (=0,71) tỷ lệ người dân tham gia giảm thiểu việc sử dụng túi nilon là 71% trong nghiên cứu của Lê Văn Khoa (2011);

 ε: sai số tương đối (=0,1)

 DE: hệ số thiết kế, áp dụng cho phương pháp chọn mẫu cụm (trong nghiên cứu này lấy DE = 2)

Cỡ mẫu tính toán được bằng 314 người, dự phòng từ chối phát vấn hoặc không gặp được trong quá trình thu thập số liệu, chúng tôi lấy thêm 10% số mẫu, như vậy tổng số mẫu là 345 sinh viên Điều tra trên 2 trường ĐH với tỷ lệ 1:1 Cụ thể, Đại học Mỏ - Địa chất chọn 175 sinh viên và Đại học Y tế Công cộng chọn 175 sinh viên theo phương pháp chọn mẫu cụm Tại mỗi trường, các lớp được chọn ngẫu nhiên sao cho

cỡ mẫu phù hợp, tất cả sinh viên trong các lớp đó đều được chọn tham gia nghiên cứu Thực tế, tỷ lệ đồng ý tham gia nghiên cứu đạt 95,7% Cụ thể, tổng số sinh viên tham gia nghiên cứu là 330, với 165 sinh viên trường Đại học Y tế Công cộng và 165 sinh viên trường Đại học Mỏ - Địa chất

5.5 Biến số phân tích

Biến số đầu ra chính trong nghiên cứu này là thực hành giảm thiểu đồ nhựa dùng

một lần (trình bày dưới dạng biến nhị phân với 2 đáp án Đạt/Không đạt) Biến số này được tạo ra bằng cách phỏng vấn những đối tượng trả lời câu hỏi “Bạn đã từng thực hiện giảm thiểu sử dụng đồ nhựa dùng một lần bằng những cách nào?” (Các đáp án trả lời: Hạn chế sử dụng tối đa; Sử dụng sản phẩm đựng đồ được làm từ những nguyên liệu dễ phân hủy trong môi trường như giấy, tre, nứa, cói ; Khi đi mua hàng hoặc đi chợ nên mang theo làn, giỏ, túi, hộp đựng thực phẩm hoặc sử dụng giấy, các loại lá như lá chuối, lá sen để bao gói; Trường hợp bắt buộc sử dụng túi ni lông thì nên để các loại thực phẩm, hàng hóa có thể để chung trong cùng một túi; Tái sử dụng rác thải

nhựa vào các mục đích khác không gây hại) Một đối tượng được coi là thực hành giảm thiểu đạt khi đối tượng dùng từ 2 cách trở lên/5 cách giảm thiểu, tất cả những

đối tượng còn lại được coi là thực hành giảm thiểu không đạt

n = 𝑧 ⁄ × 𝑝

ε2𝑝 × DE

Trang 26

Các nhóm biến số độc lập thu thập trong nghiên cứu này bao gồm:

- Thông tin chung của đối tượng

- Thực trạng sử dụng đồ nhựa dùng một lần

- Nhận thức về giảm thiểu sử dụng đồ nhựa dùng một lần

- Thực hành giảm thiểu đồ nhựa dùng một lần

- Các yếu tố môi trường-xã hội

- Các sản phẩm thay thế thân thiện với môi trường

(Bảng biến số xem chi tiết tại Phụ lục 1 và cách chấm điểm xem chi tiết Phụ lục 4) 5.6 Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu

Nhóm nghiên cứu xây dựng bộ câu hỏi “Đánh giá nhận thức và thực hành giảm thiểu đồ nhựa dùng một lần” dựa trên tổng quan tài liệu từ các nghiên cứu trước đó Bộ công cụ được thử nghiệm với cỡ mẫu là 20 đối tượng

Số liệu được thu thập tại 2 trường Đại học đã được xác định sau khi nhận được sự đồng ý của Ban giám hiệu trường Đại học Đối tượng nghiên cứu thực hiện khảo sát trên bộ câu hỏi phát vấn được in ra giấy

5.7 Quy trình thu thập số liệu

Thử nghiệm bộ câu hỏi

Nhóm nghiên cứu thử nghiệm bộ câu hỏi trên 10 sinh viên trường Đại học Y tế Công cộng và 10 sinh viên trường Đại học Mỏ - Địa chất sau giờ học tại mỗi trường Hoạt động thử nghiệm đã giúp nhóm nghiên cứu tìm hiểu được tính hợp lý trong việc

bố trí câu hỏi, mức độ hoàn thành phiếu, thời gian hoàn thành phiếu cũng như trở ngại trong quá trình thu thập thông tin

Sau đó, các thành viên trong nhóm nghiên cứu sẽ thảo luận và thống nhất các khái niệm sử dụng trong bộ câu hỏi và cách thức tiến hành thu thập thông tin

Thu thập thông tin

Nhóm nghiên cứu liên hệ xin sự đồng ý tham gia nghiên cứu từ hai trường Buổi thu thập được tiến hành sau giờ học trên các đối tượng được chọn ngẫu nhiên Điều tra viên thực hiện phát vấn đối tượng bằng bảng hỏi (bao gồm: giấy giới thiệu nghiên cứu, bản đồng ý tham gia nghiên cứu và bộ câu hỏi thu thập thông tin), giải thích trong quá trình sinh viên trả lời câu hỏi Kết thúc mỗi buổi điều tra, điều tra viên thu lại phiếu và tổng hợp số phiếu đã thu thập được

Trang 27

5.8 Quản lý, làm sạch và phân tích số liệu

Phiếu điều tra được tổng hợp và nhập liệu vào phần mềm Epidata Sau đó, số liệu được xuất ra file Excel để tiến hành làm sạch và phân tích số liệu

Số liệu được làm sạch và phân tích bằng phần mềm Stata phiên bản 15 Thống kê

mô tả được sử dụng để mô tả đặc điểm nhân khẩu học, nhận thức và thực hành giảm thiểu sử dụng đồ nhựa dùng một lần và túi nilon, các yếu tố liên quan đến thực hành giảm thiểu và sử dụng sản phẩm thân thiện với môi trường thay thế của đối tượng nghiên cứu Trong đó, trung bình và độ lệch chuẩn (ĐLC) được sử dụng cho biến định lượng, tần số và tỷ lệ được sử dụng cho các biến định tính Kiểm định t-test, Khi bình phương để mô tả thực trạng nhận thức, thực hành theo các yếu tố liên quan

Phân tích hồi quy logistic đơn biến được sử dụng để tìm hiểu các yếu tố liên quan với thực hành giảm thiểu sử dụng đồ nhựa dùng một lần của sinh viên

5.9 Sai số và phương pháp khắc phục

5.9.1 Sai số

Sai số hệ thống: Nhầm lẫn hoặc sai sót trong quá trình xây dựng bộ câu hỏi, nhầm

bước chuyển hoặc gây khó trả lời cho người điền phiếu Sự cố tình trả lời sai do bạn sinh viên e sợ người khác biết thông tin, phản ánh lại với gia đình, nhà trường nên có thể trả lời sai sự thật

Sai số nhắc ại: Trong một số trường hợp, đối tượng tham gia phỏng vấn không

nhớ chính xác thông tin được hỏi

Sai số nhập liệu viên: Số liệu có thể chưa chuẩn xác trong quá trình nhập liệu, dẫn

đến sai số cho kết quả đầu ra

Đối tượng nghiên cứu không hiểu hoặc hiểu sai ý nghĩa của câu hỏi nên không trả lời đầy đủ, đúng các câu hỏi

Rủi ro về y tế có thể gặp phải trong thời gian đối tượng điền phiếu trả lời

5.9.2 Biện pháp khắc phục

Tập huấn cẩn thận cho điều tra viên, đảm bảo kỹ năng làm quen, hướng dẫn và quản lý phiếu hỏi

Tiến hành thử nghiệm bộ câu hỏi ít nhất 2 lần đề chỉnh sửa, bổ sung

Giải thích r ràng mục đích của nghiên cứu và nhấn mạnh tính khuyết danh của đối tượng nghiên cứu

Sử dụng phương tiện hỗ trợ nhắc lại: lịch trình, thời gian, hình ảnh, sản phẩm, sự kiện, hạn chế khoảng thời gian nhắc lại

Chọn nhập liệu viên có trình độ tốt, làm sạch số liệu khi tiết hành nhập liệu và

Trang 28

trước khi phân tích số liệu

Tiến hành thử nghiệm bộ câu hỏi phát vấn để kiểm tra tính phù hợp của bộ câu hỏi

và chất lượng thông tin

Luôn sẵn sàng giải quyết các vấn đề y tế có thể xảy ra trong quá trình thu thập thông tin

5.10 Đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu được thông qua Hội đồng Đạo đức trường Đại học Y tế công cộng số 36/QĐ-ĐHYTCC Trang thông tin nghiên cứu và giấy đồng ý tham gia nghiên cứu được phát cho đối tượng nghiên cứu và Ban giám hiệu trường Đại học để xin sự đồng

ý tham gia nghiên cứu

Các đối tượng được giải thích thông tin r ràng và đầy đủ về mục đích, phương pháp của nghiên cứu cũng như những lợi ích theo dự đoán, các rủi ro có thể gặp của nghiên cứu này hoặc những điều khó chịu có thể xả ra đối với đối tượng tham gia nghiên cứu Điều tra viên cũng giải thích tính chất tự nguyện khi tham gia nghiên cứu này và quyền được từ chối vào bất cứ thời điểm nào khi tham gia, mọi từ chối trả lời đều được chấp nhận Sự tham gia chỉ xảy ra sau khi từng đối tượng nghiên cứu đã hiểu

rõ về nghiên cứu và ký vào giấy xác nhận đồng ý tham gia nghiên cứu

Mọi thông tin về đối tượng và số liệu của cuộc điều tra đều được giữ toàn vẹn, có tính chính xác cao và có thể thẩm tra được, đảm bảo tính riêng tư, bảo mật của đối tượng nghiên cứu

Danh tính và các thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu được đảm bảo giữ bí mật tuyệt đối và thông tin đảm bảo chỉ phục vụ cho mục đích học tập và nghiên cứu hoa học, không phục vụ cho lợi ích nào khác

Trang 29

6 KẾT QUẢ

6.1 Thông tin chung của sinh viên

Bảng 1 Thông tin chung của sinh viên

(n)

Tỷ lệ (%)

Trang 30

6.2 Mô tả thực trạng nhận thức và thực hành giảm thiểu đồ nhựa dùng một lần trong sinh hoạt của sinh viên 2 trường đại học khu vực phường Đức Thắng, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội năm 2020

6.2.1 Thực trạng sử dụng đồ nhựa dùng một lần của sinh viên trong một tuần

Biểu đồ 2 Mức độ sử dụng một số đồ nhựa dùng một lần của sinh viên trong một

33.3

20 0.9

30.9

31.2 29.4 13.3

21.5

28.2

38.2 43.7 26.7

7.3 12.4

42.1 20.9

Cốc/chai, bát, đĩa nhựa dùng 1 lần

Ống hút nhựa Túi nilon Màng bọc thực phẩm

Thường xuyên Thỉnh thoảng Hiếm khi Không sử dụng

Trang 31

Biểu đồ 3 Địa điểm thường sử dụng đồ nhựa dùng một lần của sinh viên trong

vòng một tuần đi học (%)

Theo biểu đồ 3, có thể thấy trong một tuần đi học tại trường, địa điểm sinh viên sử dụng đồ nhựa dùng một lần tại cửa hàng/quán ăn uống là cao nhất với 68,9%, sau đó là sửa dụng tại nhà và siêu thị/chợ với tỷ lệ lần lượt là 63,9% và 50,3% Việc sử dụng đồ nhựa dùng một lần trong trường học và những nơi khác (mang đi du lịch, mang đi mọi nơi, xe khách) có tỷ lệ thấp lần lượt là 1,2% và 0,9%

Biểu đồ 4 Lý do sử dụng đồ nhựa dùng một lần của sinh viên trong vòng một

tuần (%)

Kết quả nghiên cứu cho thấy, lý do tiện i tiện dụng của đồ nhựa dùng 1 lần được sinh viên đánh giá cao với tỷ lệ 85,1% so với sự đa dạng nhiều m u m chỉ chiếm tỷ lệ

19,7% Nguyên nhân khác dẫn đến việc sinh viên sử dụng đồ nhựa dùng 1 lần là sự

s n có chiếm 62,7%, không mất chi phí/chi phí thấp chiếm 41,5% và có thể chống

nước chiếm 33,6%

63.9 68.5 50.3

1.2 0.9

0 10 20 30 40 50 60 70 80 90 100 Tại nhà

Cửa hàng/ quán ăn uống

Siêu thị/ chợ Trường học

Khác (mang đi du lịch, mang đi mọi nơi, xe

Đa dạng/

nhiều mẫu mã

Có thể chống nước

Khác (quên mang đồ dùng, thói quen)

Trang 32

6.2.2 Nhận thức giảm thiểu sử dụng đồ nhựa dùng một lần của sinh viên

Biểu đồ 5 Nhận thức về tác hại sử dụng đồ nhựa dùng một lần của sinh viên (%)

Nhìn vào biểu đồ 2, có thể thấy các câu trả lời hoàn toàn đồng ý và đồng ý ở tất cả các lựa chọn chiếm tỷ lệ lớn trong khoảng 36,1%-61,2% đối với câu trả lời hoàn toàn đồng ý và 35,1%-45,5% đối với câu trả lời đồng ý Câu trả lời không đồng ý có tỷ lệ lựa chọn thấp nhất với tỷ lệ nhỏ hơn 0,9% Hai câu trả lời còn lại là bình thường và hoàn toàn không đồng ý có tỷ lệ dao động lần lượt trong khoảng 1,5%-12,7% và 4,2%-5,2%

4.9 5.2 4.9 4.9 4.6 4.2 4.2 4.2

0.6

0 0.3

0 2.1 0.9 1.5

0

8.8 1.8 1.5 4.2 10.9 7.9 12.7 9.4

42.7 32.7

32.1

41.2 37.2

44.6 45.5 45.2

43

60.3 61.2 49.7

45.2 42.2 36.1 40.9

Gây biến đổi khí hậu

Thời gian phân hủy

kéo dài trên chục năm

Trang 33

Bảng 2 Nhận thức giảm thiểu sử dụng đồ nhựa dùng một lần của sinh viên (%)

(n)

Tỷ lệ (%)

Nhận thức về tác hại của đồ nhựa

Ngày đăng: 31/01/2021, 15:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w