BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ ĐỀ TÀI Kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu tố liên quan tới phòng chống dịch COVID-19 của sinh vi
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ
ĐỀ TÀI
Kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu tố liên quan tới phòng chống dịch COVID-19 của sinh viên một số trường đại học tại Hà Nội năm 2020
Chủ nhiệm đề tài: Đặng Thị Vân Anh
Giảng viên hướng dẫn: Ths Lưu Quốc Toản
Cấp quản lý: Trường Đại học Y tế công cộng
Mã số đề tài:
Thời gian thực hiện: từ tháng 03 năm 2020 đến tháng 08 năm 2020
Tổng kinh phí thực hiện đề tài 9.320.000 đồng
Trong đó: kinh phí SNKH 9.320.000 đồng
Nguồn khác (nếu có): ……… Triệu đồng
Trang 3Năm 2020 Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài cấp cơ sở
Tên đề tài: Kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu tố liên quan tới phòng chống dịch COVID-19 của sinh viên một số trường đại học tại Hà Nội năm 2020
1 Chủ nhiệm đề tài: Đặng Thị Vân Anh
2 Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Y tế Công cộng
3 Cơ quan quản lý đề tài: Trường Đại học Y tế Công cộng
4 Danh sách những người thực hiện chính:
- Ths Lưu Quốc Toản Giảng viên hướng dẫn
- Nguyễn Thị Thúy Liễu Thành viên nhóm nghiên cứu
- Trần Đỗ Bảo Nghi Thành viên nhóm nghiên cứu
5 Thời gian thực hiện đề tài:Từ tháng 03 năm 2020 đến tháng 08 năm 2020
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu đã nhận được rất nhiều sự giúp
đỡ của các giảng viên và các sinh viên cử nhân chính quy đang học tập tại trường Đại học
Y tế Công cộng, trường Đại học Bách khoa và Trường Học Viện Báo chí & Tuyên truyền
Chúng tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Thạc sỹ Lưu Quốc Toản, người đã tận tình hướng dẫn và truyền đạt cho chúng tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các giảng viên và các phòng ban Trường Đại học Y tế công cộng đã trang bị kiến thức, tạo điều kiện thuận lợi cho nhóm trong suốt thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu này
Chúng tôi cũng xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình các sinh viên cử nhân chính quy đang học tập tại trường Đại học Y tế Công cộng, trường Đại học Bách khoa và Trường Học Viện Báo chí & Tuyên truyền đã đồng ý tham gia vào nghiên cứu của chúng tôi để nhóm có thể hoàn thành quá trình thu thập số liệu và đóng góp ý kiến cũng như hỗ trợ nhóm trong quá trình thu thập thông tin cho nghiên cứu
Một lần nữa chúng tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 5Mục Lục
PHẦN A: BÁO CÁO TÓM TẮT NGHIÊN CỨU 7
PHẦN B: NỘI DUNG BÁO CÁO CHI TIẾT 10
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 10
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 11
3 TỔNG QUAN 11
3.1 Định nghĩa, khái niệm và phân loại 11
3.2 Bệnh viêm đường hô hấp cấp do COVID-19 11
3.3 Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống dịch COVID-19 17 3.4 Các yếu tố liên quan 21
4 KHUNG LÝ THUYẾT 24
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
5.1 Thiết kế nghiên cứu: 25
5.2 Đối tượng nghiên cứu 25
5.3 Thời gian và địa điểm tiến hành nghiên cứu 25
5.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 25
5.5 Phương pháp thu thập số liệu 27
5.6 Phương pháp xử lý số liệu 28
5.7 Tiêu chuẩn đánh giá 29
5.8 Đạo đức nghiên cứu 30
6 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
7 BÀN LUẬN 49
8 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 52
1 Kết luận 52
2 Khuyến nghị 52
9 TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
10 PHỤ LỤC 64
Phụ lục 1:Bộ câu hỏi phỏng vấn sinh viên 64
Phụ lục 2: Bảng biến số 72
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẮT
ĐH YTCC Đại học Y tế Công cộng
HV BCTT Học viện Báo chí và Tuyên truyền
IHR Quy định y tế quốc tế (International Health Regulations)
MERS-CoV Hội chứng hô hấp Trung Đông
nCoV Virus Corona mới - Novel coronavirus 2019
PHEIC Tình trạng khẩn cấp y tế quốc tế (Health Emergency of
International Concern)
SARS-CoV Hội chứng hô hấp cấp tính nặng
SARS-CoV-2 Hội chứng hô hấp cấp tính nặng 2
WHO Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)
Trang 7PHẦN A: BÁO CÁO TÓM TẮT NGHIÊN CỨU Kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liên quan tới phòng chống dịch COVID-19 của sinh viên một số trường đại học tại Hà Nội năm 2020
SV Đặng Thị Vân Anh (Sinh viên trường Đại học Y tế Công cộng)
SV Trần Đỗ Bảo Nghi (Sinh viên trường Đại học Y tế Công cộng)
SV Nguyễn Thị Thúy Liễu (Sinh viên trường Đại học Y tế Công cộng) Giảng viên hướng dẫn: Ths Lưu Quốc Toản(Khoa Sức khoẻ môi trường và Nghề nghiệp, trường Đại học Y tế Công Cộng)
1 Đặt vấn đề và mục tiêu nghiên cứu:
Chủng Sars-Cov-2 là chủng vi rút nhóm Coronavirus thuộc họ Coronaviridae, gây bệnh viêm đường hô hấp cấp ở người Đây là chủng virus mới, chưa được xác định trước
đó và có khả năng lây lan rất nguy hiểm Người dân ở mọi lứa tuổi đều có khả năng có thể
bị mắc chủng mới của virus này Trong khi đó, hiện nay vẫn chưa có vắc xin để phòng và điều trị bệnh do Virus SARS-CoV-2 gây ra Tổ chức Y tế Thế giới đã tuyên bố: “Dịch virus Corona là tình trạng y tế khẩn cấp toàn cầu” Hiện nay số ca nhiễm và các trường hợp tử vong vẫn không ngừng tăng lên Chính vì vậy, việc chủ động phòng và chống bệnh viêm đường hô hấp do nCoV là rất quan trọng
Tại Việt Nam, tình hình dịch bệnh diễn biến vô cùng phức tạp với nhiều giai đoạn khác nhau Mặc dù tất cả mọi người dân đều đang nỗ lực cố gắng phòng chống dịch nhưng trong thời buổi công nghệ hiện nay, các thông tin lan tràn trên mạng xã hội không được kiểm soát chặt chẽ rất dễ khiến người dân hiểu sai vấn đề và trang bị kiến thức chưa tốt Điều này có thể ảnh hưởng đến thái độ và thực hành phòng chống dịch bệnh của người dân, đặc biệt là sinh viên (đối tượng dễ tiếp cận với các thông tin trên mạng xã hội)
Trong khi sinh viên là một lực lượng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phòng chống dịch Tuy nhiên, tại Việt Nam, hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu nào về vấn
đề này trên đối tượng là sinh viên được thực hiện trước đó Chính vì vậy, việc tìm hiểu
Trang 8thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống dịch COVID-19 của sinh viên là thực sự cần thiết để có những biện pháp tăng cường hơn nữa trong công tác phòng chống dịch
Với những lý do trên, chúng tôi quyết định thực hiện nghiên cứu “Kiến thức, thái
độ, thực hành và các yếu tố liên quan tới phòng chống dịch COVID-19 của sinh viên một số trường đại học tại Hà Nội năm 2020” với 2 mục tiêu: (1) Mô tả thực trạng kiến
thức, thái độ, thực hành về phòng chống dịch COVID-19 của sinh viên một số trường Đại học tại Hà Nội năm 2020, (2) Phân tích các yếu tố liên quan đến việc phòng chống dịch COVID-19 của sinh viên một số trường Đại học tại Hà Nội năm 2020
2 Phương pháp:
Nghiên cứu cắt ngang trên 652 sinh viên đại học nhằm mô tả thực trạng phòng chống dịch COVID-19 ở sinh viên năm 2020 và các yếu tố liên quan Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của sinh viên sẽ được đánh giá thông qua bộ công cụ được thiết
kế sẵn dựa trên mục tiêu và các biến số của nghiên cứu Bộ câu hỏi này được xây dựng dựa trên các khuyến cáo của WHO và Bộ Y tế về phòng chống dịch bệnh do COVID-19, được điều chỉnh để phù hợp với chủ đề nghiên cứu
3 Kết quả:
Nghiên cứu cho thấy, trong tổng số 652 đối tượng tham gia nghiên cứu, sinh viên
có kiến thức tốt chiếm 62,9%, vẫn còn 37,1% đạt loại chưa tốt Đa số sinh viên đều có thái độ tích cực đối với việc phòng chống dịch COVID-19, tỷ lệ sinh viên có thái độ tốt chiếm 86,3%, gấp 6,3 lần chưa tốt (13,7%) Tuy nhiên, việc thực hành phòng chống dịch COVID-19 của sinh viên còn chưa tốt, tỷ lệ sinh viên thực hành chưa đúng theo khuyến cáo của Bộ y tế còn khá cao (64%), gấp 1,8 lần sinh viên thực hành đúng Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức và thái
độ của sinh viên Cụ thể, sinh viên có kiến thức tốt có xu hướng có thái độ tốt cao hơn gấp 2,49 lần so với kiến thức chưa tốt (OR = 2,33; KTC 95%:1,45-3,73, p=0,008) Bên cạnh
đó, còn một số yếu tố liên quan khác tác động đến kiến thức, thái độ và thực hành của sinh viên, bao gồm: trường học và các phương tiện truyền thông
4 Kết luận
Trang 9Sinh viên ở một số trường đại học tại Hà Nội có thái độ tốt trong việc phòng chống dịch COVID-19 cao (86,3%) nhưng tỷ lệ sinh viên có kiến thức tốt chưa cao (62,9%) Đặc biệt, việc thực hành phòng chống dịch COVID-19 của sinh viên còn chưa tốt (64%) Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành của sinh viên bao gồm: trường học và các phương tiện truyền thông
Từ khóa: sinh viên, COVID-19, Hà Nội
Trang 10PHẦN B: NỘI DUNG BÁO CÁO CHI TIẾT
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Chủng Sars-Cov-2 là chủng vi rút nhóm Coronavirus thuộc họ Coronaviridae, gây bệnh viêm đường hô hấp cấp ở người Đây là chủng virus mới, chưa được xác định trước
đó và có khả năng lây lan rất nguy hiểm Người dân ở mọi lứa tuổi đều có khả năng có thể
bị mắc chủng mới của virus Corona Trong khi đó, hiện nay vẫn chưa có thuốc đặc hiệu
để phòng và điều trị bệnh viêm đường hô hấp do chủng virus mới này Ca bệnh đầu tiên được ghi nhận tại thành phố Vũ Hán, Trung Quốc vào tháng 12 năm 2019 Ngày 11 tháng
03 năm 2020, Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization-WHO) đã tổ chức cuộc họp khẩn cấp và công bố COVID-19 là Đại dịch trên toàn cầu Tính đến ngày 03 tháng 08 năm 2020, trên thế giới đã có hơn 18.000.000 trường hợp nhiễm xác nhận trên toàn cầu với hơn 690.000 ca tử vong ở 216 quốc gia và vùng lãnh thổ Chính vì vậy, việc chủ động phòng và chống bệnh viêm đường hô hấp do nCoV là rất quan trọng
Tại Việt Nam, tình hình dịch bệnh cũng rất phức tạp với nhiều giai đoạn khác nhau Theo thống kê của Bộ y tế tính tới thời điểm ngày 04 tháng 08 năm 2020, Việt Nam ghi nhận 652 trường hợp mắc, trong đó 374 người đã được xuất viện và 6 ca tử vong Tất
cả mọi người dân đều đang nỗ lực cố gắng phòng chống dịch bệnh Tuy nhiên, trong thời buổi công nghệ hiện nay, các thông tin lan tràn trên mạng xã hội không được kiểm soát chặt chẽ rất dễ khiến người dân hiểu sai vấn đề và trang bị kiến thức chưa tốt Điều này có thể ảnh hưởng đến thái độ và thực hành phòng chống dịch bệnh của người dân, đặc biệt là sinh viên (đối tượng dễ tiếp cận với các thông tin trên mạng xã hội)
Trong khi sinh viên là một lực lượng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phòng chống dịch Tuy nhiên, tại Việt Nam, hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu nào về vấn
đề này trên đối tượng là sinh viên được thực hiện trước đó Chính vì vậy, việc tìm hiểu thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống dịch COVID-19 của sinh viên là thực sự cần thiết để có những biện pháp tăng cường hơn nữa trong công tác phòng chống dịch
Trang 11Với những lý do trên, chúng tôi quyết định thực hiện nghiên cứu “Kiến thức, thái
độ, thực hành phòng chống dịch COVID-19 và các yếu tố liên quan của sinh viên một
số trường đại học tại Hà Nội năm 2020”
1 Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống dịch COVID-19 của sinh viên một số trường Đại học tại Hà Nội năm 2020
2 Phân tích các yếu tố liên quan đến việc phòng chống dịch COVID-19 của sinh viên một số trường Đại học tại Hà Nội năm 2020
vật và người Lần đầu tiên chúng được phát hiện là vào giữa những năm 1960(1)
Theo phân loại của Ủy ban Quốc tế về Phân loại Virus (International Committee
on Taxonomy of Viruses) coronavirus là từ Nidovirales, họ coronaviridae và phân họ
coronavirinae Chúng được chia thành bốn nhóm chính là alpha, beta, gamma, delta
Coronavirus gây nhiễm trùng ở người có bảy loại là 229E (alpha coronavirus), NL63 (alpha coronavirus), OC43 (beta coronavirus), HKU1 (beta coronavirus), Hội chứng hô hấp Trung Đông-MERS (beta coronavirus), Hội chứng hô hấp cấp tính nặng-SARS (beta coronavirus), Novel coronavirus 2019
3.2 Bệnh viêm đường hô hấp cấp do COVID-19
Novel coronavirus 2019 một loại coronavirus mới, trước đây chưa từng thấy ở người Lần đầu tiên phát hiện tại thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc và hiện đã được phát hiện ở 37 địa điểm trên toàn thế giới, bao gồm cả các trường hợp ở Hoa Kỳ
Trang 12Novel coronavirus 2019 là virus gây bệnh viêm đường hô hấp cấp (viết tắt: COVID-19)
và đã được đặt tên là SARS-CoV-2(1)
Vào ngày 30 Tháng 1 năm 2020, Quy định Y tế Ủy ban Khẩn cấp quốc tế của Tổ chức Y tế Thế giới tuyên bố bùng nổ một “ Trường hợp khẩn cấp y tế cộng đồng quan tâm quốc tế biểu tượng bên ngoài (PHEIC) Vào ngày 31 tháng 1 năm 2020, Bộ trưởng
Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Alex M Azar II đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng (Public Health Emergency-PHE) cho Hoa Kỳ để hỗ trợ cộng đồng chăm sóc sức khỏe của quốc gia trong việc đáp ứng với COVID-19(1)
Nguồn gốc và sự lây lan
Virus CoV-2 là một loại betacoronavirus, giống như MERS-CoV và CoV Cả ba loại virut này đều có nguồn gốc từ loài dơi Các trình tự từ các bệnh nhân Hoa Kỳ tương tự như trình tự ban đầu của Trung Quốc, cho thấy có khả năng xuất hiện một loại virus duy nhất gần đây từ một hồ chứa động vật(1)
SARS-Ngay từ sớm, nhiều bệnh nhân trong vụ dịch COVID-19 ở Vũ Hán, Trung Quốc đã
có một số liên kết đến một chợ hải sản và động vật sống lớn, cho thấy sự lây lan từ người sang người Sau đó, một số bệnh nhân ngày càng tăng được báo cáo là không tiếp xúc với thị trường động vật, cho thấy sự lây lan từ người sang người(1) Sự lây lan từ người sang người đã được báo cáo bên ngoài Trung Quốc
Đánh giá rủi ro
Bùng phát các bệnh nhiễm virus mới trong số những người luôn là mối quan tâm của sức khỏe cộng đồng Nguy cơ từ những đợt bùng phát này phụ thuộc vào đặc điểm của vi-rút, bao gồm mức độ lây lan giữa người với người, mức độ nghiêm trọng của bệnh
và các biện pháp y tế hoặc các biện pháp khác có sẵn để kiểm soát tác động của vi-rút (ví dụ: vắc-xin hoặc thuốc điều trị)(2) Thực tế là căn bệnh này đã gây ra bệnh tật, bao gồm
cả bệnh tật dẫn đến tử vong và lây lan từ người sang người liên tục có liên quan Những yếu tố này đáp ứng hai trong số các tiêu chí của một đại dịch Khi sự lây lan của cộng đồng được phát hiện ở ngày càng nhiều quốc gia, thế giới tiến gần hơn tới việc đáp ứng các tiêu chí thứ ba, sự lây lan của virus mới trên toàn thế giới(2)
Trang 13Mối đe dọa sức khỏe cộng đồng tiềm năng do COVID-19 gây ra là rất cao, trên toàn cầu và Hoa Kỳ
Triệu chứng nhiễm
Đối với các trường hợp bệnh coronavirus được xác nhận năm 2019 (COVID-19), các bệnh được báo cáo đã thay đổi từ các triệu chứng nhẹ đến bệnh nặng và tử vong Các triệu chứng có thể bao gồm: sốt; ho; khó thở(1)
CDC tin rằng tai thời điểm này, các triệu chứng của COVID-19 có thể xuất hiện sau ít nhất 2 ngày hoặc miễn là 14 ngày sau khi tiếp xúc Điều này dựa trên những gì đã được xem trước đây là thời kỳ ủ bệnh của virus MERS-CoV(1)
Kể từ ngày 10 tháng 2 năm 2020, chỉ có ba nghiên cứu trường hợp tương đối lớn
đã chứng minh kỹ lưỡng các đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân viêm phổi do
SARS-CoV-2 (viêm phổi SARS-CoV-SARS-CoV-2) ở Vũ Hán(3)(4)(5) Ở đây, nghiên cứu của Chib Chenglai đã tóm tắt các biểu hiện lâm sàng của 278 bệnh nhân bị viêm phổi do SARS-CoV-2, còn được gọi là viêm phổi coronavirus mới hoặc viêm phổi Vũ Hán(6) Tất cả các bệnh nhân
là người lớn trên 18 tuổi và nam giới chiếm 61,9% bệnh nhân (n = 172) Một nghiên cứu
gần đây tại Bắc Kinh đã báo cáo rằng 2 trong số 13 bệnh nhân bị viêm phổi do CoV-2 là trẻ em (2 tuổi và 15 tuổi)(7) Tính đến ngày 10 tháng 2 năm 2020, hơn 20 trường hợp bệnh nhi đã được báo cáo ở Trung Quốc, 10 trong số đó được xác định ở tỉnh Chiết Giang và trong độ tuổi từ 112 ngày đến 17 năm(7) Trong số các bệnh nhân trưởng thành, bệnh tim mạch và tăng huyết áp là những bệnh tiềm ẩn phổ biến nhất, sau đó là đái
SARS-tháo đường Sốt là triệu chứng phổ biến nhất (92,8%; n = 258), sau đó là ho (69,8%; n = 194), khó thở (34,5%; n = 96), đau cơ (27,7%; n = 77), đau đầu (7.2 %; n = 20) và tiêu chảy (6,1%; n = 17) Viêm mũi được ghi nhận chỉ 4,0%(3), đau họng ở 5,1%(3) và đau
họng ở 17,4%(5) bệnh nhân có thông tin lâm sàng liên quan Hầu hết bệnh nhân có số
lượng bạch cầu bình thường, nhưng 56,8% ( n = 158) bệnh nhân bị giảm bạch cầu Trong
một nghiên cứu, những bệnh nhân cần được chăm sóc đặc biệt đã già hơn đáng kể và có nhiều khả năng mắc các bệnh tiềm ẩn (6), nhưng một nghiên cứu khác cho thấy những phát hiện khác nhau (4) Theo hai nghiên cứu, bệnh nhân nhập viện tại khoa chăm sóc đặc biệt (ICU) có nhiều khả năng mắc chứng khó thở hơn so với bệnh nhân không
Trang 14ICU(4)(5) Trong số 13 bệnh nhân bị viêm phổi do SARS-CoV-2 được báo cáo ở Bắc Kinh, 12 (92,3%) bị sốt với thời gian trung bình là 1,6 ngày trước khi nhập viện(7) Các triệu chứng khác bao gồm ho (46,3%), tắc nghẽn đường thở trên(61,5%), đau cơ (23,1%)
và đau đầu (23,1%)(7) Mặc dù một số đặc điểm dịch tễ học đã được xác định, vẫn chưa
có sự không chắc chắn đáng kể và cần có thêm các nghiên cứu với thông tin chi tiết từ các trường hợp được xác nhận(8)
Sự bùng phát COVID-19 hiện tại vừa giống và khác với hội chứng hô hấp cấp tính nặng trước đó (SARS; 2002-2003) và hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS; 2012 - đang diễn ra) SARS được bắt đầu bằng việc truyền zoonotic của một loại coronavirus mới (có thể là từ dơi qua cầy hương) tại các chợ ở tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc MERS cũng được theo dõi để truyền bệnh từ một loại coronavirus mới (có thể là từ dơi thông qua lạc đà) ở Ả Rập Saudi(6) Cả 3 bệnh nhiễm virus thường có sốt và ho, thường dẫn đến bệnh đường hô hấp dưới với kết quả lâm sàng kém liên quan đến tuổi già và các tình trạng sức khỏe tiềm ẩn Xác nhận nhiễm trùng yêu cầu xét nghiệm axit nucleic của các mẫu đường
hô hấp (ví dụ, gạc họng), nhưng chẩn đoán lâm sàng có thể được thực hiện dựa trên các triệu chứng, phơi nhiễm và hình ảnh ngực(6)
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã tuyên bố ổ dịch SARS có vào ngày 5 tháng 7 năm 2003 Tổng cộng có 8096 trường hợp SARS và 774 trường hợp tử vong trên 29 quốc gia được báo cáo với CFR tổng thể là 9,6% MERS vẫn chưa được bao gồm và do đó chịu trách nhiệm cho 2494 trường hợp được xác nhận và 858 trường hợp tử vong trên 27 quốc gia với CFR là 34,4% Mặc dù CFR cao hơn nhiều đối với SARS và MERS, COVID-19
đã dẫn đến tổng số ca tử vong cao hơn do số lượng lớn các trường hợp Tính đến cuối ngày 18 tháng 2 năm 2020, Trung Quốc đã báo cáo 72 528 trường hợp được xác nhận (98,9% tổng số toàn cầu) và 1870 trường hợp tử vong (99,8% tổng số toàn cầu) Điều này
có nghĩa là CFR thô hiện tại là 2,6% Tuy nhiên, tổng số trường hợp COVID-19 có khả năng cao hơn do những khó khăn cố hữu trong việc xác định và đếm các trường hợp nhẹ
và không có triệu chứng Hơn nữa sự không chắc chắn này trong CFR có thể được phản ánh bởi sự khác biệt quan trọng giữa CFR ở Hồ Bắc (2,9%) so với bên ngoài Hồ Bắc
Trang 15(0,4%) Tuy nhiên, tất cả các CFR vẫn cần được giải thích một cách thận trọng và cần phải nghiên cứu thêm
Hầu hết việc truyền SARS và MERS thứ phát xảy ra trong môi trường bệnh viện Việc truyền COVID-19 đang diễn ra trong bối cảnh này cũng như các trường hợp của 3019 đã được quan sát thấy ở các nhân viên y tế vào ngày 11 tháng 2 năm 2020 (trong
đó đã có 1716 trường hợp được xác nhận và 5 trường hợp tử vong) Tuy nhiên, đây không phải là một phương tiện chính của lây lan COVID-19 Thay vào đó, có vẻ như truyền đáng kể đang xảy ra giữa các liên hệ gần gũi Đến nay, 20 tỉnh ngoài Hồ Bắc đã báo cáo
1183 cụm trường hợp, 88% trong số đó có từ 2 đến 4 trường hợp được xác nhận Đáng chú ý, 64% các cụm được ghi nhận cho đến nay là trong các hộ gia đình (Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Trung Quốc trình bày cho Nhóm đánh giá của WHO vào ngày 16 tháng 2 năm 2020) Do đó, mặc dù COVID-19 dường như dễ truyền hơn SARS
và MERS, và nhiều ước tính về số sinh sản COVID-19 (R0) đã được công bố, vẫn còn quá sớm để đưa ra ước tính R0 chính xác hoặc để đánh giá động lực của truyền dẫn Cần nhiều nghiên cứu hơn trong lĩnh vực này
Thực trạng tỷ lệ nhiễm COVID-19 trên thế giới:
Một loại coronavirus mới, trước đây được chỉ định là 2019-nCoV và hiện được gọi
là SARS-CoV-2, đã xuất hiện ở Vũ Hán, Trung Quốc vào cuối năm 2019 và nhanh chóng lan rộng qua nhiều quốc gia ở châu Á và các nơi khác trên toàn thế giới Sự cố này được coi là một trường hợp khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng (PHEIC) vào ngày 30 tháng 1 năm 2020(9) Đây là lần thứ 6 WHO tuyên bố PHEIC kể từ khi Quy định y tế quốc tế (IHR) có hiệu lực vào năm 2005
Tình trạng lâm sàng do SARS-CoV-2 gây ra đã được WHO chỉ định COVID-19 Tính đến 21h29 ngày 26 tháng 3 năm 2020, WHO đã báo cáo tổng cộng 474.968 ca nhiễm trên thế giới, có 81.285 trường hợp được xác nhận và 3.287 trường hợp tử vong ở Trung Quốc Trên toàn cầu ghi nhận trường hợp mắc đã lên tới 197 quốc gia/vùng lãnh thổ(10) Sự gia tăng nhanh chóng của nhiễm trùng và tử vong gây ra lo lắng, hoảng loạn,
kỳ thị, không tin tưởng và tin đồn trong cộng đồng
Trang 16Các nhà khoa học từ nhiều quốc gia đã công bố và phân tích bộ gen của mầm bệnh chịu trách nhiệm, SARS-CoV-2(11)(12)(13) Vào tháng 1 năm 2020, một nghiên cứu phân tích dữ liệu về 425 trường hợp được xác nhận đầu tiên ở Vũ Hán, Trung Quốc đã cung cấp bằng chứng về sự lây truyền từ người sang người giữa các liên hệ gần gũi và cho rằng các biện pháp ngăn chặn hoặc giảm lây truyền được thực hiện ở những người có nguy cơ(14)
Hai nghiên cứu được công bố vào tháng 1 năm 2020 đã mô tả các đặc điểm dịch tễ
và lâm sàng của COVID-19 được xác nhận trong phòng thí nghiệm ở 41 và 99 bệnh nhân, tương ứng ở Vũ Hán(3)(5) Vào ngày 9 tháng 2 năm 2020, một nghiên cứu liên quan đến 1.099 trường hợp được xác nhận trong phòng thí nghiệm tại 552 bệnh viện đã được công
bố trực tuyến để cung cấp một bản phân tích cập nhật về các đặc điểm dịch tễ và lâm sàng của COVID-19 trên khắp Trung Quốc đại lục(15) Những phát hiện của nghiên cứu khuyến khích sự thay đổi tập trung vào việc xác định và quản lý bệnh nhân ở giai đoạn sớm hơn, trước khi tiến triển bệnh Ngoài các trường hợp được xác nhận từ Trung Quốc, một số báo cáo đã xác định các cụm trường hợp lây truyền tại địa phương ở các quốc gia khác, làm tăng thêm sự hiểu biết về căn bệnh này
Thực trạng tỷ lệ nhiễm COVID-19 tại Việt Nam(16):
Thực trạng tỷ lệ nhiễm COVID-19 tại Việt nam diễn ra rất phức tạp Ngày 23/01/2020, Việt Nam xuất hiện ca mắc đầu tiên tại Nha Trang (Khánh Hòa), bệnh nhân
là người Trung Quốc đến du lịch tại Việt Nam Sau những nỗ lực kiểm soát dịch, ngày 05/03/2020, Việt Nam trở lại công cuộc chống dịch COVID19 giai đoạn 2 với bệnh nhân
số 17 Trong giai đoạn từ ngày 23/01/2020 đến ngày 18/04/2020, Việt Nam có tổng số
268 ca dương tính với SARS-CoV-2 Chính Phủ Việt Nam đã quyết định thực hiện Cách
ly xã hội trên toàn quốc từ 1/4/2020 Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã ra quyết định Cách li toàn xã hội với các văn bản, quyết định, chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng tại Công văn số 79-CV/TW ngày 30/1/2020; của Bộ Chính trị tại Thông báo số 172-TB/TW ngày 21/3/2020; chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại các Chỉ thị: số 05/CT-TTg ngày 28/1/2020; 06/CT-TTg ngày 31/1/2020, số 15/CT-TTg ngày 27/3/2020, số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020
Trang 173.3 Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống dịch COVID-19
3.3.1 Trên thế giới
Kiến thức
Ngoài cúm theo mùa, báo cáo các mầm bệnh viêm phổi bao gồm adenovirus, coronavirus 229E / NL63 / OC43, bocavirus con người, metapneumovirus ở người, parainfluenza virus 1/2/3, rhinovirus và hô hấp hợp bào vi-rút A / B(17)(18)(19) Hơn nữa, những vi-rút này có thể gây ra đồng nhiễm trong môi trường viêm phổi do vi khuẩn mắc phải tại cộng đồng(20)(19)(18) Sử dụng các phương pháp phân tử, kiến thức về vai trò của các loại virus này trong môi trường viêm phổi đã đạt được những tiến bộ đáng kể(21)(22)(23) SARS-CoV-2 được phát hiện là một loại virus RNA đơn chuỗi có ý nghĩa tích cực thuộc chi Betacoronavirus(24)(25)(26) Dựa trên những phát hiện điều tra bộ gen
và sự hiện diện của một số dơi và động vật sống trong chợ hải sản ở Vũ Hán,
SARS-CoV-2 có thể có nguồn gốc từ dơi hoặc phân dơi liên quan đến vật liệu bị ô nhiễm trong thị trường hoặc khu vực xung quanh(27)(28)
Theo kết quả nghiên cứu của Deblina Roy và các cộng sự khi tìm hiểu về kiến thức người dân Ấn Độ trong đại dịch COVID-19 năm 2020, thấy rằng những đối tượng tham gia nghiên cứu có kiến thức ở mức độ trung bình về sự lây nhiễm và họ có đầy đủ kiến thức về các biện pháp phòng ngừa COVID-19(29) Bên cạnh đó, có một mức độ hiểu biết cao về đại dịch COVID-19 ở nhân viên y tế Theo kết quả đánh giá kiến thức về COVID-
19 của các chuyên gia chăm sóc sức khỏe tại Hy Lạp, đa số các nhân viên y tế (88,28%)
có điểm kiến thức đạt mức độ khá trở lên(30) Một nghiên cứu khác tại Pakistan năm
2020 của M Saqlain, với thang đo dựa trên khuyến cáo của WHO đã cho thấy có 93,2% nhân viên y tế có kiến thức tốt (N=386)(31) Cũng trên đối tượng là nhân viên y tế, trong nghiên cứu “Kiến thức, thái độ và thực hành về COVID-19 của các nhân viên y tế ở Hà Nam, Trung Quốc” năm 2020 chỉ ra nhân viên y tế có hiểu biết đầy đủ về COVID-19 chiếm 89%(32) Tuy nhiên, trong một nghiên cứu cắt ngang khác được thực hiện dựa trên web trong tuần đầu tiên của tháng 3 năm 2020 đã chỉ ra kiến thức của người tham gia về các câu hỏi liên quan đến phương thức lây truyền và thời gian ủ bệnh của COVID-19 rất kém, vẫn còn một tỷ lệ đáng kể nhân viên y tế hiểu biết kém về sự lây truyền của COVID-
Trang 1819 (n = 276, 61,0%) và triệu chứng khởi phát (n =288, 63,6%) Kết quả từ nghiên cứu này cũng cho thấy có khoảng cách kiến thức đáng kể giữa bác sĩ và các nhân viên y tế khác
Đa số NVYT (n = 338, 85,6%) đồng ý rằng việc giữ gìn vệ sinh tay, che mũi miệng khi
ho và tránh người bệnh có thể giúp ngăn ngừa lây truyền COVID-19 Hầu hết các bác sĩ đồng ý rằng COVID-19 có thể dẫn đến viêm phổi, suy hô hấp và tử vong (n = 115, 84%;
p = 0,04) và chăm sóc hỗ trợ là lựa chọn điều trị duy nhất hiện có (n = 114,83,2% ; p< 0.001)(33) Mặc dù, các dấu hiệu và triệu chứng của COVID-19 và quần thể có nguy cơ biến chứng được đa số các bác sĩ tiêu hóa và nội soi biết nhưng có tới 70% số người được khảo sát không biết kiến thức về các biện pháp phòng ngừaCOVID-19(34)
Thái độ
Kết quả nghiên cứu của một cuộc khảo sát từ 662 đối tượng tại Ấn Độ năm 2020
đã chỉ ra người dân có thái độ sống tích cực, sẵn sàng tuân theo hướng dẫn của chính phủ
về kiểm dịch và giãn cách xã hội, tránh tiệc tùng, đi lại và giữ gìn vệ sinh Đồng thời, mức
độ lo lắng được xác định trong nghiên cứu là cao, 80% người dân bận tâm đến những suy nghĩ về COVID-19 Mọi người cho biết họ lo lắng, hoang tưởng về việc lây nhiễm bệnh
và rối loạn giấc ngủ trong đại dịch này (37,8% và 12,5% tương ứng)(29) Đa số các nhân viên y tế đều có nhận thức tích cực về COVID-19 Khi đánh giá thái độ của các chuyên gia chăm sóc sức khỏe tại Hy Lạp, phần lớn người tham gia (71%) đều đồng ý với lệnh cấm đi lại tạm thời(30) Theo Akshaya Srikanth Bhagavathula và các cộng sự khi tìm hiểu thái độ của nhân viên y tế, 87% (n = 394) cho rằng rửa tay bằng xà phòng và nước có thể giúp ngăn ngừa lây truyền COVID-19; 84,3% (n = 394) biết rằng các triệu chứng xuất hiện sau 2-14 ngày Đa số nhân viên y tế cho rằng bệnh nhân ốm nên chia sẻ tiền sử đi lại gần đây của họ (n = 420, 92,7%), tiêm phòng cúm là không đủ để ngăn ngừa COVID-19 (n = 411, 90,7%), tỷ lệ người tham gia cho rằng COVID-19 thì không gây tử vong còn cao (n = 401, 88,5%) Bên cạnh đó, chỉ có 20,9% (n = 95) nhân viên y tế trả lời “không” khi được hỏi về việc ăn thịt nấu chín trong đợt bùng phát(33).Một kết quả khác từ nghiên cứu của M.Saqlain năm 2020 khi tìm hiểu thái độ về bệnh do COVID-19 của nhân viên y
tế cho thấy nhân viên y tế có thái độ tích cực [trung bình 8,43 (độ lệch chuẩn 1,78)(31) Trong nghiên cứu của M.Zhang, tại Trung Quốc năm 2020, dựa trên bảng hỏi tự thiết kế
Trang 19đã chỉ ra có 85% đối tượng tham gia lo sợ bản thân bị lây nhiễm vi rút(32).Tại Mỹ Latinh, kết quả nghiên cứu của J Ruiz-Manriquez và các cộng sự cho thấy vẫn còn 30% đối tượng tham gia nghiên cứu cho rằng các biện pháp phòng ngừa tiếp xúc là không cần thiết(34)
Thực hành
Để giảm thiệt hại liên quan đến COVID-19, các biện pháp kiểm soát nhiễm trùng
và sức khỏe cộng đồng được yêu cầu khẩn cấp để hạn chế sự lây lan của virus trên toàn cầu Kinh nghiệm từ giai đoạn đầu của bệnh viêm phổi SARS-CoV-2 nhấn mạnh mạnh rằng lịch sử du lịch, thay vì chụp X quang lồng ngực, có tầm quan trọng hàng đầu đối với việc phát hiện sớm và phân lập các trường hợp viêm phổi SARS-CoV-2(35) Điều cần thiết là phải hạn chế lây truyền từ người sang người để giảm nhiễm trùng thứ cấp giữa những người tiếp xúc gần gũi và nhân viên y tế và để ngăn chặn các sự kiện khuếch đại truyền dẫn và lan rộng ra quốc tế hơn nữa từ Trung Quốc
Dựa trên kinh nghiệm quản lý nhiễm trùng MERS và SARS trước đây, WHO khuyến cáo các biện pháp can thiệp kiểm soát nhiễm trùng để giảm nguy cơ lây nhiễm các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính, bao gồm tránh tiếp xúc gần với những người bị nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính, rửa tay thường xuyên, đặc biệt là sau khi tiếp xúc trực tiếp với người bệnh hoặc môi trường của họ, và tránh tiếp xúc không được bảo vệ với trang trại hoặc động vật hoang dã Hơn nữa, những người có triệu chứng nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính nên thực hành nghi thức ho, đó là duy trì khoảng cách, che miệng khi ho và hắt hơi bằng khăn giấy hoặc quần áo dùng một lần(2)
Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) đã thiết lập hướng dẫn lâm sàng tạm thời cho ổ dịch COVID-19 để thực hiện các biện pháp mạnh mẽ nhằm làm chậm quá trình truyền SARS-CoV-2 ở Hoa Kỳ(36) Các biện pháp này bao gồm xác định các trường hợp và liên hệ của họ ở Hoa Kỳ cũng như đánh giá và chăm sóc thích hợp của khách du lịch đến từ Trung Quốc đại lục đến Hoa Kỳ
Theo M.Saqlain và các cộng sự khi tìm hiểu việc thực hành liên quan đến
COVID-19 ở nhân viên y tế đạt tốt cao (88,7%, N=367), trong đó dược sĩ có nhiều khả năng thực hành tốt hơn các nhân viên y tế khác (tỷ lệ chênh lệch 2,247, khoảng tin cậy 95% 1,11–
Trang 204,55, P= 0,025)(31) Từ kết quả nghiên cứu “Kiến thức, thái độ và thực hành về
COVID-19 của các nhân viên y tế ở Hà Nam, Trung Quốc” trong tổng số 1357 đối tượng tham gia
nghiên cứu có 89,7% tuân thủ các thực hành đúng về COVID-19(32)
3.3.2 Tại Việt Nam
Kiến thức
Kết quả từ một nghiên cứu cắt ngang phỏng vấn trực tiếp trên 354 sinh viên hệ bác
sĩ đang học tập tại trường Đại học Y Hà Nội nhằm mô tả kiến thức, thái độ của sinh viên đối với đại dịch COVID-19, cho thấy phần lớn sinh viên Đại học Y Hà Nội đều có kiến thức đúng về dịch bệnh COVID-19 Tuy nhiên chỉ có 49 người đã trả lời đúng cả 13 câu hỏi (chiếm tỷ lệ 13,84%)(35) Một kết quả nghiên cứu khác của Giao Huỳnh và cộng sự trên 327 nhân viên y tế cho thấy đa số nhân viên y tế có kiến thức tốt về phòng chống dịch COVID-19, điểm kiến thức trung bình 8,17 ± 1,3 (khoảng 4-10) Tuy nhiên, chỉ có khoảng 2/3 số người tham gia biết phương thức lây truyền, thời gian cách ly và điều trị (lần lượt là 67,0%, 65,8% và 58,4%)(36) Khi tìm hiểu kiến thức về phòng chống các bệnh lây qua đường hô hấp của người dân Hà Nội, Đào Hữu Thân và cộng sự đã báo cáo, người dân biết nhiều nhất về những biểu hiện của bệnh là ho (62,7%), sốt (41,4%) và khó thở (39,7%) Khi được hỏi về nguyên nhân, có 48,7% cho biết nguyên nhân gây bệnh do môi trường ô nhiễm, sau đó là tiếp xúc với người mắc bệnh (39,2%), vệ sinh cá nhân kém (37,1%), vẫn còn 20% người dân không có kiến thức về bệnh này, người dân ở khu vực giáp ranh có kiến thức thấp nhất(37)
Thái độ
Theo báo cáo của Lê Minh Đạt và các cộng sự khi tìm hiểu thái độ của của sinh viên đối với đại dịch COVID-19 đã chỉ ra 94,92% sinh viên sẵn sàng rửa tay bằng xà phòng thường xuyên để có thể ngăn ngừa sự lây nhiễm, 97,18% tin tưởng vào vai trò của cán bộ, nhân viên y tế, 73,16% sinh viên hệ bác sĩ trường Y Hà Nội tình nguyện tham gia vào công tác phòng chống dịch trong cộng đồng, 96,05% sẵn sàng đăng ký tiêm ngay lập tức nếu có vắc-xin phòng bệnh COVID-19(35) Trong nghiên cứu “Kiến thức và thái độ đối với COVID-19 của cán bộ y tế Bệnh viện quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh” năm 2020
đã cho thấy đa số nhân viên y tế có thái độ tích cực, cụ thể điểm thái độ trung bình 1,86 ±
Trang 210,43 (từ 1-5), trong đó82,3% có thái độ tích cực về nguy cơ cá nhân và 79,8% các thành viên trong gia đình mắc bệnh(36)
ở sinh viên Chúng tôi hy vọng nghiên cứu này có thể cung cấp thêm nhiều bằng chứng khoa học phục vụ cho việc chống phơi nhiễm các bệnh truyền nhiễm nói chung
và bệnh viêm đường hô hấp do COVID-19 nói riêng
3.4 Các yếu tố liên quan
Kiến thức
Theo báo cáo kết quả nghiên cứu của Giao Huỳnh và cộng sự đã chỉ ra có mối tương quan nghịch giữa điểm kiến thức và điểm thái độ (r = -0,21, p <0,001) Ngoài ra, các nhân viên y tế thường sử dụng mạng xã hội để tự thông báo về COVID-19 (91,1%)(36) Trong nghiên cứu của Dimitrios Papagiannis tại Hy Lạp năm 2020 cho thấy điểm kiến thức có liên quan đáng kể với cả điểm thái độ (p = 0,011) và điểm thực hành ( p <0,001), cụ thể những đối tượng có điểm kiến thức cao thể hiện nhận thức tích cực hơn về các biện pháp phòng ngừa và sẽ thực hành nhiều biện pháp phòng ngừa hơn(30) Điều này cũng đã được thể hiện trong báo cáo của S.BAkshaya năm 2020, kiến thức có thể ảnh hưởng đến nhận thức của NVYT do kinh nghiệm và niềm tin trong quá khứ của họ Nó có thể trì hoãn việc nhận biết và xử lý các bệnh nhân COVID-19 tiềm năng trong thời kỳ đại dịch Tuy nhiên, mức độ hiểu biết và nhận thức của NVYT đối với COVID-19 vẫn chưa rõ ràng(33)
Trang 22Thái độ
Thái độ của người dân có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực tới việc thực hành phòng chống dịch bệnh của họ Trong nghiên cứu “Đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành đối với Coronavirus mới (SARS-CoV-2) của các chuyên gia chăm sóc sức khỏe ở
Hy Lạp trước thời kỳ bùng phát” đã chỉ ra, điểm thái độ có liên quan đáng kể với điểm thực hành ( p= 0,009), cụ thể các đối tượng có điểm số thái độ cao hơn có nhiều khả năng thực hiện các hoạt động phòng chống lây truyền COVID-19 hơn(30)
Phương tiện truyền thông
Theo nghiên cứu “Kiến thức và nhận thức về COVID-19 của nhân viên chăm sóc sức khỏe: Nghiên cứu cắt ngang” năm 2020, hầu hết những người tham gia (n = 276, 61,0%) đã sử dụng mạng xã hội để lấy thông tin về COVID-19.Khi được hỏi nguồn thông tin đáng tin cậy về COVID-19 của những người tham gia, các nguồn chính được đề cập là các trang web chính thức của chính phủ và mạng xã hội Khoảng 30% (n = 134) người tham gia báo cáo rằng họ sử dụng phương tiện truyền thông tin tức (TV / video, tạp chí, báo và đài) và mạng xã hội (Facebook, Twitter, WhatsApp, YouTube, Instagram, Snapchat) để lấy thông tin về COVID -19 Hơn nữa, gần 40% (n = 179) người tham gia đôi khi thảo luận về các chủ đề liên quan đến COVID-19 với gia đình và bạn bè(33)
Mặc dù sự cải thiện của truyền thông internet phần lớn giúp tăng cường sự sẵn có
và phổ biến kiến thức nhưng internet cũng có khả năng phát triển và lan truyền thông tin sai lệch hoặc tin tức giả mạo(13) Thu thập thông tin từ các nguồn chính thống là then chốt để cung cấp dữ liệu minh bạch và đáng tin cậy về sự lây nhiễm COVID-19 và là điều cần thiết cho sự chuẩn bị và ứng phó dịch bệnh này Tuy nhiên, một phát hiện đáng quan tâm là hơn 61% (n = 278) NVYT sử dụng mạng xã hội như một nguồn thông tin Hiện tại, có rất nhiều thông tin đa dạng có sẵn trên internet, bao gồm cả thông tin độc hại chưa được xác minh, có thể lan truyền nhanh chóng và gây hiểu lầm Đặc biệt, các cơ quan y tế
và các nhà khoa học đã cảnh báo rằng thông tin sai lệch phổ biến về COVID-19 là một mối quan tâm nghiêm trọng gây ra tâm lý bài ngoại trên toàn thế giới(33) Chính phủ nên
có trách nhiệm cung cấp kiến thức chính xác và làm rõ thông tin sai lệch để giúp công chúng đối mặt với nhiễm trùng mớinày[13] Các thông tin cập nhật thường xuyên và
Trang 23thông điệp truyền thông rõ ràng, minh bạch về COVID-19 thông qua các phương tiện truyền thông chính thức và xã hội là những đóng góp quan trọng trong việc thay đổi hành
vi của cộng đồng đối với việc đeo khẩu trang, rửa tay và cách xa xã hội, kể từ tháng 2 năm 2020 (38)
Các yếu tố liên quan khác
Bên cạnh đó, các yếu tố như tuổi tác và nghề nghiệp cũng có liên quan đến kiến thức không đầy đủ và nhận thức kém về COVID-19, sự khác biệt giữa các nhóm trả lời là
có ý nghĩa thống kê ( p< 0.001)(33) Ngoài ra, khu vực sống khác nhau, tiếng mẹ đẻ và tình trạng kinh tế cũng có mối liên quan tới kiến thức, thái độ và thực hành COVID-19(39)
Trang 255 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang
5.2 Đối tượng nghiên cứu
5.2.1 Đối tượng nghiên cứu: Sinh viên cử nhân chính quy của ba trường
Đại học trên địa bàn Hà Nội năm 2019-2020: Trường Đại học Y tế
Công Cộng, Học viện Báo trí tuyên truyền, Đại học Bách khoa
5.2.2 Tiêu chuẩn lựa chọn
- Sinh viên thuộc hệ cử nhân chính quy đang theo học tại Trường Đại học Y tế công cộng, Học viện Báo trí tuyên truyền, Đại học Bách khoa năm 2019-2020
- Sinh viên có đầy đủ sức khỏe về mặt thể chất và tâm thần
- Sinh viên đồng ý tham gia nghiên cứu
5.2.3 Tiêu chuẩn loại trừ
- Sinh viên vắng mặt tại trường trong thời điểm thu thập số liệu
5.3 Thời gian và địa điểm tiến hành nghiên cứu
5.3.1 Thời gian: Từ tháng 03 năm 2020 đến tháng 10 năm 2020 5.3.2 Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành tại ba trường Đại
học trên địa bàn Hà Nội gồm: Đại học Y Tế Công cộng, Học viện
báo trí tuyên truyền, Đại học Bách khoa
5.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Trang 26p: Ước tính tỷ lệ sinh viên cử nhân chính quy tại trường Đại Học Y Tế Công Cộng, Học viện Báo trí tuyên truyền, Đại học Bách khoa có kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống dịch viêm đường hô hấp do virus Corona năm 2019-
2020 (chọn P = 0,5 để đạt được cỡ mẫu tối đa)
d: Sai số tuyệt đối chấp nhận (lấy d = 0,09)
Do đó, số lượng sinh viên tối thiểu cần cho nghiên cứu ở một trường là 250 người (thêm 5% so với cỡ mẫu, dự phòng sinh viên được chọn từ chối tham dự hoặc trả lời phiếu sai)
Vậy, cỡ mẫu được chọn cho nghiên cứu này của cả ba trường Đại học Y tế công cộng, Học viện Báo trí tuyên truyền, Đại học Bách khoa là 750 sinh viên
Trên thực tế, nhóm nghiên cứu phỏng vấn được 652 sinh viên (tỷ lệ tham gia là 100%)
5.4.2 Phương pháp chọn mẫu
Áp dụng phương pháp chọn mẫu cụm cho cả ba trường Đại học
Bước 1: Coi mỗi lớp của một trường Đại học là một cụm
Vì cỡ mẫu mỗi trường là 250 sinh viên, trung bình mỗi lớp có 40-50 sinh viên Do vậy, số lớp được chọn tham gia vào nghiên cứu tương ứng cho mỗi trường là 6 lớp
Bước 2: Liệt kê tất cả các cụm
Bước 3: Chọn lớp tham gia vào nghiên cứu
Đối với mỗi trường Đại học, nhóm nghiên cứu chọn sinh viên năm nhất, năm hai và năm
ba tham gia vào nghiên cứu Số lớp chọn làm mẫu ở các khóa tại các trường Đại học như sau:
Đại học Y tế Công
Cộng
Học viện Báo trí tuyên truyền
Đại học Bách khoa Tổng
Trang 27 Công cụ thu thập thông tin: Công cụ thu thập thông tin là bộ câu hỏi được thiết
kế sẵn dựa trên mục tiêu và các biến số của nghiên cứu Bộ câu hỏi được xây dựng dựa trên các khuyến cáo của WHO và Bộ Y tế về phòng chống dịch bệnh
do virus Corona, được điều chỉnh để phù hợp với chủ đề nghiên cứu Bộ câu hỏi trước khi chính thức tiến hành nghiên cứu đã được thử nghiệm trên nhóm đối tượng đích và được chỉnh sửa, bổ sung các nội dung phù hợp với đối tượng đích
Thời gian thu thập: tháng 05 năm 2020
Phương pháp thu thập: Do tình hình dịch COVID-19, bên cạnh việc phát vấn trực tiếp tại lớp học trong giờ ra chơi, nhóm nghiên cứu thu thập số liệu thông qua hình thức online Bộ câu hỏi được chuyển sang dạng google form và chia
sẻ tới sinh viên của ba trường Đại học: Đại học Y tế Công Cộng, Học viện Báo chí Tuyên truyền, Đại học Bách khoa Đối tượng nghiên cứu tự điền các câu trả lời mà họ cho là đúng vào bộ câu hỏi đã thiết kế sẵn
Trong quá trình gửi bộ câu hỏi cho đối tượng nghiên cứu, nhóm nghiên cứu gửi kèm giấy giới thiệu mục đích nghiên cứu và hướng dẫn các đối tượng trả lời vào bộ phiếu tự điền Tất cả các phiếu trả lời của đối tượng tham gia nghiên cứu sẽ được giữ bảo mật
Trang 28 Đối tượng là sinh viên ba trường Đại học sử dụng bộ câu hỏi tự điền để điền câu trả lời phù hợp với cá nhân đối tượng, dựa vào bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn
5.5.2 Công cụ thu thập số liệu
Số liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi phát vấn tự điền khuyết danh Bộ câu hỏi
này có 42 câu, dài 6 trang gồm 4 phần như sau: (Chi tiết xem phụ lục 1)
Phần A: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu với 5 câu, cung cấp thông tin về năm sinh, giới, ngành học, nơi ở, dân tộc
Phần B: Đánh giá kiến thức phòng chống dịch COVID-19 của sinh viên, gồm 10 câu hỏi Phần này cung cấp các thông tin: kiến thức chung về dịch bệnh COVID-
19, kiến thức về các biện pháp phòng chống, kiến thức về vệ sinh tay, kiến thức về sử dụng khẩu trang
Phần C: Gồm 14 câu hỏi đánh giá thái độ của sinh viên trong phòng chống dịch COVID-19, bao gồm nội dung: thái độ chung trong phòng chống dịch, thái độ về việc đeo khẩu trang, thái độ vệ sinh tay, thái độ đối với việc cách ly và nguồn nhận thông tin
Phần D: Đánh giá thực hành phòng chống dịch COVID-19 của sinh viên, gồm 10 câu hỏi về các phần: vệ sinh tay, vệ sinh ăn uống, vệ sinh nhà cửa, đeo khẩu trang, tập thể dục, thực hành chung và nguồn cập nhật thông tin về COVID-19
5.6 Phương pháp xử lý số liệu
5.6.1 Nhập số liệu: Số liệu từ bộ câu hỏi tự điền được nhập bằng phần mềm
Epidata 3.1 Sau đó được kiểm tra ngẫu nhiên 15% tổng số phiếu để kiểm tra tính chính xác của số liệu
5.6.2 Sử dụng phần mềm SPSS 20 để phân tích số liệu:
Thống kê mô tả cho biến định lượng sử dụng để mô tả các đặc điểm thông tin chung và tìm hiểu thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của sinh viên trong thời gian dịch bệnh diễn ra Kiểm định như Khi bình phương và Fisher test để mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành theo phương tiện truyền thông
Trang 29Sử dụng phương pháp hồi quy mô hình logistic đa biến để tìm hiểu mối liên quan giữa các yếu tố liên quan và thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của sinh viên trong thời gian diễn ra dịch bệnh
5.7 Tiêu chuẩn đánh giá
5.7.1 Tiêu chuẩn đánh giá biến kiến thức
Phần kiến thức gồm 10 câu hỏi hỏi về các kiến thức cơ bản mà đối tượng biết được trong thời gian dịch bệnh vừa qua với các câu trả lời “có/không” hoặc là câu trả lời nhiều lựa chọn Mỗi câu trả lời đúng tương ứng với 1 điểm Điểm kiến thức là tổng điểm 10 câu trả lời, điểm cao nhất là 10 điểm, điểm thấp nhất là 0 điểm
Điểm cut-off 80% được áp dụng để phân loại mức độ kiến thức của sinh viên thành
02 mức: Đối tượng có tổng điểm kiến thức ≥8 điểm thì được xếp vào nhóm có kiến thức tốt Ngược lại nếu đối tượng có điểm kiến thức <8 điểm thì được xếp vào nhóm có kiến thức chưa tốt
5.7.2 Tiêu chuẩn đánh giá biến thái độ
Phần thái độ gồm có 14 câu hỏi về tâm lý của đối tượng trong trong thời gian dịch bệnh diễn ra với câu trả lời theo thang điểm Linkert từ 1 đến 5 Điểm thái độ là tổng điểm
14 câu trả lời, điểm cao nhất là 70 điểm, điểm thấp nhất là 14 điểm
Điểm cut-off 80% được áp dụng để phân loại mức độ thái độ của sinh viên thành
02 mức: Đối tượng có tổng điểm thái độ ≥56 điểm thì được xếp vào nhóm có thái độ tốt Ngược lại nếu đối tượng có điểm thái độ <56 điểm thì được xếp vào nhóm có thái độ chưa tốt
5.7.3 Tiêu chuẩn đánh giá biến thực hành
Phần thực hành gồm 13 câu hỏi về việc thực hiện các biện pháp trong thời gian dịch bệnh với các câu trả lời “có/không” hoặc là câu trả lời nhiều lựa chọn Mỗi câu trả lời đúng tương ứng với 1 điểm Điểm thực hành là tổng điểm 13 câu trả lời (trừ câu D6.3), điểm cao nhất là 12 điểm, điểm thấp nhất là 0 điểm
Điểm cut-off 80% được áp dụng để phân loại mức độ thực hành của sinh viên thành 02 mức: Đối tượng có tổng điểm thực hành ≥9 điểm thì được xếp vào nhóm có thực
Trang 30hành tốt Ngược lại nếu đối tượng có điểm thực hành<9 điểm thì được xếp vào nhóm có thực hành chưa tốt
5.8 Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được thông qua bởi Hội đồng Đạo đức trường Đại học Y tế công cộng
số 181/2020/YTCC-HD3 mã số 020-181/DD-YTCC
Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu đều được giải thích tất cả các thông tin liên quan đến nghiên cứu như mục đích, nội dung nghiên cứu để đối tượng tham gia tự nguyện và cung cấp các thông tin chính xác.Tất cả thông tin của đối tượng được bảo mật Mọi từ chối trả lời đều được chấp nhận Cam kết mọi kết quả nghiên cứu và công bố là chính xác, khách quan, không chịu tác động của bất kì người, nhóm người, tổ chức nào vì lợi ích tài chính, chuyên môn, cá nhân,…Kết quả nghiên cứu chỉ nhằm phục vụ cho y học
và sức khỏe cộng đồng
6 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu tố liên quan tới phòng chống
dịch COVID-19 của sinh viên một số trường đại học tại Hà Nội năm 2020” nhằm tìm
hiểu về phòng chống dịch COVID-19 của sinh viên ở các lĩnh vực khác nhau Nhóm nghiên cứu đã thu thập được dữ liệu của 652 sinh viên được mô tả kết quả theo các bảng dưới đây:
6.1 Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống dịch COVID-19 của sinh viên một số trường Đại học tại Hà Nội năm 2020
6.1.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 1 Một số đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu
Trang 31Khác 36 5,5
Khu vực sống
Tỉnh (thành phố) có người dương tính với COVID-19 315 48,3
Tỉnh (thành phố) không có người dương tính với COVID-19 213 32,7
Cả hai khu vực trên 124 19,0
Về trường học, có 216 sinh viên thuộc trường Đại học Y tế công cộng (YTCC) (33.1%), 250sinh viên (38,3%) thuộc trường Đại học Bách khoa (Bách khoa) và 186sinh viên (28.5%) là sinh viên Học viện Báo chí tuyên truyền (BCTT)
6.1.2 Kiến thức phòng chống dịch COVID-19 của sinh viên
Bảng 2 Tỷ lệ hiểu biết của sinh viên đối với kiến thức chung về bệnh viêm đường hô
hấp cấp COVID-19 theo trường học
điểm
Trang 32Khoảng cách
cho phép
Dưới 1m 23 (10,7) 42(16,8) 44(23,7) 109(16,7)
Dưới 2m 185(85,7) 190(76,0) 119(64,0) 494(75,8) Dưới 3m 8(3,6) 9(3,6) 23(12,3) 40(6,1)
khó thở
67(31,0) 62(24,8) 67(36,0) 196(30,1)
Kiểm tra tại các cơ
sở y tế được phép thực hiện xét nghiệm
131(60,7) 182(72,8) 112(60,2) 425(65,2)
Người đi từ vùng dịch trở về 8(3,7) 5(2,0) 6 (3,2) 19 (2,9) Khác 10(4,6) 1(0,4) 1 (0,6) 12 (1,8)
Trang 33nhiễm COVID-19
Bảng 2 mô tả kiến thức chung của sinh viên về bệnh COVID-19 Cụ thể, về khoảng cách tiếp xúc gần với người nhiễm bệnh, đa số sinh viên đều xác định là khoảng cách dưới 2m (75,8%), chiếm tỷ lệ cao nhất là sinh viên YTCC (85,7%), thấp nhất là BCTT (64%)
Về vắc xin phòng bệnh và phác đồ điều trị hầu hết cho là chưa có (93,7% và 83,6% tương ứng) Sinh viên trường YTCC có tỷ lệ cao nhất trong ba trường (94,9% và 90,7%)
Tiếp theo là cách xác định nhiễm bệnh, có 65,2%sinh viên chọn “Kiểm tra tại các
cơ sở y tế được phép thực hiện xét nghiệm”, sinh viên trường Bách khoa có tỷ lệ cao nhất
(72,8%), trường YTCC vàBCTT không có sự chênh lệch nhiều (60,7% và 60,2% tương
ứng) Còn lại, 30,1% sinh viên chọn “Người đó có các triệu chứng ho, sốt, khó thở”,
“Người đi từ vùng dịch trở về”chiếm 2,9%và 1,8% là có ý kiến khác
Về cách liên hệ thông báo thông tin, sinh viên biết đến nhiều nhất là “ĐDN BV có
cơ sở TD, ĐT cách ly các BN nghi nhiễm, nhiễm COVID-19” (71%), thấp nhất là “Đường dây nóng của các cơ sở y tế tại địa phương” (56,1%), riêng sinh viên trường Bách khoa
biết “Số điện thoại đường dây nóng của Bộ Y tế” thấp nhất (36,4%)
Bảng3 Kiến thức về các biện pháp phòng chống dịch COVID-19
Hạn chế đi lại, nếu đang có triệu
chứng nghi ngờ cần báo ngay đến cơ
Trang 34Tránh chạm tay vào mắt, mũi, miệng 189(87,5) 214(85,6) 158(85,0) 561(86,0) Súc họng bằng nước sát khuẩn 173(80,1) 171(68,4) 151(81,2) 495(75,9) Thường xuyên rửa tay 185(85,7) 190(76,0) 159(85,5) 534(81,9) Khi ho, hắt hơi che kín miệng và mũi 193(89,4) 223(89,2) 161(86,6) 577(88,5) Liên hệ đến cơ sở y tế càng sớm càng
tốt khi có dấu hiệu nghi ngờ 193(89,4) 230(92,0) 169(90,9) 592(90,8)
Ăn chín uống sôi và đủ chất 161(74,5) 162(64,8) 145(78,0) 468(71,8) Lau nhà và các vật dụng hằng ngày 161(74,5) 155(62,0) 141(75,8) 457(70,1) Hạn chế dùng điều hòa 129(59,7) 83(33,2) 80(43,0) 292(44,8)
Sử dụng khẩu trang đúng cách 206(95,4) 241(96,4) 173(93,0) 620(95,1)
Bảng 3 cho thấy, trong các biện pháp phòng chống dịch COVID-19, việc “Hạn chế
đi lại, nếu đang có triệu chứng nghi ngờ cần báo ngay đến cơ sở y tế” được sinh viênbiết đến nhiều nhất (97,4%), đặc biệt là trườngBách khoa (99,2%) Có tỷ lệ thấp nhất là “Hạn chế dùng điều hòa” (44,8%), riêng trường YTCC biện pháp phòng chống có tỷ lệ sinh viên biết đến ít nhất là “giữ ấm cơ thể” (45,8%)
Bảng 4 Kiến thức của sinh viên về sử dụng khẩu trang
người hoặc khi tiếp xúc với người có
triệu chứng bệnh
198(91,7) 217 (86,8) 164(88,2) 579(88,8)
Trang 35Đối với các loại khẩu trang dùng 1 lần
cần vứt bỏ ngay vào thùng rác sau khi
dùng và sau khi bỏ khẩu trang cần rửa
tay sạch
205(94,9) 226(90,4) 172(92,5) 603(92,5)
Thống kê trong bảng 4 cho thấy, trong cách sử dụng khẩu trang, đa số sinh viên biết “Khẩu trang cần che kín miệng và mũi khi sử dụng” (92,6%) và “Đối với các loại khẩu trang dùng 1 lần cần vứt bỏ ngay vào thùng rác sau khi dùng và sau khi bỏ khẩu trang cần rửa tay sạch” (92,5%) Tỷ lệ sinh viên biết việc tránh chạm tay vào khẩu trang khi đang sử dụng là thấp nhất (74,46%), cụ thể trong ba trường: YTCC(79,6%), Bách Khoa(73,6%), BCTT (69,9%)
Bảng 5 Kiến thức của sinh viên về vệ sinh tay
Trang 36nồng độ cồn < 60 độ
Xà phòng hoặc dung dịch rửa tay có
nồng độ cồn >= 60 độ
122 (56,5) 127 (50,8) 61 (32,8) 310 (47,6)
Khác 8 (3,7) 0 (0,0) 1 (0,5) 9 (1,4) Bảng 5 mô tả kiến thức của sinh viên về việc vệ sinh tay Về các bước rửa tay, tỷ lệ sinh viên biết rửa tay gồm sáu bước chỉ chiếm 57,8%, còn lại 42,2% sinh viên cho rằng rửa tay gồm 3 bước, 5 bước và khác (7 bước) Tỷ lệ sinh viên biết rửa tay gồm 6 bước cao nhất trong ba trường tham gia nghiên cứu là YTCC(70,8%), tỷ lệ thấp nhất là BCTT(45,2%)
Về thời gian rửa tay, có 62,3% sinh viên chọn tối thiểu là 30s, trong đó chủ yếu là sinh viên YTCC(69%) và Bách khoa (63,6%), tỷ lệ sinh viên BCTT là thấp nhất (52,7%)
Về hình thức rửa tay, chiếm tỷ lệ cao nhất là rửa tay với xà phòng và dung dịch rửa tay có nồng độ cồn<60 độ (48,6%), chủ yếu chọn hình thức này là sinh viên BCTT(63,4%) Hình thức rửa tay với xà phòng và dung dịch rửa tay có nồng độ cồn>=60
độ chỉ chiếm 47,6%, chủ yếu là sinh viên YTCC (56,5%) và Bách khoa (50,8%) Vẫn còn 2,6% sinh viên chọn rửa tay với nước sạch, trong đó, BCTT 3,2%, BÁch khoa 2,8%, YTCC 1,9%
Bảng 6 Kết quả đánh giákiến thức chung của sinh viên về phòng chống dịch
Kiến thức về thuốc điều trị 194 (89,8) 183 (73,2) 149 (80,1) 526 (80,7)
Trang 37Kiến thức cách xác định
người nghi nhiễm 131 (60,7) 182 (72,8) 112 (60,2) 425 (65,2) Kiến thức biện pháp phòng
Kiến thức về khẩu trang 162 (75,0) 171 (59,7) 111 (59,7) 44 (68,1)
Kiến thức về vệ sinh tay 73 (33,8) 56 (22,4) 17 (9,1) 146 (22,4)
Bảng 6 là kết quả đánh giá kiến thức chung của sinh viên về phòng chống dịch COVID-19 Cụ thể, sinh viên có kiến thức chủ yếu về vắc xin và thuốc điều trị (93,7% và 80,7%) Tiếp theo là về khoảng cách cho phép, sinh viên có kiến thức tốt chiếm 75,8%, sau đó là kiến thức về khẩu trang và cách xác định người nhiễm (68,1% và 65,2%) Tuy nhiên, kiến thức về biện pháp phòng tránh của sinh viên Bách khoa và YTCC vẫn còn thấp (16,0% và 28,7%), riêng trườngBCTT có tỷ lệ sinh viên có kiến thức về vệ sinh tay
Kết quả từ bảng 7 đánh giá kiến thức chung của sinh viên về phòng chống dịch
COVID-19 theo trường học cho thấy, sinh viên YTCC có kiến thức tốt chiếm tỷ lệ cao nhất (69%), sau đó là Bách Khoa (65,6%) BCTT là trường có tỷ lệ sinh viên có kiến thức tốt thấp nhất trong ba trường được chọn tham gia nghiên cứu (52,2%)