TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ THỰC HÀNH VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ THỰC HÀNH VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
VÙNG CAO VIỆT BẮC NĂM 2020
Chủ nhiệm đề tài: Ma Thị Thơ - Sinh viên lớp CNCQYTCC16-1A1 Trường Đại học Y tế công cộng
Giáo viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Nga – Giảng viên Bộ môn Giáo dục sức khỏe Trường Đại học Y tế công cộng
Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Y tế công cộng
Mã số đề tài: SV 19.20-05
Năm 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ
Tên đề tài: Kiến thức, thái độ, thực hành về sức khỏe sinh sản vị thành niên dân
tộc thiểu số tại trường Phổ thông Vùng cao Việt Bắc năm 2020
Chủ nhiệm đề tài: Ma Thị Thơ - Sinh viên lớp CNCQYTCC16-1A1 Trường Đại học Y tế công cộng
Giáo viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Nga – Giảng viên Bộ môn Giáo dục sức khỏe Trường Đại học Y tế công cộng
Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Y tế công cộng
Trang 31 Tên đề tài: Kiến thức, thái độ, thực hành về sức khỏe sinh sản vị thành niên dân tộc thiểu số tại trường Phổ thông Vùng cao Việt Bắc năm 2020
2 Chủ nhiệm đề tài: Ma Thị Thơ - Sinh viên lớp CNCQYTCC16-1A1 Trường Đại học Y tế công cộng
3 Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Y tế công cộng
4 Cơ quan quản lý đề tài: Trường Đại học Y tế công cộng
5 Thư ký đề tài: Lê Thu Giang
6 Phó chủ nhiệm đề tài: Phí Quỳnh Trang
7 Giáo viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Nga – Giảng viên Bộ môn Giáo dục Sức khỏe Trường Đại học Y tế công cộng
8 Danh sách những người thực hiện chính:
- Phạm Thị Ánh - Sinh viên CTXH1 Trường Đại học Y tế công cộng
- Nguyễn Thị Thanh Mai - Sinh viên DD1 Trường Đại học Y tế công cộng
- Ma Thị Thu Lệ - Giáo viên trường PT Vùng cao Việt Bắc
- Phí Quỳnh Trang - Vụ Sức khỏe Bà mẹ - Trẻ em, Bộ Y tế
- Lê Thu Giang - Trung tâm Sáng kiến Sức khỏe và Dân số
9 Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 03 năm 2020 đến tháng 08 năm 2020
Trang 4BCS Bao cao su
CSSKSS Chăm sóc sức khỏe sinh sản
ĐH YTCC Đại học Y tế công cộng
ICDP Hội nghị thượng đỉnh về Dân số và Phát triển LTQĐTD, STDS Lây truyền qua đường tình dục
NKLTQĐTD Nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục
PT VCVB Phổ thông Vùng cao Việt Bắc
Trang 5Phần A: BÁO CÁO TÓM TẮT NGHIÊN CỨU 1
PHẦN B: TÓM TẮT CÁC KẾT QUẢ NỔI BẬT CỦA ĐỀ TÀI 5
1 Kết quả nổi bật của đề tài 5
2 Đánh giá thực tiễn đề tài đối chiếu với đề cương nghiên cứu đã được phê duyệt 5 3 Các ý kiến đề xuất 6
PHẦN C: NỘI DUNG BÁO CÁO CHI TIẾT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ 7
1 Đặt vấn đề 7
2 Mục tiêu nghiên cứu: 9
3 Tổng quan tài liệu 9
3.1 Một số khái niệm 9
3.1.1 Sức khỏe sinh sản 9
3.1.2 Vị thành niên 9
3.1.3 Các biện pháp tránh thai 10
3.1.4 Các bệnh lây truyền qua đường tình dục 10
3.2 Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành của vị thành niên về sức khỏe sinh sản vị thành niên 11
3.2.1 Kiến thức của vị thành niên về sức khỏe sinh sản 11
3.2.2 Thái độ của vị thành niên về sức khỏe sinh sản 15
3.2.3 Thực hành của vị thành niên về sức khỏe sinh sản 15
3.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về SKSS 16
3.3.1 Mối liên quan với yếu tố cá nhân 16
3.3.2 Mối liên quan tới tiếp cận thông tin về SKSS 17
3.3.3 Thông tin từ nhà trường và truyền thông 19
Trang 64 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 22
4.1 Đối tượng: 22
4.3 Thiết kế nghiên cứu: 22
4.4 Phương pháp chọn mẫu: 22
4.5 Công cụ và Phương pháp thu thập số liệu: 23
4.6 Phương pháp xử lý số liệu: 24
4.7 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 24
5 Kết quả nghiên cứu 25
5.1 Một số đặc điểm nhân khẩu học về đối tượng nghiên cứu 25
5.2 Kiến thức về sức khỏe sinh sản 29
5.3 Thái độ về sức khỏe sinh sản 36
5.4 Thực hành sức khỏe sinh sản 38
5.5 Tiếp cận thông tin 41
5.6 Một số yếu tố liên quan 45
6 Bàn luận 47
7 Kết luận 53
8 Khuyến nghị 54
8.1 Đối với BGH trường PT VCVB 55
8.2 Đối với định hướng can thiệp về SKSS cho các VTN DTTS tại trường PT VCVB 55 PHỤ LỤC 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 7Bảng 1: Một số đặc điểm nhân khẩu học 25
Bảng 2: Đặc điểm dân tộc của đối tượng tham gia nghiên cứu 26
Bảng 3: Tỷ lệ học sinh đã trải qua mộng tinh ở nam/hành kinh ở nam 27
Bảng 4: Tỷ lệ học sinh đã có người yêu hoặc kết hôn 27
Bảng 5: Đặc điểm tình trạng hôn nhân của phụ huynh đối tượng 28
Bảng 6: Nghề nghiệp của bố mẹ học sinh 28
Bảng 7: Tỷ lệ học sinh có kiến thức về các dấu hiệu dậy thì ở nữ 29
Bảng 8: Tỷ lệ hiểu biết về các dấu hiệu dậy thì ở nam 30
Bảng 9: Tỷ lệ nghe nói đến các biện pháp tránh thai 31
Bảng 10: Tỷ lệ biết đến địa điểm cung cấp phương tiện tránh thai 32
Bảng 11: Tỷ lệ biết đến các dấu hiệu của bệnh lây truyền qua đường tình dục 34
Bảng 12: Tỷ lệ biết đến các dấu hiệu của bệnh lây truyền qua đường tình dục 34
Bảng 13 Thái độ của học sinh về các quan điểm sức khỏe sinh sản 36
Bảng 14: Thái độ của học sinh khi thảo luận về sức khỏe sinh sản 37
Bảng 15: Thái độ của học sinh lần đầu có hành kinh ở nữ và mộng tinh ở nam 37
Bảng 16: Tỷ lệ học sinh đã quan hệ tình dục 38
Bảng 17: Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai khi quan hệ tình dục 38
Bảng 18: Thực hành vệ sinh cơ quan sinh dục đối với nữ (n=253) 39
Bảng 19 Thực hành vệ sinh cơ quan sinh dục đối với nam (n=123) 40
Bảng 20 Các địa chỉ tìm kiếm về sức khỏe sinh sản 41
Bảng 21 Các thông tin tìm kiếm về sức khỏe sinh sản 42
Bảng 22 Mong muốn thảo luận và nơi nhận phương tiện tránh thai 43
Bảng 23 Tỷ lệ thảo luận về chủ đề SKSS 44
Bảng 24 Mức độ thường xuyên thảo luận về chủ đề sức khỏe sinh sản 44
Bảng 25 Mối liên quan giữa các kiến thức và kiến thức SKSS chung 45
Bảng 26 Mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân và kiến thức SKSS 46
Bảng 27 Mối liên quan giữa mức độ thảo luận thông tin và kiến thức về SKSS 47
Trang 8Biểu đồ 1: Tuổi bắt đầu dậy thì ở nam và nữ Error! Bookmark not defined
Biểu đồ 2 Tỷ lệ có kiến thức đúng về thời điểm con gái có thể có thai 31
Biểu đồ 3 Tỷ lệ có kiến thức đúng về hành động có thể mang thai 31
Biểu đồ 4: Tỷ biết đến tên các biện pháp tránh thai (N=356: Trong số học sinh biết đến biện pháp tránh thai) 32
Biểu đồ 5: Tỷ lệ biết đến các bệnh lây truyền qua đường tình dục 33
Biểu đồ 6: Tỷ lệ kiến thức đạt về sức khỏe sinh sản 35
Biểu đồ 7: Tỷ lệ kiến thức đạt về sức khỏe sinh sản 41
Biểu đồ 8: Tỷ lệ tự tìm kiếm các thông tin về sức khỏe sinh sản 42
Hình 1: Hiểu biết về dấu hiệu thay đổi thể chất và sinh lí của tuổi dậy thì 12
Hình 2: Hiểu biết về các dấu hiệu thay đổi tâm lí của tuổi dậy thì 12
Trang 9Phần A: BÁO CÁO TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN
VỊ THÀNH NIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI TRƯỜNG PHỔ THÔNG
VÙNG CAO VIỆT BẮC NĂM 2020 Ths Nguyễn Thị Nga (Bộ môn Giáo dục Sức khỏe Trường ĐHYTCC)
SV Ma Thị Thơ (Trường ĐH Y tế công cộng)
CN Phí Quỳnh Trang (Vụ Sức khỏe Bà mẹ - Trẻ em, Bộ Y tế)
CN Lê Thu Giang (Trung tâm Sáng kiến Sức khỏe và Dân số)
SV Phạm Thị Ánh (Trường ĐH Y tế công cộng)
SV Nguyễn Thị Thanh Mai (Trường ĐH Y tế công cộng)
Ma Thị Thu Lệ (Bộ môn Sinh học trường PT Vùng cao Việt Bắc)
Theo Hội nghị quốc tế dân số và phát triển (ICPD) năm 2019 theo dõi trong 25 năm
về các chương trình chăm sóc sức khỏe cho vị thành niên, ICPD khuyến nghị các quốc gia đầu tư hơn về thực hiện các chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục toàn diện dựa trên bằng chứng nhằm nâng cao hạnh phúc của vị thành niên [47] Tại Việt Nam, kiến thức, thái độ, thực hành về sức khỏe sinh sản vị thành niên dân tộc thiểu số, ở các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa còn nhiều hạn chế[21] Nghiên cứu Kiến thức, thái độ, thực hành về sức khỏe sinh sản vị thành niên dân tộc thiểu số tại trường Phổ thông Vùng cao Việt Bắc (PT VCVB) năm 2020 được thực hiện với mục đích mô
tả kiến thức, thái độ, thực hành về sức khỏe sinh sản của học sinh và xác định một số yếu tố liên quan tới thực trạng kiến thức của học sinh về sức khỏe sinh sản nhằm mục đích tìm hiểu các tác nhân, muốn liên quan ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản vị thành niên dân tọc thiểu số tại trường PT VCVB Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang trên 376 học sinh dân tộc thiểu số trường PT VCVB Nghiên cứu thu thập số liệu từ 4 đến tháng 6 năm 2020
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ học sinh có kiến thức đạt về sức khỏe sinh sản tương đối thấp là 141 học sinh (37,5%) Tỷ lệ hiểu biết về các dấu hiệu dậy thì ở học sinh nam là 47,2%, ở học sinh nữ là 77,1% Tỷ lệ học sinh biết đến các biện pháp tránh thai phổ biến nhất là bao cao su, thuốc tránh thai hàng ngày, thuốc tránh thai khẩn cấp
ở nam và nữ lần lượt là 48,8% và 64,4% Về thái độ quan hệ tình dục (QHTD) trước
Trang 10hôn nhân, tỷ lệ đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) đồng ý với ý kiến Nam và nữ có thể QHTD trước khi cưới nếu người nữ sử dụng BPTT là 46,0%, tỷ lệ ĐTNC hoàn toàn đồng ý là 14,4% Đối với ý kiến Nam và nữ có thể QHTD trước khi cưới nếu người nam sử dụng BPTT là 43,9%, tỷ lệ ĐTNC hoàn toàn đồng ý là 10,9% Tỷ lệ vệ sinh cơ quan sinh dục đúng ở nhóm nữ tương đối thấp 48,6%, tỷ lệ không biết lau rửa cơ quan sinh dục như nào chiếm 11,1% Đối với nhóm nam việc thực hành rửa cơ quan sinh dục sau khi mộng tinh là 65,9%, và có tỉ lệ khá cao các bạn chỉ rửa sạch bao quy đầu
và quy đầu chiếm (69,9%) Tỷ lệ học sinh đã quan hệ tình dục tại trường PT VCVB là 1,9% tương đương với 7 học sinh nam trên tổng số 376 học sinh tham gia nghiên cứu Phân tích mối liên quan chỉ ra có sự liên quan giữa kiến thức SKSS của học sinh PT VCVB với các yếu tố cá nhân như giới tính (P<0,001; OR=0,3; CI: 0,2-0,7) và điểm trung bình học tập (P<0,05; OR=1,6; CI: 1,1-2,6) Không có mối liên quan giữa dân tộc, tình trạng kinh tế gia đình hay sống cùng với gia đình và kiến thức SKSS Bên cạnh
đó, có mối liên giữa mức độ thảo luận của học sinh về SKSS và kiến thức chung về SKSS Học sinh thường xuyên thảo luận về SKSS có kiến thức đạt cao gấp 2,16 lần so với học sinh không thảo luận thường xuyên về chủ đề này
Qua kết quả trên, BGH và nhà trường cần sớm đẩy mạnh các mô hình can thiệp truyền thông cung cấp kiến thức về SKSS qua các kênh có tỷ lệ học sinh mong muốn tiếp nhận cao và hứng thú nhiều như từ: mạng xã hội, tờ rơi, loa phát thanh … Khuyến khích các đề tài nghiên cứu đi sâu tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến kiến thức SKSS của học sinh còn thấp và đề ra cách thức hỗ trợ về vấn đề SKSS ở nhóm VTN DTTS nhằm nâng cao kiến thức về SKSS tránh các trường hợp liên quan đến hệ lụy về sau như HIV/AIDS, mang thai ngoài ý muốn
Trang 11Abstract
According to the International Conference on Population and Development (ICPD) in
2019 that tracks 25 years of health care programs for adolescents Based on evidence comprehensive sexual and reproductive health to enhance adolescent happiness, ICPD recommends that countries invest more in implementing care programs [47] In Vietnam, ethnic minority adolescent reproductive health, in remote and mountainous communes, has many limitations such as survey results on knowledge, attitudes, and practices about health The fertility of nearly 1,500 high school students in Thai Nguyen province in 2007 was quite low [21] The study on Knowledge, attitudes, and practices
of ethnic minority adolescent reproductive health at the Vung Cao Viet Bac High School 2020 was conducted to describe the knowledge, attitudes, and practices of the reproductive health of students and identify several factors related to the student's knowledge of reproductive health Research cross-sectional descriptive study using quantitative research methods on 376 ethnic minority students in Sustainable Development School The study collected data from June 4 to June 2020
The results show that the percentage of students with knowledge about reproductive health was relatively low at 141 students (37.5%) out of a total of 376 students The ratio of knowledge about puberty signs in boys is 47.2%, in girls is 77.1% The percentage of students who knew about the most popular contraceptive methods are condoms, daily contraceptives, and emergency contraceptive pills in men and women, respectively 48,8% and 64,4% Regarding the attitude of having sex before marriage, the percentage of students agreeing that a man and a woman can have sex before marriage if a woman uses contraception is 46.0%, the rate of students completely agree
is 14.4% For the idea that a man and a woman can have sex before marriage if a man uses contraception is 43.9%, the rate of students completely agree is 10,9% The rate of correct genital hygiene in the female group is relatively low at 48,6%, the rate of not knowing how to clean the genitals is 11,1% For the male group, the practice of washing the genitals after dreaming is 65,9%, and there is a relatively high rate of people who wash only foreskin and foreskin (69,9%) The percentage of students who had sex at the High School of Sustainable Development is 1,9%, equivalent to 7 male students out
of 376 students participating in the study
Relationship analysis showed the relationship between the reproductive health of students with sustainable development and personal factors such as sex (P <0.001; OR
= 0.3; CI: 0.2-0.7) and the study GPA (P <0,05; OR = 1,6; CI: 1,1-2,6) There is no relationship between ethnicity, family economic status, or living with family and reproductive health knowledge Besides, there is a link between the level of discussions among students about reproductive health at high schools in Viet Bac and general knowledge about reproductive health Students who regularly discuss reproductive health have 2,16 times more knowledge than students who do not regularly discuss this topic
Through the above results, the management board and schools need to promote the communication intervention models that provide knowledge about reproductive health through channels with a high proportion of students who want to receive and are much interested in such as social networks, leaflets, loudspeakers Encourage research topics to dig deeply into the causes of low reproductive health knowledge of students
Trang 12and propose ways to support reproductive health issues in ethnic minority youth groups
to improve knowledge about reproductive health avoid cases related to the consequences such as HIV/AIDS, unwanted pregnancy
Trang 13PHẦN B: TÓM TẮT CÁC KẾT QUẢ NỔI BẬT CỦA ĐỀ TÀI
1 Kết quả nổi bật của đề tài
(a) Đóng góp mới của đề tài: Đề tài là nghiên cứu đầu tiên mô tả về kiến thức, thái
độ, thực hành của học sinh trường Phổ thông Vùng Cao Việt Bắc, tỉnh Thái Nguyên (b) Kết quả cụ thể: Báo cáo kết quả nghiên cứu được Hội đồng khoa học trường Đại học Y tế công cộng thông qua
(c) Xuất bản 01 bài đăng trên tạp chí khoa học trong nước: Hiện đang viết bản thảo (d) Hiệu quả về đào tạo: Thực hiện đề tài giúp nhóm sinh viên nâng cao kiến thức
và kỹ năng thực hiện nghiên cứu, viết báo cáo nghiên cứu khoa học
(e) Hiệu quả về xã hội: Đề tài là cơ sở để nhìn nhận được những kiến thức, thái độ
về sức khỏe sinh sản, đồng thời làm rõ đặc điểm của việc thực hành chăm sóc sức khỏe sinh sản của vị thành niên dân tộc thiểu số Từ đó khuyến nghị cần tiếp tục có các nghiên cứu về tác động của chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với sức khỏe vị thành niên dân tộc thiểu số
2 Đánh giá thực tiễn đề tài đối chiếu với đề cương nghiên cứu đã được phê duyệt
(a) Tiến độ: Nghiên cứu đạt đúng tiến độ thực hiện theo thời gian được phê duyệt,
từ tháng 05 năm 2020 tới tháng 08 năm 2020
(b) Thực hiện mục tiêu nghiên cứu: Đề tài thực hiện đủ mục tiêu nghiên cứu đã đề
ra, trong đó có mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về sức khỏe sinh sản và một số yếu
tố liên quan tại trường Phổ thông Vùng Cao Việt Bắc, tỉnh Thái Nguyên năm 2020 (c) Các sản phẩm tạo ra so với dự kiến của bản đề cương:
- Báo cáo kết quả nghiên cứu được Hội đồng khoa học trường Đại học Y tế công cộng thông qua
- 01 bài báo để gửi đăng trên tạp chí khoa học trong nước: hiện đang viết bản thảo,
sẽ tiếp tục thực hiện trong thời gian tới
(d) Đánh giá việc sử dụng kinh phí: Tổng kinh phí thực hiện đề tài là 7,580,000
nghìn đồng Nghiên cứu đã sử dụng kinh phí SNKH là 7,580,000 nghìn đồng
Trang 143 Các ý kiến đề xuất
Nhóm nghiên cứu xin có ý kiến đề xuất về thời gian triển khai đề tài trong các năm tới để giúp các nhóm nghiên cứu kịp đạt tiến độ thực hiện theo đề cương đã đề ra Thời gian 5 tháng để xin sự thông qua của hội đồng đạo đức, thu thập và phân tích số liệu, viết báo cáo nghiên cứu, báo cáo hội đồng trong thời gian ngắn vậy nhóm đề xuất tăng thời gian lên 8 tháng Kinh phí cho đề tài cũng cần được khuyến khích nhiều hơn
Trang 15PHẦN C: NỘI DUNG BÁO CÁO CHI TIẾT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ
1 Đặt vấn đề
Theo Hội nghị quốc tế dân số và phát triển (ICPD) năm 2019 theo dõi trong 25 năm trở lại đây về các chương trình chăm sóc sức khỏe cho vị thành niên, ICPD khuyến nghị các quốc gia đầu tư hơn về thực hiện các chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục toàn diện dựa trên bằng chứng nhằm nâng cao hạnh phúc của vị thành niên [47] Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) sức khỏe sinh sản (SKSS) là trạng thái khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và hòa hợp xã hội về tất cả các phương diện liên quan đến hệ thống sinh sản trong suốt các giai đoạn của cuộc đời [28] Chăm sóc SKSS là một tập hợp các phương pháp, kỹ thuật và dịch vụ nhằm giúp cho con người có tình trạng SKSS khỏe mạnh thông qua việc phòng chống và giải quyết những vấn đề liên quan đến SKSS Thanh niên vị thành niên được coi là đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong
xã hội đã trở thành nhóm mục tiêu của các hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông
về SKSS ở Việt Nam Theo WHO, các vấn đề sức khỏe chính của thanh thiếu niên bao gồm mang thai sớm, sinh con, HIV/AIDS, trầm cảm, bạo lực, lạm dụng rượu và ma túy, chấn thương có chủ ý, suy dinh dưỡng, béo phì và sử dụng thuốc lá [57]
Thanh thiếu niên chiếm 1,2 tỷ người trên toàn cầu và 11% tổng số ca sinh trên toàn thế giới là những bé gái từ 15-19 tuổi [37] Tại Việt Nam, vị thành niên chiếm một tỷ lệ lớn trong cơ cấu dân số Tổng điều tra dân số ở Việt Nam năm 2012, trẻ trong độ tuổi
vị thành niên là 17,3 triệu người chiếm 22,7% dân số Theo thống kê trẻ vị thành niên
từ 10 – 19 tuổi ở nước ta là 17,5 triệu người chiếm 22,46% dân số Như vậy trẻ trong
độ tuổi vị thành niên chiếm tới 1⁄4 dân số cả nước [1] Một trong những vấn đề cơ bản trong giai đoạn này là sức khỏe sinh sản (SKSS), bao gồm cả vấn đề dậy thì, giới và những vấn đề liên quan đến tình dục Mang thai và sinh con ở tuổi vị thành niên ngày càng được công nhận là một vấn đề y tế công cộng nghiêm trọng trên toàn thế giới Các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng, thanh thiếu niên được cung cấp đầy đủ kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản ở lứa tuổi này là vô cùng quan trọng để phòng ngừa mang thai ngoài ý muốn và các bệnh lây truyền qua đường tình dục [41], [51], [52] Thanh thiếu niên thường thiếu kiến thức và hành vi cơ bản về SKSS và không
Trang 16thoải mái khi tiếp cận các dịch vụ SKSS so với người lớn do bối rối hoặc khó chịu khi thảo luận các chủ đề nhạy cảm với nơi cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe và thái độ
ít thoải mái đối với việc sử dụng các dịch vụ này [59] Tại Việt Nam, theo nghiên cứu trước can thiệp của tác giả Phạm Công Thu Hiền trên đối tượng học sinh THCS năm
2009, cho thấy tỷ lệ có kiến thức đúng tổng hợp về SKSS là 27,1%, thái độ tích cực là 26,3% và tỷ lệ thực hành về sử dụng BPTT trước can thiệp là rất thấp với 16% [22] Kiến thức, thái độ và hành vi ảnh hưởng rất lớn đến mang thai, sức khỏe tình dục và sinh sản của thanh thiếu niên
Trường Phổ thông Vùng cao Việt Bắc là trường nội trú trực thuộc sự quản lí trực tiếp của Bộ Giáo dục và Đào tạo với hơn 2000 học sinh từ hệ THCS, THPT, Dự bị đại học Trường hơn 30 dân tộc thiểu số từ 29 tỉnh, thành phía Bắc tính từ Thừa Thiên Huế Trong đó có trong đó có những học sinh thuộc dân tộc rất ít người như: Ngái, Lự, Mảng, Sila, Clao, La Chí, La Hủ, Cống, Pu Péo, Bố y đến từ rất nhiều xã, huyện vùng sâu vùng
xa của các tình miền núi phía Bắc Trường có nhiều học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn, ngoài ra có những học sinh mồ côi cha hoặc mẹ, nên việc tiếp cận kiến thức, thông tin về chăm sóc sức khỏe còn nhiều hạn chế [27] Bên cạnh đó, theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Trường về kiến thức, thái độ, thực hành về sức khỏe sinh sản của gần 1.500 học sinh Trung học Phổ Thông của tỉnh Thái Nguyên năm 2007 còn khá thấp [21] Sức khỏe sinh sản là một vấn đề cần được quan tâm nhiều hơn đến đối tượng thanh thiếu niên, đặc biệt là học sinh dân tộc thiểu số, vùng miền núi Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Kiến thức, thái độ, thực hành sức khỏe sinh sản của vị thành niên dân tộc thiểu số tại trường Phổ Thông Vùng Cao Việt Bắc (PTVCVB) năm 2020” được thực hiện nhằm mô tả kiến thức, thái độ và hành vi về SKSS của vị thành niên dân tộc thiểu số và xác định một số yếu tố liên quan đến thực trạng kiến thức
về sức khỏe sinh sản
Trang 172 Mục tiêu nghiên cứu:
1 Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về sức khỏe sinh sản vị thành niên dân tộc thiểu sổ trường Phổ thông Vùng cao Việt Bắc năm 2020
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức về sức khỏe sinh sản vị thành niên dân tộc thiểu sổ trường Phổ thông Vùng cao Việt Bắc năm 2020
3 Tổng quan tài liệu
3.1 Một số khái niệm
3.1.1 Sức khỏe sinh sản
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 2004 sức khỏe sinh sản (SKSS) là trạng thái khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và hòa hợp xã hội về tất cả các phương diện liên quan đến hệ thống sinh sản trong suốt các giai đoạn của cuộc đời Cũng theo Tổ chức
Y tế Thế giới, các vấn đề sức khỏe chính của thanh thiếu niên bao gồm mang thai sớm, sinh con, HIV/AIDS, trầm cảm, bạo lực, lạm dụng rượu và ma túy, chấn thương có chủ
ý, suy dinh dưỡng, béo phì và sử dụng thuốc lá [49]
3.1.2 Vị thành niên
Vị thành niên: Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 1998) vị thành niên là người trong độ tuổi từ 10 – 19 tuổi [26] Khái niệm vị thành niên được thừa nhận về mặt văn hóa là giai đoạn chuyển tiếp giữa tuổi ấu thơ và tuổi trưởng thành Trong giai đoạn này con người thay đổi rất nhiều tùy thuộc vào các yếu tố môi trường gồm môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và các yếu tố nhân học [22], [9].Nghiên cứu này thực hiện trên đối tượng vị thành niên có độ tuổi từ 16-18 tuổi tính theo năm dương lịch từ khi sinh đến thời điểm điều tra do đặc thù địa điểm nghiên cứu là trường THPT
Theo bài giảng giáo dục sức khỏe sinh sản cho vị thành niên tại trường Đại học Y tế công cộng năm 2004, các nội dung bao gồm: (1) Giúp vị thành niên hiểu về SKSS (sinh
lý sinh sản, thụ thai và các BPTT), (2) Giáo dục tình bạn, tình yêu lành mạnh, (3) Nguy
cơ thai nghén ngoài ý muốn, (4) Giáo dục giới tính, (5) Giáo dục về sức khỏe tình dục
và (6) Các bệnh lây truyền đường tình dục và bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản [26] Dựa trên những nội dung về giáo dục sinh sản cho vị thành niên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu trên hai nội dung chính: (1) Giúp vị thành niên hiểu về SKSS (sinh lý sinh
Trang 18sản bao gồm tuổi dậy thì và các dấu hiệu nhận biết tuổi dậy thì, thụ thai và các BPTT, (2) Các bệnh lây truyền đường tình dục
3.1.3 Tuổi dậy thì
Tuổi dậy thì là thời điểm đánh dấu những thay đổi về thể chất và tâm lý ở nam và
nữ Dấu hiệu quan trọng của tuổi dậy thì là thời điểm có kinh nguyệt lần đầu ở nữ, và mộng tinh hay xuất tinh lần đầu ở nam Tuy nhiên 2 dấu hiệu này chỉ chứng tỏ nam nữ
đã có khả năng sinh sản hơn là thời điểm bắt đầu dậy thì vì có nhiều dấu hiệu khác còn xuất hiện trước cả 2 dấu hiệu nói trên mà vẫn được coi là những dấu hiệu đặc trưng của giai đoạn dậy thì Theo y văn, tuổi dậy thì (thường kéo dài vài năm) diễn ra theo5 giai đoạn (phân loại Tanner) và thường bắt đầu khoảng tuổi 8 – 13 cho nữ và 9 – 14 cho nam, ví dụ với nữ lớn phổng, cấu hình cơ thể thay đổi, mông đùi đã nở nang và vì thế vóc dáng đã có đường cong
Xác định các giai đoạn dậy thì của thiếu niên Việt Nam xứng đáng để có một nghiên cứu toàn diện và sâu hơn về biểu hiện của tuổi dậy thì của thanh thiếu niên nước ta để
từ đó có những khuyến cáo về những gì bất thường Phù hợp với văn liệu trên thế giới, các em gái sống ở thành thị bắt đầu hành kinh sớm hơn các em gái ở nông thôn, nhất là các em gái dân tộc thiểu số, phần lớn số này cũng sống ở khu vực nông thôn Trên thực
tế, các em gái sống ở thành thị hành kinh lần đầu sớm hơn gần 1 năm so với các em gái người dân tộc thiểu số [25]
3.1.3 Các biện pháp tránh thai
Các biện pháp tránh thai phổ biến như các biện pháp tránh thai nội tiết tố và vòng tránh thai có hiệu quả cao trong việc ngừa thai, nhưng chúng không bảo vệ chống lại các bệnh lây truyền qua đường tình dục, bao gồm cả HIV Sử dụng bao cao su ở cả nam và nữ giới một cách nhất quán và đúng cách giúp giảm nguy cơ nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác, bao gồm nhiễm chlamydia, nhiễm lậu cầu và nhiễm trùng roi trichomonas Ngoài ra còn có các loại thuốc tránh thai bao gồm thuốc tránh thai hàng ngày và thuốc tránh thai khẩn cấp [26]
3.1.4 Các bệnh lây truyền qua đường tình dục
Đa số các trường hợp NKLTQĐTD đều để lại hậu quả về mặt sức khỏe nặng nề hơn
so với NKĐSS NKLTQĐTD nói đến cách thức lây truyền, các NKLTQĐTD có cả ở
Trang 19nam và nữ Khi người bệnh mắc NKLTQĐTD cần phải điều trị cho cả bạn tình của họ
để đề phòng tái nhiễm cho người bệnh, đề phòng lây nhiễm cho bạn tình của bạn tình của họ (một người có thể có nhiều bạn tình) Các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục (NKLTQĐTD) như nhiễm Chlamydia, bệnh lậu, trùng roi sinh dục, bệnh giang mai, bệnh hạ cam, herpes sinh dục, sùi mào gà sinh dục và nhiễm HIV [2]
3.2 Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành của vị thành niên về sức khỏe sinh sản vị thành niên
3.2.1 Kiến thức của vị thành niên về sức khỏe sinh sản
Nền kinh tế xã hội của các nước trên thế giới phát triển khác nhau nên thực trạng về kiến thức, thái độ và thực hành của Vị thành niên về Sức khỏe sinh sản là khác nhau, tuy nhiên Vị thành niên vẫn được xếp vào nhóm dễ bị tổn thương Một trong những dấu mốc bắt đầu phát triển sinh lý sinh sản là tuổi dậy thì Độ tuổi dậy thì trung bình khác nhau ở các nước khác nhau Một nghiên cứu tại Iran đối với lứa tuổi vị thành niên cho thấy tuổi dậy thì trung bình là 12,5 tuổi Có 45,5% sinh viên tin rằng tuổi dậy thì không
dễ chịu và thấy rắc rối và 36,7% tin rằng đó là một sự kiện sinh lý Kiến thức về tuổi dậy thì của lứa tuổi học sinh cao (50,3%) [42]
Gần 41% cho biết kinh nguyệt làm sạch bụi bẩn máu của cơ thể Gần 8,3% người tham gia không biết về cơ quan sinh sản của nữ và 18,3% không biết về những thay đổi thể chất ở tuổi dậy thì Gần 54% Những người tham gia có những hạn chế về kiến thức trong kỳ kinh nguyệt Các nghiên cứu tương tự khác tại Rajasthan cũng cho thấy 70%bạn nữ coi kinh nguyệt là một quá trình bất thường [48]
Trang 20Hình 1: Hiểu biết về dấu hiệu thay đổi thể chất và sinh lí của tuổi dậy thì
Một nghiên cứu cắt ngang đã được thực hiện trên 450 học sinh trường Trung học phổ thông Tràng Định Kết quả điều tra hiểu biết của học sinh về sự thay đổi thể chất
và sinh lí ở tuổi dậy thì cho thấy dấu hiệu thay đổi về thể chất, sinh lí mà học sinh nhận
thấy rõ nhất là “Tăng lên về chiều cao và cân nặng” chiếm 85,3% Dấu hiệu “Xuất tinh lần đầu (với nam)” có tỉ lệ hiểu biết thấp nhất, chỉ chiếm 29,4%
Hình 2: Hiểu biết về các dấu hiệu thay đổi tâm lí của tuổi dậy thì
Dấu hiệu thay đổi về tâm lí mà các em học sinh nhận thấy rõ nhất khi bắt đầu tuổi
dậy thì là “Tính tình thay đổi” chiếm 76,7%, “Thích giao tiếp với bạn khác giới” chiếm
35,8% Tỉ lệ học sinh nhận biết được 3 dấu hiệu trở lên chỉ có 30% trong đó tỉ lệ nhận
biết được 5 dấu hiệu trở lên rất thấp (9,3%) [10]
Theo điều tra quốc gia về sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục của Thanh thiếu niên Việt nam năm 2016 có đánh giá kiến thức về những thay đổi cơ thể giai đoạn tuổi dậy thì Điều tra cho thấy có khoảng 2/3 (64,5%) thanh thiếu niên có thể liệt kê được ít nhất một dấu hiệu thay đổi cơ thể khi dậy thì ở nam giới Trung bình, những người trả lời có thể liệt kê 1,1 dấu hiệu dậy thì (Độ lệch chuẩn (SD±1,1) ở nữ Tương tự như kết quả về dậy thì ở nam giới, 61,7% người được phỏng vấn có thể liệt kê được ít nhất một dấu hiệu thay đổi cơ thể trong giai đoạn dậy thì ở nữ Trung bình, người được phỏng vấn có thể liệt kê 1,1 (SD±1,1) dấu hiệu dậy thì ở nữ Tỷ lệ nữ (82,0%) có thể liệt kê được ít
nhất một dấu hiệu thay đổi [4]
Sử dụng các biện pháp tránh thai khi QHTD là ngăn chặn tinh trùng của nam có thể gặp trứng của nữ để tạo thành hợp tử trong tử cung của nữ giới Điều này giúp cho người nữ giảm nguy cơ mang thai ngoài ý muốn Theo tác giả Hà Mạnh Linh – Đại học Tây Bắc khi nghiên cứu nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản tại trường phổ
Trang 21thông dân tộc nội trú tỉnh Sơn La Có 79,73% học sinh hiểu đúng là chỉ khi có tinh dịch của nam giới đi vào đường âm đạo của nữ giới, có sự gặp nhau giữa trứng và tinh trùng, thường là phải có quan hệ tình dục giữa nam và nữ mới có thể dẫn tới có thai Trong khi đó, vẫn còn tới 20,27% học sinh hiểu sai hoặc không biết về nguyên nhân có thai
Sự hiểu sai hoặc không biết về nguyên nhân có thai có thể dẫn tới sự hoang mang, lo lắng không mong muốn cho học sinh Điều này có thể làm giảm kết quả học tập và ảnh hưởng tới tâm lý của học sinh [15] Tuy nhiên, tỷ lệ phần trăm nam nữ thanh niên trả lời đúng câu hỏi về thời điểm dễ có thai trong chu kỳ kinh khá thấp [11] Ở SAVY 2, chỉ có 13% (7% nam và 18% nữ) trả lời đúng câu hỏi này (thời điểm” giữa 2 kỳ kinh”)
Ở SAVY 1, có 17% trong đó 11% nam và 22% nữ trả lời đúng [25]
Mức độ hiểu biết của học sinh về “thời điểm dễ thụ thai” được chỉ ra ở bảng 3, từ đó thấy rằng tỷ lệ học sinh hiểu đúng về thời điểm dễ thụ thai là khá thấp, chỉ đạt 31,96% Điều này cho thấy một thực trạng đáng lo ngại về sự thiếu kiến thức cơ sở cho việc phòng tránh thai Điều này cũng tương tự như một số nghiên cứu chỉ ra trước đây như: theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Trường tại trường THPT Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên chỉ có 33% học sinh biết về thời điểm dễ thụ thai trong chu kỳ kinh nguyệt [21] Trong
số 352 người được hỏi tại Ethiopia, 69,9% (n = 246) đã nghe về biện pháp tránh thai khẩn cấp Liên quan đến loại biện pháp tránh thai được sử dụng trong trường hợp khẩn cấp, 53,7% (n = 132) cho biết đến thuốc, 11,4% (n = 28) cho biết dụng cụ tránh thai và 19,1% (n = 47) đã trích dẫn cả thuốc và dụng cụ tránh thai Trong số những sinh viên này, 15,9% (n = 39) không biết biện pháp tránh thai cụ thể nào được sử dụng làm biện pháp tránh thai khẩn cấp Đối với loại thuốc được sử dụng như biện pháp tránh thai khẩn cấp, 46,3% (n = 114) trả lời rằng nó giống như loại thuốc được tìm thấy trong các biện pháp tránh thai thông thường và 41,9% (n = 103) trả lời rằng đó là cùng một loại, nhưng mạnh hơn hơn các biện pháp tránh thai thông thường Liên quan đến giới hạn thời gian dùng thuốc và đặt dụng cụ tránh thai là biện pháp tránh thai khẩn cấp, chỉ có 32,1% (n = 79) chỉ ra rằng thuốc tránh thai khẩn cấp nên được sử dụng trong vòng 72 giờ, trong khi chỉ 6,5% (n = 16) trả lời rằng nên chèn dụng cụ tránh thai trong vòng 5 ngày [54] Biện pháp tránh thai học sinh biết đến nhiều nhất là sử dụng bao cao su (76,9%), tiếp đến là thuốc viên tránh thai hàng ngày chiếm 44,9%, thuốc tránh thai khẩn cấp chiếm 42,0% [10] Nghiên cứu của tác giả Cao Ngọc Thành và cộng sự tiến hành
Trang 22nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 900 trẻ vị thành niên từ 10-19 tuổi cho thấy tỷ lệ trẻ VTN có quan hệ tình dục là 3,8%, tỷ lệ trẻ VTN có sử dụng biện pháp tránh thai khi QHTD là 23,5% [5]
Phần lớn học sinh chỉ biết đến từ 1 đến 3 loại bệnh lây truyền qua đường tình dục (81,1%), tỉ lệ học sinh biết 3 loại bệnh LTQĐTD trở lên thấp (32,9%) Bệnh LTQĐTD
mà học sinh biết đến nhiều nhất là bệnh giang mai (59,8%); tiếp đến là bệnh lậu (49,1%)
[10] Tỉ lệ nữ thanh thiếu niên có nhận thức về các BLTQĐTD khá cao (71,2%) tại TP
Hồ Chí Minh Tuy nhiên, nhận thức về một vấn đề nào đó (ở đây được hiểu là có nghe nói về vấn đề đó) chưa chắc đã nói lên kiến thức và hiểu biết đúng về trong lĩnh vực đó Nhìn chung các em biết về HIV/AIDS nhiều hơn các BLTQĐTD khác Cụ thể là trong
577 nữ thanh thiếu niên có kiến thức về các bệnh LTQĐTD có đến 533 biết đến HIV/AIDS (92,4%), kế đến là giang mai (72,4%) và lậu (54,8%) [7] Trong một nghiên cứu cắt ngang được tiến hành trên 110 học sinh nữ năm 2010 tại trường cấp ba của Vadodara, Ấn Độ Kết quả cho thấy chỉ 55% người tham gia đã nghe về STDs và chỉ 69% có nhận thức về AIDS Gần 66% người tham gia không biết về STD là gì và 19% không biết về chế độ truyền của STD/AIDS Gần 83% người tham gia không biết về các biện pháp phòng ngừa STD và 70% không biết về các biện pháp phòng chống AIDS [44] Cũng tại nước này, một nghiên cứu khác cho thấy: 51,2% thanh thiếu niên đã có kiến thức về STD Phần lớn (91,4%) thanh thiếu niên biết về AIDS như một loại STD [58] Nghiên cứu trên 1082 học sinh cấp 3 ở Trung Quốc đã trả lời các câu hỏi Trong
số đó, tỷ lệ nhận thức chung về kiến thức liên quan đến AIDS là 34,3% (371/1 082), 71,9% (778/1 082) trong số các học sinh đã nhận được kiến thức về AIDS và 59,4% (643/1 082) của học sinh đã nhận được kiến thức về sức khỏe tình dục [61] Tổng cộng
có 499 (92,4%) số người được hỏi đã biết về các bệnh lây truyền qua đường tình dục trong khi 41 (7,6%) không biết Các phương thức lây truyền phổ biến nhất được biết đến là quan hệ tình dục không an toàn 473 (87,6%); dùng chung các vật sắc nhọn bị nhiễm 446 (82,6%); và máu nhiễm bệnh và các sản phẩm máu 395 (73,1%) Có những quan niệm sai lầm không kém rằng STI có thể được truyền đi bằng cách ho/hắt hơi 119 (22,0%), dùng chung nhà vệ sinh 87 (16,1%) và chia sẻ các tấm 66 (12,2%) [43] Cũng trong nghiên cứu này, kiến thức của học sinh về triệu chứng các bệnh lây truyền qua đường tình dục như giảm cân (77,4%), đi tiểu đau rắt (68,9%), lở loét bộ phận sinh dục
Trang 23(54,1%), sưng tấy bộ phận sinh dục (48,3%), cơ thể phát ban (48.0%), dịch tiết từ bộ phận sinh dục (47.2%) và các triệu chứng khác (5%) [43]
3.2.2 Thái độ của vị thành niên về sức khỏe sinh sản
Nghiên cứu cũng cho thấy 54,4% có thái độ tích cực về sức khỏe tuổi dậy thì [42] Phần lớn các bạn nữ tại trường cấp 3 ở Vadodara (69,7%) biết rằng hiện tượng kinh nguyệt là một quá trình bình thường, 17,7% bạn nữ coi đó là một quá trình bất thường, 5,6% coi đó là bệnh và 7% không biết gì Một nghiên cứu tai Nigeria năm 2011 tìm hiểu về Kiến thức, thái đội, thực hành các biện pháp tránh thai cho thấy hơn 40%số người được hỏi là nam và nữ tin rằng việc sử dụng biện pháp tránh thai như một biện pháp phòng ngừa mang thai ngoài ý muốn hoặc các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs) không an toàn Chỉ có 120 (17,39%) nam và 124 (15,23%) phụ nữ được hỏi tin rằng tránh thai là biện pháp an toàn để bảo vệ chống lại mang thai ngoài ý muốn và / hoặc STDs
Có 71% (nam 67% và nữ 74%) trả lời “Có” với câu nỏi “Liệu một bạn gái có thể mang thai sau lần quan hệ tình dục đầu tiên không” cho thấy điều quan trọng là có đến gần 2 phần 3 thanh thiếu niên đã biết đánh giá cao nguy cơ mang thai sau lần quan hệ tình dục đầu tiên Số đông thanh thiếu niên (82%) cũng đã biết đến và có niềm tin vào các biện pháp tránh thai [25]
3.2.3 Thực hành của vị thành niên về sức khỏe sinh sản
Thanh thiếu niên từ 10 đến 24 tuổi được hỏi về độ tuổi mà lần đầu tiên họ có kinh nguyệt là dấu hiệu bắt đầu của giai đoạn dậy thì ở nữ hoặc bị mộng tinh như là dấu hiệu bắt đầu của giai đoạn dậy thì ở nam Khi sử dụng các dấu hiệu này để đánh giá tuổi dậy thì, kết quả cho thấy nữ có xu hướng dậy thì sớm hơn nam giới Độ tuổi trung bình nữ giới có kinh nguyệt lần đầu tiên là 13,4 tuổi (SD±1,9), trong khi độ tuổi trung bình nam giới bị mộng tinh lần đầu tiên là 15,0 tuổi (SD±1,7) Kết quả của SAVY1 cho thấy độ tuổi trung bình nữ giới có kinh nguyệt lần đầu tiên là 14,5 tuổi và nam giới mộng tinh lần đầu tiên là 15,6 tuổi Kết quả ở SAVY2 là 14,2 tuổi ở nữ và 15,5 tuổi ở nam [25] Chỉ 29% người tham gia đã sử dụng băng vệ sinh trong thời gian hành kinh[44]
Trang 24Theo Điều tra quốc gia của Vị thành niên – thanh niên Việt Nam lần thứ 2 (SAVY 2) cho thấy dấu hiệu quan trọng của tuổi dậy thì là thời điểm có kinh nguyệt lần đầu ở
nữ, và mộng tinh hay xuất tinh lần đầu ở nam Theo đó độ tuổi trung bình dậy thì ở nam
là 15,52, ở nữ là 15,61 [25] Dữ liệu thu được về thực hành ngừa thai cho thấy ít hơn 30% số người được hỏi (133, 19,3% nam và 208, 25,58% nữ) sử dụng biện pháp tránh thai thường xuyên, trong khi chỉ có 109 (15,8%) nam và 133 (16,28%) phụ nữ được hỏi hiếm khi sử dụng biện pháp tránh thai Hơn 50% cả hai giới cho biết họ đôi khi sử dụng biện pháp tránh thai [46]
Trong 132 học sinh chưa từng sử dụng các biện pháp tránh thai tại Mỹ khi được hỏi
về kiến thức về biện pháp tránh thai, có 31 (23,48%) học sinh có kiến thức tốt, 53 (40,15%) học sinh có kiến thức trung bình và 48 (36,36%) học sinh có kiến thức kém
[53]
Thái độ kiêm thực hành của họ đối với việc phòng ngừa STD được tìm thấy là 72,9% khi sử dụng bao cao su[58]
3.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức SKSS
3.3.1 Mối liên quan với yếu tố cá nhân
a Giới tính
Nghiên cứu được thực hiện tại Ghana trên 1906 đối tượng đã chỉ ra được sự khác biệt đáng kể về kiến thức giữa nam và nữ lần lượt là 14,5% và 7,2% [32] Nghiên cứu trên 552 đối tượng học sinh, sinh viên năm 2006 cho thấy giới tính là yếu tố có ý nghĩa thống kê trong quyết định sử dụng biện pháp tránh thai Đối tượng là nữ sẽ ít sử dụng biện pháp tránh thai hơn nam, với lý do sợ tác dụng phụ và có mong muốn sinh con Gần 50% số người trả lời rằng họ không sử dụng biện pháp tránh thai bởi lý do sợ tác dụng phụ 40% số người được hỏi không biết tại sao không sử dụng biện pháp tránh thai và hơn 10% cho biết họ sẽ không sử dụng biện pháp tránh thai vì họ muốn có con [30]
b Điểm trung bình học tập
Nghiên cứu năm 2010 trên một trường cơ sở tại Hà Nội cho thấy học sinh nam có kiến thức không tốt cao gấp 2,01 lần so với học sinh nữ Bên cạnh đó học sinh có học lực trung bình trở xuống có kiến thức không tốt cao gấp 18,01 lần so với học sinh có
Trang 25học lực khá, giỏi Điều này cho thấy những học sinh có học lực tốt dễ dàng hơn trong việc tiếp thu và nâng cao hiểu biết về vấn đề SKSS [9] Nghiên cứu của tác giả Hoàng Minh Đông cũng cho kết quả học sinh nữ có kiến thức tốt cao hơn 3,4 lần so với học sinh nam Học sinh có học lực khá trở lên có thái độ tích cực cao gấp 2,6 lần so với học sinh có học lực trung bình trở xuống Đặc biệt kết quả nghiên cứu này cũng cho thấy có mối liên quan giữa kiến thức đạt và thái độ đạt Học sinh có kiến thức đạt có thái độ tích cực hơn 6,6 lần so với nhóm học sinh có kiến thức không đạt [13] Khi được hỏi kiến thức về các bệnh lây truyền qua đường tình dục, tuổi là một yếu tố được dự đoán
có liên quan đến việc học sinh đã nghe về bầy kì bệnh lây truyền qua đường tình dục Học sinh trên 17 tuổi có nhiều khả năng đã nghe nói về STIs hơn so với nhóm học sinh dưới 17 tuổi [30]
ở nông thôn (74% ở đô thị và 67% ở nông thôn), và cao hơn ở người Kinh/hoa (70%)
so với người dân tộc thiểu số (62%) 65%nam nữ thanh niên cho biết dịch vụ tư vấn và xét nghiệm HIV/AIDS tự nguyện là sẵn có đối với họ (66% nam và 64% nữ) Có khác biệt đáng kể giữa nông thôn và đô thị, giữa người Kinh/Hoa và người DTTS (73% ở đô thị và 62% ở nông thôn; 67% người Kinh/Hoa và 53% người DTTS) [25] Như vậy các biến số thuộc nhóm yếu tố cá nhân như tuổi, giới tính, trình độ học vấn, dân tộc có liên
quan đến kiến thức, thái độ, thực hành sức khỏe sinh sản của vị thành niên
3.3.2 Mối liên quan tới tiếp cận thông tin về SKSS
Gia đình là một yếu tố quan trọng trong việc hiểu biết của con cái về SKSS Nghiên cứu được thực hiện năm 2006 của tác giả Jessica Beckwith cho thấy 336 học sinh (60,9%) trả lời họ trò chuyện với cha mẹ về SKSS Bên cạnh đó mức thu nhập hàng tháng là yếu tố có ý nghĩa thống kê để xác định các gia đình có nói về SKSS hay không Các gia đình có mức thu nhập cao có nhiều khả năng trò chuyện với con cái của họ về SKSS hơn các gia đình có mức thu nhập thấp [30] Học sinh có mẹ đã học tiểu học,
Trang 26trung học cơ sở trở lên có khả năng hiểu biết cao gấp 1,91 và 3,01 lần so với những người mẹ không biết đọc và viết [29] Nghiên cứu khác được thực hiện ở Tirupati bởi Reddy và cộng sự năm 2005 phát hiện thấy 61,2% các bà mẹ là nguồn cung cấp thông tin cho con cái kiến thức về kinh nguyệt [50]
[10]
Trong khi đó, ở luận văn của Thạc sĩ Phan Hữu Dũng đã chỉ ra được kiến thức về SKSS của các em VTN nhận được từ bố là 1,2% Từ chị, em gái chiếm chiếm 7% Từ anh, em trai chiếm 3,6% và từ mẹ chiếm 23,4% Nghiên cứu về “Quản lý công tác giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh trung học cơ sở huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng năm 2014” là chiếm ưu thế nhất, đây chính là nguồn thông tin từ phía mọi người chiếm đến 59,9% Sau đó đến nhân viên Y tế là 57,1%) [23]
Tuy nhiên tại Báo cáo chuyên đề Dậy thì – Sức khỏe tình dục – Sức khỏe sinh sản ở thanh thiếu niên Việt Nam lại chỉ ra cha mẹ là những người đầu tiên thanh thiếu niên chia sẻ, chiếm tỷ lệ cao nhất (45%), tiếp theo là bạn bè (12,8%), anh chị (4,39%) [25]
Ở SAVY2 đã chỉ ra tỷ lệ chia sẻ với cha mẹ về tuổi dậy thì ở các em gái cao hơn nhiều so với các em nam, đó lần lượt là 80,4% và 6,47%) Bên cạnh đó, tỷ lệ vị thành niên nam chia sẻ với bạn bè là 17,7% và ở các bạn nữ là và 4,2% Ở tuổi dậy thì, cha
mẹ luôn là sự hỗ trợ nhiều nhất cho con cái khi các em gặp khó khăn trong thời gian này Điều tương tự cũng nhận thấy ở vị thành niên dân tộc Kinh/Hoa so với các em thuộc dân tộc khác, tương ứng là 44,2% và 34,5% Tỷ lệ các em vị thành niên không chia sẻ với ai tính trên cả nước là chiếm 29,4% [4]
Nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc sức khỏe sinh sản ở nữ vị thành viên người dân tộc thiểu số, tỉnh Thừa Thiên Huế cũng đã chỉ ra được có Điều này chứng tỏ đối với VTN nữ, vấn đề chăm sóc SKSS là vấn đề tế nhị, khó nói và chỉ
có mẹ là người thân thiết, luôn sát cánh, theo dõi, khuyên nhủ các em Do vậy mà các
em có thể bộc lộ hết những điều riêng tư của mình với mẹ Những em có điều kiện gần gũi mẹ hơn thì sẽ được mẹ khuyên nhủ, bảo ban nhiều hơn và những người mẹ có trình
độ học vấn cao hơn sẽ có đủ kiến thức để chăm sóc các em tốt hơn [5] Nhóm biến số
gia đình như được trò chuyện với cha mẹ, anh chị em trong nhà hay trình độ học vấn
Trang 27của cha mẹ có mối liên quan đến sức khỏe sinh sản vị thành niên Tương tự với nhóm biến số về được chia sẻ, nói chuyện với bạn bè cũng cho kết quả tương tự
3.3.3 Thông tin từ nhà trường và truyền thông
Học sinh tham gia các câu lạc bộ về SKSS có khả năng có kiến thức tốt hơn gấp 1,72 lần so với nhóm còn lại [29] Nghiên cứu được thực hiện tại Đại học Wolaita Sodo và thị trấn Shire, Ethiopia cũng cho phát hiện tương tự [31], [45] Điều nay có thể là do các sinh viên đã tham gia các câu lạc bộ về SKSS có thể có cơ hội hỏi và thảo luận nhiều hơn về SKSS Các đối tượng nghiên cứu tham gia có thái độ tích cực đối với SKSS có kiến thức đạt cao gấp 2,41 lần so với những người có thái độ không tích cực [31]
Nghiên cứu cũng chỉ ra những học sinh tham gia các câu lạc bộ SKSS ở trường và thảo luận về các vấn đề này với cha mẹ họ có khả năng có thái độ tích cực cao hơn 1,41
và 2,5 lần so với những học sinh không tham gia Phát hiện này được hỗ trợ bởi một phát hiện định tính ở Kenya [33] Nghiên cứu của O'Sullivan (2005) về nhận thức liên quan đến tình dục khi dậy thì ở nữ VTN mẹ Mỹ gốc Phi thấy rằng ở tuổi dậy thì có sự trưởng thành về cơ thể tạo nên vị trí mới về mặt xã hội, có sự thay đổi vai trò ở tuổi VTN và mong muốn tình dục làm thay đổi trong quan hệ VTN [56]
Mặc dù các chương trình giáo dục sức khỏe sinh sản đã được đưa vào dạy tích hợp trong chương trình phổ thông, nhưng việc lồng ghép nội dung SKSS còn gặp rất nhiều khó khăn: do tâm lí e ngại và không mang tính chất bắt buộc Cũng chính vì vậy mà nhận thức của vị thành niên về phòng tránh thai và các bệnh lây truyền qua đường tình
dục khác vẫn còn rất hạn chế [10] Trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa đặc biệt là sự
du nhập văn hóa phương tây là việc tự do trong tình yêu, tình dục cùng với đó là sự phát triển không ngừng của mạng Interenet, báo, bài viết… đăng tải nhiều thông tin để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu về giới tính, tình dục của thanh thiếu niên nhưng cũng có không
ít các bài viết với những hình ảnh, video không lành mạnh Đây cũng là lý do tại sao các em VTN có khả năng tò mò về vấn đề này, nhưng lại chưa trang bị đủ kiến thức để
SKSS đúng cách, hay nói cách khác là tự bảo vệ bản thân mình trước cám dỗ [19]
Theo như nghiên cứu của Thạc sĩ Phan Hữu Dũng trong “Quản lý công tác giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh trung học cơ sở huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng năm
Trang 282014” đã làm rõ về nguồn thông tin SKSS đến các em VTN Theo đó, thông tin đại chúng chiếm 35%, nguồn Internet chiếm 30,1% Ngoài ra đài, tạp chí và sách báo chiếm
tỉ lệ thấp, như đài chiếm 35%, tạp chí chiếm 43% và sách báo chiếm tỷ lệ cao nhất là 53% [23] Như vậy, các yếu tố về môi trường như các chương trình truyền thông về sức khỏe sinh sản, câu lạc bộ về sức khỏe sinh sản liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành sức khỏe sinh sản của vị thành niên
3.4 Khung lí thuyết
Trang 29Kiến thức:
- KT về tuổi dậy thì ở nam
và nữ (dấu hiệu nhận biết, tuổi dậy thì)
- KT các biện pháp tránh thai
- KT các bệnh lây truyền qua đường tình dục
- KT các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản
Thực hành:
- Trải nghiệm về tuổi dậy thì ở nam và nữ (dấu hiệu nhận biết, tuổi dậy thì)
- Tình trạng QHTD
- Thực hành về vệ sinh cơ quan sinh dục nam và nữ
- Thực hành sử dụng các BPTT
- Thực hành phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục
- Thực hành phòng tránh các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản
Thái độ:
- Thái độ về tuổi dậy thì
- Thái độ về việc sử dụng các BPTT
- Thái độ QHTD trước hôn nhân
- Thái độ tiếp cận thông tin SKSS
- Thái độ về sử dụng biện pháp phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục
Yếu tố cá nhân, gia
- Nguồn tiếp cận thông tin, nguồn mạng tìm kiếm thông tin
- Từ câu lạc bộ, chương trình truyền thông về sức khỏe sinh sản
- Địa chỉ tìm kiếm thông tin
- Mức độ tìm kiếm thông tin
Trang 304 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
4.1 Đối tượng:
Học sinh dân tộc thiểu số trường Phổ thông Vùng cao Việt Bắc độ tuổi từ 14 – 19 tuổi (Từ lớp 10 đến lớp 12)
Tiêu chí lựa chọn: Là học sinh trường PT VCVB độ tuổi từ 14-19 đang học
tại trường năm học 2019-2020 có mặt trong thời gian nghiên cứu
Tiêu chí loại trừ: Không có mặt tại trường/lớp do ốm/nghỉ, hoặc bảo lưu trong thời gian nghiên cứu
4.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
Từ tháng 03/2020 đến tháng 08/2020 tại trường PT VCVB, thành phố Thái
Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
4.3 Thiết kế nghiên cứu:
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang
Trong đó: n là cỡ mẫu tối thiểu cần điều tra
- Z là giá trị tương ứng với độ tin cậy, với độ tin cậy 95% thì z=1,96
- p là tỷ lệ vị thanh niên có kiến thức sức khỏe sinh sản tốt 13,3% theo nghiên cứu về kiến thức, thái độ thực hành sức khỏe sinh sản ở nữ vị thành niên người dân tộc thiểu
số tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2017 [5]
Trang 31- D là sai số cho phép, chúng tôi mong muốn giá trị đo lường của điều tra nằm trong khoảng ± 5% so với đo lường quần thể, d=0,05
- Thay vào công thức, n= 177 Vì chọn mẫu cụm nên với Design Effect=2, thì n=354 Lấy thêm 10% dự trù bỏ cuộc không tham gia nghiên cứu và làm tròn ta được mẫu học sinh tham gia nghiên cứu là 400
Áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống đơn vị mẫu theo cụm (mỗi lớp là mỗi cụm), với cỡ mẫu là 400 học sinh thì cần lựa chọn 9 lớp trong tổng số 49 lớp Chọn ngẫu nhiên 9 cụm (tương đương 9 lớp học: Khối 10: 3 lớp, Khối 11: 3 lớp, Khối 12: 3 lớp) Nghiên cứu đã thu về 377phiếu/400 phiếu phát ra Một phiếu không đủ điều kiện được loại
Tổng mẫu thực tế của nghiên cứu: 376 (học sinh)
4.5 Công cụ và Phương pháp thu thập số liệu:
Công cụ: Bộ công cụ của chúng tôi sử dụng bộ câu hỏi phát vấn được tham khảo
từ bộ công cụ của SAVY 2 và nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành sức khỏe sinh sản ở nữ vị thành niên người dân tộc thiểu số tỉnh Thừa Thiên Huế năm
2017 đã được chúng tôi chuẩn hóa để phù hợp với nghiên cứu này Bộ câu hỏi phát vấn gồm 5 phần: Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu, kiến thức về SKSS, thái độ về SKSS, thực hành SKSS và Tiếp cận thông tin
Phương pháp thu thập số liệu: Sử dụng phương pháp thu thập số liệu phát vấn
Bước 1: Xin sự cho phép của Ban giám hiệu và Phòng đào tạo trường PT VCVB
Bước 2: Thử nghiệm bộ công cụ trên từ 10 đến 15 học sinh tại trường PT VCVB
Bước 3: Nhóm nghiên cứu liên hệ với phòng đào tạo để xin danh sách học sinh
của các lớp Tiến hành chọn ngẫu nhiên 9 lớp học tham gia vào nghiên cứu
Bước 4: Thành viên nhóm nghiên cứu đang công tác tại trường PT VCVB và
thành viên nhóm nghiên cứu tổ chức các buổi thu thập số liệu tập trung trong 4 ngày Nhóm nghiên cứu tiến hành thu thập số liệu theo lớp, một lớp bao gồm
2 - 3 thành viên nhóm nghiên cứu phát phiếu, giám sát quá trình điền phiếu và thu phiếu Trong quá trình điền phiếu các bạn học sinh điền phiếu độc lập, không
có sự can thiệp của giáo viên chủ nhiệm cũng như đảm bảo việc không có sự trao đổi giữa các học sinh trong toàn bộ quá trình điền phiếu Các bạn học sinh ngồi đủ khoảng cách để không có sự quan sát phiếu của nhau Khi phát hiện có
Trang 32sự trao đổi nhóm nghiên cứu nhắc nhở Trên các phiếu trả lời chúng tôi không
để họ tên của đối tượng nghiên cứu nhàm đảm báo tính bảo mật thông tin trong nghiên cứu
4.6 Phương pháp xử lý số liệu:
Bộ số liệu sau khi thu thập đã được nhóm chúng tôi nhập vào máy tính bằng phần mềm Epi Data 3.1 và được làm sạch và phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0 và phần mềm Stata Đã kiểm tra 10% số phiếu nhập liệu và đảm bảo chắc chắn việc nhập liệu là chính xác
Nhóm chúng tôi sử dụng thống kê mô tả để thực hiện tính toán giá trị trung bình, đối với biến về kiến thức chúng tôi sử dụng cách tính điểm dựa trên câu trả lời của đối tượng, độ lệch chuẩn (đối với các biến định lượng) và tần số, tỷ lệ phần trăm (đối với các biến định tính) Các biến số được chúng tôi sử dụng trong nghiên cứu trong phần thông tin chung (gồm biến định danh, biến rời rạc, biến thứ bậc, biến nhị phân, biến phân loại), đối với phần kiến thức (gồm biến định danh, biến phân loại), phần thái độ chúng tôi sử dụng chủ yếu là biến thứ bậc, đối với phần thực hành (gồm biến nhị phân, biến rời rạc, biến định danh, biến phân loại), cuối cùng phần tiếp cận thông tin chúng tôi sử dụng các biến số gồm biến phân loại, biến nhị phân, biến thứ bậc, biến định danh
Cách tính điểm phần kiến thức như sau: Thang điểm tối đa là 28 điểm Đạt yêu cầu
khi trả lời đúng 65% số điểm của các câu hỏi
+ Tổng số điểm <18: Kiến thức không đạt
+ Tổng kiến thức > 18: Kiến thức đạt
(Cụ thể xem chi tiết tại phụ lục 1)
Đối với thống kê suy luận, chúng tôi đã sử dụng kiểm định khi bình phương để xác định các yếu tố liên quan
4.7 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Những đối tượng tham gia vào nghiên cứu là hoàn toàn tự nguyện, không chịu bất
kỳ tác động nào từ bên ngoài hay từ chính nhóm nghiên cứu Phát vấn được tiến hành sau khi nhận được sự đồng ý của người giám hộ là Ban giám hiệu và Phòng đào tạo trường PT Vùng cao Việt Bắc và sự đồng ý của đối tượng nghiên cứu Đối tượng có thể
từ chối trả lời bất kỳ câu hỏi nào mà họ không muốn, có thể dừng tham gia mà không chịu bất cứ sự ràng buộc nào và không phải chịu trách nhiệm gì về mặt pháp lý
Trang 33Đề cương nghiên cứu đã được kiểm duyệt bởi Hội đồng Đạo đức của Trường Đại học
Y tế công cộngtheo quyết định số 234/2020/YTCC-HD3
5 Kết quả nghiên cứu
5.1 Đặc điểm của đối tượng tham gia nghiên cứu
Bảng 1: Một số đặc điểm nhân khẩu học
Trang 34là sống cùng họ hàng chỉ chiếm 0,8% (3 học sinh) Các bạn có điểm học tập trung bình
từ 8 trở lên chiếm 43,1%, nhóm có điểm trung bình học tập dưới 6,5 chỉ chiếm 1,3% tương đương với số lượng là 5 học sinh
Bảng 2: Đặc điểm dân tộc của đối tượng tham gia nghiên cứu
Trang 35Bảng 3: Tỷ lệ học sinh đã trải qua mộng tinh ở nam/hành kinh ở nữ
Trải qua mộng tinh (n=123)
Trải qua hành kinh (n=253)
là 14,4 tuổi với độ tuổi mộng tinh sớm nhất là 8 tuổi và độ tuổi mộng tinh muộn nhất là
18 tuổi Có 249 học sinh trong 253 học sinh nữ đã trải qua hành kinh chiếm 98,4% và chỉ có 4 học sinh chưa trải qua hành kinh chiếm 1,6% Độ tuổi trung bình trong nhóm học sinh nữ trải qua hành kinh là 13,24 tuổi với độ tuổi hành kinh sớm nhất là 9 tuổi và
độ tuổi hành kinh muộn nhất là 17 tuổi
Bảng 4: Tỷ lệ học sinh đã có người yêu hoặc kết hôn
Trang 36Tỉ lệ các VTN DTTS đã có người yêu cao chiếm 46% ở cả nhóm nam và nữ (đối với nhóm nam là 55,3% cao hơn nhóm nữ (41,5%) là 13,8%) Tỉ lệ VTN DTTS đã kết hôn (Còn gọi là tảo hôn) tuy thấp chỉ chiếm 1,6% tỉ lệ này ở nhóm nam cao hơn nhóm nữ (chỉ 1 đối tượng chiếm 0,4%) 3,7%
Bảng 5: Đặc điểm tình trạng hôn nhân của phụ huynh đối tượng
Phụ huynh của nhóm VTN tham gia nghiên cứu hiện đang sống cùng nhau có tỉ lệ
cao chiếm 88,3%, phụ huynh nhóm nghiên cứu Góa chiếm 4,8% tương đương 18 phụ
Trang 37nhóm nghề nhìn chung giữa bố mẹ tương đồng nhau, thấp nhất là bố mẹ đã nghỉ hưu chiếm tỷ lệ lần lượt là 3,5% và 1,1%
5.2 Kiến thức về sức khỏe sinh sản
Kiến thức về sức khỏe sinh sản trong nghiên cứu này bao gồm các nhóm kiến thức
về sinh lý sinh sản (tuổi dậy thì), các biện pháp tránh thai, các bệnh lây truyền qua đường tình dục và các cách phòng tránh Tổng điểm kiến thức đạt/không đạt được tính tổng cộng điểm hiểu biết về tuổi dậy thì, các biện pháp tránh thai và các bệnh lây truyền qua đường tình dục và các cách phòng tránh
5.2.1 Kiến thức về tuổi dậy thì của học sinh
Kiến thức về tuổi dậy thì bao gồm dấu hiệu dậy thì của nam, của nữ và tuổi bắt đầu dậy thì ở nam và nữ
Bảng 7: Tỷ lệ học sinh có kiến thức về các dấu hiệu dậy thì ở nữ
Dấu hiệu dậy thì ở nữ
Tổng (N=376)
Bắt đầu mọc lông nách, lông mu 257 68,4 59 48,0 198 78,3
Cơ quan sinh dục phát triển 220 58,5 51 41,5 169 66,8 Xương hông nở ra, dáng thon hơn 186 49,5 48 39,0 186 49,5 Tăng nhanh về chiều cao, cân nặng 210 55,9 41 33,3 169 66,8
Bảng 7 trình bày thực trạng kiến thức của học sinh nói chung và học sinh nam, nữ nói riêng về dấu hiệu dậy thì của nữ Nhìn chung ở toàn bộ học sinh, dấu hiệu được biết đến nhiều nhất là xuất hiện kinh nguyệt (82,4%), vú phát triển to hơn (71,8%), bắt đầu mọc lông nách, lông mu (68,4%); dấu hiệu được biết đến ít nhất là xương hông nở ra, dáng thơn hơn (49,5%); các dấu hiệu còn lại có tỷ lệ biết đến đều trên 50% Khi phân chia theo giới tính, có sự chênh lệch về tỷ lệ có kiến thức về các dấu hiệu giữa nam, nữ
và nữ có tỷ lệ cao hơn Cụ thể, 3 dấu hiệu dậy thì của nữ có tỷ lệ cao nhất ở nam và nữ
Trang 38đều giống nhau: xuất hiện kinh nguyệt (94,9% ở nữ và 56,9% ở nam), vú phát triển to hơn (82,6% ở nữ và 50,4% ở nam), bắt đầu mọc lông nách, lông mu (78,3% ở nữ và 40,0% ở nam) Dấu hiệu có tỷ lệ biết đến thấp nhất ở nam là tăng nhanh về chiều cao, cân nặng (33,3%), ở nữ là xương hông nở ra, dáng thơn hơn (49,5%) Có một tỷ lệ khoảng 12% học sinh không biết về dấu hiệu dậy thì ở nữ, trong đó nam chiếm 10%,
nữ chiếm 4,0%
Bảng 8: Tỷ lệ hiểu biết về các dấu hiệu dậy thì ở nam
Tinh hoàn và dương vật to lên 200 53,2 78 63,4 122 48,2
Tăng nhanh chóng về chiều cao, cân nặng 221 58,8 81 65,9 140 55,3
Cơ bắp ở vai, ngực, cánh tay to ra 208 55,3 76 61,8 132 52,2 Xuất hiện lông mu, ria mép 222 59,0 83 67,5 139 54,9
Có mộng tinh (xuất tinh khi ngủ) 202 53,7 68 55,3 134 53,0
Bảng 8 cho thấy tỷ lệ các đối tượng nghiên cứu có hiểu biết về các dấu hiện dậy thì
ở nam đa số đều trên 50% Chiếm tỷ lệ hiểu biết đến dấu hiệu dậy thì ở nam cao nhất ở
cả nam và nữ là dấu hiệu vỡ giọng, yết hầu lộ ra, trong đó tỷ lệ nam biết là 69,4%, nữ
là 64,4% Tỷ lệ hiểu biết về dấu hiệu tinh hoàn và dương vật to lên và xuất hiện trứng
cá cao hơn hẳn so với các dấu hiệu khác khi so sánh giữa nam và nữ (53,2% và 48,2%; 54% và 41,5%) Tuy nhiên vẫn còn một tỷ lệ nhỏ không biết/không nhớ dấu hiệu nhận
biết nào chiếm 15,2% cao hơn dấu hiện dậy thì nhóm nữa là 2,7%
5.2.2 Kiến thức về các biện pháp tránh thai
Kiến thức về mang thai bao gồm hiểu biết về thời điểm con gái có thể có thai là khi bắt đầu có kinh nguyệt và hành động có thể mang thai là có quan hệ tình dục (có giao hợp) mà không sử dụng các biện pháp tránh thai Bên cạnh đó, việc hiểu biết đến các biện pháp tránh thai an toàn và phổ biến hiện nay như sử dụng bao cao su khi quan hệ
Trang 39tình dục, sử dụng thuốc tránh thai khẩn cấp, thuốc tránh thai hàng ngày Thuốc tiêm tránh thai, đặt vòng tử cung, tính chu kỳ kinh cũng là những biện pháp an toàn hiện nay
mà các bác sỹ khuyến cáo nên sử dụng, tuy nhiên ít phổ biến hơn cho nhóm vị thành niên
Biểu đồ 1 Tỷ lệ có kiến thức đúng về thời điểm con gái có thể có thai
Biểu đồ 2 Tỷ lệ có kiến thức đúng về hành động có thể mang thai
Biểu đồ 2 và biểu đồ 3 cho thấy tỷ lệ học sinh trả lời đúng về dấu hiệu con gái có
thể có thai cao, chiếm 76,5% Trong khi tỉ lệ trả lời sai chiếm 23,4% Tỷ lệ trả lời đúng
về hành động có thể mang thai là rất cao chiếm 93,3%
Bảng 9: Tỷ lệ nghe nói đến các biện pháp tránh thai
Trang 40Tỷ lệ về nghe nói đến các biện pháp tránh thai cao chiếm 94,7%, ở cả nhóm nam và
nữ sự chênh lệch ta thấy nhóm nữ cao hơn nhóm nam là 10,2% (Nam chiếm 87,8%, nhóm nữ chiếm 98,0%)
Biểu đồ 3: Tỷ biết đến tên các biện pháp tránh thai (N=356: Trong số học sinh
biết đến biện pháp tránh thai)
Những biện pháp tránh thai cơ bản là là sử dụng bao cao su với tỉ lệ là 93,8% cao nhất trong các BPTT được biết đến, thuốc uống tránh thai cao thứ hai với tỉ lệ là 87,9%, viên tránh thai khẩn cấp được biết đến với tỉ lệ là 63,2%, loại ít được biết đến là sử dụng thuốc cấy chiếm 12,0%
Bảng 10: Tỷ lệ biết đến địa điểm cung cấp phương tiện tránh thai
Thuốc uống tránh thaiVòng tránh thai (dụng cụ tử cung)
Viên tránh thai khẩn cấp (Postinor)
Xuất tinh ngoài âm đạo
Triệt sản nam/nữTính vòng kinhThuốc tiêm tránh thaiĐình sản nam/nữThuốc cấy