1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đo lường mức độ biểu hiện lo âu, trầm cảm của đợt bùng phát dịch COVID 19 đối với nhân viên y tế lâm sàng ở một số bệnh viện tại hà nội năm 2020

73 104 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 539,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ Tên đề tài: Đo lường mức độ biểu hiện lo âu, trầm cảm của đợt bùng phát dịch COVID-19 đối với nhân viên

Trang 1

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ

Tên đề tài: Đo lường mức độ biểu hiện lo âu, trầm cảm của đợt bùng phát dịch

COVID-19 đối với nhân viên y tế lâm sàng ở một số bệnh viện tại Hà Nội năm 2020

Năm 2020

Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Thúy Liễu Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Lã Ngọc Quang Ths Nguyễn Trung Kiên

Mã số đề tài: SV 19.20-07

Trang 2

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ

Tên đề tài: Đo lường mức độ biểu hiện lo âu, trầm cảm của đợt bùng phát dịch

COVID-19 đối với nhân viên y tế lâm sàng ở một số bệnh viện tại Hà Nội năm 2020

Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Thúy Liễu Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Lã Ngọc Quang

Ths Nguyễn Trung Kiên

Thành viên nhóm nghiên cứu

1 Phạm Ngọc Ánh – CNCQ K16 - Trường Đại học Y tế Công cộng

2 Đặng Thị Vân Anh – CNCQ K16 - Trường Đại học Y tế Công cộng

3 Trần Đỗ Bảo Nghi – CNCQ K16 - Trường Đại học Y tế Công cộng

Cấp quản lý: Trường Đại học Y tế công cộng

Mã số đề tài: SV 19.20-07 Thời gian thực hiện: từ tháng 04 năm 2020 đến tháng 08 năm 2020

Tổng kinh phí thực hiện đề tài: 5.170.00

Trong đó: kinh phí SNKH

Năm 2020

Trang 3

MỤC LỤC

A TÓM TẮT BÁO CÁO NGHIÊN CỨU 1

B NỘI DUNG CÔNG TRÌNH 2

1 ĐẶT VẤN ĐỀ 2

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4

3 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

3.1 Các khái niệm cơ bản 5

3.2 Thang đo được sử dụng trong nghiên cứu 6

3.3 Thực trạng áp lực tâm lý ở NVYT lâm sàng trong Đại dịch COVID19 năm 2020 trên thế giới 7

3.3.1 Tình hình Đại dịch COVID19 trên thế giới 7

3.3.2 Một số nghiên cứu về tác động áp lực tâm lý do đại dịch SARS năm 2002 và MERS năm 2012 gây ra với nhân viên y tế trên thế giới 8

3.3.3 Thực trạng áp lực tâm lý của nhân viên y tế lâm sàng trên thế giới trong Đại dịch COVID19 9

3.4 Thực trạng áp lực tâm lý ở nhân viên y tế lâm sàng trong Đại dịch COVID19 năm 2020 tại Việt Nam 10

3.4.1 Tình hình Đại dịch COVID-19 tại Việt Nam 10

3.4.2 Thực trạng áp lực tâm lý của nhân viên y tế lâm sàng ở Việt Nam trong Đại dịch COVID19 11

3.5.1 Đặc điểm nhân khẩu học 12

3.5.2 Yếu tố truyền thông, nguồn lực y tế và tâm lý trong thời gian diễn ra dịch………15

4 KHUNG LÝ THUYẾT 16

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

5.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang 17

5.2 Đối tượng nghiên cứu 17

5.3 Thời gian và địa điểm tiến hành nghiên cứu 17

5.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 17

5.5 Phương pháp thu thập số liệu 18

5.7 Công cụ đo lường 19

Trang 4

5.8 Phương pháp phân tích số liệu 20

5.9 Đạo đức nghiên cứu 20

6 Kết quả 22

7 Bàn luận 43

7.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 43

7.2 Thực trạng lo âu, trầm cảm của NVYT do tác động của dịch COVID- 19 gây ra 44

7.3 Một số yếu tố liên quan 44

8 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 48

8.1 Kết luận 48

8.2 Khuyến nghị 48

Phụ lục 1 57

Phụ lục 2 60

Trang 5

PHỤ LỤC BẢNG

Bảng 1: Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 22

Bảng 2 Tuổi, số năm công tác và thời gian làm việc của đối tượng nghiên cứu 23

Bảng 3 Nguy cơ rủi ro của nhân viên y tế 24

Bảng 4 Thực trạng rối loạn lo âu của đối tượng nghiên cứu 25

Bảng 5 Mức độ rối loạn lo âu của đối tượng nghiên cứu 26

Bảng 6 Thực trạng trầm cảm của đối tượng ngiên cứu 26

Bảng 7 Mức độ trầm cảm của đối tượng nghiên cứu 28

Bảng 8 Sự kỳ thị của cộng đồng, xã hội 29

Bảng 9 Lý do dẫn đến sự kỳ thị của cộng đồng 30

Bảng 10 Mức độ biểu hiện rối loạn lo âu theo thông tin chung của đối tượng 32

Bảng 11 Mức độ biểu hiện trầm cảm theo thông tin chung của đối tượng 33

Bảng 12 Mức độ biểu hiện rối loạn lo âu theo nguy cơ rủi ro 35

Bảng 13 Mức độ biểu hiện trầm cảm theo nguy cơ rủi ro 36

Bảng 14 Mức độ biểu hiện rối loạn lo âu theo sự kì thị của cộng đồng 37

Bảng 15 Mức độ biểu hiện trầm cảm theo sự kì thị của cộng đồng 39

Trang 6

ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ BIỂU HIỆN LO ÂU, TRẦM CẢM CỦA ĐỢT BÙNG PHÁT DỊCH COVID-19 ĐỐI VỚI NHÂN VIÊN Y TẾ LÂM SÀNG TẠI MỘT SỐ

BỆNH VIỆN TẠI HÀ NỘI NĂM 2020

A TÓM TẮT BÁO CÁO NGHIÊN CỨU

Tính đến nay, tình hình dịch bệnh do COVID-19 gây ra đã lây lan ra hầu hết các khu vực trên thế giới với tỷ lệ ca nhiễm và người tử vong tăng cao Trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh, nhân viên y tế có nguy cơ phải chịu những áp lực tâm lý, thậm chí là rủi ro rất lớn khi chăm sóc, bảo vệ cho sức khỏe của cộng đồng Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện từ tháng 04/2020 đến 08/2020 với 341 nhân viên y tế lâm sàng tham gia Nghiên cứu nhằm tìm hiểu thực trạng lo âu, trầm cảm và các yếu tố liên quan đối với NVYT lâm sàng trong đại dịch COVID-19 tại bệnh viện Bệnh viện Đa khoa Đống Đa và Đa khoa Đông Anh

Kết quả: Có 33,1% đối tượng tham gia nghiên cứu gặp tình trạng rối loạn lo âu Đối tượng làm việc tại khoa Truyền nhiễm có nguy cơ có biểu hiện lo âu cao hơn gấp 4,96 lần so với đối tượng làm việc ở khoa cấp cứu (OR = 4,96, KTC 95%: 1,4 – 17,23) Bên cạnh đó, tình trạng thiếu nhân lực hay sự kì thị của cộng đồng tác động trực tiếp tới gia đình của nhân viên y tế cũng làm gia tăng tình trạng lo lắng của họ (p< 0,001 và p = 0,007, tương ứng) Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, có 23,2% nhân viên y tế có biểu hiện trầm cảm từ nhẹ đến rất nặng Nhân viên làm việc tại khoa Truyền nhiễm có khả năng có biểu hiện trầm cảm cao hơn gấp 5,9 lần so với nhân viên làm việc ở khoa cấp cứu (OR= 5,5, KTC 95%: 1,5 – 22,9) Ngoài ra, nhân viên gặp phải tình trạng thiếu vật tư, trang thiết bị tại nơi làm việc hay không được tham gia các hoạt động của gia đình trong thời gian diễn ra dịch bệnh cũng ảnh hưởng tới tình trạng trầm cảm của họ (p=0,008 và p<0,001, tương ứng)

Kết luận: Có 33,1% NVYT lâm sàng tham gia vào nghiên cứu có biểu hiện lo âu, 23,2% nhân viên có biểu hiện trầm cảm từ nhẹ đến rất nặng Các yếu tố về khoa làm việc, nguy

cơ rủi ro tại nơi làm việc và sự kì thị của cộng đồng có mối liên quan có ý nghĩa thống kê tới mức độ biểu hiện lo âu, trầm cảm của NVYT lâm sàng

Từ khóa: COVID-19, lo âu, trầm cảm, nhân viên y tế, yếu tố liên quan, Hà Nội

Trang 7

B NỘI DUNG CÔNG TRÌNH

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những ngày đầu tháng 12 năm 2019, tại Thành phố Vũ Hán của Trung Quốc đã ghi nhận những ca mắc Hội chứng viêm đường hô hấp cấp (SARS) gây ra bởi virus SARS-CoV-2 (1), căn bệnh này đặc biệt nguy hiểm đối với nhóm người cao tuổi và nhóm bệnh nhân có bệnh lý mạn tính nặng (2) Vào ngày 11 tháng 03 năm 2020, Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization-WHO) đã tổ chức cuộc họp khẩn cấp và công bố COVID-

19 là Đại dịch trên toàn cầu (3) Đại dịch COVID-19 là một thách thức lớn của hệ thống y

tế toàn cầu nói chung và hệ thống y tế tại các quốc gia nói riêng Tính đến thời điểm ngày 9/10/2020 toàn thế giới có tổng cộng hơn 28.000.000 ca mắc Covid-19 và hơn 900.000 người tử vong do căn bệnh này (4) Mức độ lây lan bởi chủng virus này đã khiến loài người phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, gánh nặng về bệnh tật và tử vong nhanh chóng trở thành sự khủng hoảng của nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ (2)

Tại Việt Nam, quá trình kiểm soát bệnh tật được chia làm ba giai đoạn: Giai đoạn đầu tiên với 16 bệnh nhân mắc, được phát hiện và điều trị kip thời; Giai đoạn thứ 2 bắt đầu với ca mắc số 17 và cho đến ngày 19/04/2020 Bộ Y tế đã ghi nhận tổng số ca mắc là 268 ca và không có ca tử vong Và đến giai đoạn thứ ba, ổ dịch tại Đà Nẵng do không rõ nguyên nhân bùng phát Tính đến ngày 10/9/2020 theo thống kê của bộ y tế Việt Nam tổng số người nhiễm bệnh là 1059 và có 35 người tử vong (4,5)

Hiện nay, một số bệnh viện tuyến cơ sở trên địa bàn Thành phố Hà Nội được chọn là nơi tiếp nhận và cách li những bệnh nhân có nguy cơ cao với COVID-19 (6) Việc vừa phải thực hiện các công tác chuyên môn vừa luôn trong tư thế sẵn sàng với chỉ đạo tuyến từ tuyến trung ương và tuyến tỉnh để tham gia chống dịch tạo những ảnh hưởng trực tiếp lên tâm lý của nhân viên y tế tại các bệnh viện này, điển hình nhất là những triệu chứng về trầm cảm, lo âu và căng thẳng Trong hoàn cảnh trên, nhóm nghiên cứu đã quyết định thực hiện đề tài “ Đo lường mức độ biểu hiện lo âu, trầm cảm của đợt bùng phát dịch COVID-

19 đối với nhân viên y tế ở một số bệnh viện tại Hà Nội năm 2020” để tìm hiểu thực trạng

Trang 8

tâm lý mà nhân viên y tế tại các tuyến cơ sở đang đối mặt cũng như một số yếu tố liên quan đến tâm lý của họ

Trang 9

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng lo âu, trầm cảm của nhân viên y tế lâm sàng tại bệnh viện Đa Khoa Đống Đa và Đa khoa Đông Anh trong đợt bùng phát dịch COVID-19 năm 2020, Mục tiêu 2: Xác định các yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu trầm cảm của nhân viên y

tế lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa Đống Đa và Đa khoa Đông Anh trong đợt bùng phát dịch COVID-19 năm 2020

Trang 10

3 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

3.1 Các khái niệm cơ bản

Trầm cảm

Theo WHO, “Trầm cảm là một rối loạn tâm thần phổ biến, đặc trưng bởi sự buồn bã, mất

đi hứng thú hoặc khoái cảm, cảm thấy tội lỗi hoặc tự hạ thấp giá trị bản thấn, bị rối loạn giấc ngủ hoặc ăn uống hoặc kém tập trung” (7)

Rất nhiều người dùng từ ‘trầm cảm’ để mô tả cảm giác buồn hoặc mất mát Những cảm giác này thường qua đi sau vài giờ hoặc vài ngày Trong giai đoạn đó, mọi người vẫn có thể giải quyết mọi việc bình thường Y học định nghĩa trầm cảm khác với cảm giác buồn nhất thời Trầm cảm là một chứng rối loạn, trong đó cảm giác buồn diễn ra rất mạnh và kéo dài, có thể ảnh hưởng đến công việc, gia đình và cuộc sống xã hội của con người (8,9)

Trầm cảm có thể tác động ở nhiều khía cạnh khác nhau Một số triệu chứng phổ biến bao gồm:

 Ngủ không ngon giấc

 Thay đổi thói quen ăn uống

 Đau nhức cơ thể

 Thiếu năng lượng hoặc động lực

 Bứt rứt, khó chịu, bực mình

 Cảm thấy tội lỗi

 Khó tập trung tư tưởng

Trang 11

thường gặp ở tất cả mọi người khi đương đầu với các tình huống căng thẳng như: suýt bị ô

tô đâm, đang ngồi trong phòng thi, thuyết trình trước đám đông (10,11)

Một số triệu chứng của lo âu thường xuất hiện như sau:

 Những phản ứng lo âu xuất hiện thường xuyên

 Sự sợ hãi không tương ứng với một tình huống nào đó xảy ra

 Bắt đầu tránh né những tình huống lo sợ

 Lo âu ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống gia đình và xã hội

3.2 Thang đo được sử dụng trong nghiên cứu

Hiện nay trên thế giới đã có một số nghiên cứu sử dụng thang đo GAD-7 và PHQ-9 để đánh giá sức khỏe tâm thần của nhân viên y tế trong đại dịch COVID-19 (12) Do đó trong nghiên cứu này nhóm nghiên cứu quyết định sử dụng PHQ-9 để đánh giá mức độ trầm cảm

và Thang đánh giá rối loạn lo âu tổng quát GAD-7 để đánh giá mức độ lo âu của nhóm đối tượng đích

Bộ câu hỏi đánh giá mức độ biểu hiện của trầm cảm PHQ-9:

Bộ câu hỏi PHQ – 9 đã được sử dụng trong nhiều nghiên cứu trên thể giới để đánh giá rối loạn trầm cảm (13)(14) Tại Việt Nam cũng đã có nghiên cứu đánh giá sơ bộ giá trị của bộ câu hỏi này trong việc sàng lọc trầm cảm (15,16) Có thể kể đến như nghiên cứu của Đặng Duy Thanh vào năm 2011 tại một bệnh viện ở tỉnh Khánh Hòa cho kết quả “Các câu hỏi của bảng PHQ – 9 phiên bản tiếng Việt có độ nhất quán nội tại cao trong việc đánh giá trầm cảm” với các hệ số α-Cronbach dao động từ 0,823 đến 0,867 (17) Một số ưu điểm của bộ câu hỏi này có thể kể đến như tính gắn gọn và chẩn đoán hiệu quả các bệnh nhân mắc trầm cảm tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu trong trường hợp thiếu hụt các chuyên gia về sức khỏe tâm thần được đào tạo chuyên sâu (18)

Thang đánh giá rối loạn lo âu tổng quát GAD-7:

Trang 12

GAD-7 được Spitzer RL cùng các cộng sự giới thiệu vào năm 2006 gồm tiểu 7 mục với tổng điểm từ 0 – 21 (19) Trên thế giới cũng đã có khá nhiều nghiên cứu sử dụng thang đo này để đánh giá mức độ lo âu (20-22) Tại Việt Nam bộ công cụ này đã được chuẩn hóa và

sử dụng trong một số nghiên cứu để đánh giá tình trạng sức khỏe tâm thần Có thể kể đến nghiên cứu của Trần Thành Nam, 2016, nghiên cứu sử dụng thang GAD-7 để đánh giá tình trạng sức khỏe tâm thần của bệnh nhân trầm cảm đang điều trị thuốc Hay trong một nghiên cứu khác tại Đà Nẵng vào năm 2019 nhóm tác giả đã đưa ra kết quả hệ số Cronbach's alpha của GAD-7 là 0,698 (23)

3.3 Thực trạng áp lực tâm lý ở NVYT lâm sàng trong Đại dịch COVID19 năm

2020 trên thế giới

3.3.1 Tình hình Đại dịch COVID19 trên thế giới

Từ đầu thế kỷ thứ XXI, con người đã trải qua một số sự kiện y tế công cộng nghiêm trọng

do các mầm bệnh lây truyền từ động vật hoang dã hoặc vật nuôi trong nhà sang người chẳng hạn như hội chứng hô hấp cấp tính nặng coronavirus (SARS-CoV), hội chứng hô hấp Trung Đông coronavirus (MERS-CoV) và virut cúm A (H1N1) (24) Vào cuối năm

2019, Vũ Hán, một thành phố ở Trung Quốc với dân số khoảng 11 triệu người, đã chứng kiến sự bùng phát của bệnh viêm phổi bất thường (25).Nó phát triển từ động vật hoang dã

và có thể gây sốt và hội chứng hô hấp nghiêm trọng ở người (26) Vào ngày 11 tháng 2 năm 2020, virus được đặt tên là hội chứng hô hấp cấp tính nặng coronavirus 2 (SARS-CoV-2) bởi Ủy ban quốc tế về phân loại virus (ICTV) SARS-CoV-2 là thành viên thứ bảy trong họ coronavirus có thể lây nhiễm cho người sau khi xuất hiện hội chứng hô hấp cấp tính nặng coronavirus (SARS-CoV) và coronavirus hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS-CoV) Tổ chức Y tế Thế giới đã thông báo rằng dịch bệnh viêm phổi coronavirus mới do SARS-CoV-2 gây ra đã được phân loại là một trường hợp khẩn cấp về y tế công cộng vào ngày 30 tháng 1 năm 2020 Bệnh coronavirus mới gây ra bởi SARS-CoV-2 được đặt tên là bệnh coronavirus 2019 (COVID-19) (27) Hiện nay dịch đang diễn biến hết sức phức tạp Báo cáo về số ca mắc và số ca tử vong trên toàn thế giới đang tăng tốc, với tốc độ tăng gấp đôi cứ sau 3-4 ngày Sự lan rộng ra bên ngoài Trung Quốc ban đầu đến các quốc gia khác

Trang 13

ở châu Á, nổi bật nhất là Hàn Quốc, sau đó đến Trung Đông, nổi bật nhất là Iran, sau đó đến miền nam châu Âu, nổi bật nhất là Ý và Tây Ban Nha, sau đó đến phía bắc châu Âu, Anh và sau đó đến tâm chấn gần đây nhất là Mỹ tại thời điểm viết (28)

3.3.2 Một số nghiên cứu về tác động áp lực tâm lý do đại dịch SARS năm 2002 và MERS năm 2012 gây ra với nhân viên y tế trên thế giới

Thời điểm sau khi dịch SARS và MERS xảy ra đã có rất nhiều các báo cáo và nghiên cứu tiến hành đánh giá tác động tâm lý của dịch đối với nhân viên y tế Tại Đài Loan, một cuộc khảo sát của Yamei Bai và các cộng sự vào năm 2004 nhằm đánh giá mức độ căng thẳng của NVYT liên quan đến việc bùng phát dịch SARS cho ra kết quả: Trong số 218 nhân viên y tế và 79 nhân viên hành chính hoàn thành khảo sát, với tỷ lệ phản hồi tương ứng là

54 và 51% Mười bảy nhân viên (5%) đã đáp ứng các tiêu chí cho một rối loạn căng thẳng cấp tính, 17% nhân viên y tế có dấu hiệu lo lắng, 14% trầm cảm (29) Tại Canada, nghiên cứu của William J Lancee và cộng sự cho thấy một đến hai năm sau khi giải quyết dịch SARS ở Canada, tỷ lệ mắc bệnh trầm cảm mới ở những nhân viên y tế vẫn còn làm việc là 4% (năm trong số 133 người tham gia) và tỷ lệ mắc mới khởi phát PTSD là 2% Tỷ lệ mắc bất kỳ khởi phát mới của rối loạn tâm thần là 5% (30)

Tại Hồng Kông, mức độ căng thẳng trong đợt bùng phát là 18,6 (SD 4,9) đối với nhân viên chăm sóc sức khỏe và 18.3 (SD 5.6) cho các đối tượng kiểm soát sức khỏe; điều này thể hiện nhiều hơn khoảng 50% so với giá trị quy chuẩn là 13 Chúng tôi quan sát thấy rằng điểm PSS và tác động tâm lý tiêu cực từ SARS có mối tương quan đáng kể (Spearman’srho

= 0.4, p< 0.001) Tuy nhiên, 89% số nhân viên chăm sóc sức khỏe (n = 241) cũng có kết quả âm tính di chứng như mệt mỏi (71%), lo lắng về sức khỏe (59%),và sợ tiếp xúc xã hội (46%) Những nhân viên chăm sóc sức khỏe tự tin về kiểm soát nhiễm trùng (74%, n = 179) có mức độ căng thẳng thấp hơn (mẫu thử nghiệm độc lập t, p = 0,001) và ít hơn tác động tiêu cực (independent samples t test, 2-tailed, p = 0,004) (31) Nghiên cứu của Antoinette M Lee, PhD và cộng sự cho ra kết quả: trong thời gian dịch bệnh, nhân viên y

tế và nhân viên chăm sóc sức khỏe không phải là nhân viên y tế sống sót sau khi mắc SARS

có điểm PSS-10 tương tự (trung bình 20,1, SD 5,2, cho nhân viên y tế SARS sống sót, so với trung bình 19,6, SD 4,8, cho nhân viên chăm sóc sức khỏe không phải là nhân viên y

Trang 14

tế) Một năm sau dịch bệnh, nhân viên y tế sống sót sau SARS có điểm PSS-10 cao hơn đáng kể (trung bình 22,8, SD 5,9), so với với các đối tác nhân viên chăm sóc sức khỏe không phải là nhân viên y tế (trung bình 18.4, SD 6,2, F3,83 = 3.7, p <0,01) Những nhân viên y tế sống sót sau SARS có điểm trầm cảm DASS cao hơn đáng kể (trung bình 15,1,

SD 7,9), được so sánh với những người sống sót không phải là nhân viên chăm sóc sức khỏe SARS (trung bình 9,0, SD 9,0, F3,86 = 3,9, p <0,01) Họ cũng có điểm số DASS Anxiety cao hơn đáng kể (trung bình 14,6, SD 7,9, so với giá trị trung bình 8.2, SD 7.1, đối với nhân viên chăm sóc sức khỏe không phải là nhân viên y tế (32).Tại Hàn Quốc, nghiên cứu của Sang Min Lee và cộng sự năm 2015 cho thấy trong số tất cả những người được hỏi ở cuộc khảo sát thứ 1, 230 (64,1%) nhận được điểm từ 18 trở lên, cho thấy sự hiện diện của các triệu chứng giống PTSD, trong khi có 183 người được hỏi (51,5%) vượt quá số điểm 25 cho chẩn đoán PTSD Trong cuộc khảo sát thứ 2, 42 người được hỏi (54,5%) có các triệu chứng giống PTSD và 31 (40,3%) là đủ điều kiện để chẩn đoán PTSD (33)

3.3.3 Thực trạng áp lực tâm lý của nhân viên y tế lâm sàng trên thế giới trong Đại dịch COVID19

Trong những đợt dịch lớn, nhu cầu về nhân viên chăm sóc sức khỏe tăng lên ngay cả khi những áp lực cực độ mà họ phải đối mặt gây ra tình trạng giảm khả dụng (27) Ngoài các rủi ro nhiễm trùng trực tiếp phát sinh do tiếp xúc gần gũi với bệnh nhân và / hoặc đồng nghiệp có khả năng lây nhiễm trong đại dịch COVID-19, nhân viên y tế cũng đang gia tăng căng thẳng và rủi ro về sức khỏe tâm thần, như trường hợp dịch SARS (34) Hầu hết các chuyên gia y tế làm việc trong các đơn vị cách ly và bệnh viện thường không được đào tạo

để cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần (35) Trong một nghiên cứu của Lijun Kang và cộng sự năm 2020 trong số 994 nhân viên y tế và điều dưỡng làm việc tại Vũ Hán, 36,9% bị rối loạn sức khỏe tâm thần dưới ngưỡng (trung bình PHQ-9: 2,4), 34,4% bị rối loạn nhẹ (trung bình PHQ-9: 5,4), 22,4% có rối loạn trung bình (trung bình PHQ-9: 5,4) -9: 9,0) và 6,2% bị xáo trộn nghiêm trọng (trung bình PHQ-9: 15,1) ngay sau khi dịch bệnh COVID-19 xảy ra (36) Trong quá khứ khi chiến đấu với sự xuất hiện đột ngột của hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS), sự đau khổ tâm lý trong nhân viên y tế xuất hiện dần dần: nỗi sợ hãi và lo lắng xuất hiện ngay lập tức và giảm trong giai đoạn đầu của dịch,

Trang 15

nhưng trầm cảm, các triệu chứng tâm sinh lý và các triệu chứng căng thẳng sau chấn thương xuất hiện sau đó và kéo dài trong một thời gian dài, dẫn đến những tác động sâu sắc (37,38) Tại Bệnh viện thứ hai Xiangya của Đại học Trung Nam, Trung Quốc trong đợt bùng phát dịch COVID-19 một kế hoạch can thiệp tâm lý chi tiết đã được xây dựng Tuy nhiên, việc thực hiện các dịch vụ can thiệp tâm lý gặp trở ngại, nhân viên y tế không muốn tham gia vào các can thiệp tâm lý nhóm hoặc cá nhân được cung cấp cho họ Hơn nữa, các y tá riêng

lẻ cho thấy sự dễ bị kích thích, cáu kỉnh, không muốn nghỉ ngơi và có dấu hiệu đau khổ tâm lý, nhưng từ chối bất kỳ trợ giúp tâm lý nào và tuyên bố rằng họ không có vấn đề gì (39).Các trường hợp tự tử đã được báo cáo ở Ấn Độ và ở các quốc gia khác, bao gồm cả

Ý, nơi hai y tá người Ý bị nhiễm bệnh tự tử trong khoảng thời gian vài ngày nguyên nhân

có thể là do sợ lây truyền COVID-19 cho bệnh nhân Có thể là nỗi sợ hãi và lo lắng về việc ngã bệnh hoặc chết, bất lực sẽ làm tăng tỷ lệ tự tử năm 2020 (40) Một cuộc khảo sát sức khỏe tâm thần của Hoang JZ và cộng sự năm 2020 đã cho thấy trong số 230 nhân viên y tế tham gia khảo sát, 63 nhân viên y tế bị rối loạn căng thẳng, tỷ lệ mắc bệnh là 27,39%, 53 người lo lắng, với tỷ lệ mắc là 23,04% Trong số đó, 5 người có lo lắng nặng, 11 người có

lo lắng vừa phải và 37 người có lo lắng nhẹ Tỷ lệ mắc lần lượt là 2,17%, 4,78% và 16,09% (12) Nghiên cứu của Jianbo Lai và cộng sự năm 2020 chỉ ra rằng: Trong số 1257 người tham gia hoàn thành khảo sát một tỷ lệ đáng kể những người tham gia đã báo cáo các triệu chứng trầm cảm (634 [50,4%]), lo lắng (560 [44,6%]), mất ngủ (427 [34,0%]) và đau khổ (899 [71,5%]) (41)

3.4 Thực trạng áp lực tâm lý ở nhân viên y tế lâm sàng trong Đại dịch COVID19 năm 2020 tại Việt Nam

3.4.1 Tình hình Đại dịch COVID-19 tại Việt Nam

Đại dịch COVID19 bùng phát với virus SAR-CoV2 từ Vũ Hán, Trung Quốc vào khoảng tháng 1 năm 2020 Ngày 23/01/2020, Việt Nam xuất hiện ca mắc đầu tiên tại Nha Trang (Khánh Hòa), bệnh nhân là người Trung Quốc đến du lịch tại Việt Nam Đại dịch đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tất cả lĩnh vực kinh tế-xã hội, y tế, chính trị trên cả thế giới Tại Việt Nam, tính đến thời điểm 18h00 ngày 25/08/2020, số ca dương tính với SAR-CoV-2

Trang 16

được Bộ Y tế công bố chính thức là 1029 ca bệnh, trong đó có 592 ca đã bình phục hoàn toàn và 27 bệnh nhân tử vong (42)

Trong giai đoạn từ ngày 23/01/2020 đến ngày 18/04/2020, Việt Nam có tổng số 268 ca dương tính với SARS-CoV-2 Chính Phủ Việt Nam đã quyết định thực hiện Cách ly xã hội trên toàn quốc từ 1/4/2020 Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã ra quyết định Cách li toàn

xã hội với các văn bản, quyết định, chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng tại Công văn

số 79-CV/TW ngày 30/1/2020; của Bộ Chính trị tại Thông báo số 172-TB/TW ngày 21/3/2020; chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại các Chỉ thị: số 05/CT-TTg ngày 28/1/2020; 06/CT-TTg ngày 31/1/2020, số 15/CT-TTg ngày 27/3/2020, số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 Với biện pháp mạnh mẽ này, dịch bệnh đã phần nào được kiểm soát và đẩy lùi

3.4.2 Thực trạng áp lực tâm lý của nhân viên y tế lâm sàng ở Việt Nam trong Đại dịch COVID19

Theo Tổng quan Quốc Gia về Nhân lực y tế tại Việt Nam năm 2018 của Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization-WHO) tại Việt Nam báo cáo, Việt Nam có trên 400.000 nhân viên làm việc trong hệ thống y tế công Nhân lực chủ yếu gồm bác sĩ, y sĩ, điều dưỡng,

kỹ thuật viên và lương y chiếm khoảng 80% (43) Đây là các loại nhân lực cần có chứng chỉ hành nghề theo quy định của luật có hiệu lực từ năm 2011 Mật độ bác sĩ của Việt Nam

là 7,61/1 vạn dân (năm 2013), tỷ lệ điều dưỡng/BS tăng lên đáng kể từ 1,19 (năm 2008) lên 1,34 (năm 2012) Tại Việt Nam hiện nay, các nghiên cứu về sức khỏe tâm thần của nhân viên y tế vẫn còn là lĩnh vực nghiên cứu mới Ở Việt Nam, rối loạn tâm thần đã được nghiên cứu trong một số ngành nghề Tuy nhiên, các nghiên cứu được công bố về nghề điều dưỡng chỉ báo cáo về các rối loạn tâm thần, chẳng hạn như căng thẳng, lo lắng và trầm cảm (10)(44-48) Trong khi đó, bệnh viện tỉnh Việt Nam được đặc trưng bởi môi trường làm việc căng thẳng, khối lượng công việc lớn, thiếu nhân viên y tế lành nghề và cơ sở hạ tầng và trang thiết bị y tế không đầy đủ (49,50) Các yếu tố công việc như vậy có thể được

dự kiến sẽ liên quan đến sự phát triển giữa điều dưỡng và nhân viên khác của nhiều loại vấn đề sức khỏe tâm thần

Trang 17

Theo nghiên cứu của Lê Thành Tài, Trần Ngọc Xuân, Trần Trúc Linh, “Tình hình stress nghề nghiệp của nhân viên điều dưỡng” (43) Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên

378 nhân viên điều dưỡng (NVĐD) bị stress nghề nghiệp tại bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ (BVĐKTWCT), bệnh đa khoa thành phố Cần Thơ (BVĐKTPCT) và bệnh viện đa khoa Châu Thành – Hậu Giang (BVĐKCT-HG), đồng thời xác định các yếu tố có thể gây stress nghề nghiệp cho người điều dưỡng ở 3 tuyến bệnh viện này Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tỉ lệ stress nghề nghiệp trong nhóm nghiên cứu khá cao với 45,2%, hầu hết ở mức trung bình 42,8% Có sự khác biệt về tỉ lệ stress giữa các bệnh viện thuộc 3 tuyến: trung ương, tỉnh thành, quận huyện với khuynh hướng tuyến trên bị nhiều hơn Cụ thể, BV ĐKTW

CT cao nhất với 53,1%, rồi đến BV ĐKTPCT 33,9% và thấp nhất là ở BV ĐKCT-HG với 32,5% Theo nghiên cứu của Tác giả Trần Thị Thu Thủy về Căng thẳng, lo âu và tram cảm của nhóm nhân viên y tế lâm sàng tại Việt Nam năm 2019 đã chỉ ra rằng tỷ lệ căng thẳng tự báo cáo, lo lắng và trầm cảm lần lượt là 18,5%, 39,8% và 13,2% 45,3% người tham gia báo cáo có các triệu chứng của ít nhất một loại rối loạn tâm thần , 7,3% có cả ba hình thức trên (51)

Như vậy, các vấn đề về áp lực tâm lý trở thành một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu trong cuộc chiến với Đại dịch toàn cầu COVID19 Kết quả của các nghiên cứu đi trước

là minh chứng cho sự khẩn cấp về tình trạng sức khỏe tâm thần của các nhân viên y tế đang trực tiếp làm việc với các bệnh nhân dương tính với SARS-CoV-2 trên toàn thế giới, đặc biệt là tại Việt Nam trong điều kiện cơ sở vật chất y tế chưa hoàn thiện

3.5 Các yếu tố liên quan đến áp lực tâm lý của nhân viên y tế trong đại dịch COVID19

3.5.1 Đặc điểm nhân khẩu học

3.5.1.1 Giới tính

Một cuộc khảo sát sức khỏe tâm thần của Hoang JZ và cộng sự năm 2020 đã cho thấy: Tỷ

lệ lo lắng ở nữ nhân viên y tế cao hơn nam [25,67% (48/187) so với 11,63% (5/43), Z = 2,008, p = 0,045], điểm số của SAS ở nữ nhân viên y tế là cao hơn so với nam [(43,78 ± 11,12) so với (39,14 ± 9,01), t = -2,548, p = 0,012] Điểm số PTSD-SS ở nữ nhân viên y tế

Trang 18

-cao hơn nam [(44,30 ± 18,42) so với (36,91 ± 13,95), t = -2,472, p = 0,011 ] (12) Tương

tự nghiên cứu của Jianbo Lai và cộng sự năm 2020 cũng chỉ ra rằng: Các y tá, phụ nữ, nhân viên tuyến đầu và những người ở Vũ Hán báo cáo đã trải qua các triệu chứng trầm cảm, lo

âu, mất ngủ và đau khổ nghiêm trọng hơn Ví dụ lo lắng nghiêm trọng giữa nam và nữ: 10 [3,4%] so với 56 [5,8%]; p = 0,001, trầm cảm nặng ở phụ nữ: OR = 1,94; KTC 95%: 1,26 -2,98; p = 0,003 (41)

3.5.1.2 Nghề Nghiệp

Khảo sát sức khỏe tâm thần của Hoang JZ và cộng sự năm 2020 đã cho thấy: Tỷ lệ lo lắng

ở y tá cao hơn so với bác sĩ [26,88% (43/160) so với 14,29% (10/70), Z = -2,066,p = 0,039]

và điểm số của SAS ở các y tá cao hơn so với các bác sĩ [(44,84 ± 10,42) so với (38,50 ± 10,72), t = -4,20, p <0,001] Tỷ lệ mắc rối loạn căng thẳng ở nhân viên y tế là 27,39% (63/230) và điểm số của PTSD-SS là (42,92 ± 17,88) (12) Nghiên cứu của Jianbo Lai và cộng sự năm 2020 chỉ ra rằng: trầm cảm nặng giữa bác sĩ và y tá: 24 [4,9%] so với 54 [7,1%]; p = 0,01 (41)

3.5.1.3 Trình độ chuyên môn

Nghiên cứu của Jianbo Lai và cộng sự năm 2020 chỉ ra rằng: lo lắng nghiêm trọng trong

số những người có trình độ chuyên môn trung cấp: OR = 1,82; KTC 95%: 1,38 - 2,39; p <0,001) (41)

3.5.1.4 Nơi làm việc

Rõ ràng, những nhân viên liên quan đến chăm sóc sức khỏe đang ở tuyến đầu về nguy cơ nhiễm trùng và tử vong, như trường hợp của nhiều bệnh dịch truyền nhiễm trước đây, như hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS) và Ebola (28) Nghiên cứu của Jianbo Lai và cộng

sự năm 2020 chỉ ra rằng: các triệu chứng như mất ngủ trầm trọng ở nhân viên y tế tiền tuyến so với nhân viên y tế tuyến hai: 9 [1,7%] so với 3 [0,4%]; p  <0,001; So với những người làm việc trong các bệnh viện đại học, những người tham gia làm việc tại các bệnh viện thứ cấp có nhiều khả năng báo cáo các triệu chứng trầm cảm nặng hơn (53 [5,6%] so với 25 [7,7%]; p  = 0,003), lo lắng (48 [5,1%] so với 18 [5,5%]; p  = 046) và mất ngủ (10 [1,0%] so với 2 [0,6%]; p  = 0,02) nhưng không bị suy nhược So với làm việc ở vị trí thứ hai, làm việc ở tuyến đầu điều trị trực tiếp bệnh nhân mắc COVID-19 dường như là một

Trang 19

yếu tố nguy cơ độc lập cho tất cả các triệu chứng tâm thần sau khi điều chỉnh (trầm cảm,

OR = 1,52; KTC 95%: 1,11 - 2,09; p  =0,01; lo lắng, OR = 1,57; KTC 95%: 1,22 - 2,02; p  <0,001; mất ngủ, OR = 2,97; KTC 95%: 1,92-4,60; p  < 0,001; đau khổ: OR = 1,60; KTC 95%: 1,25 – 2,04; p  < 0,001 Tuy nhiên nghiên cứu của Zhenyu Li và cộng sự năm

2020 lại chỉ ra rằng các y tá tuyến đầu có điểm chấn thương gián tiếp (62 điểm) thấp hơn đáng kể so với các y tá công cộng và ngoài chiến tuyến (75,5 điểm) (52) Nguyên nhân của

sự khác có thể do thiết kế nghiên cứu hoặc bộ công cụ đánh giá

3.5.1.5 Khoa làm việc

Tại Trung Quốc, Nghiên cứu của Yingjian và các cộng sự, 2020 cho thấy một số nhân viên đã trải qua các triệu chứng trầm cảm có ý nghĩa lâm sàng theo các ngưỡng được thiết lập Không có sự khác biệt đáng kể về điểm số giữa các nhân viên trong các bộ phận liên quan đến COVID-19 ( t-test, t SDS = 0,77, df SDS = 95, P SDS = 0,44; t -test, t SAS = 1,03,

df SAS = 95, P SAS = 0,31) (45) Nghiên cứu của Tung Ping Su và cộng sự năm 2003 cũng chỉ ra điều tương tự: Những người tham gia y tá đến từ hai đơn vị SARS và hai đơn vị không tham gia điều trị SARS Người tham gia định kỳ tự đánh giá trầm cảm, lo lắng, căng các triệu chứng thẳng sau chấn thương , rối loạn giấc ngủ, thái độ đối với SARS và hỗ trợ gia đình Kết quả cho thấy, trầm cảm (38,5% so với 3,1%) và mất ngủ (37% so với 9,7%), tương ứng, lớn hơn ở các y tá đơn vị SARS so với các y tá đơn vị không điều trị SARS (46)

3.5.1.6 Thời gian làm việc

Trong khi dịch bùng phát, các nhân viên chăm sóc sức khỏe dự kiến sẽ làm việc nhiều giờ dưới áp lực đáng kể Góp phần thêm vào sự lo lắng trong đợt bùng phát COVID-19 hiện nay là việc phát hiện ra sự lây nhiễm từ người sang người qua giọt nước, tiếp xúc và truyền fomite và đặc biệt là sự tồn tại của những người không có triệu chứng mắc bệnh SARS- CoV-2 Do đó thời gian làm việc càng lâu nguy cơ lây nhiễm càng cao mức độ lo lắng ở nhân viên y tế cũng gia tăng theo Bên cạnh đó nhân viên y tế trẻ hơn (30 tuổi) có điểm SDS cao hơn nhân viên lớn tuổi nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê ( t -test, t SDS = 1,64, df SDS = 83, P SDS = 0,11; t -test, t SAS = 0,31, df SAS = 83, P SAS = 0,76) (45)

Trang 20

3.5.2 Yếu tố truyền thông, nguồn lực y tế và tâm lý trong thời gian diễn ra dịch

Các của nhân viên chăm sóc sức khỏe, giống như những người khác, dễ bị tổn thương cả

về căn bệnh này và những tin đồn và thông tin không chính xác làm tăng mức độ lo lắng của họ Xã hội siêu kết nối ngày nay làm cho việc kiểm soát thông tin trở nên khó khăn hơn, với kết quả là thông tin thường được phóng đại hoặc gây hiểu lầm làm trầm trọng thêm những lo lắng đã tồn tại giữa các của nhân viên chăm sóc sức khỏe Cho đến ngày 25 tháng 2 năm 2020, Trung Quốc đã báo cáo có 3397 nhân viên chăm sóc sức khỏe bị nhiễm bệnh ở Hồ Bắc, ít nhất 18 người trong số họ đã chết, gây ra mối lo ngại ngày càng tăng trong số các nhân viên chăm sóc sức khỏe (48)

Với nguồn lực thường không đủ, đồng thời chấp nhận những nguy hiểm vốn có khi tương tác chặt chẽ với bệnh nhân bị bệnh Do trong nghiên cứu về dịch SARS năm 2003, chúng tôi đã phát hiện ra rằng, ở các mức độ khác nhau ở cả Trung Quốc và Đài Loan, mức độ lo lắng của nhân viên chăm sóc sức khỏe đã tăng lên khi phản ứng với các trường hợp nhân viên chăm sóc sức khỏe bị ốm hoặc chết Nhân viên lo lắng về sự thiếu hụt thiết bị bảo vệ

và cảm giác không có khả năng khi phải đối mặt với các bệnh nhân bị bệnh nặng Do đó, nhân viên chăm sóc sức khỏe ngày càng không muốn làm việc (53)

Số bệnh nhân bị nhiễm và bệnh nặng đang leo thang cũng như số nhân viên y tế bị phơi nhiễm đang tự cách ly, vì họ đã bị nhiễm COVID-19 hoặc đã tiếp xúc với một trường hợp Điều này dẫn đến khối lượng công việc và căng thẳng lớn hơn nhiều đối với những người còn lại trong lực lượng lao động chăm sóc sức khỏe và làm suy yếu nghiêm trọng dịch vụ y tế được cung cấp Rủi ro về sức khỏe tâm thần càng trầm trọng hơn do tình trạng thiếu thiết bị bảo vệ được báo cáo cho nhân viên y tế ở nhiều nơi trên thế giới (28)

Nỗi lo lắng của của nhân viên chăm sóc sức khỏe bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi sự kỳ thị ngày càng tăng và sự mất lòng tin của chính cộng đồng của họ Những điều kiện tồi tệ hơn gây ra sự lo lắng là mất lòng tin cao độ với chính phủ trong số các nhân viên chăm sóc sức khỏe, trong một số trường hợp đã từ chối làm việc (39)

Trang 21

4 KHUNG LÝ THUYẾT

Cá nhân

 Đặc điểm nhân khẩu học (tuổi, giới tính,

nghề nghiệp, trình độ chuyên môn, nơi

làm việc, khoa làm việc, tình trạng hôn

nhân, thâm niên)

 Thời gian làm việc trong ngày

 Sống ở khu vực cách ly tập trung

Mức độ rủi do

 Nguy cơ nhiễm bệnh

 Trang thiết bị, vật tư y tế

Trang 22

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang

5.2 Đối tượng nghiên cứu

5.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Nhân viên y tế bao gồm bác sĩ, điều dưỡng, hộ sinh, hộ lý của các khoa lâm sàng (khoa Cấp cứu, khoa Truyền nhiễm, khoa Nội, khoa Ngoại và các Chuyên khoa lẻ) tại bệnh viện Đa khoa Đống Đa và bệnh viện Đa khoa Đông Anh

5.2.2 Tiêu chuẩn lựa chọn

- Đang làm việc liên tục tối thiểu 1 năm và có hợp đồng lao động với bệnh viện

5.2.3 Tiêu chuẩn loại trừ

- Làm việc thời vụ, thực tập, không có hợp đồng lao động với bệnh viện

- NVYT đang đi học dài hạn, đang nghỉ chế độ (nghỉ ốm, nghỉ thai sản)

5.3 Thời gian và địa điểm tiến hành nghiên cứu

5.3.1 Thời gian: Từ tháng 04/2020 đến tháng 07/2020

5.3.2 Địa điểm tiến hành nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành tại 2 bệnh viện: Đa

khoa Đống Đa và Đa khoa Đông Anh

5.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

5.4.1 Cỡ mẫu

Áp dụng phương pháp mẫu toàn bộ, toàn bộ nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng của 2 bệnh viện được mời tham gia nghiên cứu Tổng số nhân viên y tế lâm sàng qua số liệu cung cấp của cả 2 bệnh viện là 341 người (Đa khoa Đông Anh là 190 người, Đa khoa Đống Đa là 161 người)

5.4.2 Phương pháp chọn mẫu

Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng Toàn bộ nhân viên y tế thuộc các khoa lâm sàng của cả 2 bệnh viện được mời tham gia nghiên cứu qua zalo, email

Trang 23

5.5 Phương pháp thu thập số liệu

 Phương pháp thu thập: Khảo sát online với các nhân viên thuộc các khoa lâm sàng của cả 2 bệnh viện Link khảo sát được gửi tới cán bộ y tế phụ trách phối hợp tại các bệnh viện, cụ thể là phòng Kế hoạch tổng hợp/Nghiên cứu khoa học, sau đó phòng gửi tới email cá nhân/zalo của các nhân viên y tế lâm sàng tại bệnh viện

 Công cụ thu thập thông tin: Công cụ thu thập thông tin là bộ câu hỏi online được tạo trên phần mềm Kobotool box, được thiết kế sẵn dựa trên mục tiêu và các biến số nghiên cứu Mức độ trầm cảm và lo âu lần lượt được đánh giá qua thang sàng lọc trầm cảm gồm 9 tiểu mục (9-item Patient Health Question PHQ-9) và thang sàng lọc lo âu gồm 7 tiểu mục (7-iteam General Anxiety Disorder) Bộ câu hỏi trước khi chính thức đưa vào tiến hành nghiên cứu đã được thử nghiệm trên nhóm đối tượng đích và được chỉnh sửa, bổ sung nội dung phù hợp với đối tượng đích

 Thời gian thu thập: Theo lịch cụ thể ngày thu thập số liệu đã dự kiến Đối tượng nghiên cứu điền thông tin vào bộ câu hỏi online bất cứ thời điểm nào trong khoảng thời gian diễn ra quá trình thu thập

5.6 Biến số nghiên cứu

5.6.1 Nhóm biến số độc lập

 Các yếu tố cá nhân bao gồm: giới tính, tuổi, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, nghề nghiệp, khoa làm việc (khoa Cấp cứu, khoa Truyền nhiễm, khoa Nội, khoa Ngoại và các Chuyên khoa lẻ), số năm công tác, số thời gian làm việc 1 ngày, số thời gian tiếp xúc với bệnh nhân trong 1 ngày

 Các yếu tố nguy cơ rủi ro bao gồm: bệnh nhân mắc COVID-19, bệnh nhân nghi nhiễm COVID-19, vật tư, trang thiết bị y tế; quá tải bệnh nhân, công việc

 Các yêu tố xã hội bao gồm: sự kì thị của cộng đồng, thông tin sai lệch về dịch bệnh

Trang 24

5.6.2 Nhóm biến số phụ thuộc

Mức độ các vấn đề áp lực tâm lý của nhân viên y tế bao gồm mức độ lo âu; trầm cảm

Bảng : Biến số sử dụng trong nghiên cứu (phụ lục 1)

5.7 Công cụ đo lường

 Công cụ đo lường áp lực tâm lý: sử dụng 22 thang đo PHQ-9; GAD-7 để đánh giá tình trạng lo âu, trầm cảm của nhân viên y tế:

 PHQ-9 đã được chuẩn hóa tại Việt Nam và được sử dụng trong những nghiên cứu đánh giá về sức khỏe tâm thần, đặc biệt là trong môi trường bệnh viện (54) Đây là

bộ công cụ tự báo cáo được sử dụng để đánh giá mức độ trầm cảm gồm 9 tiểu mục, điểm cho mỗi tiểu mục từ 0 đến 3 điểm, cụ thể: 0 điểm tương ứng với không hoàn toàn; 1 điểm tương ứng với vài ngày mới xuất hiện các dấu hiệu; 2 điểm tương ứng với các dấu hiệu xuất hiện hơn nửa ngày; 3 điểm tương ứng ứng với các dấu hiệu xuất hiện gần như mỗi ngày Mức độ nghiêm trọng của trầm cảm đánh giá theo thang đo được phân loại như sau:

Trang 25

xuất hiện hơn nửa ngày; 3 điểm tương ứng ứng với các dấu hiệu xuất hiện gần như mỗi ngày Mức độ nghiêm trọng của sự lo lắng đánh giá theo thang đo được phân loại như sau:

 Chúng tôi phân loại biểu hiện lo âu, trầm cảm như sau:

Không có biểu hiện rối loạn lo lắng: 0 – 4 điểm

Có biểu hiện rối loạn lo lắng: 5 – 21 điểm

5.8 Phương pháp phân tích số liệu

Sử dụng phần mềm SPSS 20 để phân tích số liệu:

 Thống kê mô tả sử dụng để mô tả các đặc điểm thông tin chung, thực trạng lo âu, trầm cảm và các yếu tố nguy cơ, sự kì thị của cộng đồng đối với NVYT

 Sư dụng mô hình hồi quy Logistic nhị phân để tìm hiểu mối liên quan tới biểu hiện

lo âu, trầm cảm của NVYT lâm sàng với kết quả biểu thị dưới dạng OR, KTC 95%

và p < 0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê

5.9 Đạo đức nghiên cứu

 Đề cương nghiên cứu đã được xét duyệt bởi Hội đồng khoa học trường Đại học Y

tế công cộng số 020-201/DD-YTCC

 Đối tượng được lựa chọn tham gia nghiên cứu hoàn toàn tự nguyện Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu đều được giải thích cụ thể về mục đích và nội dung

Trang 26

nghiên cứu Nghiên cứu chỉ được tiến hành khi nhận được sự chấp nhận tham gia của đối tượng nghiên cứu Đối tượng có quyền từ chối tham gia nghiên cứu bất kỳ lúc nào Trong quá trình nghiên cứu không có sự có mặt của bất cứ cá nhân/tổ chức nào có thể gây áp lực tới việc tham gia nghiên cứu tự nguyên của đối tượng

 Nghiên cứu không gây ảnh hưởng gì tiêu cực cho đối tượng bởi thu thập số liệu chỉ đơn thuần là phát vấn thông qua bộ câu hỏi online tự điền khuyết danh

 Kết quả nghiên cứu là cơ sở cho việc xác định, đánh giá tình trạng áp lực tâm lý hiện nay của nhân viên y tế do ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp dự phòng về một số rối loạn tâm thần đối với những thảm họa tương tự Điều này rất có ý nghĩa và giá trị với hoạt động làm việc và sức khỏe tâm thần đối với nhân viên y tế của 2 bệnh viện nói riêng và hệ thống y tế cả nước nói chung

Trang 27

6 Kết quả

6.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu “Đo lường mức độ biểu hiện lo âu, trầm cảm của đợt bùng phát dich

COVID-19 đối với nhân viên y tế lâm sàng ở một số bệnh viện tại Hà Nội năm 2020” nhằm tìm hiểu thực trạng về lo âu, trầm cảm của nhân viên y tế thuộc các khoa lâm sàng Nhóm nghiên cứu đã thu thập được đữ liệu của 341 nhân viên được mô tả kết quả theo bảng dưới đây:

Bảng 1: Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

Trang 28

Về nghề nghiệp, chủ yếu đối tượng là điều dưỡng viên (66,6%), tiếp sau là bác sĩ (29,3%)

và chỉ có 4,1% là các kĩ thuật viên, hộ sinh và hộ lý Phần lớn nhân viên y tế (92,4%) không phải sống trong khu vực cách ly trong thời điểm xảy ra dịch bệnh và chỉ có 7,6% nhân viên

là sống trong khu vực cách ly Về thời gian ở viện trong 1 ngày của các nhân viên y tế, chủ yếu là từ 8 – 12 tiếng (49,9%) và trên 8 tiếng (41,6%) còn lại là dưới 8 tiếng trên 1 ngày (8,5%)

Bảng 2 Tuổi, số năm công tác và thời gian làm việc của đối tượng nghiên cứu

Trang 29

Số năm công tác 12,4 8,6 12,9 14,6 12,9 13,5 Trung bình thời

6.2 Nguy cơ rủi ro của nhân viên y tế

Bảng 3 Nguy cơ rủi ro của nhân viên y tế

Đặc điểm

Tần số (n)

Tỷ lệ (%)

Tần số (n)

Tỷ lệ (%) Tiếp nhận/điều trị bệnh nhận được

Tiếp nhận/quản lý bệnh nhân bịnghi

Tình trạng bệnh nhân (hay công việc)

Gặp tình trạng thiếu vật tư, trang thiết

bị y tế không? (khẩu trang, đồ bảo

hộ, thuốc điều trị, )

Trang 30

Bảng 3 cho thấy, trong tổng số 341 nhân viên y tế tham gia nghiên cứu, chỉ có 15 người (4,4%) trực tiếp tiếp nhận, điều trị bệnh nhân được chẩn đoán mắc Covid-19, và có 79 người (23,2%) tiếp nhận, quản lý bệnh nhân bị nghi nhiễm Covid-19 Kết quả cũng chỉ ra rằng, có 174 nhân viên (51%) nhận định rằng đã xảy ra tình trạng thiếu nhân lực trong thời gian xảy ra dịch bệnh và 166 nhân viên (48,7%) cũng cho rằng đã gặp phải tình trạng bệnh nhân hay công việc luôn quá tải Về vật tư, trang thiết bị y tế thì có 34,3% nhân viên y tế cho rằng đã gặp phải tình trạng thiếu vật dụng trong khi 224 người còn lại (65,7%) cho rằng không gặp phải tình trạng này

6.3 Thực trạng lo âu, trầm cảm của nhân viên y tế do tác động của dịch

COVID-19 gây ra

Bảng 4 Thực trạng rối loạn lo âu của đối tượng nghiên cứu

Nội dung

Không lần nào cả

n (%)

Một vài ngày

n (%)

Nhiều hơn phân nửa

số ngày

n (%)

Gần như mỗi ngày

n (%) Tôi cảm thấy bực dọc, khó chịu

Trang 31

Tôi sợ hãi, cảm tưởng như có điều

gì đó khủng khiếp có thể xảy ra 234 (68,6) 87 (25,5) 11 (3,2)

Bảng 5 Mức độ rối loạn lo âu của đối tượng nghiên cứu

Bảng 5 cho thấy, nhân viên y tế tham gia vào nghiên cứu không gặp phải tình trạng rối loạn

lo âu chiếm tỷ lệ 66,9% cao hơn gấp 2 lần đối tượng gặp phải tình trạng này (33,1%), trong

đó tỷ lệ “lo lắng nhẹ” là cao nhất (27,6%) và thấp nhất là “lo lắng nghiêm trọng” (2,9%)

Bảng 6 Thực trạng trầm cảm của đối tượng ngiên cứu

Trang 32

Nội dung

Không lần nào cả

n (%)

Một vài ngày

n (%)

Nhiều hơn phân nửa

số ngày

n (%)

Gần như mỗi ngày

n (%)

Tôi cảm thấy ít hứng thú hoặc ít

niềm vui trong công việc 201 (58,9)

111 (32,6) 23 (6,7)

6 (1,8)

Tôi cảm thấy hụt hẫng, chán nản

hoặc tuyệt vọng 269 (78,9) 59 (17,3) 10 (2,9)

3 (0,9)

Tôi bị khó ngủ hoặc rối loạn giấc

ngủ (ngủ quá nhiều hoặc ngủ quá ít) 230 (67,4) 88 (25,8) 15 (5,0)

6 (1,8)

Tôi cảm thấy mệt mỏi hoặc ít năng

135 (39,6) 26 (7,6)

Tôi cảm thấy khó tập trung vào 1

việc nào đó như đọc báo hoặc xem

tivi,

253 (74,2) 72 (21,1) 13 (3,8) 3 (0,9)

Tôi cảm thấy di chuyển hoạt động

hoặc nói chậm đến mức người khác

có thể nhận thấy Hoặc anh/chị phải

di chuyển nhiều hơn bình thường do

Trang 33

Bảng 6 cho thấy có 32,6% NVYT cảm thấy “ít hứng thú hoặc ít niềm vui trong công việc” trong một vài ngày trong khi đó 1,8% có biểu hiện này gần như mỗi ngày Có 39,6% cảm thấy “mệt mỏi hoặc ít năng lượng” trong một vài ngày Bên cạnh đó 25,8% cho biết họ có biểu hiện “bị khó ngủ hoặc rối loạn giấc ngủ” trong một vài ngày và có 1,8% NVYT có biểu hiện này gần như mỗi ngày Có 25,5% đối tượng tham gia nghiên cứu cho biết họ gặp phải tình trạng “chán ăn hoặc ăn quá nhiều” trong một vài ngày Đặc biệt có 7% đối tượng được hỏi “có những suy nghĩ rằng bản thân sẽ tốt hơn khi chết hoặc làm tổn thương chính mình theo một cách nào đó” trong một vài ngày và có 0,6% có suy nghĩ ngày gần như mỗi ngày

Bảng 7 Mức độ trầm cảm của đối tượng nghiên cứu

n (%)

Trầm cảm vừa phải (10 – 14 điểm)

n (%)

Trầm cảm nặng (15 - 19 điểm)

n (%)

Trầm cảm rất nặng ( 20 – 27 điểm)

6.3 Sự kì thị của cộng đồng, xã hội

Trang 34

Bảng 8 Sự kỳ thị của cộng đồng, xã hội

Đặc điểm

Chưa bao giờ

n (%)

Bị xúc phạm bằng lời nói bởi những

người xung quanh 226 (66,3) 32 (9,4) 80 (23,5) 3 (0,9)

Bị buộc phải thay đổi nơi ở của

mình hoặc không thể thuê được chỗ 336 (98,5) 5 (1,5) 0 0 Gặp phải thái độ xa lánh ở nơicông

cộng (hàng xóm, cầu thang, phương

tiên giao thông công cộng) do bản

thân là nhân viên y tế

262 (76,8) 25 (7,3) 51 (15,0) 3 (0,9)

Các thành viên gia đình có ảnh

hưởng từ công việc anh/chị như chịu

xa lánh của người xung quanh, yêu

cầu tự cách ly ở nhà để tránh lây

nhiễm

283 (83,0) 25 (7,3) 29 (8,5) 4 (1,2)

Không được tham gia các hoạt động

của gia đình (ví dụ như nấu ăn, ăn

uống cùng gia đình, ngủ chung cùng

phòng, )

263 (77,1) 13 (3,8) 50 (14,7) 15 (4,4)

Cảm thấy vị trí nhân viên y tế của

anh chị đã đem lại trục trặc,phiền

nhiễu cho các các thành viên gia

đình

261 (76,5) 23 (6,7) 53 (15,5) 4 (1,2)

Trang 35

Bảng 8 cho thấy có 23,5% NVYT tham gia nghiên cứu vài lần “Bị xúc phạm bằng lời nói bởi những người xung quanh”, có 1,5% (5 đối tượng) “Bị buộc phải thay đổi nơi ở của mình hoặc không thể thuê được chỗ” một lần trong thời gian diễn ra dịch bệnh; 15% vài lần “Gặp phải thái độ xa lánh ở nơi công cộng (hàng xóm, cầu thang,phương tiên giao thông công cộng) do bản thân là nhân viên y tế”; 1,2% thường xuyên gặp phải tình trạng

“Các thành viên gia đình có ảnh hưởng từ công việc anh/chị như chịu xa lánh của người xung quanh, yêu cầu tự cách ly ở nhà để tránh lây nhiễm” và 8,5% vài lần gặp phải tình trạng này Có 14,7% cho biết họ vài lần “Không được tham gia các hoạt động của gia đình (ví dụ như nấu ăn, ăn uống cùng giađình, ngủ chung cùng phòng, )” và 15,5% thường xuyên “cảm thấy vị trí nhân viên y tế đã đem lại trục trặc,phiền nhiễu cho các các thành viên gia đình”

Bảng 9 Lý do dẫn đến sự kỳ thị của cộng đồng

Đặc điểm

Lý do

Vì họ biết anh/chị là nhân viên y tế và có thể làm lây virus covid-19

Bị buộc phải thay đổi

nơi ở của mình hoặc

không thể thuê được

chỗ

Gặp phải thái độ xa

lánh ở nơicông cộng 64 (81,1) 4 (5,1) 8 (10,2) 3 (3,8) 79

Trang 36

công việc anh/chị như

chịu xa lánh của người

xungquanh, yêu cầu tự

cách ly ở nhà đểtránh

lây nhiễm

44 (75,9) 5 (8,6) 8 (13,8) 1 (1,7) 58

Không được tham gia

các hoạt động của gia

đình (ví dụnhư nấu ăn,

ăn uống cùng giađình,

ngủ chung cùng

phòng, )

30 (38,5) 28 (35,9) 9 (11,5) 11 (14,1) 78

Bảng 9 cho thấy, trong tổng số 341 đối tượng tham gia nghien cứu, có 115 đối tượng từng

“bị xúc phạm bằng lời nói bởi những người xung quanh”, trong đó nguyên nhân lớn nhất

là “ Vì họ biết anh/chị là nhân viên y tế và có thể làm lây virus covid-19” Có 2 người (chiếm 40%) trong 5 người từng “Bị buộc phải thay đổi nơi ở của mình hoặc không thể thuê được chỗ” vì lý do “Vì họ biết anh/chị là nhân viên y tế và có thể làm lây virus covid-19” Trong số 79 người “Gặp phải thái độ xa lánh ở nơi công cộng (hàng xóm, cầu thang,phương tiên giao thông công cộng) do bản thân là nhân viên y tế” có 64 người (81,1%) cho biết vì lý do “Vì họ biết anh/chị là nhân viên y tế và có thể làm lây virus covid-19” Có 75,9% (44 trong tổng số 58) người có “Các thành viên gia đình có ảnh hưởng

từ công việc anh/chị như chịu xa lánh của người xung quanh, yêu cầu tự cách ly ở nhà để

Ngày đăng: 31/01/2021, 15:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w