BÁO CÁO TÓM TẮT NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VIỆC HỌC TIẾNG ANH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC HỌC TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN CỬ NHÂN CHÍNH QUY Y TẾ CÔNG CỘNG NĂM BA, NĂM TƯ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ
Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Đình Cẩm Vân – CNCQ YTCC14 1- A2
Cơ quan (Tổ chức) chủ trì đề tài: Trường Đại học Y tế công cộng
Mã số đề tài (nếu có):
Năm 2019
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ
Chủ nhiệm đề tài: Sinh viên Nguyễn Đình Cẩm Vân – CNCQ YTCC14 1-A2
Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Y tế công cộng
Năm 2019
Trang 3BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ
1 Tên đề tài: Thực trạng việc học tiếng Anh và một số yếu tố liên quan đến việc học tiếng Anh của sinh viên Cử nhân chính quy Y tế công cộng năm ba, năm tư trường Đại học Y tế công cộng năm 2019
2 Chủ nhiệm đề tài: Sinh viên Nguyễn Đình Cẩm Vân – CNCQ YTCC14 1-A2
3 Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Y tế công cộng
4 Cơ quan quản lý đề tài: Trường Đại học Y tế công cộng
5 Thư ký đề tài: Sinh viên Phạm Thùy Trang – CNCQ YTCC15 1-A1
6 Phó chủ nhiệm đề tài hoặc ban chủ nhiệm đề tài (nếu có):
7 Danh sách những người thực hiện chính:
- Sinh viên Phạm Thùy Trang – CNCQ YTCC15 1-A1
- Sinh viên Nguyễn Việt Anh – CNCQ YTCC15 1-A1
- Sinh viên Nguyễn Hồng Phi – CNCQ YTCC14 1-A3
8 Các đề tài nhánh (đề mục) của đề tài (nếu có): không có
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT
CEFR
Khung tham chiếu trình độ ngôn ngữ chung Châu Âu
(Common European Framework of Reference for
Languagues)
IELTS Hệ thống kiểm tra tiếng Anh quốc tế
(International English Language Testing System)
(Non – Governmental Organization)
TOEFT Bài kiểm tra năng lực tiếng Anh quốc tế
(Test Of English as a Foreign Language)
TOEIC Bài kiểm tra tiếng Anh giao tiếp quốc tế
(Test of English for International Communication)
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Bảng so sánh mức độ tiếng Anh tương tích giữa KNLNNVN với CEFR 7
Bảng 4.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (n= 281) 14
Bảng 4.2 Sở thích và nhận định học tiếng Anh của sinh viên (n= 281) 15
Bảng 4.3 Hình thức tự học tiếng Anh của sinh viên (n= 281) 16
Bảng 4.4 Trình độ tiếng Anh của sinh viên (n=281) 16
Bảng 4.5 Yếu tố gia đình của đối tượng nghiên cứu (n= 281) 18
Bảng 4.6 Yếu tố ảnh hưởng đến việc học tiếng Anh đối tượng nghiên cứu (n= 281) .19
Bảng 4.7 Lợi ích của CLB tiếng Anh cho sinh viên (n= 281) 20
Bảng 4.8 Đánh giá mối liên quan giữa mức độ tự học tiếng Anh của đối tượng nghiên cứu và một số yếu tố liên quan (n= 281) 21
Trang 6MỤC LỤC
A BÁO CÁO TÓM TẮT NGHIÊN CỨU 1
B NỘI DUNG BÁO CÁO CHI TIẾT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ 4
1 Đặt vấn đề 4
2 Tổng quan đề tài 4
3 Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 10
4 Kết quả nghiên cứu 14
5 Bàn luận 25
6 Kết luận và khuyến nghị 27
7 Tài liệu tham khảo 29
8 Phụ lục 30
Trang 7A BÁO CÁO TÓM TẮT NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VIỆC HỌC TIẾNG ANH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC HỌC TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN CỬ NHÂN CHÍNH QUY Y TẾ CÔNG CỘNG NĂM BA, NĂM TƯ TRƯỜNG ĐẠI
HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG NĂM 2019
Nhóm nghiên cứu: Nguyễn Đình Cẩm Vân, Nguyễn Hồng Phi, CNCQ khóa K14 trường Đại học Y tế công cộng, Phạm Thùy Trang, Nguyễn Việt Anh, sinh viên
khóa K15 trường Đại học Y tế công cộng
Hướng dẫn: PGS TS Lã Ngọc Quang, Trưởng phòng Đào tạo Đại học, trường Đại học Y tế công cộng, ThS Nguyễn Bá Học, giảng viên bộ môn ngoại ngữ,
trường Đại học Y tế công cộng
TÓM TẮT
Đặt vấn đề và mục tiêu nghiên cứu: Tiếng Anh là một ngôn ngữ quốc tế và là một
trong những ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi Các nghiên cứu trong và ngoài nước
đã chỉ ra có sự khác nhau về hiệu quả học tiếng Anh ở các nhóm sinh viên với các mục tiêu học tiếng Anh khác nhau, tuy nhiên, phần lớn sinh viên Việt Nam – đặc biệt
là những sinh viên không chuyên ngoại ngữ, việc học tiếng Anh thường bị động và mang lại kết quả không cao Nhằm mục đích tìm hiểu về tình trạng này cũng như nâng cao nhận thức cho sinh viên về vị trí, vai trò của việc học tiếng Anh và cung cấp thông tin giúp nâng cao chất lượng giảng dạy ngoại ngữ trong nhà trường, chúng tôi thực hiện nghiên cứu với mục tiêu: mô tả thực trạng và phân tích một số yếu tố liên quan đến việc học tiếng Anh của sinh viên CNCQ YTCC năm ba, năm tư trường Đại học Y tế công cộng năm 2019
Đối tượng, phương pháp nghiên cứu: Áp dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang
Đối tượng nghiên cứu bao gồm toàn bộ 281 sinh viên hai khóa CNCQ YTCC15 – 1A
và CNCQ YTCC16 – 1A
Kết quả: Kết quả nghiên cứu cho thấy đa phần sinh viên không có khả năng sử dụng
tiếng Anh hiệu quả, trên 50% sinh viên tự nhận khả năng tiếp nhận và truyền đạt nguồn thông tin tiếng Anh văn bản và âm thanh của bản thân chỉ ở mức “trung bình” Nghiên cứu tiến hành trên 281 sinh viên CNCQ YTCC năm ba và năm tư, có 19,6%
tự học tiếng Anh ở mức độ thường xuyên Kết quả cũng chỉ ra rằng, có mối liên quan giữa mục tiêu học tiếng Anh với mức độ tự học tiếng Anh của sinh viên Các sinh viên có có mục đích học tiếng Anh cụ thể (bao gồm: đủ điều kiện ra trường, đọc thông tin – giao tiếp tiếng Anh, phát triển chuyên môn YTCC và du học) cao gấp từ 1,2 đến
6 lần so với các sinh viên không có mục tiêu học tiếng Anh Ngoài ra, một số yếu tố khác ảnh hưởng đến mức độ tự học tiếng Anh của sinh viên hai năm cuối bao gồm:
Trang 8sở thích học tiếng Anh, trình độ tiếng Anh hiện tại, kỳ vọng của gia đình, phân lớp tiếng Anh hiện tại và tham gia CLB tiếng Anh tại trường, với p<0,05
Kết luận và kiến nghị: Thực tế, sinh viên có thái độ tích cực với việc học tiếng Anh
nhưng trình độ hạn chế do ảnh hưởng từ phương pháp học cũ Việc học tiếng Anh của sinh viên tập trung nhiều vào ngữ pháp trong khi tiếng Anh đòi hỏi nhiều kỹ năng hơn thế, đặc biệt là thành thạo cả 4 kỹ năng: nghe, nói, đọc và viết Hầu hết sinh viên không học tiếng Anh vì sở thích, họ coi tiếng Anh là môn học bắt buộc, chủ yếu vì các động cơ dựa trên phương tiện như tăng khả năng được tuyển dụng, tăng cơ hội tìm kiếm có được việc làm tốt sau khi tốt nghiệp hoặc động lực tích hợp như theo đuổi ước mơ du học Tuy nhiên, những động cơ này không thực sự cấp bách để khiến học sinh học tiếng Anh chăm chỉ và tự nguyện để đạt được kết quả mong muốn Ngoài ra, những động cơ này bị ảnh hưởng phần lớn bởi khả năng tự học của học sinh
và các yếu tố bên ngoài khác như môi trường học tiếng Anh, gia đình, giáo viên và tài liệu học tập
CURRENT SITUATION AND RELATED FACTORS ON THE LEARNING ENGLISH OF 3TH AND FINAL YEAR FULL-TIME STUDENTS AT HANOI UNIVERSITY OF PUBLIC HEALTH IN 2019
Researchers: Nguyen Dinh Cam Van, Nguyen Hong Phi, the alumni, Hanoi University of Public Health, Pham Thuy Trang, Nguyen Viet Anh, the fourth year
student, Hanoi University of Public Health
Instructor: A/Prof La Ngoc Quang, Head of Undergraduate Education Management Department, Hanoi University of Public Health, Nguyen Ba Hoc,
Lecturer at Foreign Languages Department, Hanoi University of Public Health
ABSTRACT
Background: English is an international language and one of the most widely used
languages Domestic and foreign studies have shown differences in English learning effectiveness among groups of students with different English learning goals, however, the majority of Vietnamese students - especially students non-foreign language professionals, learning English is often passive and results are not high The study has two specific objectives: (1) To describe the current situation of English learning of third and final year students at the Hanoi University of Public Health in
2019 and (2) To analyze the related factors on the learning English of third and final year students at the Hanoi University of Public Health in 2019
Trang 9Objects and methodology: This is cross-sectional study with quantitative method on
281 students who is studying at CNCQ YTCC15 - 1A and CNCQ YTCC16 - 1A
Results: Research results showed that most students do not have the ability to use
English effectively, more than 50% of students perceive themselves as able to receive and communicate the information by English text and audio at an "average" level The study was conducted on 281 Bachelor of Public Health students in the third and final year, specialized Public Health, 19.6% self-taught English on a regular level The results also showed that there is a relationship between the goals of learning English and the level of English self-study of students Students who have a specific purpose of learning English (including: being eligible to graduate, reading information - communicating by English, developing public health career and studying abroad) are 1.2 to 6 times higher than others who have no goal
Besides, there is a range of factors also affecting the level of English self-study, including: English interest, current English level, family expectations, current English classifications and joining the English club of Hanoi University of Public Health, with p <0.05
Conclusions and recommendations: The reality of students studying English has a
positive attitude towards English but due to the limited proficiency and partly influenced by the way of teaching and learning from the lower level, it is only grammatical while actually, learning English requires more, in particular be proficient in all 4 skills: listening, speaking, reading, and writing Most students don’t learn English because of hobbies, they consider English to be a compulsory subject, mainly because of means-based motivations such as increasing the likelihood of being recruited or increasing search opportunities get a decent job after graduation or
an integrated motivation like pursuing the dream of study abroad However, these incentives are not really urgent to make students to study English hard and voluntarily
to achieve the desired results In addition, these motives are largely influenced by students' self-study ability and other external factors such as English learning environment, families, teachers and learning materials
Trang 10B NỘI DUNG BÁO CÁO CHI TIẾT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
CẤP CƠ SỞ
1 Đặt vấn đề
Tiếng Anh là một ngôn ngữ quốc tế và là một trong những ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi Theo số liệu thống kê của Ethnologue: Languagues of the World (2017), tiếng Anh được sử dụng phổ biến trên 101 quốc gia và là ngôn ngữ chính thức của hơn 35 quốc gia trên Thế giới Theo tờ Washington Post (2017), tiếng Anh là ngôn ngữ được nhiều người học nhất trên Thế giới, với hơn 1,5 tỉ người đang theo học Các nghiên cứu trong và ngoài nước đã chỉ ra có sự khác nhau về hiệu quả học tiếng Anh ở các nhóm sinh viên với các mục tiêu học tiếng Anh khác nhau Một bộ phận sinh viên đã có định hướng rõ ràng như là đi du học hay phát triển chuyên môn đòi hỏi tiếng Anh, vì vậy họ có nhu cầu học tiếng Anh rất cao và tự học tiếng Anh một cách nghiêm túc [1-5] Tuy nhiên, phần lớn sinh viên Việt Nam hiện nay – đặc biệt là những sinh viên không chuyên ngoại ngữ, việc học tiếng Anh thường bị động
và mang lại kết quả không cao
Việt Nam đang ngày một hội nhập với Thế giới trong hầu hết các ngành nghề, vì vậy việc sử dụng thành thạo ngoại ngữ (đặc biệt là tiếng Anh) trong giai đoạn hiện nay là vô cùng cần thiết, đặc biệt trong ngành Y tế công cộng (YTCC) – vốn được coi là một ngành mới tại Việt Nam Trên thực tế, cơ hội nghề nghiệp sẽ rộng hơn đối với nhóm sinh viên có khả năng sử dụng thành thạo tiếng Anh, đặc biệt trong ngành YTCC, khi sinh viên muốn trải nghiệm những môi trường làm việc mới (như NGOs, các Viện và Trung tâm nghiên cứu liên quan đến YTCC), tiếng Anh được xem như một trong những tiêu chí tuyển chọn bắt buộc
Nhận thấy có rất ít nghiên cứu về lĩnh vực năng lực học tiếng Anh của sinh viên chuyên ngành YTCC, chính vì vậy, nhóm nghiên cứu quyết định thực hiện nghiên
cứu “Thực trạng việc học tiếng Anh và một số yếu tố liên quan đến việc học tiếng
Anh của sinh viên Cử nhân chính quy Y tế công cộng năm ba, năm tư trường Đại học Y tế công cộng năm 2019” với mục tiêu mô tả thực trạng việc học tiếng Anh và
phân tích một số yếu tố liên quan đến việc học tiếng Anh của sinh viên năm ba, năm
tư Cử nhân chính quy (CNCQ) trường Đại học Y tế công cộng Với mong muốn cung cấp một tài liệu tham khảo có giá trị trong việc đánh giá năng lực tiếng Anh sinh viên
Y tế công cộng và chương trình đào tạo tiếng Anh tại trường Đại học Y tế công cộng
có phù hợp với sinh viên hay không
1.1 Mục tiêu nghiên cứu
1.1.1 Mô tả thực trạng việc học tiếng Anh của sinh viên CNCQ YTCC năm ba, năm
tư trường Đại học Y tế công cộng năm 2019
1.1.2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến việc học tiếng Anh của sinh viên CNCQ
YTCC năm ba, năm tư trường Đại học Y tế công cộng năm 2019
2 Tổng quan đề tài
Trang 112.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước liên quan tới đề tài
Châu Á hiện nay đang chuyển mình vô cùng mạnh mẽ, phát triển trong tất cả các lĩnh vực Đa số các nước thuộc khu vực Châu Á đã có những chính sách để tăng cường khả năng tiếng Anh cho công dân, tuy nhiên thực tế chưa đem lại kết quả tương xứng Nghiên cứu của Evans và Morrison (2011) tìm hiểu những khó khăn của sinh viên năm nhất tham gia chương trình học bằng tiếng Anh tại một Đại học của Hồng Kông, kết quả nghiên cứu cho thấy sinh viên gặp phải bốn khó khăn lớn: (i) khó hiểu các thuật ngữ chuyên môn; (ii) khó tiếp thu nội dung bài giảng; (iii) không có phương pháp và kỹ năng học phù hợp; và (iv) không đáp ứng được yêu cầu của môn học và của nhà trường [6] Tại Hàn Quốc, một số môn học trong chương trình Đại học được giảng dạy bằng tiếng Anh, kết quả cho thấy những môn được dạy bằng tiếng Anh sẽ không có sự tương tác giữa giảng viên và sinh viên, sinh viên không được giảng viên sửa lỗi về ngôn ngữ, sinh viên không hiểu nội dung bài giảng vì kĩ năng nghe và nói tiếng Anh kém [2, 7] Một nghiên cứu khác được triển khai tại Nhật Bản cho kết quả 25% số môn học ở trường Đại học được giảng bằng tiếng Anh tuy nhiên số sinh viên theo học các môn này rất ít vì họ không nghe hiểu giảng viên nói gì [1] Đối với Trung Quốc, các nghiên cứu về hiệu quả giảng dạy các môn khoa học bằng tiếng Anh ở các trường Đại học trọng điểm chỉ ra rằng các chương trình này không mang lại hiệu quả đối với việc phát triển năng lực sử dụng tiếng Anh của sinh viên [3, 8]
2.1.1 Năng lực tiếng Anh
Khi xem xét năng lực tiếng Anh của sinh viên, mỗi sinh viên đều có năng lực học của riêng mình cùng khả năng tiếp thu và truyền đạt khác nhau Theo từ điển của Trường Đại học Nam Queensland (2016), “Năng lực tiếng Anh” được định nghĩa là khả năng người học sử dụng tiếng Anh để truyền tải thông tin thông qua hình thức nói hoặc viết trong quá trình học của họ [9]
2.1.2 Động cơ học tiếng Anh
Trong quá trình học tập, động cơ học tập là khái niệm thường được sử dụng Khái niệm động cơ thường được sử dụng gắn liền với kết quả học tập Nhìn chung, có nhiều cách hiểu về khái niệm động cơ và khái niệm này đã được các nhà nghiên cứu nhìn nhận theo những khía cạnh khác nhau Gardner (1985) cùng các cộng sự định nghĩa động cơ theo hướng liên hệ tới quá trình học ngoại ngữ như sau: “Động cơ là
sự kết hợp của sự nỗ lực và niềm ước ao mong muốn đạt được mục đích của việc học ngoại ngữ cùng với thái độ tích cực của người học đối với một ngôn ngữ mới [9] Tương tự với trường hợp của Ellis (1994), ông cũng có cùng quan điểm với Gardner khi cho rằng: “Động cơ học ngoại ngữ liên quan tới nỗ lực của người học trong việc tiếp thu ngôn ngữ nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn học tập của họ” [10]
2.1.3 Tự học
Trang 12Tự học là một kĩ năng quan trọng giúp sinh viên học tập có hiệu quả hơn Việc tự học của sinh viên giữ vai trò rất quan trọng, nó là nhân tố trực tiếp nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường Đại học Theo Henri (1981): “Tự học là khả năng tự lo cho việc học của chính mình Tự học là quá trình bản thân người học độc lập, tự giác chiếm lĩnh tri thức, tích cực tìm tòi, phân tích sách vở, tài liệu tham khảo bằng những phương pháp phù hợp trên cơ sở hướng dẫn của giáo viên” [11]
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước liên quan tới đề tài
Qua các nghiên cứu về thực trạng học tiếng Anh tại các trường Đại học ở Việt Nam, việc học tiếng Anh ở sinh viên Việt Nam vẫn còn một số hạn chế và khó khăn Theo tác giả Lý Cẩm Hùng và Đỗ Lê Phi, sinh viên có nhu cầu rất lớn về việc tăng cường bốn kỹ năng (nghe, nói, đọc, viết) trong chương trình học môn tiếng Anh chuyên ngành [4] Nghiên cứu về “Thực trạng học tiếng Anh của sinh viên không chuyên tại Đại học Trà Vinh đã chỉ ra rằng chỉ có 22% số sinh viên tham gia nghiên cứu có trình độ tiếng Anh đạt cấp độ A2, sinh viên dành rất ít thời gian cho việc tự trau dồi khả năng ngoại ngữ [5] Nghiên cứu được thực hiện tại một số trường Đại học ở TP HCM đã cho thấy có đến 51% số sinh viên đi học thêm ngoại ngữ ở các trung tâm cho dù họ luôn đạt được điểm từ trung bình khá trở lên ở trong chương trình đào tạo tiếng Anh tại trường Đại học Số sinh viên đạt chứng chỉ quốc tế chỉ có 3% Khi kết thúc năm thứ hai Đại học, phần lớn sinh viên chỉ đạt được từ 360-370 điểm TOEIC và hoàn toàn không có khả năng diễn đạt ý tưởng của mình Kết thúc bốn năm Đại học, trình độ ngoại ngữ của sinh viên cũng chỉ đạt khoảng 400 điểm TOEIC, với trình độ này sinh viên Việt Nam chưa đủ điều kiện để được xét tham gia chương trình tiếng Anh dự bị Đại học của các nước bản ngữ [4]
Kết quả nghiên cứu tại các trường Đại học ở TP HCM của tác giả Vũ Thị Phương Anh cũng chỉ ra rằng: “Tiếng Anh đầu vào của các sinh viên là chênh lệch nhau (từ khi còn học phổ thông) khiến cho việc học tập tiếng Anh chuyên ngành trên Đại học gặp nhiều khó khăn” Kết quả khảo sát sinh viên đã học tiếng Anh ở bậc THPT với thời gian học từ 6 năm trở lên (tức học tiếng Anh hệ 7 năm) với tỷ lệ là 95.7%, điều đáng chú ý là có đến 89,5% trong số sinh viên này cho rằng mình không có khả năng
sử dụng tiếng Anh hiệu quả [12]
Bên cạnh đó, khi tìm hiểu về nhận thức của sinh viên về một số yếu tố chính làm giảm động cơ học tiếng Anh của sinh viên, tác giả Nguyễn Thị Lành và cộng sự đã thu được kết quả cho thấy những yếu tố có ảnh hưởng lớn đến hứng thú học tập của sinh viên bao gồm: sự thiếu tự tin trong các giờ học tiếng Anh; phương pháp giảng dạy của giáo viên; tài liệu học tập và môi trường học tập Tuy rằng giảng viên đã chuẩn bị tốt các hoạt động chuyên môn trước khi bắt đầu giảng dạy các nội dung chính của chương trình đào tạo nhưng mức độ hiệu quả của quá trình dạy và học vẫn còn rất hạn chế vì các lý do sau: không đủ thời gian để ôn lại nhưng kiến thức ngữ pháp cho sinh viên; mất nhiều thời gian và công sức để giải thích các thuật ngữ chuyên
Trang 13ngành cho sinh viên; phương pháp giảng dạy chưa phù hợp, do đó không thu hút được
sự chú ý và yêu thích của sinh viên Nguyên nhân dẫn đến tình hình này một phần cũng do sinh viên dành rất ít thời gian để tự học và tăng cường khả năng Anh ngữ của mình, cụ thể có hơn 80% sinh viên có số giờ tự học ít hơn 10 giờ/tuần [5] Bên cạnh những khó khăn còn tồn đọng thì vẫn có nhiều kết quả tích cực Ví dụ một nghiên cứu tại trường Đại học Nghệ thuật cho thấy có đến 93% sinh viên được hỏi cho biết rất thích học tiếng Anh và ý thức được tầm quan trọng của tiếng Anh đối với học tập trong lĩnh vực chuyên môn cũng như cuộc sống sau này của bản thân [4] Ngoài ra, sinh viên cũng nhận thức được tầm quan trọng rất lớn của hai kỹ năng nghe
và nói trong tiếng Anh bên cạnh từ vựng và ngữ pháp [4]
2.3 Thang đo đánh giá năng lực tiếng Anh của sinh viên Việt Nam
Hiện nay, năng lực tiếng Anh đã được luật pháp Việt Nam quy định thành một
“Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam” được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành theo thông tư số 01/2014/TT-BGDĐT Theo đó, khung năng lực ngoại ngữ
6 bậc dùng cho Việt Nam (KNLNNVN) áp dụng cho các chương trình đào tạo ngoại ngữ và người học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân
KNLNNVN được phát triển trên cơ sở tham chiếu, ứng dụng Common European Framework of Reference for Languagues (CEFR) và một số khung trình độ tiếng Anh của các nước, kết hợp với tình hình và điều kiện thực tế dạy, học và sử dụng ngoại ngữ ở Việt Nam CEFR là một hệ thống gồm 6 mức trình độ dùng để mô tả các mức trình độ ngoại ngữ của một người từ lúc mới học đến khi thành thục như người bản ngữ là Tiền sơ cấp (A1: Pre-elementary), Sơ cấp (A2: Elementary), Sơ trung cấp (B1: Lower Intermediate), Cao trung cấp (B2: Upper-intermediate), Cao cấp (C1: Advanced), và Tối cao cấp (C2: Very Advanced)
KNLNNVN được chia làm 3 cấp (Sơ cấp, Trung cấp và Cao cấp) và 6 bậc (từ Bậc
1 đến 6 và tương thích với các bậc từ A1 đến C2 trong CEFR) Cụ thể như bảng dưới đây:
Bảng 2.1 Bảng so sánh mức độ tiếng Anh tương thích giữa KNLNNVN với CEFR
Trang 14Thang đo này phù hợp với chương trình giảng dạy ngoại ngữ của trường Đại học Y
tế công cộng vì điểm phân loại đầu vào của sinh viên trong trường hiện đang được để
ở mức sơ cấp (tương đương trình độ là A1 và A2) Hiện nay, trường Đại học Y tế công cộng chưa có một chuẩn tiếng Anh đầu ra cụ thể dành cho sinh viên tốt nghiệp
ra trường, vì vậy, NNC dựa vào thang đo này để mô tả năng lực tiếng Anh của sinh viên cử nhân Y tế công cộng năm ba và năm tư trường Đại học Y tế công cộng
2.4 Khung lý thuyết của nghiên cứu
Trang 162.5 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu
Trường Đại học Y tế công cộng có trụ sở tại số 1A đường Đức Thắng, TP Hà Nội Được thành lập từ năm 2001 tiền thân là trường Cán bộ quản lý y tế, trường Đại học Y tế công cộng là trường Đại học đầu tiên của cả nước đào tạo về lĩnh vực YTCC Qua gần 20 năm hoạt động, trường hiện có cơ sở vật chất khang trang, giáo trình và chương trình học hiện đại, tiên tiến, đội ngũ giảng viên có chất lượng, giàu tâm huyết được đào tạo tại các trường danh tiếng trên thế giới Đặc biệt, trường Đại học Y tế công cộng là trường Đại học đầu tiên trong khối ngành Y – Dược có chương trình đào tạo đạt chuẩn kiểm định các trường Đại học Đông Nam Á (AUN-QA)
Bộ môn Ngoại ngữ là đơn vị cung cấp kiến thức về ngoại ngữ cho mọi loại hình đào tạo tại trường Đại học Y tế công cộng Trước khi vào học kỳ đầu tiên của năm nhất, sinh viên mới vào trường phải tham gia vào kỳ thi phân loại để xác định trình
độ đầu vào tiếng Anh phù hợp, phục vụ cho việc phân lớp tiếng Anh theo trình độ đâu vào của sinh viên Với sinh viên chuyên ngành Y tế công cộng, dựa vào trình độ đầu vào tiếng Anh, sinh viên được xếp vào 2 nhóm trình độ khác nhau là trình độ tiếng Anh A1 (Elementary) và A2 (Pre – Intermediate), mỗi nhóm trình độ gồm hai lớp với số sinh viên mỗi lớp khoảng 40 sinh viên Mỗi nhóm trình độ được áp dụng chương trình giảng dạy khác nhau, phù hợp với trình độ đầu vào của sinh viên trường Sau mỗi năm học, bộ môn sẽ dựa vào điểm thi hết học phần của kỳ II để chia lại lớp học theo hai nhóm trình độ Đến năm thứ ba, tất cả các lớp học một chương trình chung là tiếng Anh chuyên ngành YTCC và tập trung phát triển các kỹ năng ngôn ngữ nghe, nói, đọc và viết
Sinh viên Cử nhân chính quy Y tế công cộng có tổng cộng 6 kỳ học tiếng Anh với
2 tín chỉ/kỳ học Mỗi lớp học có 01 giáo viên giảng dạy và hỗ trợ học tập để theo dõi hoạt động học tập của sinh viên Sau mỗi kỳ học đều có một bài kiểm tra tiếng Anh
ở cả 4 kỹ năng: nghe, nói, đọc và viết để đánh giá sự tiến bộ và năng lực tiếng Anh của sinh viên qua các năm
3 Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
3.1 Thiết kế nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu (ĐTNC): tất cả các sinh viên năm ba, năm tư hệ CNCQ chuyên ngành Y tế công cộng của Trường Đại học Y tế công cộng
Tiêu chuẩn lựa chọn:
Sinh viên CNCQ năm ba, năm tư của trường Đại học Y tế công cộng đang theo học tại trường trong khoảng thời gian từ ngày 01/06/2019 đến ngày 01/10/2019
Sinh viên CNCQ đang theo học chuyên ngành Y tế công cộng
Trang 17 Sinh viên đồng ý tham gia vào nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ:
Sinh viên CNCQ YTCC năm ba, năm tư không học tiếng Anh tại trường
Áp dụng phương pháp mẫu toàn bộ cho nghiên cứu Toàn bộ sinh viên đang học
hệ CNCQ năm ba và năm của Trường Đại học Y tế công cộng, chuyên ngành Y tế công cộng Cụ thể: 133 sinh viên CNCQ YTCC15-1A và 148 sinh viên CNCQ YTCC16-1A
Tổng cỡ mẫu của nghiên cứu là 281 sinh viên
3.4 Phương pháp thu thập số liệu
3.4.1 Kỹ thuật thu thập số liệu
Phát vấn giấu tên đối với sinh viên năm ba (CNCQ YTCC16 – 1A) và sinh viên năm tư (CNCQ YTCC15 – 1A) bằng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn Điều tra viên chuẩn
bị đầy đủ bộ câu hỏi dành cho sinh viên đã được in sẵn Mỗi sinh viên có một mã số phiếu để nhóm nghiên cứu quản lý Phiếu điều tra được thu lại sau giờ nghỉ giải lao
3.4.2 Công cụ thu thập số liệu
Phiếu hỏi tự điền được thiết kế với ba loại câu hỏi là: câu hỏi tự điền, câu hỏi nhiều lựa chọn và câu hỏi một lựa chọn
Các câu hỏi được thiết kế để trả lời cho các biến số tương ứng trong nghiên cứu Nghiên cứu chỉ ra bốn nhóm biến số chính, bao gồm: (1) thông tin cá nhân, (2) yếu
tố thuộc về việc học tiếng Anh, (3) yếu tố gia đình và (4) yếu tố nhà trường ảnh hưởng đến việc học tiếng Anh của ĐTNC Bảng biến số chi tiết được trình bày trong Phụ
lục 1
Các câu hỏi được thiết kế để trả lời cho các biến số tương ứng trong nghiên cứu chi tiết, được trình bày trong Phụ lục 2
3.4.3 Tổ chức thực hiện thu thập
Nhân lực: 4 thành viên trong nhóm nghiên cứu
Tiến hành thu thập thông tin theo kế hoạch từ ngày 01/06/2019
a Bước 1: Thử nghiệm bộ câu hỏi
Bộ câu hỏi điều tra được thử nghiệm trên 8 sinh viên khóa CNCQ YTCC15-1A của Trường Đại học Y tế công cộng, mỗi lớp chọn ngẫu nhiên 2 sinh viên Khóa CNCQ YTCC15-1A có những đặc điểm phù hợp để làm một mẫu thu nhỏ như: học chuyên ngành Y tế công cộng, có đầy đủ sinh viên thuộc bốn lớp tiếng Anh (A, B, C, D) được tổ chức tại trường, đã và đang học tiếng Anh chuyên ngành, đồng ý tham gia thử nghiệm
Trang 18Hoạt động thử nghiệm giúp nhóm nghiên cứu tìm hiểu được tính hợp lý trong việc
bố trí câu hỏi, mức độ hoàn thành phiếu, thời gian hoàn thành phiếu cũng như trở ngại trong quá trình thu thập thông tin ở cả hai khóa sinh viên CNCQ YTCC15 – 1A
và CNCQ YTCC16 – 1A
Các thành viên trong nhóm nghiên cứu sẽ thảo luận và thống nhất các khái niệm
sử dụng trong bộ câu hỏi, những nghiên cứu để có thể giải đáp các thắc mắc liên quan đến nội dung phiếu hỏi trong phiếu điền, cách thức tiến hành thu thập thông tin và các yêu cầu của nghiên cứu trong khi thực hiện thu thập thông tin
Thống nhất cách thu thập thông tin với cỡ mẫu, phương pháp, cách thức lựa chọn các lớp khi phát vấn và đề nghị sự phối hợp thực hiện với các cán bộ lớp của các lớp CNCQ YTCC15 – 1A và CNCQ YTCC16 – 1A
b Bước 2: Thu thập thông tin
Thực hiện hoạt động phát vấn đối với sinh viên của 2 khóa CNCQ YTCC16 – 1A
và CNCQ YTCC15 – 1A:
- Nhân lực: 4 điều tra viên/lớp; có sự giúp đỡ của cán bộ lớp
- Buổi phát vấn diễn ra vào thời gian nghỉ giữa giờ của tiết học kéo dài trong 20 phút
- Hoạt động diễn ra:
o 2 phút giới thiệu làm quen, giới thiệu khái quát nghiên cứu, hướng dẫn điền phiếu và giải đáp thắc mắc chung
o 15 phút để sinh viên tiến hành điền phiếu
o 3 phút để các bạn sinh viên hoàn tất, điều tra viên kiểm phiếu và kiểm tra thông tin
c Bước 3: Nghiên cứu viên tổng hợp phiếu
Kiểm tra số phiếu phát ra và số phiếu thu vào ứng với số ĐTNC tham gia Kiểm tra các phiếu sai thông tin hoặc không hợp lệ để tiến hành chỉnh sửa hay loại bỏ phiếu sao cho đảm bảo tính khách quan
3.5 Phương pháp xử lí số liệu
3.5.1 Phương pháp làm sạch số liệu
Làm sạch số liệu thô: Các điều tra viên sau khi thu thập kiểm tra lại toàn bộ các phiếu thu thập với mục đích: loại bỏ các phiếu chưa hợp lệ, kiểm tra tính trình tự và hợp lý của các phương án lựa chọn, hiệu chỉnh lại nhưng vẫn đảm bảo tính khách quan của bộ câu hỏi
Làm sạch số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0: Bộ số liệu sau khi nhập được tổng hợp và chuyển sang phần mềm SPSS để tiến hành làm sạch
3.5.2 Xử lý số liệu
Trang 19Sử dụng phần mềm Epidata 3.1 để nhập liệu Quá trình nhập liệu bao gồm các bước:
- Xây dựng bộ câu hỏi nhập liệu trên phần mềm Epidata
- Thử nghiệm nhập liệu: rút ngẫu nhiên 5% phiếu đã thu thập và nhập thử: phát hiện các lỗi trong form nhập liệu, thiết lập các ràng buộc đối với giá trị của biến số trong quá trình nhập liệu
- Tập huấn nhập liệu: các nhập liệu viên được tập huấn trước về bộ câu hỏi, về cách
mã hóa trước khi nhập liệu
- Nhập liệu lần 1: nhập toàn bộ số phiếu bằng phần mềm Epidata 3.1 bởi 2 nhập liệu viên
- Nhập liệu lần 2: chọn ngẫu nhiên 20% số phiếu và nhập lại lần 2 bởi người nhập liệu viên còn lại Tiến hành so sánh giữa 2 lần nhập, phát hiện lỗi sai và tiến hành chỉnh sửa
Sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để phân tích số liệu:
- Cả thống kê mô tả và thống kê suy luận được thực hiện Thống kê mô tả được thực hiện thông qua tính toán tần số và giá trị tỷ lệ phần trăm Thống kê suy luận được thực hiện bằng kiểm định khi bình phương
- Sử dụng kiểm định khi bình phương để xác định mối liên quan với ngưỡng kiểm định có ý nghĩa thống kê áp dụng là p < 0.05
3.6 Sai số và kiểm soát sai số
3.6.1 Sai số
Sai số hệ thống: nhầm lẫn hoặc sai sót trong quá trình xây dựng bộ câu hỏi, nhầm
bước chuyển hoặc gây khó trả lời cho người điền phiếu Sự cố tình trả lời sai do bạn sinh viên lo sợ người khác biết thông tin, phản ánh lại với gia đình, nhà trường nên
có thể trả lời sai sự thật
Sai số nhắc lại: trong một số trường hợp, đối tượng tham gia phỏng vấn không
nhớ chính xác thông tin được hỏi
Sai số nhập liệu viên: số liệu có thể chưa chuẩn xác trong quá trình nhập liệu, dẫn
đến sai số cho kết quả đầu ra
Các ĐTNC không hiểu hoặc hiểu sai ý nghĩa của câu hỏi nên không trả lời đầy
đủ, đúng các câu hỏi
3.6.2 Kiểm soát sai số
- Tập huấn cẩn thận cho điều tra viên, đảm bảo kỹ năng làm quen, tư vấn và quản
lý phiếu hỏi
- Tiến hành thử nghiệm bộ câu hỏi ít nhất 2 lần đề chỉnh sửa, bổ sung
- Giải thích rõ ràng mục đích của nghiên cứu và nhấn mạnh tính khuyết danh của ĐTNC
Trang 20- Sử dụng phương tiện hỗ trợ nhắc lại: lịch trình, thời gian, hình ảnh, sản phẩm, sự kiện, hạn chế khoảng thời gian nhắc lại
- Chọn nhập liệu viên có trình độ tốt, làm sạch số liệu khi tiết hành nhập liệu và trước khi phân tích số liệu
- Tiến hành phỏng vấn thử để kiểm tra tính phù hợp của bộ câu hỏi và chất lượng thông tin
3.7 Vấn đề đạo đức nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu chỉ được tiến hành khi được Hội đồng Đạo đức nghiên cứu Y Sinh học của Trường Đại học Y tế công cộng phê duyệt
Đối tượng nghiên cứu là sinh viên năm ba, năm tư CNCQ chuyên ngành Y tế công cộng, trường Đại học Y tế công cộng, số 1 Đức Thắng, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội
Do đó, trước khi tiến hành nghiên cứu cần có sự thông qua của Ban giám hiệu Trường Đại học Y tế công cộng và chỉ tiến hành thu thập thông tin khi có sự đồng ý của Ban giám hiệu Nhà trường
Các đối tượng được giải thích thông tin rõ ràng và đầy đủ về mục đích, phương pháp của nghiên cứu cũng như những lợi ích theo dự đoán, các rủi ro có thể gặp của nghiên cứu này hoặc những điều khó chịu có thể xả ra đối với đối tượng tham gia nghiên cứu Điều tra viên cũng giải thích tính chất tự nguyện khi tham gia nghiên cứu này và quyền được từ chối vào bất cứ thời điểm nào khi tham gia, mọi từ chối trả lời đều được chấp nhận
Mọi thông tin về đối tượng và số liệu của cuộc điều tra đều được lưu giữ, đảm bảo tính riêng tư, bảo mật
Danh tính và các thông tin cá nhân của ĐTNC được đảm bảo giữ bí mật tuyệt đối
và thông tin đảm bảo chỉ phục vụ cho mục đích học tập và nghiên cứu hoa học, không phục vụ cho lợi ích nào khác
4 Kết quả nghiên cứu
4.1 Mô tả thực trạng việc học tiếng Anh của sinh viên Cử nhân chính quy năm
ba, năm tư trường Đại học Y tế công cộng năm 2019
Bảng 4.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (n= 281)
Trang 21là 50,5% (sinh viên năm ba) và 49,5% (sinh viên năm tư)
Sinh viên tham gia nghiên cứu đa số là dân tộc Kinh (95%) Phần lớn sinh viên hiện đang sống ở khu vực thành thị (81,8%)
Bảng 4.2 Sở thích và nhận định học tiếng Anh của sinh viên (n= 281)
Đủ để đọc thông tin và giao tiếp với
Đủ để phát triển chuyên môn y tế công
Đủ để đọc thông tin và giao tiếp với người nói tiếng Anh và phát triển chuyên môn y tế công cộng
Đủ để hoàn thành chương trình học, đọc thông tin và giao tiếp với người nước ngoài, phát triển chuyên môn y tế
Trang 22Đối với các câu hỏi nhận định về lợi ích của việc học tiếng Anh, đa số sinh viên đồng ý với các nhận định về “Tiếng Anh tốt giúp nâng cao khả năng được tuyển dụng khi xin việc” (98,9%), “Tiếng Anh tốt sẽ giúp tăng mức lương khi xin việc” (97,2%)
và “Tiếng Anh tốt giúp nâng cao khả năng phát triển trong công việc” (98,6%) Khi được hỏi về các kỹ năng muốn được ưu tiên phát triển, có 76,5% sinh viên chọn kỹ năng nói “speaking” là kỹ năng mong muốn được cải thiện nhất, sau đó lần lượt là nghe (listening) (15,3%), đọc (reading) (5,3%) và viết (writing) (2,9%) Thêm vào đó, sinh viên phần lớn nhận định kỹ năng đọc (reading) là kỹ năng tốt nhất (56,2%) và kỹ năng nghe (listening) là kỹ năng kém nhất (52,7%)
Đối với các mục tiêu học tiếng Anh, đa số sinh viên học tiếng Anh vì “đủ để đọc thông tin và giao tiếp với người nói tiếng Anh” (37,4%) Bên cạnh đó, 31,7% sinh viên học tiếng Anh vì “đủ để phát triển chuyên môn Y tế công cộng”; 23,5% “đủ để hoàn thành chương trình học tại trường”; 0,7% “du học” và 4,6% sinh viên “không
“thỉnh thoảng” (52,3%); 21,7% “hiếm khi”; 19,6% “thường xuyên” và 6,4% “không học” Thời gian tự học trung bình của phần lớn sinh viên trong 1 tuần là từ 1-3 giờ (43,2%); 31,4% sinh viên tự học dưới 1 giờ; 18,9% sinh viên tự học từ 3-7 giờ và trên
7 giờ là 6,4% Với câu hỏi “Phương tiện học tiếng Anh thường sử dụng”, sinh viên liệt kê bao gồm: sách giáo trình (73,7%), mạng Internet (71,5%), tài liệu tìm thêm như sách, báo,… (22,1%) và phần mêm CD-ROM (8,2%)
Bảng 4.4 Trình độ tiếng Anh của sinh viên (n=281)
(%)
Trang 23Mức độ trình độ tiếng
Anh
A1 (tương đương với kiến thức trong quyển elementary) 98 34,9 A2 (tương đương với kiến thức
trong quyển pre-intermediate) 79 28,1 B1 (tương đương với kiến thức
trong quyển intermediate) 67 23,8
Lý do khiến trình độ
tiếng Anh chưa tốt
Không tự tin giao tiếp (n= 281) 172 61,2 Vốn từ vựng chưa nhiều (n= 281) 198 70,5 Không hứng thú (n= 281) 67 23,8 Môi trường học tập không phù
Tham gia kỳ thi chứng
chỉ tiếng Anh quốc tế
Kỳ thi cấp chứng chỉ
tiếng Anh quốc tế
tham gia lần gần đây
và 4,6% C2 Theo đó, có đến 95,7% sinh viên không hài lòng với tiếng Anh hiện tại của bản thân và muốn được nâng cao thêm Lý do của việc kém tiếng Anh được sinh viên đưa ra bao gồm: không tự tin giao tiếp (61,2%), vốn từ vựng chưa nhiều (70,5%), không hứng thú với tiếng Anh (23,8%), “môi trường học tập không phù hợp” (14,9%)
và ít tài liệu học tập (7,1%)
Đối với các câu hỏi đánh giá thực tế về trình độ tiếng Anh của sinh viên, điểm trung bình môn của sinh viên là 6,4 ± 1,2 ĐLC và 95,7% sinh viên trả lời chưa từng tham gia kỳ thi cấp chứng chỉ tiếng Anh quốc tế nào Bên cạnh đó, 6 sinh viên từng tham gia kỳ thi IELTS với điểm số trung bình là 6,1 ± 1,06 ĐLC, 3 sinh viên từng tham gia kỳ thi TOEIC với điểm trung bình trong khoảng 499,3 ± 40,4 ĐLC (Bảng 4.4)