1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng kỹ năng quản lý thời gian trong học tập của sinh viên trường đại học y tế công cộng năm 2018 và một số yếu tố liên quan

72 131 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ TÊN ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG KỸ NĂNG QUẢN LÝ THỜI GIAN TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG

Trang 1

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ

TÊN ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG KỸ NĂNG QUẢN LÝ THỜI GIAN TRONG HỌC TẬP

CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG NĂM 2018

VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

Chủ nhiệm đề tài: VŨ GIA LINH Giảng viên hướng dẫn: Ths Lê Tự Hoàng

Mã số đề tài: 018-410/DD - YTCC

Năm 2018

Trang 2

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ

TÊN ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG KỸ NĂNG QUẢN LÝ THỜI GIAN TRONG HỌC TẬP

CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG NĂM 2018

VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

Chủ nhiệm đề tài: VŨ GIA LINH Giảng viên hướng dẫn: Ths Lê Tự Hoàng Thành viên nhóm nghiên cứu

1 Phạm Hải Anh _ Trường Đại học Y tế Công cộng

2 Trần Hạnh Thảo _ Trường Đại học Y tế Công cộng

Cấp quản lý: Trường Đại học Y tế công cộng

Mã số đề tài: 018-410/DD - YTCC Thời gian thực hiện: từ tháng 06 năm 2018 đến tháng 12 năm 2018

Tổng kinh phí thực hiện đề tài 7.470.000 đồng

Trong đó: kinh phí SNKH 7.470.000 đồng

Năm 2018

Trang 3

Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài cấp cơ sở

1 Tên đề tài: Thực trạng kỹ năng quản lý thời gian trong học tập của sinh viên trường Đại học Y tế Công cộng năm 2018 và một số yếu tố liên quan

2 Chủ nhiệm đề tài: Vũ Gia Linh

3 Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Y tế Công cộng

4 Cơ quan quản lý đề tài: Phòng Quản lý Khoa học và Công nghệ trường Đại học Y tế Công cộng

5 Danh sách những người thực hiện chính:

- Ths Lê Tự Hoàng Giảng viên hướng dẫn

- Vũ Gia Linh Chủ nhiệm đề tài

- Phạm Hải Anh Thành viên nhóm nghiên cứu

- Trần Hạnh Thảo Thành viên nhóm nghiên cứu

6 Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 06 năm 2018 đến tháng 12 năm 2018

Trang 5

MỤC LỤC

Phần A: Báo cáo tóm tắt nghiên cứu 1

* Tóm tắt tiếng Việt 1

* Tóm tắt tiếng Anh 4

Phần B: Tóm tắt các kết quả nổi bật của đề tài 7

1 Kết quả nổi bật của đề tài 7

2 Áp dụng thực tiễn đời sống xã hội 7

3 Đánh giá thực hiện đề tài đối chiếu với đề cương nghiên cứu đã được phê duyệt 8

4 Các ý kiến đề xuất 8

Phần C: Nội dung báo cáo chi tiết kết quả nghiên cứu đề tài cấp cơ sở 9

1 Đặt vấn đề 9

2 Mục tiêu nghiên cứu 11

3 Tổng quan tài liệu 12

3.1 Một số khái niệm 12

3.2 Thực trạng quản lý thời gian ở sinh viên 16

3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng quản lý thời gian của sinh viên 20

4 Khung lý thuyết 24

5 Phương pháp nghiên cứu 25

5.1 Thiết kế nghiên cứu 25

5.2 Đối tượng nghiên cứu 25

5.3 Thời gian và địa điểm tiến hành nghiên cứu 25

5.4 Phương pháp chọn mẫu 25

5.5 Phương pháp thu thập số liệu 27

5.6 Phương pháp xử lý số liệu 30

5.7 Kiểm soát sai số 30

5.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 31

6 Kết quả nghiên cứu 32

6.1 Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu 32

6.2 Thực trạng kỹ năng quản lý thời gian của sinh viên 34

6.3 Một số yêu tố liên quan đến kỹ năng quản lý thời gian 42

7 Bàn luận 45

7.1 Thực trạng kỹ năng quản lý thời gian 45

7.2 Một số yêu tố liên quan đến kỹ năng quản lý thời gian của sinh viên trường Đại học Y tế Công cộng 47

8 Kết luận và khuyến nghị 50

8.1 Kết luận 50

8.2 Một số hạn chế của nghiên cứu 50

8.3 Khuyến nghị, giải pháp 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

PHỤ LỤC 55

Phụ lục 1: Bộ câu hỏi phỏng vấn sinh viên 55

Phụ lục 2: Danh sách biến số nghiên cứu 64

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 Phân bố số lượng đối tượng nghiên cứu theo chuyên ngành 26

Bảng 2 Phân bố số lượng đối tượng nghiên cứu theo năm học 26

Bảng 3 Biến số và biện pháp khắc phục 31

Bảng 4 Đặc điểm chung của các đối tượng nghiên cứu 32

Bảng 5 Thông tin về việc sử dụng thời gian trong 1 tuần của đối tượng nghiên cứu 34

Bảng 6 Điểm KNQLTG của sinh viên trường Đại học Y tế Công cộng 34

Bảng 7 Mức độ quan tâm, hiểu biết, quan trọng và sự cần thiết KNQLTG trong học tập 36

Bảng 8 Biểu hiện lập kế hoạch quản lý thời gian trong học tập của sinh viên 37

Bảng 9 Mức độ biểu hiện KNQLTG của sinh viên trong hoạt động học tập tại lớp 39

Bảng 10 Mức độ biểu hiện KNQLTG của sinh viên trong hoạt động học tập tại nhà 40

Bảng 11 Mức độ biểu hiện KNQLTG của sinh viên thông qua làm việc nhóm 40

Bảng 12 Mức độ biểu hiện KNQLTG của sinh viên thông qua phương pháp học tập 41

Bảng 13 Mức độ biểu hiện KNQLTG trong việc sử dụng phương tiên học tập 42

Bảng 14 Điểm kỹ năng quản lý thời gian và 1 số đặc điểm của sinh viên 43

Bảng 15 Một số yếu tố liên quan đến KNQLTG của sinh viên 44

Bảng 16 Danh sách biến số nghiên cứu 64

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1 Tỷ lệ sinh viên các chuyên ngành đi làm thêm (n=155) 33

Biểu đồ 2 Tỷ lệ sinh viên các chuyên ngành tham gia các câu lạc bộ (n=238) 33

Biểu đồ 3 Phân bố của điểm KNQLTG của sinh viên trường ĐH Y tế Công cộng 35

Biểu đồ 4 Tỷ lệ sinh viên các ngành tham gia các lớp hướng dẫn KNQLTG 36

Biểu đồ 5 Mức độ biểu hiện KNQLTG trong học tập theo từng chuyên ngành 38

DANH MỤC HÌNH Hình 1 Ma trận Eisenhower 14

Hình 2 Các bước để thực hiện phương pháp Pomodoro [1] 15

Hình 3 Khung lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu 24

Trang 7

Phần A: Báo cáo tóm tắt nghiên cứu

* Tóm tắt tiếng Việt

THỰC TRẠNG KỸ NĂNG QUẢN LÝ THỜI GIAN TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG NĂM 2018

VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

SV Vũ Gia Linh (Sinh viên trường ĐH Y tế Công cộng)

SV Phạm Hải Anh (Sinh viên trường ĐH Y tế Công cộng)

SV Trần Hạnh Thảo (Sinh viên trường ĐH Y tế Công cộng)

Ths Lê Tự Hoàng (Bộ môn Thống kê y tế, trường ĐH Y tế Công cộng)

1 Đặt vấn đề

Quản lý thời gian là một trong những kỹ năng có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động học tập của sinh viên Việc quản lý không tốt thời gian của bản thân, đặc biệt trong hoạt động học tâp, ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống và công việc của sinh viên Không quản lý thời gian của mình tốt, điều đó đồng nghĩa với việc sống thiếu trách nhiệm với bản thân Bên cạnh đó, sinh viên sẽ bỏ lỡ rất nhiều cơ hội để phát triển bản thân cũng như học hỏi được nhiều điều

Hiện nay, kỹ năng quản lý thời gian chưa được đánh giá đúng mức cũng như chưa có một khái niệm hay định nghĩa chính xác nào về kỹ năng này trong các nghiên cứu trước đây Một số tác giả cho rằng: kỹ năng quản lý thời gian là kỹ năng nhận định, ước lượng

và phân bố thời gian hợp lý cho từng công việc nhằm đạt hiệu quả cao nhất và cân bằng cuộc sống của bản thân [10], [14], [28] Cũng có một số tác giả đã định nghĩa kỹ năng quản

lý thời gian là khả năng con người sử dụng thời gian một cách hiệu quả nhằm đạt được những mục đích của mình thông qua việc lên kế hoạch, tổ chức và kiểm tra việc sử dụng thời gian một cách tối ưu [20], [22] Vì vậy, trong nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu đề xuất một khái niệm về kỹ năng quản lý thời gian: hành động hoặc quá trình thực hiện kiểm soát có ý thức về số lượng thời gian cho hoạt động cụ thể, đặc biệt là để tăng hiệu quả năng suất

Tác giả Trần Thị Thu Mai đã chỉ ra trong nghiên cứu của mình về: “Kỹ năng sống của thiếu niên Thành phố Hồ Chí Minh” kỹ năng quản lý thời gian hiệu quả chưa được các học sinh các trường trung học cơ sở đánh giá cao về mức độ quan trọng, xếp thứ 10 trong tổng

số 10 kỹ năng được tác giả hệ thống lại theo thứ bậc [14] Năm 2011, tác giả Nguyễn Khắc Hiếu đã công bố kết quả trong nghiên cứu của mình: thói quen được nhiều sinh viên lựa

Trang 8

chọn chiếm tỷ lệ cao nhất là “ước lượng khoảng thời gian cần sử dụng cho từng công việc” (56,6%), và thói quen “lên kế hoạch công việc ứng với mốc thời gian cụ thể” đứng ở vị trí thứ hai (54,5%) [7] Cũng theo nghiên cứu về “Thực trạng kĩ năng quản lý thời gian của sinh viên trường Đại học Cần Thơ” năm 2015 của Trần Lương, bài báo đề cập đến thực trạng kỹ năng quản lí thời gian của sinh viên trường Đại học Cần Thơ Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số sinh viên có nhận thức đúng về khái niệm thời gian và quy trình quản lí thời gian Số thời gian sinh viên lãng phí mỗi ngày là 4,16 giờ Hiệu quả kỹ năng quản lí thời gian ở mức trung bình thấp so với kỳ vọng [11]

Với đặc thù ngành học, sinh viên Y tế Công Cộng phải dành khá nhiều thời gian tiếp xúc với cộng đồng để nâng cao kỹ năng Việc dung hòa giữa học tập và các hoạt động ngoại khóa, đảm bảo tinh thần, sức khỏe một cách hợp lý là hết sức quan trọng Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào về kỹ năng quản lý thời gian được thực hiện trên đối tượng này

Chính vì lý do trên, nhóm sinh viên chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng kỹ năng

quản lý thời gian trong học tập của sinh viên trường Đại học Y tế Công cộng năm 2018

và một số yếu tố liên quan” nhằm mô tả thực trạng kỹ năng quản lý thời gian trong học

tập của sinh viên và một số yếu tố liên quan đến kỹ năng này của sinh viên

2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành từ tháng 06 đến tháng 12 năm 2018 tại trường Đại học Y tế Công cộng (Số 1A, đường Đức Thắng, phường Đức Thắng, quận Bắc Từ Liêm,

Hà Nội) Đối tượng nghiên cứu là 457 sinh viên cử nhân chính quy từ năm nhất đến năm

tư hiện đang học tập tại trường, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng

Các thông tin về kỹ năng quản lý thời gian trong học tập của sinh viên sẽ được thu thập bằng bộ câu hỏi tự điền khuyết danh Bên cạnh dữ liệu về kỹ năng quản lý thời gian trong học tập, nhóm nghiên cứu còn thu thập thêm các dữ liệu về nhân khẩu học như giới tính, ngành học, năm học, điểm trung bình, … của đối tượng nghiên cứu

Dữ liệu sau khi thu thập về sẽ được phân tích bằng phần mềm STATA phiên bản 14.0 Các kiểm định T test độc lập và ANOVA được sử dụng để so sánh và tìm sự khác biệt giữa điểm kỹ năng quản lý thời gian trong học tập của các nhóm đối tượng với nhau Do điểm

kỹ năng quản lý thời gian là một biến số liên tục nên nhóm nghiên cứu đã sử dụng hồi quy Tobit đa biến để xác định các yếu tố liên quan với giá trị p < 0,05 được coi là có ý nghĩ thống kê

Trang 9

3 Kết quả

Trong số 457 đối tượng nghiên cứu có 82,9% là sinh viên nữ; 42,7% sinh viên chủ yếu

là đi thuê trọ; 65,1% sinh viên có điểm trung bình học tập xếp loại khá (từ 7,00 đến dưới 8,50) và chỉ có 1,5% tổng số đối tượng nghiên cứu có điểm trung bình học tập xếp loại giỏi (≥8,50 điểm) Tỷ lệ sinh viên đi làm thêm chiếm 33,9% còn khi tham gia các câu lạc bộ trong và ngoài trường, con số này là 52,1% Sinh viên đang theo học ngành Y tế Công cộng khi đi làm thêm và tham gia các câu lạc bộ luôn chiếm tỷ lệ cao nhất trong tất cả 4 ngành học hiện có tại trường với số liệu lần lượt là 71,6% và 61,8%

Về kỹ năng quản lý thời gian trong học tập, có 52,7% sinh viên học tập tại trường có điểm kỹ năng quản lý thời gian trong học tập xếp loại trung bình (ĐTB=97,9 điểm); điểm

số cao nhất sinh viên đạt được là 154 điểm và thấp nhất là 37 điểm Đánh giá về mức độ biểu hiện kỹ năng quản lý thời gian theo 5 mức độ biểu hiện, kỹ năng quản lý thời gian vào việc học tập trên lớp thường được sinh viên trong trường áp dụng nhiều nhất (ĐTB=23,2)

và ít khi áp dụng kỹ năng này vào việc học tập tại nhà (ĐTB=10,8) Nghiên cứu cũng chỉ

ra có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kỹ năng quản lý thời gian và vấn đề tự học, khối ngành học và tham gia các lớp hướng dẫn kỹ năng quản lý thời gian Các yếu tố liên quan được phân tích giải thích 9,84% sự biến thiên về điểm kỹ năng quản lý thời gian của sinh viên

Trang 10

* Tóm tắt tiếng Anh

STATUS OF TIME MANAGEMENT SKILLS OF STUDENTS AT THE HANOI UNIVERSITY OF PUBLIC HEALTH IN 2018 AND SOME RELATED FACTORS

Vu Gia Linh1, Pham Hai Anh1, Tran Hanh Thao1, MSc Le Tu Hoang1

1 Hanoi University of Public Health

1 Background (including purposes)

Time management is one of the skills that greatly affect the learning activities of students Poor management time, especially in learning activities, greatly affects the life and work of students In addition, students will miss many opportunities to develop themselves as well as learn many things

In previous studies., time management skill has not been properly evaluated nor have there been a precise concept or definition of this skill Some authors argue that time management skills are skills to identify, estimate and allocate reasonable time for each job

to achieve the highest efficiency and balance the life of themselves [10], [14], [28] There are also several authors who have defined time management skills as the ability of people

to use time effectively to achieve their goals through planning, organizing and examining how to optimize time [20], [22] Therefore, in this study, the research team proposes a concept of time management skills: an action or a process of doing control conscious of the amount of time for a specific activity, especially to increase effective productivity Author Tran Thi Thu Mai pointed out in her research about "Life skills of Ho Chi Minh City's youth " effective time management skills have not been evaluated high in importance

by secondary school students, ranked 10th in the total of 10 skills are systematically rearranged by the author [14] In 2011, author Nguyen Khac Hieu published the results in his research: the habit selected by many students accounts for the highest proportion was

"estimating the time period to use for each job" (56.6%), and the habit of "planning jobs with specific timelines" ranked in second place (54.5%) [7] Also, according to the study

on "Status of time management skills of Can Tho University students" in 2015 by Tran Luong, the paper mentioned the reality of time management skills of Can Tho University students Research results show that most students have a right understanding of the concept of time and process of time management The amount of time wasted by students

is 4.16 hours per day The effectiveness of time management skills is at an average low level compared to expectations [11]

Trang 11

With the specifics of major at school, Public Health students must spend a lot of time interacting with the community, advance their skills The balance between learning and extracurricular activities, ensuring a sense of health and reasonably is very important However, no research on time management skills has been conducted on this research object

For this reason, our student group conducted the study "Status of time management

skills of students at the Hanoi University of Public Health in 2018 and some related factors" describe the realization of students' time management skills in learning activities

and several several factors related to students' skills

Objectives: 1 To describe the current situation of time-managment skill in student learning activities at Hanoi University of Public Health in 2018; 2 To analyze the relevant factors to the time-managment skill in student learning activities at Hanoi University of Public Health in 2018

2 Materials and method

A cross-sectional study was conducted from June to December 2018 at the Hanoi University of Public Health (No 1A, Duc Thang Street, Duc Thang Ward, Bac Tu Liem District, Hanoi) Subjects of the study were 457 bachelor students from the first year to the fourth year who are currently studying at the school, selected according to the stratified random sampling method

Information about students' time management skill will be collected using an anonymous self-administered questionnaire In addition to data on time management skills

in study, the research team also collected additional demographic data such as gender, discipline, school year, average score, etc of the study subjects

Data collected after will be analyzed by STATA software version 14.0 Independent test and ANOVA tests are used to compare and find differences between skill management time points of different target groups Because the time management skill point is a continuous variable, the research team used the multivariate Tobit regression to determine the relevant factors with p <0.05 values considered to have statistical significance

T-3 Results

Among 457 research subjects, 82.9% are female students; 42.7% of students mainly rent accommodation; 65.1% of students have a grade study point average from 7.00 to less than 8.50 and only 1.5% of research subjects have a grade study point average ≥ 8.50 points

Trang 12

The proportion of students going to work part-time is 33.9% and when participating in clubs inside and outside the school, this figure is 52.1% Students who are studying Public Health major work part-time and participating in clubs always make up the highest percentage of all 4 existing disciplines at the school with 71.6% and 61, respectively 8%

In terms of time management skills in learning, 52.7% of students studying at the school have a point of time management skills at average (GPA = 97.9 points), the highest score for students is 154 points and the lowest is 37 points Assessing the level of expression of time management skills according to 5 levels of expression, time management skills are often applied most when students study at school (GPA = 23.2) and rarely applied carefully this ability to study at home (GPA = 10.8) The study also showed that there are statistically significant correlations between time management skills and self-study issues, major and participation in classes to guide time management skills Relevant factors were analyzed

to explain 9.84% variation in the student's time management skills score

4 Conclusion

52.7% of students at the Hanoi University of Public Health have a point of time management skills at average (GPA = 97.9 points) Students have the interest and understanding of time management skills in learning but do not understand the importance and necessity of this skill for their life and learning activities Time management skills are often applied most when students study at school (GPA = 23.2) Although students from the Hanoi School of Public Health have had time management skills, they have not yet applied effectively to learning activities inside and outside the classroom Therefore, students need to improve their skills by taking time-management skills classes as well as referring to how to apply their time management skills to improve their skills The study also showed that there are statistically significant correlations between time management skills and self-study issues, major and participation in classes to guide time management skills

Trang 13

Phần B: Tóm tắt các kết quả nổi bật của đề tài

1 Kết quả nổi bật của đề tài

Nghiên cứu được thực hiện để tìm hiểu về thực trạng kỹ năng quản lý thời gian trong học tập và mối liên quan giữa của 457 đối tượng là sinh viên cử nhân chính quy hiện đang học tập tại trường Đại học Y tế Công cộng năm 2018 52,7% sinh viên trường Đại học Y

tế Công cộng có điểm kỹ năng quản lý thời gian trong học tập xếp loại trung bình (ĐTB=97,9 điểm) Sinh viên có sự quan tâm và hiểu biết về kỹ năng quản lý thời gian nhưng chưa hiểu được tầm quan trọng và sự cần thiết của kỹ năng này đối với cuộc sống

và hoạt động học tập của mình Đánh giá về mức độ biểu hiện điểm kỹ năng quản lý thời gian trong học tập theo 5 mức độ biểu hiện, sinh viên thường xuyên áp dụng kỹ năng quản

lý thời gian vào việc học tập trên lớp là nhiều nhất (ĐTB=23,2) và ít khi áp dụng kỹ năng này vào việc học tập tại nhà (ĐTB=10,8) Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có mối liên quan giữa điểm kỹ năng quản lý thời gian của sinh viên trường Đại học Y tế Công cộng với các yếu

tố liên quan: tự học, khối ngành học của sinh viên và sự tham gia các lớp hướng dẫn kỹ năng quản lý thời gian Các yếu tố liên quan được phân tích giải thích 9,84% sự biến thiên

về điểm kỹ năng quản lý thời gian của sinh viên

2 Áp dụng thực tiễn đời sống xã hội

- Nhà trường có thể áp dụng kết quả để thực hiện các giải pháp giúp sinh viên có thể nâng cao cũng như hoàn thiện kỹ năng quản lý thời gian của mình

- Sinh viên tự nhận thức được thực trạng; các ảnh hưởng tích cực, tiêu cực và nguyên nhân của vấn đề Từ đó, tự trang bị cho bản thân những hiểu biết cần thiết để nâng cao

kỹ năng của bản thân

- Các nhà nghiên cứu có thể sử dụng các kết quả và phát triển những nghiên cứu sâu hơn

để thấy được một cách toàn diện về thực trạng kỹ năng quản lý thời gian của giới trẻ hiện nay Đồng thời, tìm hiểu thêm về những nguyên nhân, hậu quả và các yếu tố liên quan đến kỹ năng quản lý thời gian Từ đó đề xuất những giải pháp để nâng cao, cải thiện kỹ năng này

- Chia sẻ kết quả nghiên cứu với các CLB trong và ngoài trường để các thành viên có thể

bổ sung cho nhau các kỹ năng còn thiếu sót Từ đó nâng cao kỹ năng quản lý thời gian nói riêng và các kỹ năng mềm nói chung

Trang 14

3 Đánh giá thực hiện đề tài đối chiếu với đề cương nghiên cứu đã được phê duyệt

3.1 Tiến độ

Đúng tiến độ

3.2 Thực hiện mục tiêu nghiên cứu

Nhóm đã thực hiện đầy đủ 2 mục tiêu được đề ra trong kế hoạch

3.3 Các sản phẩm tạo ra so với dự kiến của bản đề cương

Nhóm đã tạo ra đầy đủ các sản phẩm đã dự kiến được nêu ra trong đề cương

3.4 Đánh giá việc sử dụng kinh phí

- Tổng kinh phí thực hiện đề tài : 7,4 triệu đồng

Trong đó: Kinh phí sự nghiệp khoa học : 7,4 triệu đồng

Kinh phí từ nguồn khác : 0 triệu đồng

- Toàn bộ kinh phí đã được thanh quyết toán : 5,6 triệu đồng

Chưa thanh quyết toán xong : 1,9 triệu đồng

Kinh phí tồn đọng : 0 triệu đồng

4 Các ý kiến đề xuất

Dựa vào các kết quả nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã cây dựng đề xuất để phòng Đào tạo Đại học cùng phòng Quản lý sinh viên của trường Đại học Y tế Công cộng có thể xem xét trong việc xây dụng kế hoạch tăng cường kỹ năng quản lý thời gian trong học tập cho sinh viên trong trường

Trang 15

Phần C: Nội dung báo cáo chi tiết kết quả nghiên cứu đề tài cấp cơ sở

1 Đặt vấn đề

Quản lý thời gian là một trong những kỹ năng có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động học tập của sinh viên Việc quản lý không tốt thời gian của bản thân, đặc biệt trong hoạt động học tâp, ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống và công việc của sinh viên Không quản

lý thời gian của mình tốt, điều đó đồng nghĩa với việc sống thiếu trách nhiệm với bản thân Bên cạnh đó, sinh viên sẽ bỏ lỡ rất nhiều cơ hội để phát triển bản thân cũng như học hỏi được nhiều điều

Hiện nay, kỹ năng quản lý thời gian chưa được đánh giá đúng mức cũng như chưa có một khái niệm hay định nghĩa chính xác nào về kỹ năng này trong các nghiên cứu trước đây Một số tác giả cho rằng: kỹ năng quản lý thời gian là kỹ năng nhận định, ước lượng

và phân bố thời gian hợp lý cho từng công việc nhằm đạt hiệu quả cao nhất và cân bằng cuộc sống của bản thân [10], [14], [28] Cũng có một số tác giả đã định nghĩa kỹ năng quản lý thời gian là khả năng con người sử dụng thời gian một cách hiệu quả nhằm đạt được những mục đích của mình thông qua việc lên kế hoạch, tổ chức và kiểm tra việc

sử dụng thời gian một cách tối ưu [20], [22] Vì vậy, trong nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu đề xuất một khái niệm về kỹ năng quản lý thời gian: hành động hoặc quá trình thực hiện kiểm soát có ý thức về số lượng thời gian cho hoạt động cụ thể, đặc biệt là để tăng hiệu quả năng suất

Tác giả Trần Thị Thu Mai đã chỉ ra trong nghiên cứu của mình về: “Kỹ năng sống của thiếu niên Thành phố Hồ Chí Minh” kỹ năng quản lý thời gian hiệu quả chưa được các học sinh các trường trung học cơ sở đánh giá cao về mức độ quan trọng, xếp thứ 10 trong tổng số 10 kỹ năng được tác giả hệ thống lại theo thứ bậc [14] Năm 2011, tác giả Nguyễn Khắc Hiếu đã công bố kết quả trong nghiên cứu của mình: thói quen được nhiều sinh viên lựa chọn chiếm tỷ lệ cao nhất là “ước lượng khoảng thời gian cần sử dụng cho từng công việc” (56,6%), và thói quen “lên kế hoạch công việc ứng với mốc thời gian

cụ thể” đứng ở vị trí thứ hai (54,5%) [7] Cũng theo nghiên cứu về “Thực trạng kĩ năng quản lý thời gian của sinh viên trường Đại học Cần Thơ” năm 2015 của Trần Lương, bài báo đề cập đến thực trạng kỹ năng quản lí thời gian của sinh viên trường Đại học Cần Thơ Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số sinh viên có nhận thức đúng về khái niệm thời gian và quy trình quản lí thời gian Số thời gian sinh viên lãng phí mỗi ngày là 4,16 giờ Hiệu quả kỹ năng quản lí thời gian ở mức trung bình thấp so với kỳ vọng [11]

Trang 16

Với đặc thù ngành học, sinh viên Y tế Công Cộng phải dành khá nhiều thời gian tiếp xúc với cộng đồng để nâng cao kỹ năng Việc dung hòa giữa học tập và các hoạt động ngoại khóa, đảm bảo tinh thần, sức khỏe một cách hợp lý là hết sức quan trọng Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào về kỹ năng quản lý thời gian được thực hiện trên đối

tượng này Chính vì lý do trên, nhóm sinh viên chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực

trạng kỹ năng quản lý thời gian trong học tập của sinh viên trường Đại học Y tế Công cộng năm 2018 và một số yếu tố liên quan” nhằm mô tả thực trạng kỹ năng quản lý

thời gian trong học tập của sinh viên và một số yếu tố liên quan đến kỹ năng này của sinh viên

Trang 17

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng kỹ năng quản lý thời gian trong học tập của sinh viên

trường Đại học Y tế Công cộng năm 2018

Mục tiêu 2: Phân tích một số yếu tố liên quan tới việc kỹ năng quản lý thời gian trong

học tập của sinh viên trường Đại học Y tế Công cộng năm 2018

Trang 18

3 Tổng quan tài liệu

3.1 Một số khái niệm

3.1.1 Khái niệm về kỹ năng

Thuật ngữ kỹ năng được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau bởi nhiều tác giả trong và ngoài nước Mỗi quan niệm mang một ý nghĩa nhất định và thể hiện cụ thể lập trường của tác giả

Quan niệm thứ nhất xem kỹ năng là kỹ thuật hành động, thao tác:

Theo từ điển Tiếng Việt, kỹ năng là thói quen áp dụng vào thực tiễn những kiến thức

đã học hoặc là những kết quả của quá trình luyện tập [9] Còn theo Sổ tay kỹ năng mềm của tác giả Lại Thế Luyện, định nghĩa “Kỹ năng là giai đoạn giữa của việc nắm vững phương thức hành động mới – dựa trên một quy tắc (tri thức) nào đó và trên quá trình giải quyết một loạt các nhiệm vụ tương ứng với tri thức đó nhưng còn chưa đạt đến mức

độ kỹ xảo” [12]

Tác giả Trần Trọng Thủy (1998) trong “Tâm lý học lao động” cũng cho rằng kỹ năng

là mặt kỹ thuật của hành động, con người nắm được các hành động tức là có kỹ thuật của hành động, có kỹ năng [21]

Quan niệm thứ hai xem kỹ năng là một biểu hiện của năng lực con người:

A.V Petrovxki cho rằng “Kỹ năng là cách thức cơ bản của chủ thể thực hiện hành động, thể hiện bởi tập hợp những kiến thức đã thu lượm được, những thói quen và kinh nghiệm” [16]

Tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng: “Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép Kỹ năng không chỉ đơn thuần về mặt kỹ thuật của hành động, mà còn là biểu hiện năng lực của con người” [18]

Từ những quan niệm trên, nhận thấy kỹ năng không chỉ là thao tác, hành động mà còn là biểu hiện của năng lực, giúp con người thực hiện hoạt động có hiệu quả hơn trong những hoàn cảnh, điều kiện cụ thể để đạt được mục tiêu nhất định

Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu đưa ra khái niệm kỹ năng là khả năng vận dụng có hiệu quả những tri thức, kinh nghiệm về phương thức hành động của chủ thể để thực hiện những hành động tương ứng một cách có hiệu quả trong hoàn cảnh nhất định Kỹ năng không chỉ đơn thuần về mặt kỹ thuật của hành động, mà còn là biểu hiện năng lực của con người

Trang 19

3.1.2 Khái niệm về kỹ năng quản lý thời gian

a Khái niệm quản lý thời gian

Trong một nghiên cứu năm 2004 của Brigitte J.C.Claessens và cộng sự, tác giả đã đưa định nghĩa quản lý thời gian (QLTG), đó là việc tổ chức thực hiện hành vi có hiệu quả trong việc sử dụng thời gian khi thực hiện các hoạt động có mục tiêu và định hướng nhất định [28]

Tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng hiểu một cách đơn giản, quản lý thời gian nghĩa là biết hoạch định thời gian của mình đang có cho những mục tiêu và những nhiệm vụ thật

cụ thể Quản lý thời gian không có nghĩa luôn tiết kiệm thời gian mà là biết làm chủ thời gian của mình khi đặt những khoảng thời gian mình đang có trong một kế hoạch thật cụ thể và chi tiết [18]

Theo Bộ Nội vụ định nghĩa quản lý thời gian là quá trình lập danh sách những điều phải làm, nguyên tắc thực hiện thời gian biểu, đảm bảo rằng mọi việc được thực hiện theo đúng kế hoạch, không bị lãng phí [22]

Theo Đinh Ai Linh, QLTG bản chất là quá trình làm chủ, sắp xếp, sử dụng thời gian một cách khoa học, giúp bạn sẵn sàng cho những kế hoạch lớn, tăng năng suất hiệu quả làm việc cũng như tăng cường sức khỏe của bản thân Đây là một kỹ năng có thể trở thành một thách thức không nhỏ đối với sinh viên Việt Nam [10]

Như vậy, trong phạm vi đề tài này, nhóm nghiên cứu đồng ý với quan điểm của tác giả Huỳnh Văn Sơn về khái niệm quản lý thời gian: sự hoạch định thời gian của mình đang có cho những mục tiêu và những nhiệm vụ thật cụ thể bằng cách vận dụng hoạt động kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra Quản lý thời gian không có nghĩa là luôn tiết kiệm thời gian mà là biết là chủ thời gian của mình khi đặt những khoảng thời gian mình đang có trong một kế hoạch thật cụ thể và chi tiết [20]

* Quá trình quản lý thời gian có thể chia thành các giai đoạn sau [22]:

Bước 1: Cân nhắc, xem xét những công việc phải làm

Bước 2: Đo lường thời lượng cần phải bỏ ra để hoàn thành công việc đó

Bước 3: Lập kế hoạch trong này, trong tuần, trong tháng để tránh quá tải công việc

* Quản lý thời gian hiệu quả sẽ mang lại rất nhiều lợi ích [4]:

- Sử dụng thời gian để hoàn thành những gì bạn muốn

- Cải thiện hiệu suất làm việc và đạt được nhiều điều mà tốn ít công sức hơn

- Tìm được sự cân bằng, hoàn thiện và hài lòng nhiều hơn

Trang 20

- Tập trung thời gian và sức lực vào những việc quan trọng nhất đối với bạn

- Đặt ra và đạt được những mục tiêu dài hạn

- Tránh lãng phí và bạn sẽ có nhiều khoảng thời gian hoạt động hiệu quả mỗi ngày

- Giảm lo lắng, không còn bị quá tải trong công việc và áp lực

* Các công cụ, phương pháp hỗ trợ quản lý thời gian:

- Các phần mềm, ứng dụng quản lý thời gian hiệu quả: Sunrise, Trello, Google Calender, RescueTime, Timewaste Timer,

- Hiện có nhiều phương pháp quản lý thời gian được nhiều người áp dụng vào công việc của mình và trong số đó có 2 phương pháp phổ biến:

+ Phương pháp “Ma trận Eisenhover”: do tổng thống thứ 34 của Hoa Kỳ Dwight D Eisenhower phát minh ra, ma trận Eisenhover hay còn được biết đến là ma trận quan trọng – khẩn cấp đã được coi là một phương pháp quản trị thời gian vô cùng hiệu quả

Ma trận này giúp cá nhân, đặc biệt là các nhà lãnh đạo bận rộn, phân loại công việc dựa trên sự quan trọng và tính khẩn cấp, để xác định đâu là việc cần ưu tiên để tối ưu hóa thời gian làm việc cũng như các công việc cá nhân Theo phương pháp này, người sử dụng chia công việc thành 4 hạng mục: quan trọng/khẩn cấp (1), quan trọng/không khẩn cấp (2), không quan trọng/khẩn cấp (3) và không quan trọng/không khẩn cấp (4) Để ma trận Eisenhower được hiệu quả, người sử dụng không nên liệt kê quá 3 đầu việc cho mỗi hạng mục để đảm bảo mình có đủ khả năng hoàn thành hết những gì đã đề ra [1]

Hình 1 Ma trận Eisenhower

Trang 21

+ Phương pháp “Kỹ thuật quả cà chua Pomodoro”: vào cuối những năm 1980, chiến lược gia, nhà tư vấn người Ý Francesco Cirillo đã thiết kế nên “kỹ thuật quả cà chua Pomodoro” nhằm chia công việc thành những khoảng thời gian lặp lại, phổ biến nhất là

25 phút tập trung, kèm theo 5 phút giải lao Mục đích chính của kỹ thuật này là nhằm hạn chế những tác động chủ quan lẫn khách quan ảnh hưởng đến sự tập trung và dòng chảy của công việc Người dùng có thể đặt ra cho mình những mục tiêu về thời gian cụ thể để xử lý xong một công việc nào đó như 55 phút (25 phút làm việc – 5 phút nghỉ – thêm 25 phút làm việc) hoặc 115 phút (4 khoảng thời gian làm việc 25 phút kèm 3 khoảng thời gian 5 phút nghỉ giải lao) Nên lưu ý việc nghỉ giải lao chỉ nên giới hạn trong những hoạt động thư giãn đơn giản như đi lại, uống nước, thả lỏng người, hít thở chứ không phải là đọc báo, chơi mạng xã hội, xem phim… [1]

Hình 2 Các bước để thực hiện phương pháp Pomodoro [1]

b Khái niệm về kỹ năng quản lý thời gian

Tác giả Trần Thị Thu Mai và cộng sự đã định nghĩa kỹ năng quản lý thời gian (KNQLTG) là kỹ năng nhận định, ước lượng và phân bố thời gian hợp lý cho từng công việc nhằm đạt hiệu quả cao nhất và cân bằng cuộc sống của bản thân [14]

Còn quan điểm của tác giả Huỳnh Văn Sơn thì KNQLTG là khả năng con người sử dụng thời gian một cách hiệu quả nhằm đạt được những mục đích của mình thông qua việc lên kế hoạch, tổ chức và kiểm tra việc sử dụng thời gian một cách tối ưu [20] Dựa các khái niệm kỹ năng, khái niệm quản lý thời gian đã đưa ra, tiếp thu các quan điểm khác nhau Trong đề tài này, kỹ năng quản lý thời gian được hiểu là hành động

Trang 22

hoặc quá trình thực hiện kiểm soát có ý thức về số lượng thời gian cho hoạt động cụ thể, đặc biệt là để tăng hiệu quả năng suất

3.2 Thực trạng quản lý thời gian ở sinh viên

3.2.1 Nghiên cứu trong nước

Theo Đinh Ai Linh và cộng sự, sinh viên Đại học quốc gia-Thành phố Hồ Chí Minh rất quan tâm đến hoạt động học tập, họ dành trung bình mỗi ngày 6,67 giờ/ngày cho việc học và 9,68 giờ/ngày cho việc ôn tập mỗi khi kì thi đến gần Ngoài ra, số buổi tự học ở nhà mỗi tuần trung bình là 5,09 buổi/tuần, đi thư viện 2,24 buổi/tuần và đi học thêm là 3,01 buổi/tuần Kết quả nghiên cứu này cũng chỉ ra những hạn chế lớn nhất ảnh hưởng tới kết quả học tập của sinh viên là việc lập kế hoạch học tập, phân bổ thời gian sao cho hợp lý để hoàn thành công việc [10]

Theo Huỳnh Văn Sơn, kết quả của nghiên cứu về thực trạng quản lý thời gian của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh nhận thấy có 70,3% sinh viên hiểu đúng về quản lý thời gian, 29,7% sinh viên chưa hiểu đúng về vấn đề này Khái niệm về quản lý thời gian trong nghiên cứu được tác giả đề cập như sau: “Quản lí thời gian nghĩa là biết hoạch định thời gian của mình đang có cho những mục tiêu và những nhiệm vụ thật cụ thể Quản lí thời gian không có nghĩa luôn tiết kiệm thời gian mà là biết làm chủ thời gian của mình khi đặt những khoảng thời gian mình đang có trong một kế hoạch thật cụ thể

và chi tiết [19] Quản lí thời gian là quá trình làm chủ, sắp xếp, sử dụng thời gian một cách khoa học và nghệ thuật” [23] Phần lớn sinh viên đã hiểu đúng về khái niệm quản

lý thời gian nhưng những biểu hiện, hành động cụ thể trong kỹ năng quản lý thời gian của sinh viên mới chỉ đạt ở mức trung bình [7]

Năm 2010, tác giả Đỗ Thu Hà cùng các cộng sự đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu việc

sử dụng quỹ thời gian ngoài giờ lên lớp của sinh viên một số trường Đại học trên địa bàn Hà Nội”, với mục tiêu xác định được thực trạng sử dụng quỹ thời gian ngoài giờ lên lớp của sinh viên một số trường Đại học trên địa bàn Hà Nội từ đó đề xuất một số khuyến nghị về việc sử dụng quỹ thời gian ngoài giờ lên lớp của sinh viên Kết quả cho thấy việc sử dụng thời gian cho các hoạt động ngoài giờ lên lớp có những mối liên hệ nhất định đến kết quả học tập của sinh viên [5]

Năm 2010, tác giả Trần Thị Thu Mai đã chỉ ra trong nghiên cứu của mình về: “Kỹ năng sống của thiếu niên Thành phố Hồ Chí Minh” kỹ năng quản lý thời gian hiệu quả

Trang 23

chưa được các học sinh các trường trung học cơ sở đánh giá cao về mức độ quan trọng, xếp thứ 10 trong tổng số 10 kỹ năng được tác giả hệ thống lại theo thứ bậc [14]

Năm 2011, tác giả Nguyễn Khắc Hiếu đã công bố kết quả của nghiên cứu: “Thực trạng kỹ năng quản lý thời gian của sinh viên một số trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay”, kết quả nghiên cứu cho thấy phần lớn sinh viên đã hiểu đúng về khái niệm quản lý thời gian nhưng những biểu hiện, hành động cụ thể trong KNQLTG của sinh viên mới chỉ đạt ở mức trung bình [7]

Cũng theo nghiên cứu này, thói quen được nhiều sinh viên lựa chọn chiếm tỷ lệ cao nhất đó chính là đó là “ước lượng khoảng thời gian cần sử dụng cho từng công việc” (56,6%), và thói quen “lên kế hoạch công việc ứng với mốc thời gian cụ thể” đứng ở vị trí thứ hai (54,5%) Có thể thấy việc ước lượng khoảng thời gian và lên kế hoạch công việc ứng với mộc thời gian là một việc làm hết sức cơ bản mà mỗi người đều phải thực hiện trước khi tiến hành một hành động hay hoạt động nào đó Có thể nhận thấy rằng trong nghiên cứu này hơn một phần hai số lượng sinh viên đã biết quản lí thời gian của mình khi lập kế hoạch công việc [7]

Năm 2013, nhóm tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền, Nguyễn Văn Hiến và Phương Diễm Hương đã công bố kết quả đề tài: “Thực trạng kỹ năng tự học ngoài lớp học của sinh viên chính quy sư phạm trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh” về yếu tố thời gian dành cho việc tự học ngoài lớp của sinh viên sư phạm chính quy cho thấy khuynh hướng các sinh viên có kết quả học tập tốt thường dành nhiều thời gian tự học ngoài lớp hơn so với các sinh viên có kết quả không tốt, đây chính là một phần trong KNQLTG trong hoạt động học tập của sinh viên [8]

Theo Nguyễn Hữu Đặng và cộng sự, kết quả nghiên cứu về “Các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian tự học của sinh viên: Trường hợp của sinh viên Khoa Kinh tế & Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Cần Thơ” cho thấy, có 70% sinh viên xây dựng kế hoạch học tập dưới 8 học kỳ chính của chương trình đào tạo 4 năm (120 tín chỉ), đa số sinh viên dự kiến hoàn chỉnh chương trình học trong thời gian 3,5 năm, trong khi đó chỉ có 2% sinh viên xây dựng kế hoạch học tập kéo dài trên 4 năm trong đó Qua đây có thể thấy được các bạn sinh viên đã có kế hoạch quản lý thời gian, phần lớn muốn rút ngắn thời gian hoàn thành Đại học để giành thời gian làm các công việc khác [2]

Cũng theo nghiên cứu về “Thực trạng kĩ năng quản lý thời gian của sinh viên trường Đại học Cần Thơ” năm 2015 của Trần Lương, bài báo đề cập đến thực trạng kỹ năng

Trang 24

quản lí thời gian của sinh viên trường Đại học Cần Thơ Kết quả nghiên cứu cho thấy

đa số sinh viên có nhận thức đúng về khái niệm thời gian và quy trình quản lí thời gian

Số thời gian sinh viên lãng phí mỗi ngày là 4,16 giờ Hiệu quả kỹ năng quản lí thời gian

ở mức trung bình thấp so với kỳ vọng [11]

Giảng viên Hoàng Thị Phương, Đại học Sư phạm Hà Nội đã thực hiện một khảo sát trên 200 sinh viên trong trường Kết quả, phần lớn sinh viên đều nhận thấy việc rèn luyện kỹ năng quản lý thời gian đối với hoạt động tự học là quan trọng Tuy nhiên, giữa nhận thức và việc làm cụ thể lại khá khác biệt Bởi chỉ có 18% sinh viên cho biết mình

sử dụng thời gian cho các hoạt động ngoài giờ lên lớp để nghiên cứu tài liệu Có tới 52%

sử dụng nhiều thời gian ngồi máy tính để online, lên Facebook, 46% dành nhiều thời gian trong ngày để ngủ nướng hoặc ngủ trưa, 29% cho biết dành nhiều thời gian để tham gia hoạt động xã hội và thể thao giúp cải thiện sức khỏe, hình thành và rèn luyện kỹ năng, 22% sử dụng nhiều thời gian lên thư viên nghiên cứu tài liệu Khảo sát của giảng viên Hoàng Thị Phương cũng đề cập đến tần suất sinh viên sử dụng thời gian cho tự học

và nghiên cứu Kết quả cho thấy chỉ 12% sinh viên dành thời gian để học tập hàng ngày Trong khi, có tới 36% sinh viên cho biết chỉ học khi có hứng và 52% chỉ học khi thi hoặc có bài kiểm tra Điều này, cho thấy việc dành thời gian cho học chỉ khi thi hay khi

có hứng sẽ dẫn đến sinh viên gặp khó khăn trong việc nắm vững kiến thức hệ thống, từ

đó, chất lượng học tập không cao [17]

3.2.2 Nghiên cứu ngoài nước

Theo Sarath.A.Nonis và các cộng sự khi nghiên cứu về ảnh hưởng của việc dành thời gian cho học tập và công việc trong năm 2006 thấy rằng thời gian sinh viên dành cho hoạt động ngoại khóa tại trường học là 12,94 ± 8,57 giờ/tuần, còn thời gian để làm việc

là 16.84 ± 14,55 giờ/ tuần Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, ngày này sinh viên đại học đang dành ít thời gian cho học tập hơn trước (vào năm 2003 chỉ có 34% sinh viên năm nhất dành nhiều hơn 6 giờ/tuần cho các hoạt động học tập so với 47% vào năm 1987) [24] Vào năm 2009, Till Ribenich và công sự nghiên cứu về viêc ứng dụng công nghệ thông tin cho việc QLTG Kết quả cho thấy một số các công cụ được sinh viên ưa chuộng

để quản lý thời gian là: điện thoại di động, lịch Google hay Microsoft Outlook Trong

đó, ưa chuộng nhất là điện thoại di động với 98,5% sinh viên sử dụng Việc thực hành quản lý thời gian của sinh viên rất đa dạng và có nhiều phần mềm hỗ trợ rất đa dạng

Trang 25

Sinh viên sử dụng phần mềm để quản lý thời gian làm giảm việc ước lượng thời gian trên công việc, giúp tiết kiệm thời gian và làm cho công việc có kết quả tốt hơn [36] Năm 2010, nghiên cứu dành cho sinh viên sư phạm trong mối quan hệ giữa KNQLTG

và thành tích học tập được nhóm tác giả Necati Cemaloğlu và Sevil Filiz công bố trên tạp chí Educational Research Quarterly tại Hoa Kỳ Nghiên cứu được tiến hành trên 849 sinh viên tốt nghiệp thuộc khoa Giáo dục tại Đại học Gazi, kết quả cho thấy hành vi của sinh viên trong lập kế hoạch thời gian ở mức cao và hành vi trong mục người sử dụng thời gian ở mức thấp nhất, sự thành công của sinh viên là trên trung bình Có mối quan

hệ ý nghĩa giữa kế hoạch thời gian, người sử dụng thời gian và thành tích học tập của sinh viên và giữa kỹ năng quản lý thời gian và thành tích học tập [27]

Năm 2012, Jamie C Denlinger tìm hiểu về hiệu quả của việc quản lý thời gian trong

22 sinh viên trường Đại học Ball State nhận thấy có 5 sinh viên quản lý thời gian của mình tốt, 7 sinh viên quản lý ở mức trung bình, 5 sinh viên ở mức trung bình thấp và 5 sinh viên ở mức thấp Nghiên cứu cho thấy điểm số của những sinh viên có khả năng quản lý thời gian của mình tốt có mong muốn đạt điểm tổng kết trung bình năm học và

sự tự tin trong giao tiếp cao hơn hẳn so với những sinh viên có khả năng quản lý thời gian ở mức trung bình, trung bình thấp và thấp [29]

Trong nghiên cứu: “Quản lý học tập của sinh viên điều dưỡng Tây Ban Nha trong học kỳ đầu tiên của chương trình Cử nhân tài năng” của tác giả Dolan D.M và cộng sự trên 15 sinh viên điều dưỡng gốc Tây Ban Nha đã tham gia vào các nhóm tập trung và phỏng vấn cá nhân Sinh viên tham gia vào một cuộc khảo sát bao gồm các giai đoạn liên quan đến việc quản lý và trả lời các đánh giá Sinh viên điều dưỡng gốc Tây Ban Nha, thừa nhận độ khó của các bài tập khác nhau nên cần điều chỉnh thời gian và năng lượng cho phù hợp là rất cần thiết trong quá trình đến thành công Những mỗi quan tâm

để đạt đến thành công của đối tượng nghiên cứu bao gồm: Tài chính, động lực gia đình, đối phó với thất bại tiềm ẩn, và quản lý thời gian là những mối quan tâm đáng kể [30] Theo Jing-ying Liu và cộng sự trong nghiên cứu về “Tác động của khả năng thích ứng học tập và quản lý thời gian đối với công việc học tập của các cử nhân Điều dưỡng tại Trung Quốc” trên 467 sinh viên, sự tương quan Pearson được thực hiện để kiểm tra mối tương quan giữa sự tham gia của nghiên cứu, khả năng thích ứng với học tập và bố trí quản lý thời gian Kết quả cho thấy rằng khả năng thích nghi học tập (r = 0,382, P <0,01) và bố trí quản lý thời gian (r = 0,741, P <0,01) có liên quan tích cực với

Trang 26

sự tham gia của nghiên cứu Việc quản lý thời gian đã có một hiệu ứng trung gian về mối quan hệ giữa sự tham gia của nghiên cứu và khả năng thích ứng học tập Những phát hiện này cho thấy rằng các nhà giáo dục không chỉ thúc đẩy các can thiệp để tăng cường sự tham gia của sinh viên điều dưỡng mà còn tập trung vào phát triển, đầu tư vào khả năng thích ứng và quản lý thời gian [31]

Trong nghiên cứu về “Ảnh hưởng của quản lý thời gian đối với hiệu suất học tập của sinh viên Đại học Jazan” trên 491 sinh viên, kết quả cho thấy 12,90% nam và 4,20% nữ luôn lên kế hoạch cho các hoạt động này Kết quả này cho thấy sinh viên có cơ hội thực hành KNQLTG có hiệu suất học tập tốt hơn ngoài sự khác biệt về mức độ quản lý thời gian giữa sinh viên theo giảng viên, giới tính và chương trình giảng dạy [25]

Năm 2013, tạp chí International Journal of Business and Social Science đã công bố công trình nghiên cứu của Abdülkadir PEHLİVAN về ảnh hưởng của kỹ năng quản lý thời gian lên trình độ và điểm số trung bình của sinh viên kế toán tài chính trường Karadeniz Technical University nước Thổ Nhĩ Kỳ Kết quả nghiên cứu cho thấy điểm quản lý thời gian của sinh viên ở mức vừa phải, nữ sinh có điểm số cao hơn nam sinh

và thông qua phân tích hồi quy đã chứng minh được kỹ năng quản lý thời gian của sinh viên ảnh hưởng đến thành tích học tập của họ [34]

3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng quản lý thời gian của sinh viên

3.3.1 Đặc điểm của sinh viên

Năm 1990, trên Journal of Educational Psychology đã công bố kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả người Mỹ gồm Macan và cộng sự về mối tương quan giữa quản lý thời gian của sinh viên trường Đại học với thành tích học tập và stress Kết quả nghiên cứu cho thấy những sinh viên nhận thức rõ việc quản lý thời gian của chính mình thường nhận được sự đánh giá tốt hơn trong năng suất làm việc, họ có công việc tốt, hài lòng với cuộc sống, ít mơ hồ, ít bị quá tải và căng thẳng do công việc gây ra, ngoài ra nghiên cứu cũng phát hiện động lực quản lý thời gian của sinh viên phức tạp hơn nhiều so với

lý thuyết và dự kiến trước đó [32] Cùng chủ đề nghiên cứu, nhóm tác giả Ranjita Misra

và Michelle Mckean được đăng trên tạp chí American Journal of Health Studies năm

2000, với bài báo “Quan hệ giữa stress, lo âu, quản lý thời gian và vui chơi giải trí của sinh viên Đại học”, nghiên cứu được thực hiện trên 249 sinh viên Đại học Kết quả cho thấy hành vi quản lý thời gian là yếu tố tạo nên căng thẳng trong học tập và hơn cả các

Trang 27

hành vi giải trí, nữ giới có hành vi quản lý thời gian hiệu quả hơn nam giới nhưng lại căng thẳng và lo âu trong học tập nhiều hơn Giảm lo âu và quản lý thời gian kết hợp với các hoạt động giải trí có thể là một chiến lược hiệu quả để giảm căng thẳng trong học tập sinh viên Đại học [33]

Năm 1991, trên Journal of Educational Psychology đã công bố kết quả nghiên cứu về Ảnh hưởng thực tiễn của quản lý thời gian trong lớp học do nhóm tác giả Britton, Bruce

K, Tesser và Abraham thực hiện Nghiên cứu được thực hiện trên 90 sinh viên vào năm

1983, sau bốn năm các nhà nghiên cứu cho biết quản lý thời gian có thể ảnh hưởng đến thành tích học Đại học [26] Tuy nhiên, một nghiên cứu khác của Mark Trueman và James Hartley vào năm 1996, so sánh kỹ năng quản lý thời gian và kết quả học tập của sinh viên thuộc 3 độ tuổi: dưới 21 tuổi (N = 172), 21 tuổi đến 25 tuổi (N = 50), hơn 25 tuổi (N = 71) Phân tích kết quả cho thấy, sinh viên nữ ở độ tuổi dưới 21 tuổi có kỹ năng quản lý thời gian tốt hơn của nam sinh viên thuộc 21 đến 25 tuổi, sinh viên hơn 25 tuổi

có kỹ năng này tốt hơn hai nhóm còn lại Trong khi đó, thành tích học tập chỉ có mối liên hệ với yếu tố độ tuổi và một số thành phần trong KNQLTG nói chung [37]

Kết quả nghiên cứu của 2 tác giả Macan và Britton đã được rất nhiều các nhà nghiên cứu sau này khi tiến hành nghiên cứu tìm hiểu về kỹ năng quản lý thời gian và cho đến ngày nay, thang đo kỹ năng quản lý thời gian của 2 tác giả này vẫn đang được nhiều nhà nghiên cứu trên toàn thế giới áp dụng cũng như tham khảo

Việc học ở trên trường, theo tác giả Nguyễn Thị Cẩm Ly và cộng sự, khi khảo sát về vấn đề phân bố thời gian của sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh trong năm 2010, 50,2% sinh viên đánh giá lịch học ở trường khá bận rộn, 29,4% đánh giá không bận rộn Lịch học ở mỗi trường đại học, ngành học khác biệt, dẫn đến khác nhau trong sự phân bố thời gian của sinh viên [13]

Bên cạnh đó, nghiên cứu về tác động của quản lý thời gian đối với thành tích học tập của học sinh trên 50 sinh viên/khóa của tác giả S N A M Razali chỉ ra rằng có sự khác biệt về kỹ năng quản lý thời gian giữa các sinh viên với năm học khác nhau Trong đó, khi so sánh riêng từng năm học thì nghiên cứu đưa ra kết quả có sự khác biệt đáng kể

về kỹ năng quản lý thời gian giữa sinh viên các năm 1, 2, 3 và sinh viên năm tư Tuy vậy, nghiên cứu của S N A M Razali và cộng sự chưa đưa ra được sự khác nhau đấy là như thế nào [35]

Trang 28

3.3.2 Vấn đề đi làm thêm của sinh viên

Việc đi làm thêm chiếm một lượng thời gian không nhỏ Thông thường khi làm thêm, sinh viên có ý thức hơn về sự giới hạn của thời gian, có thời gian biểu hợp lí Trong nghiên cứu của Nguyễn Phạm Tuyết Anh và cộng sự, phần lớn sinh viên đi làm thêm thường bị yếu tố thời gian ảnh hưởng đến việc học như: thời gian học trên lớp, thời gian

tự học và thời gian để học bài Qua khảo sát thực tế thì ta thấy sinh viên nếu đi làm thêm nhiều giờ trong ngày thì càng có nhiều sinh viên bị tác động bởi thời gian dành cho việc học, tức là quỹ thời gian dành cho lên lớp, tự học và thời gian để học bài càng giảm đi, điều này có tác động đến kết quả học tập [15]

3.3.3 Nhu cầu cá nhân

Những sinh viên có nhận thức cao về tầm quan trọng của sự phân bố thời gian sẽ phân bố một cách hợp lí, thực hiện một cách nghiêm túc hơn và đấu tranh để loại bỏ những thói quen tiêu cực về thời gian đã hình thành trước đó Tuy nhiên đa số sinh viên chưa đề ra được mục tiêu phấn đấu cho bản thân, chưa xác định được hoạt động quan trọng cần đầu tư nhiều thời gian để thực hiện Vì vậy, họ chưa biết cách lập kế hoạch cho những hoạt động của mình Một số sinh viên đã đề ra được kế hoạch hoạt động nhưng thiếu quyết tâm và nghiêm túc trong quá trình thực hiện Sinh viên chưa xác định đúng giá trị nghề nghiệp mình cần có, vì vậy chưa có động có học tập đúng đắn Từ động cơ học tập chưa đúng khiến sinh viên chưa đầụ tư quản lý thời gian hiệu quả cho học tập, nghiên cứu “Sinh viên cũng dành quá nhiều thời gian để thỏa mãn những nhu cầu cá nhân Họ nhận thức được việc quản lý thời gian của mình là không hợp lý nhưng lại không quyết tâm thay đổi những thói quen không tốt đã tiêu tốn khá nhiều thời gian của họ” - giảng viên Hoàng Thị Phương – (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội) [17]

3.3.4 Yếu tố nhà trường

3.3.4.1 Giảng viên

Hoạt động học tập của sinh viên là một phần trong quá trình dạy học, nó không thể tách rời với hoạt động của giảng viên, vì vậy KNQLTG trong học tập của sinh viên có mối quan hệ gắn bó và thống nhất với hoạt động của giảng viên Giảng viên làm gương cho sinh viên về giờ giấc giảng dạy, tuân thủ và cùng sinh viên thực hiện nghiêm túc nội quy về thời gian học tập của nhà trường Kết quả của quá trình QLTG học tập của sinh viên cần được thể hiện, được giảng viên và bạn bè đóng góp ý kiến, đánh giá [6]

Trang 29

Như vậy, sự hướng dẫn sinh viên về kỹ năng quản lý thời gian trong học tập, hướng dẫn sinh viên lập kế hoạch; tổ chức; giám sát kiểm tra và đánh giá trong từng môn học

cụ thể, ngắn hạn và dài hạn, lồng ghép kỹ năng này vào bài học sẽ là phương pháp hữu hiệu mà giảng viên có thể phát huy kỹ năng quản lý thời gian ở sinh viên [6]

3.3.4.2 Nhà trường và chương trình đào tạo

Chất lượng đào tạo giáo dục Đại học liên quan đến nhiều yếu tố, nhưng quan trọng nhất là chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy, cơ sở vật chất, chương trình cùng phương pháp giảng dạy và bao trùm trên hết là chất lượng quản lý Qua đó ta có thể khẳng định

sự ảnh hưởng lớn của đội ngũ quản lý giáo dục của nhà trường và chương trình đào tạo đến kết quả rèn luyện và học tập của sinh viên trường Đại học [6]

Nhiều trường chưa nhấn mạnh nhiều đến việc xây dựng chương trình giáo dục kỹ năng bên cạnh việc học tập chuyên ngành, mà cụ thể là kỹ năng quản lý thời gian dành cho sinh viên Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều hạn chế trong về cơ sở vật chất trong quá trình tổ chức bồi dưỡng cũng như tạo điều kiện để sinh viên thực hành [6]

Chương trình riêng về kỹ năng quản lý thời gian của sinh viên hoặc các khóa học ngắn hạn, bồi dưỡng chuyên đề về kỹ năng quản lý thời gian sẽ giúp cho sinh viên hiểu biết đúng về kỹ năng này, sẽ giúp cho sinh viên đạt được hiệu quả trong học học tập Vì vậy, môi trường Đại học cần đưa việc giảng dạy kỹ năng quản lý thời gian vào trong mục tiêu đào tạo, bởi vì nó không chỉ ảnh hưởng đến quá trình sinh viên học tập tại trường mà còn rất quan trọng khi sinh viên hòa nhập với xã hội, nghề nghiệp tương lai, trong suốt cuộc đời [6]

Trang 30

4 Khung lý thuyết

Hình 3 Khung lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng mô hình Precede – Proceed (Green & Kreuter, 1999) làm khung

lý thuyết cho đề tài, nhằm xác định các yếu tố liên quan đến thực trạng quản lý thời gian

ở sinh viên Dựa vào những tài liệu đã tìm được, nhóm nghiên cứu đã phân các yếu tố liên quan/ảnh hưởng đến kỹ năng quản lý thời gian vào ba nhóm yếu tố chính bao gồm: nhóm yếu tố tiền đề, nhóm yếu tố tạo điều kiện thuận lợi và nhóm yếu tố tăng cường được trình bày trong khung lý thuyết cụ thể tại hình 1 để tiến hành tìm hiểu mối liên quan giữa thực trạng kỹ năng quản lý thời gian trong học tập ở sinh viên và kết quả học tập của họ Nhóm yếu tố tiền đề là những yếu tố cá nhân, ở trong đối tượng nghiên cứu như: tuổi, giới, trình độ học vấn, … tác động đến kỹ năng quản lý thời gian trong học tập của sinh viên Nhóm yếu tố thứ 2 là nhóm yếu tố tăng cường Nhóm yếu tố này bao gồm những ảnh hưởng, tác động từ nhà trường, giảng viên, bạn bè lên kỹ năng quản lý thời gian của sinh viên Nhóm yếu tố cuối cùng là nhóm yếu tố tạo điều kiện thuận lợi Những yếu tố này là những ảnh hưởng từ điều kiện sống, việc làm, thu nhập, thói quen sinh hoạt của sinh viên, các hoạt động ngoài giờ lên lớp, … những yếu tố trên có thể tác động đến sự thay đổi, thực hiện và duy trì kỹ năng quản lý thời gian của sinh viên

Thực trạng KNQLTG trong học tập ở sinh viên

Yếu tố tiền đề

- Tuổi, giới

- Trình độ học vấn

- Nơi ở

- Nhu cầu cá nhân

Yếu tố tạo điều kiệu thuận lợi

- Đi làm thêm, thu nhập hàng tháng

- Thói quen sinh hoạt, học tập

- Hoạt động ngoài giờ lên lớp

Yếu tố tăng cường

- Nhà trường

- Giảng viên

- Bạn bè

Trang 31

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu cắt ngang

5.2 Đối tượng nghiên cứu

Sinh viên Cử nhân chính quy trường Đại học Y tế Công cộng

Tiêu chuẩn lựa chọn:

• Sinh viên cử nhân chính quy học từ năm nhất đến năm tư tại trường Đại học Y tế Công cộng

• Sinh viên đồng ý tham gia nghiên cứu

• Sinh viên có đủ khả năng hoàn thành bộ câu hỏi được phát

Tiêu chuẩn loại trừ:

• Sinh viên thuộc các chương trình đào tạo không phải là chương trình đào tạo cử nhân chính quy học tập tại trường Đại học Y tế Công cộng

• Những sinh viên không đồng ý tham gia nghiên cứu

• Những sinh viên không có khả năng trả lời các câu hỏi trong bộ câu hỏi nghiên cứu

5.3 Thời gian và địa điểm tiến hành nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành từ tháng 06/2018 đến tháng 12/2018 tại trường Đại học Y tế Công cộng (Số 1A, đường Đức Thắng, phường Đức Thắng, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội)

Trong đó:

α – Mức ý nghĩa (α = 0,05) nên Z1-α/2 = 1,96

p – Ước tính tỷ lệ sinh viên có kỹ năng lập kế hoạch để quản lý thời gian là 54,5% (theo nghiên cứu của ) [7], chọn p = 0,545

d – Sai số tuyệt đối, chọn d = 0,05

Áp dụng công thức (1) ta tính được n = 381 Cỡ mẫu được tăng thêm 20% phòng trường hợp đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu do không có đủ thời gian hoàn thành

bộ câu hỏi hoặc cảm thấy không thoải mái khi trả lời bộ câu hỏi, … Vậy cỡ mẫu nghiên cứu là 457 sinh viên

Trang 32

5.4.2 Phương pháp chọn mẫu

Trong năm học , trường Đại học Y tế Công cộng đào tạo 4 chuyên ngành, bao gồm chuyên ngành Y tế Công cộng (YTCC), Dinh dưỡng, Công tác xã hội (CTXH) và Xét nghiệm (gồm Xét nghiệm y học dự phòng, Xét nghiệm y học và Kỹ thuật xét nghiệm y học) với tổng số sinh viên 4 năm học tính đến tháng 9 năm 2018 là 1001 sinh viên Nhóm nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng Đơn vị tầng

sẽ là chuyên ngành đối tượng nghiên cứu đang học Tổng tất cả có 4 tầng tương ứng với

4 chuyên ngành Tại mỗi tầng, chọn mẫu ngẫu nhiên có xác suất tỷ lệ (probability proportional sampling – PPS) Số lượng sinh viên mỗi tầng được tính dựa trên tỉ lệ sinh viên của tầng đó so với tổng sinh viên trong diện nghiên cứu (Bảng 1)

Bảng 1 Phân bố số lượng đối tượng nghiên cứu theo chuyên ngành

Số SV mỗi tầng Tỉ lệ SV mỗi tầng Số sinh SV điều tra

457 = 2 Sinh viên có số thứ tự đầu tiên trong danh sách sinh viên từng năm học sẽ là đối tượng đầu tiên trong danh sách đối tượng tham gia nghiên cứu và cứ cách 2 sinh viên, nhóm nghiên cứu lại chọn 1 sinh viên cho vào danh sách đối tượng nghiên cứu Theo quá trình chọn mẫu, ta có bảng phân bố số lượng đối tượng tham gia nghiên cứu:

Bảng 2 Phân bố số lượng đối tượng nghiên cứu theo năm học

* Lưu ý: Dinh dưỡng và Công tác xã hội là 2 chuyên ngành mới của trường nên không có sinh

viên năm 3 và năm 4

Trang 33

5.5 Phương pháp thu thập số liệu

5.5.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Công cụ thu thập thông tin: bộ câu hỏi tự điền khuyết danh được thiết kế sẵn dựa trên mục tiêu và các biến số của nghiên cứu Bộ câu hỏi trước khi chính thức tiến hành nghiên cứu cần được thử nghiệm trên nhóm đối tượng đích và được chỉnh sửa, bổ sung các nội dung phù hợp với đối tượng đích

- Thời gian thu thập thông tin: Sau giờ học (sáng hoặc chiều) trên lớp theo lịch cụ thể của ngày thu thập số liệu dựa vào lịch giảng đường của nhà trường

- Phương pháp: Phát vấn tại phòng học các lớp trong Trường đại học Y tế công cộng

• Sử dụng bộ câu hỏi tự điền dành cho đối tượng sinh viên Đối tượng nghiên cứu

tự điền vào các câu trả lời mà họ cho là đúng vào bộ câu hỏi đã thiết kế sẵn

• Giám sát viên là giảng viên hướng dẫn của nhóm nghiên cứu và chủ nhiệm đề tài

• Điều tra viên chủ yếu là thành viên của nhóm nghiên cứu được tập huấn kỹ lưỡng

để hướng dẫn đối tượng nghiên cứu hoàn thành bộ phiếu tự điền Mỗi buổi có từ 2-3 điều tra viên tham gia và sẽ giúp đỡ đối tượng nghiên cứu khi có thắc mắc

• Tiến hành phát vấn: Điều tra viên giới thiệu mục đích nghiên cứu và hướng dẫn điền phiếu Sau khi đối tượng điền xong thông tin, điều tra viên kiểm tra lại thông tin phiếu (logic, đầy đủ thông tin), sau đó gửi lại nếu đối tượng điền thiếu Các phiếu hỏi đều được đảm bảo tính bí mật, an toàn

• Sau đó nhóm lựa chọn ngẫu nhiêu các sinh viên trong những sinh viên đồng ý tham gia nghiên cứu sao cho đủ số lượng đã đề ra Những sinh viên được lựa chọn ở lại thêm từ 15 đến 20 phút để điền vào bộ câu hỏi

• Cuối buổi, giám sát viên kiểm tra lại phiếu trả lời ngay sau khi đối tượng nghiên cứu nộp phiếu

- Phiếu phát vấn hợp lệ là phiếu trả lời hết 40 câu hỏi trong phiếu, mỗi câu hỏi tương ứng với 1 đáp án, không có câu nào lựa chọn từ 2 đáp án trở lên, những câu trả lời phải logic, phù hợp với yêu cầu đưa ra của câu hỏi

Trang 34

5.5.2 Các biến số nghiên cứu

Gồm 26 biến số, trong đó: (Chi tiết xem phụ lục 2)

➢ Biến phụ thuộc: Điểm đánh giá KNQLTG trong học tập của sinh viên

* Cách thức chấm điểm:

Sau khi hoàn thành bộ câu hỏi với tổng số câu là 40 câu, điểm đánh giá kỹ năng quản

lý thời gian của mỗi đối tượng sẽ được tính điểm thông qua 2 câu hỏi (câu số 6 và nhóm câu số 7) phần C Điểm của mỗi câu hỏi sẽ được tính theo thang điểm 5, tương ứng với

5 mức độ từ không bao giờ (1 điểm) đến rất thường xuyên (5 điểm) Điểm đánh giá kỹ năng quản lý thời gian cao nhất đối tượng nghiên cứu có thể đạt được là 175 điểm và điểm thấp nhất đối tượng có thể đạt được là 35 điểm Thang đo chấm điểm kỹ năng quản

lý thời gian dành cho biến tổng điểm của từng đối tượng được phân chia như sau:

Trang 35

* Cách tính điểm nhóm biến hình thành kỹ năng quản lý thời gian:

Nhóm nghiên cứu tính tổng điểm trung bình tất cả các câu về lập kế hoạch và biểu hiện hành vi, lấy điểm trung bình và chia giới hạn liên tục, từ đó ra 5 mức độ thang đo:

5.5.3 Công cụ thu thập số liệu

Số liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi phát vấn tự điền khuyết danh Bộ câu hỏi được xây dựng dựa trên báo cáo của tác giả Nguyễn Phúc Hậu về “Kỹ năng quản lý thời gian trong hoạt động học tập của sinh viên 1 số trường Đại học tại Tp Hồ Chí Minh” (2016) [6] và nghiên cứu của tác giả Britton và cộng sự về “Ảnh hưởng của thực hành kỹ năng quản lý thời gian đối với các sinh viên trường đại học” (1991) [26]

Bộ câu hỏi gồm 40 câu, dài 8 trang gồm 3 phần: (Chi tiết xem phụ lục 1)

- Phần A: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu với 10 câu, cung cấp thông tin về năm sinh, giới, ngành học, nơi ở, điểm trung bình, …

- Phần B: Thông tin về việc sử dụng thời gian của đối tượng nghiên cứu trong 1 ngày gồm 18 câu hỏi Phần này cung cấp các thông tin về số thời gian trung bình dành cho việc tự học, đi làm thêm, tham gia CLB,

- Phần C: Gồm 12 câu hỏi liên quan đến nhận thức, thực hành và thái độ của sinh viên đối với kỹ năng quản lý thời gian của sinh viên Nội dung các câu hỏi như sau:

• Câu 1, 3, 4: Nhận thức và thái độ của sinh viên đối với kỹ năng quản lý thời gian trong hoạt động học tập: Khái niệm kỹ năng quản lý thời gian, một số nhận định của sinh viên về KNQLTG, thái độ của sinh viên đối với kỹ năng quản lý thời gian trong học tập

• Câu 2: Đánh giá của sinh viên về mức độ quan tâm, hiểu biết, vai trò và sự cần thiết của kỹ năng quản lý thời gian trong học tập của sinh viên

Trang 36

• Câu 5, 6, 7.1, 7.2, 7.3, 7.4, 7.5: Các bước hình thành kỹ năng quản lý thời gian: lập

kế hoạch QLTG, tổ chức sử dụng thời gian trong hoạt động học tập (gồm: Mức độ biểu hiện KNQLTG trong học tập của sinh viên tại lớp, tại nhà; Mức độ biểu hiện

kỹ năng quản lý thời gian trong học tập của sinh viên thông qua phương pháp học tập, sử dụng phương tiện học tập)

• Câu 8: Biện pháp nâng cao KNQLTG trong học tập của sinh viên theo sự cần thiết

Thống kê phân tích (kiểm định t, kiểm định Chi-square, kiểm định tần số mong đợi, kiểm định Fisher’s exact, ) được sử dụng để tìm hiểu mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học, kết quả học tập của đối tượng và kỹ năng quản lý thời gian của họ Giá trị p thảo mãn p < 0,05 được chọn làm mức có ý nghĩa thống kê

Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến được sử dụng để phân tích mối liên quan giữa điểm kỹ năng quản lý thời gian trong học tập của sinh viên và một số yếu tố liên quan như: giới, năm học, ngành học, thời gian tự học; đi làm thêm, hệ số hồi quy (b) và mức ý nghĩa p được sử dụng để biểu thị độ mạnh của các mối liên quan Kết quả cuối cùng sau khi sử dụng phân tích hồi quy tuyến tính đa biến sẽ cho ra mô hình hồi quy giải thích Mô hình hồi quy cuối cùng là mô hình hồi quy giải thích bao gồm các biến

số có ý nghĩa thống kê khi phân tích hai biến (p<0,05) hoặc có giá trị p khi phân tích hai biến trong khoảng từ 0,05 đến dưới 0,1

5.7 Kiểm soát sai số

Nhóm nghiên cứu đã gặp phải một số khó khăn trong quá trình tiến hành thu thập và phân tích số liệu cho đề tài nghiên cứu khoa học của mình Vì vậy, nhóm đã tìm ra nguyên nhân của các khó khăn mà nhóm gặp phải và từ đó đưa ra các biện pháp khắc phục những khó khăn đó thông qua bảng 3 dưới đây

Ngày đăng: 31/01/2021, 15:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. 1Office (2019), 4 Phương Pháp Quản Trị Thời Gian Nâng Cao Hiệu Quả Làm Việc, truy cập ngày 19/05/2018, tại trang web http://cafebiz.vn/phuong-phap-qua-ca-chua-nay-se-giup-ban-hoan-thanh-cong-viec-cua-1-ngay-chi-trong-1-gio-20160710092524144.chn Sách, tạp chí
Tiêu đề: 4 Phương Pháp Quản Trị Thời Gian Nâng Cao Hiệu Quả Làm Việc
Tác giả: 1Office
Năm: 2019
2. Nguyễn Hữu Đặng và cộng sự (2014), "Các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian tự học của sinh viên: Trường hợp của sinh viên Khoa Kinh tế &amp; Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Cần Thơ", Tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ, tr. 84-89 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian tự học của sinh viên: Trường hợp của sinh viên Khoa Kinh tế & Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Cần Thơ
Tác giả: Nguyễn Hữu Đặng và cộng sự
Năm: 2014
3. Vương Quốc Duy và các cộng sự. (2015), "Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đi làm thêm của sinh viên Đại học Cần Thơ", Tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ, tr. 105-113 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đi làm thêm của sinh viên Đại học Cần Thơ
Tác giả: Vương Quốc Duy và các cộng sự
Năm: 2015
4. Học viện doanh nhân GED (2018), Lợi ích bạn đạt được khi quản lý thời gian hiệu quả, Thành phố Hồ Chí Minh, truy cập ngày 19/05/2018, tại trang web http://doanhnhan.edu.vn/kien-thuc/loi-ich-ban-dat-duoc-khi-quan-ly-thoi-gian-hieu-qua/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lợi ích bạn đạt được khi quản lý thời gian hiệu quả
Tác giả: Học viện doanh nhân GED
Năm: 2018
5. Đỗ Thu Hà (2010), "Nghiên cứu việc sử dụng quy thời gian ngoài giờ lên lớp của sinh viên ở một số trường đại học trên địa bàn Hà Nội", Đề tài V2009-26, Bộ Giáo dục &amp; Đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu việc sử dụng quy thời gian ngoài giờ lên lớp của sinh viên ở một số trường đại học trên địa bàn Hà Nội
Tác giả: Đỗ Thu Hà
Năm: 2010
7. Nguyễn Khắc Hiếu và Huỳnh Văn Sơn (2011), "Thực trạng kỹ năng quản lý thời gian của sinh viên một số trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay phân tích trên góc nhìn thói quen sử dụng thời gian", Tạp chí Khoa học Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 112 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng kỹ năng quản lý thời gian của sinh viên một số trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay phân tích trên góc nhìn thói quen sử dụng thời gian
Tác giả: Nguyễn Khắc Hiếu và Huỳnh Văn Sơn
Năm: 2011
9. Hoàng Khuê (1992), Từ điển tiếng Việt, chủ biên, Trung tâm Từ điển ngôn ngữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Khuê
Năm: 1992
10. Đinh Ai Linh (2006), "Những hạn chế trong quản lý hoạt động học tập của sinh viên Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh", Tạp chí phát triển KH&amp;CN. 9(10), tr. 49-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những hạn chế trong quản lý hoạt động học tập của sinh viên Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
Tác giả: Đinh Ai Linh
Năm: 2006
11. Trần Lương (2015), "Thực trạng kỹ năng quản lí thời gian của sinh viên trường Đại học Cần Thơ", Tạp chí Khoa học - Đại học Huế, tr. 133-143 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng kỹ năng quản lí thời gian của sinh viên trường Đại học Cần Thơ
Tác giả: Trần Lương
Năm: 2015
14. Trần Thị Thu Mai và Nguyễn Hữu Long (2010), "Kỹ năng sống của thiếu niên Thành phố Hồ Chí Minh", Tạp chí Khoa học Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng sống của thiếu niên Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Trần Thị Thu Mai và Nguyễn Hữu Long
Năm: 2010
15. Nguyễn Phạm Tuyết Anh và Châu Thị Lệ Duyên và Hoàng Minh Trí (2013), "Tác động của việc đi làm thêm đến kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Cần Thơ", Tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ. 26, tr. 31-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của việc đi làm thêm đến kết quả học tập của sinh viên trường Đại học Cần Thơ
Tác giả: Nguyễn Phạm Tuyết Anh và Châu Thị Lệ Duyên và Hoàng Minh Trí
Năm: 2013
17. Hoàng Thị Phương và Nguyễn Nam Phương (2013), "Vai trò kĩ năng quản lí thời gian đối với hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội", Tạp chí Giáo dục, tr. 38 - 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò kĩ năng quản lí thời gian đối với hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Tác giả: Hoàng Thị Phương và Nguyễn Nam Phương
Năm: 2013
20. Huỳnh Văn Sơn (2012), Phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên trường Đại học Sư phạm, NXB Gáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên trường Đại học Sư phạm
Tác giả: Huỳnh Văn Sơn
Nhà XB: NXB Gáo dục Việt Nam
Năm: 2012
21. Trần Trọng Thủy (1998), Tâm lý học lao động, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, tr.49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lao động
Tác giả: Trần Trọng Thủy
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
22. Bộ Nội vụ (2013), Tài liệu bồi dưỡng, Bộ Nội vụ, truy cập ngày 19/05/2018, tại trang webhttp://dtbd.moha.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/146/0/594/0/4030/TCN_CV_TLBD_Chuyen_de10_Quan_ly_thoi_gian.Tài liệu Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng", Bộ Nội vụ, truy cập ngày 19/05/2018, tại trang web http://dtbd.moha.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/146/0/594/0/4030/TCN_CV_TLBD_Chuyen_de10_Quan_ly_thoi_gian
Tác giả: Bộ Nội vụ
Năm: 2013
24. Sarath A.Nonis, Gail I.Husdon và Arkansas State university (2006), "Academic Performance of College Students: Influence of Time Spent Studying and Working", Journal of Education for Business, tr. 151-159 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Academic Performance of College Students: Influence of Time Spent Studying and Working
Tác giả: Sarath A.Nonis, Gail I.Husdon và Arkansas State university
Năm: 2006
25. Wasan Siddiq Yahya Alsalem và cộng sự (2017), "The Effect of Time Management on Academic Performance among Students of Jazan University", The Egyptian Journal of Hospital Medicine. Vol 69(8), tr. 3042-3049 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Effect of Time Management on Academic Performance among Students of Jazan University
Tác giả: Wasan Siddiq Yahya Alsalem và cộng sự
Năm: 2017
26. Britton và các cộng sự. (1991), "Effects of time-management practices on college grades", Journal of Educational Psychology. Vol 83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of time-management practices on college grades
Tác giả: Britton và các cộng sự
Năm: 1991
27. Necati Cemaloğlu và Sevil Filiz (2010), "The relation between time management skill and academic achievement of potential teachers", Educational Research Quarterly. Vol 33, tr. 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The relation between time management skill and academic achievement of potential teachers
Tác giả: Necati Cemaloğlu và Sevil Filiz
Năm: 2010
28. Brigitte J.C. Claessens và các cộng sự. (2007), "A Review of Time Management Literature", Personnel Review. Vol 36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Review of Time Management Literature
Tác giả: Brigitte J.C. Claessens và các cộng sự
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w