1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá sử dụng thuốc tại bệnh viện lao và bệnh phổi tiền giang giai đoạn 2017 2018 thông qua phân tích ABC VEN

162 39 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 162
Dung lượng 6,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số yếu tố ảnh hưởng đến đến việc quản lý sử dụng thuốc gồm: Hội đồng thuốc và điều trị bệnh viện giám sát sử dụng thuốc tại bệnh viện chưa sâu sát bác sĩ kê đơn thuốc theo kinh nghiệ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH:8720802

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN VĂN DƯƠNG

HÀ NỘI, 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để được hoàn thành luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Quản lý bệnh viện, tôi đã được Ban Giám hiệu nhà trường và các thầy, cô giáo trường Đại học Y tế Công Cộng đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Trước hết, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến: TS Nguyễn Văn Dương và ThS Hứa Thanh Thủy đã hướng dẫn, chỉ bảo và truyền đạt kinh nghiệm trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Xin trân trọng cản ơn Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo sau Đại học, các thầy cô đã dạy dỗ tận tình và tạo điều kiện cho em được học tập, nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, phòng Kế hoạch tổng hợp, phòng Tổ chức Hành chính, khoa Dược, Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Tiền Giang đã tạo điều kiện cho tôi tham gia khóa học, cung cấp số liệu và đóng góp các ý kiến quý báu cho tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn

Xin cảm ơn các anh, chị, bạn bè, các đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong thời gian qua

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến gia đình, bạn

bè và những người thân đã luôn chia sẽ, động viên, giúp đỡ tôi trong cuộc sống cũng như trong học tập!

Hà Nội, ngày 20 tháng 3 năm 2020

Học viên

Nguyễn Quốc Thế

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Một số khái niệm dùng trong nghiên cứu 4

1.1.1 Khái niệm danh mục thuốc 4

1.1.2 Khái niệm danh mục thuốc sản xuất trong nước nước đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp 4

1.1.3 Khái niệm phân tích ABC 4

1.1.4 Khái niệm phân tích VEN 4

1.2 Sử dụng thuốc tại bệnh viện 5

1.2.1 Thực trạng 5

1.2.2 Vai trò của Hội đồng thuốc và điều trị 6

1.2.3 Vai trò của khoa Dược 7

1.3 Tổng quan về phân tích ABC - VEN 7

1.3.1 Phân tích ABC 7

1.3.2 Phân tích VEN 8

1.3.3 Phân tích ABC-VEN 10

1.4 Các nghiên cứu liên quan 10

1.4.1 Nghiên cứu đánh giá sử dụng thuốc tại bệnh viện thông qua phân tích ABC - VEN 10

1.4.1.1 Nghiên cứu trên thế giới 10

1.4.1.2 Nghiên cứu tại Việt Nam 11

1.4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng thuốc tại bệnh viện 13

Trang 5

1.4.2.1 Yếu tố thuộc bệnh viện 13

1.4.2.2 Yếu tố thuộc chính sách 15

1.5 Vài nét về Bệnh viện Lao và bệnh Phổi Tiền Giang 16

1.5.1 Lịch sử hình thành và phát triển 16

1.5.2 Mô hình bệnh tật, chức năng và nhiệm vụ 16

1.6 Khung lý thuyết 19

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Đối tượng nghiên cứu 21

2.2 Thời gian - địa điểm nghiên cứu 21

2.3 Thiết kế - nghiên cứu 21

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 21

2.4.1 Nghiên cứu định lượng 21

2.4.2 Nghiên cứu định tính: 22

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 22

2.5.1 Thu thập số liệu định lượng 22

2.5.2 Thu thập số liệu định tính 22

2.6 Các biến số và chủ đề nghiên cứu 23

2.6.1 Các biến số trong nghiên cứu định lượng 23

2.6.2 Các chủ đề trong nghiên cứu định tính 23

2.7 Phân tích số liệu 24

2.7.1 Phần định lượng 24

2.7.1 Phần định tính 25

2.8 Đạo đức trong nghiên cứu 26

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27

Trang 6

3.1 Đánh giá sử dụng thuốc tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Tiền Giang giai

đoạn 2017 - 2018 thông qua sử dụng bộ công cụ ABC – VEN 27

3.1.1 Cơ cấu giá trị sử dụng theo phân tích ABC 27

3.1.1.1 Phân tích chung 27

3.1.1.2 Phân tích cơ cấu nhóm A 28

3.1.2 Cơ cấu giá trị sử dụng theo phân tích VEN 31

3.1.3 Cơ cấu giá trị sử dụng theo phân tích ABC/VEN 32

3.1.3.1 Phân tích chung 32

3.1.3.2 Phân tích cơ cấu nhóm I 33

3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý sử dụng thuốc tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Tiền Giang 37

3.2.1 Yếu tố thuộc bệnh viện 38

3.2.2 Yếu tố thuộc chính sách nhà nước 42

3.2.3 Yếu tố thuộc công ty Dược 44

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 45

4.1 Đánh giá sử dụng thuốc tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Tiền Giang - giai đoạn 2017 - 2018 thông qua sử dụng bộ công cụ ABC - VEN 45

4.1.1 Cơ cấu giá trị sử dụng theo phân tích ABC 45

4.1.1.1 Phân tích chung 45

4.1.1.2 Phân tích cơ cấu nhóm A 46

4.1.2 Cơ cấu giá trị sử dụng theo phân tích VEN 48

4.1.3 Cơ cấu giá trị sử dụng theo phân tích ABC/VEN 49

4.1.3.1 Phân tích chung 49

4.1.3.2.Phân tích cơ cấu nhóm I 50

Trang 7

4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý sử dụng thuốc tại Bệnh viện Lao

và Bệnh Phổi Tiền Giang 52

4.2.1 Yếu tố thuộc bệnh viện 52

4.2.2 Yếu tố thuộc chính sách nhà nước 55

4.2.3 Yếu tố thuộc công ty Dược 57

KẾT LUẬN 58

KHUYẾN NGHỊ 59

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ADR Phản ứng có hại của thuốc BHXH Bảo hiểm xã hội

BHYT Bảo hiểm y tế

HĐT&ĐT Hội đồng thuốc và điều trị

PVS Phỏng vấn sau TLN Thảo luận nhóm

VNĐ Việt Nam đồng

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Tiêu chuẩn phân tích VEN được WHO khuyến cáo 8

Bảng 3.6: Cơ cấu giá trị sử dụng phân tích ABC/VEN 32 Bảng 3.7: Cơ cấu giá trị sử dụng phân tích ABC/VEN theo nhóm 33 Bảng 3.8: Cơ cấu nhóm I theo nhóm tác dụng dược lý 34

Trang 10

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Tiền Giang là bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh, chuyên điều trị xử trí cấp cứu các bệnh Lao, di chứng do bệnh Lao, hen suyễn, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Phân tích ABC - VEN là một công cụ hỗ trợ cho việc lựa chọn, mua sắm và sử dụng thuốc hợp lý để có được bức tranh chính xác và khách quan về kinh phí sử dụng thuốc Nghiên cứu này được thực hiện tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Tiền Giang từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2019 nhằm mục tiêu: Đánh giá sử dụng thuốc và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng thuốc Đây là một nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp định lượng với định tính Số liệu định lượng được phân tích dựa trên báo cáo sử dụng thuốc năm

2017 và năm 2018 Thông tin định tính được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn sâu 08 cuộc và 02 cuộc thảo luận nhóm, với tổng số 17 người tham gia

Kết quả: Phân tích ma trận ABC/VEN: năm 2018 so với năm 2017 giá trị thuốc nhóm I giảm, thuốc nhóm III tăng, nhóm AN tăng (chủ yếu là những thuốc đường tiêu hóa, khoáng chất và vitamin, giảm đau hạ sốt) trong khi đó nhóm thuốc thiết yếu CV giảm Một số yếu tố ảnh hưởng đến đến việc quản lý sử dụng thuốc gồm: Hội đồng thuốc và điều trị bệnh viện giám sát sử dụng thuốc tại bệnh viện chưa sâu sát bác sĩ kê đơn thuốc theo kinh nghiệm, thiếu dược sĩ chuyên khoa dược lâm sàng để triển khai dược lâm sàng hỗ trợ trong điều trị, danh mục thuốc chưa đáp ứng với một bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh

Khuyến nghị: Bệnh viện cần kiểm soát chặt chẽ và ban hành quy định sử dụng nhóm thuốc đường tiêu hóa, khoáng chất và vitamin, giảm đau hạ sốt Hội đồng thuốc và điều trị bệnh viện tăng cường giám sát sử dụng thuốc, triển khai dược lâm sàng, cập nhật chuyên môn dược thường xuyên cho bác sĩ kê đơn Bộ Y tế cần

có chính sách riêng về danh mục thuốc đối với bệnh viện chuyên khoa hô hấp, không áp dụng danh mục thuốc theo phân hạng bệnh viện

Trang 11

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sử dụng thuốc chưa hiệu quả và bất hợp lý nói chung, trong bệnh viện nói riêng đã và đang là vấn đề cần phải giải quyết của nhiều quốc gia Đó cũng là một trong những nguyên nhân chính làm gia tăng chi phí cho người bệnh, giảm chất lượng chăm sóc sức khoẻ và thương hiệu của các cơ sở khám chữa bệnh Theo các nghiên cứu trên thế giới, kinh phí mua thuốc chiếm khoảng 30% - 40% ngân sách ngành Y tế của nhiều quốc gia, và phần lớn số tiền đó bị lãng phí do việc sử dụng thuốc không hợp lý và các hoạt động cung ứng thuốc không hiệu quả [23] Mặt khác, việc lạm dụng kháng sinh hay số loại thuốc kê trong một đơn quá nhiều, đang

có chiều hướng ngày càng gia tăng ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Việc phối hợp quá nhiều thuốc trong một đơn là một trong những nguyên nhân làm tăng tình trạng kháng thuốc và tăng chi phí điều trị [21] Do đó, quản lý sử dụng thuốc tại bệnh viện nhằm tăng cường hiệu quả điều trị, tránh lãng phí có vai trò và ý nghĩa quan trọng

Có nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá sử dụng thuốc tại bệnh viện, trong đó, phân tích ABC - VEN danh mục thuốc sử dụng là phương pháp giúp đánh giá một cách tổng quát về số lượng và kinh phí các thuốc đã sử dụng tại bệnh viện ở giai đoạn trước, làm nền tảng cho các hoạt động quản lý sử dụng thuốc ở giai đoạn tiếp theo Phương pháp phân tích ABC - VEN là phương pháp phân tích dựa trên sự tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách Phân tích ABC - VEN là một công cụ hỗ trợ cho việc lựa chọn, mua sắm và sử dụng thuốc hợp lý để có được bức tranh chính xác và khách quan về kinh phí sử dụng thuốc, đã được Bộ Y tế đưa vào quy định ở Thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 08 tháng 8 năm 2013 của Bộ Y tế [4]

Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu đã sử dụng phương pháp phân tích ABC - VEN để phân tích danh mục thuốc, từ đó phát hiện nhiều bất cập trong sử dụng tại bệnh viện như: Trong nghiên cứu của Vũ Thị Hương trên 38 bệnh viện đa khoa cho thấy: hầu hết thuốc nhóm A của các bệnh viện tuyến tỉnh đều có nhóm Vitamin và khoáng chất với tỷ lệ cao [13] Nghiên cứu của Hoàng Thị Minh Hiền tại bệnh viện Hữu Nghị cho thấy các thuốc N trong nhóm A chiếm tỷ trọng số lượng tiêu thụ cao,

Trang 12

2 giá trị tiêu thụ lớn trong khi tác dụng không rõ rệt [10] Nghiên cứu của Phạm Hoàng Chương tại Bệnh viện đa khoa huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang năm 2014 cho thấy ngân sách sử dụng chỉ tập trung vào thuốc có giá trị cao và sử dụng với số lượng lớn[6] Nghiên cứu củaThái Phương Phiên tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Thuận năm cho thấy trong các nhóm I, II, III, nhóm I chiếm lên đến 75,56% giá trị

sử dụng, chính vì vậy bệnh viện cần ưu tiên mua sử dụng các thuốc nhóm I để giữ

ổn định ngân sách hàng năm và luôn sẵn có trong kho để phục vụ cho công tác chữa bệnh [14] Hạn chế các nghiên cứu nêu trên đa phần chỉ phân tích định lượng dựa trên danh mục thuốc, chưa đi sâu tìm hiểu lý do, yếu tố ảnh hưởng đến những bất cập, hạn chế của việc sử dụng thuốc tại bệnh viện

Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Tiền Giang là bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh, chuyên điều trị xử trí cấp cứu các bệnh Lao, di chứng do bệnh Lao, hen suyễn, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Với đặc thù đó, việc không tuân thủ đúng việc sử dụng thuốc, không áp dụng đúng phác đồ bệnh viện đã ban hành sẽ xảy ra tình trạng lạm dụng thuốc, đặc biệt là thuốc kháng sinh, dẫn đến tình trạng kháng thuốc ngày càng nhiều, làm tăng mức độ bệnh, ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị Vì thế, để nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc trong bệnh viện, cần đánh giá việc sử dụng thuốc tại bệnh viện thông qua việc phân tích cơ cấu danh mục thuốc và những yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu này Từ đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá sử dụng thuốc tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Tiền Giang - giai đoạn 2017 - 2018 thông qua phân tích ABC - VEN”

Trang 13

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả sử dụng thuốc tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Tiền Giang - giai đoạn 2017 - 2018 thông qua phân tích ABC - VEN

2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng thuốc tại Bệnh viện Lao

và Bệnh Phổi Tiền Giang - giai đoạn 2017 - 2018

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm dùng trong nghiên cứu

1.1.1 Khái niệm danh mục thuốc

Danh mục thuốc là danh mục những loại thuốc cần thiết thỏa mãn nhu cầu

khám chữa bệnh, phù hợp với mô hình bệnh tật, kỹ thuật điều trị và bảo quản, khả năng tài chính của từng Bệnh viện và khả năng chi trả của người bệnh Những thuốc này trong phạm vi không gian, thời gian, trình độ xã hội, khoa học kỹ thuật nhất định luôn sẵn có với số lượng cần thiết, chất lượng đảm bảo, dạng bào chế thích hợp, giá cả phải chăng [29]

Danh mục thuốc Bệnh viện là một Danh mục thuốc thường xuyên được cập nhật các thuốc và các thông tin liên quan tới thuốc đáp ứng nhu cầu lâm sàng của bác sỹ, dược sỹ, các chuyên gia y tế khác trong chẩn đoán, phòng ngừa, điều trị bệnh cải thiện sức khỏe [30]

1.1.2 Khái niệm danh mục thuốc sản xuất trong nước nước đáp ứng yêu cầu

về điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp

Danh mục thuốc sản xuất trong nước nước đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp là danh mục thuốc được xây dựng trên cơ sở các thuốc sản xuất tại các cơ sở sản xuất trong nước đã được cấp giấy đăng ký lưu hành, đáp ứng yêu cầu phòng bệnh, chữa bệnh tại cơ sở y tế theo tiêu chí kỹ thuật của thuốc,

có giá thuốc hợp lý và có khả năng bảo đảm cung cấp cho các cơ sở y tế trên cả nước Danh mục thuốc được cập nhật bổ sung hoặc loại bỏ cho phù hợp tình hình thực tế và bảo đảm đáp ứng kịp thời thuốc phục vụ cho công tác phòng bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở y tế [5]

1.1.3 Khái niệm phân tích ABC

Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách cho thuốc của bệnh viện [4]

1.1.4 Khái niệm phân tích VEN

Phân tích VEN là một hệ thống xác lập sự ưu tiên trong việc chọn lựa và mua sắm và tồn trữ các thuốc trong Bệnh viện khi nguồn kinh phí không đủ để mua

Trang 15

toàn bộ thuốc như mong muốn Trong phân tích VEN thuốc được chia thành 3 hạng như sau:

- Thuốc V (Vital Drugs): Thuốc dùng trong các trường hợp cấp cứu, hoặc các thuốc quan trọng, nhất thiết phải có để phục vụ công tác khám chữa bệnh của Bệnh viện

- Thuốc E (Essential Drugs): Thuốc dùng cho các trường hợp bệnh ít nghiêm trọng nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trong mô hình bệnh tật của Bệnh viện

- Thuốc N (Non- Essential Drugs): Thuốc dùng trong các trường hợp bệnh nhẹ, bệnh có thể tự khỏi, có thể bao gồm các thuốc mà hiệu quả điều trị còn chưa được khẳng định rõ ràng hoặc giá thành không tương xứng với lợi ích lâm sàng của thuốc [4]

1.2 Sử dụng thuốc tại bệnh viện

Kết quả khảo sát tại bệnh viện đa khoa khu vực huyện Ninh Hòa năm 2012 các thuốc sử dụng tại bệnh viện nằm trong 17 nhóm thuốc của danh mục thuốc bệnh viện năm 2012 Nhóm ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn kinh phí sử dụng nhiều chiếm tỷ lệ 57.8%, nhóm thuốc tim mạch sử dụng nhiều thứ hai chiếm tỷ lệ 12.4%, nhóm thuốc tiêu hóa sử dụng nhiều thứ ba chiếm tỷ lệ 6.1%, các nhóm thuốc giảm đau, hạ sôt, chống viêm đứng thứ tư chiếm tỷ lệ 3.9% Các nhóm khác còn lại chiếm 19.7%, nhóm thuốc chẩn đoán có kinh phí sử dụng ít nhất chiếm tỷ lệ 0.2% [11]

Kết quả khảo sát thực trạng sử dụng thuốc tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh năm 2015, chi phí sử dụng thuốc cho bệnh nhân nội trú tại bệnh viện năm

2015 là 11.195.405 (nghìn đồng) Trong đó có 03 nhóm thuốc chi phí cao nhất gồm: Nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn: 5.122.129 (nghìn đồng)

Trang 16

chiếm tỷ lệ 45.75%; Nhóm thuốc tim mạch 1.621.202 (nghìn đồng) chiếm tỷ lệ 14.48%; Nhóm thuốc đường tiêu hóa 830.009 (nghìn đồng) chiếm tỷ lệ 7.41% Các nhóm còn lại có tỷ lệ chi phí ít hơn [16]

Kết quả khảo sát tại tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng năm 2012, kinh phí mua thuốc chiếm 42,98% tổng kinh phí toàn bệnh viện trong năm [7] Tại bệnh viện

đa khoa huyện Nghi Lộc-Nghệ An năm 2012, tổng tiền thuốc sử dụng chiếm tỷ lệ 64,3% trong tổng kinh phí bệnh viện [8]

Theo các báo cáo của IMS Health (Information Management System for Health _ Hệ thống quản lý thông tin y tế) năm 2015, kinh phí sử dụng thuốc trong bệnh viện thường xuyên chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng thể ngân sách của một bệnh viện, nó có thể chiếm tỷ trọng tới 40-60% đối với các nước đang phát triển và 15-20% đối với các nước phát triển [25] Tại Việt Nam, theo báo cáo kết quả công tác khám bệnh năm 2010 của Cục quản lý khám chữa bệnh – Bộ Y tế, tổng giá trị tiền thuốc sử dụng trong bệnh viện chiếm tỷ trong 58,7% tổng giá trị tiền viện phí hàng năm trong bệnh viện [1]

1.2.2 Vai trò của Hội đồng thuốc và điều trị

Bộ Y tế đã có nhiều văn bản liên quan đến việc quản lý sử dụng thuốc trong bệnh viện Theo đó, việc sử dụng thuốc trong bệnh viện phải hợp lý, an toàn và có hiệu quả Hội đồng thuốc và điều trị có nhiệm vụ giúp Giám đốc bệnh viện trong viện giám sát kê đơn hợp lý, tổ chức theo dõi các phản ứng có hại và các vấn đề liên quan đến thuốc trong bệnh viện, tổ chức thông tin về thuốc Giám đốc bệnh viện có trách nhiệm chỉ đạo hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong việc lựa chọn thuốc và sử dụng thuốc hợp lý, an toàn [1],[ 2], [3] Để quản lý sử dụng thuốc một cách hiệu quả cần các phương pháp phân tích dữ liệu tổng hợp sử dụng thuốc Hội đồng thuốc và điều trị thông qua các dữ liệu này để quản lý và phát hiện các vấn đề

về sử dụng thuốc Các phương pháp đó bao gồm: phân tích nhóm điều trị, phân tích ABC, phân tích VEN [1], [9] HĐT&ĐT cần xác định các vấn đề liên quan đến thuốc trong suốt quá trình từ khi tồn trữ, bảo quản đến kê đơn, cấp phát và sử dụng bao gồm [1]:

Trang 17

+ Tồn trữ thuốc: Tình trạng trống kho do thiếu kinh phí, tồn kho do hệ thống cung ứng yếu kém

+ Bảo quản thuốc: Thuốc không bảo đảm chất lượng do điều kiện bảo quản không đúng và không đầy đủ

+ Kê đơn: kê đơn thuốc không phù hợp với tình trạng bệnh lý của người bệnh; người kê đơn không tuân thủ danh mục thuốc, không tuân thủ phác đồ, hướng dẫn điều trị, không chú ý đến sự tương tác của thuốc trong đơn

+ Cấp phát thuốc: nhầm lẫn, không thực hiện đầy đủ 5 đúng ( đúng thuốc, đúng người bệnh, đúng liều, đúng lúc, đúng cách)

+ Sử dụng thuốc: không đúng cách, không đủ liều, không đúng thời điểm dùng thuốc, khoảng cách dung thuốc, pha chế thuốc, tương tác thuốc; các phản ứng

có hại; tương tác giữa thuốc với thuốc, thuốc với thức ăn, thuốc không có tác dụng

1.2.3 Vai trò của khoa Dƣợc

Theo quy định về tổ chức và hoạt động của khoa Dược bệnh viện ở Thông tư

số 22/2011/TT-BYT ngày 10 tháng 6 năm 2011của Bộ Y tế, Khoa Dược bệnh viện

có vai trò: Lập kế hoạch, cung ứng thuốc bảo đảm đủ số lượng, chất lượng cho nhu cầu điều trị và thử nghiệm lâm sàng nhằm đáp ứng yêu cầu chẩn đoán, điều trị và các yêu cầu chữa bệnh khác Quản lý, theo dõi việc thực hiện các quy định chuyên môn về dược tại các khoa trong bệnh viện Phối hợp với khoa cận lâm sàng và lâm sàng theo dõi, kiểm tra, đánh giá, giám sát việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý đặc biệt là sử dụng kháng sinh và theo dõi tình hình kháng kháng sinh trong bệnh viện [1]

1.3 Tổng quan về phân tích ABC - VEN

Trang 18

Mục đích của phân tích ABC: Cho thấy những thuốc được sử dụng thay thế với lượng lớn mà có chi phí thấp trong danh mục hoặc có sẵn trên thị trường Thông tin này được sử dụng để:

- Lựa chọn những thuốc thay thế có chi phí điều trị thấp hơn

- Tìm ra những liệu pháp điều trị thay thế

- Thương lượng với nhà cung cấp để mua được thuốc với giá thấp hơn

- Lượng giá mức độ tiêu thụ thuốc, phản ánh nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng và từ đó phát hiện những vấn đề chưa hợp lý trong sử dụng thuốc, bằng cách so sánh lượng thuốc tiêu thụ với mô hình bệnh tật

- Xác định phương thức mua các thuốc không có trong danh mục thuốc thiết yếu của bệnh viện

1.3.2 Phân tích VEN

Bảng 1.1: Tiêu chuẩn phân tích VEN đƣợc WHO khuyến cáo [30]:

Đặc tính của thuốc V (Vital) E ( Essential) N

(Non-Essential) Mức độ năng của bệnh

Hiệu quả điều trị của thuốc

Chứng minh không hiệu

quả

Các bước thực hiện phân tích VEN theo Bộ Y tế [22]:

- Bước 1: Từng thành viên hội đồng sắp xếp các nhóm thuốc theo 3 loại V, E,

N

- Bước 2: Tập hợp và thống nhất kết quả hội đồng

Trang 19

- Bước 3: Lựa chọn và loại bỏ những phương án điều trị trùng lặp

- Bước 4: Xem xét những thuốc thuộc nhóm N và hạn chế mua hoặc loại bỏ những thuốc không có nhu cầu điều trị

- Bước 5: Xem xét lại số lượng mua dự kiến, mua thuốc nhóm V, E trước nhóm N và đảm bảo thuốc nhóm V và E có một lượng dự trữ an toàn

- Bước 6: Giám sát đơn đặt hàng và lượng tồn kho của nhóm V và E chặt chẽ hơn nhóm N

Tiêu chí phân loại V, E, N theo WHO việc phân loại các thuốc vào nhóm

“N” khá dễ dàng, nhưng khó để phân loại nhóm “V” và “E” Đôi khi có thể phân loại thành thuốc thiết yếu và không thiết yếu Trong đó thuốc thiết yếu là thuốc đảm bảo đáp ứng nhu cầu chữa bệnh của đa số bệnh nhân

Ý nghĩa của phân tích VEN [4], [29]:

- Phân tích VEN là một phương pháp đặc biệt giúp cho nhà quản lý Bệnh viện đưa ra ưu tiên mua sắm và dự trữ thuốc

- Kết quả phân tích VEN giúp xác định những chính sách ưu tiên cho việc lựa chọn mua, mua sắm, sử dụng thuốc, quản lý hàng tồn kho và xác định sử dụng thuốc với giá cả phù hợp

- Về lựa chọn thuốc: Thuốc V, E nên ưu tiên lựa chọn đặc biệt khi ngân sách hạn hẹp

- Về mua sắm thuốc: Các thuốc V, E cần phải kiểm soát thường xuyên khi đặt hàng và dự trữ thường xuyên nhóm này, giảm dự trữ thuốc không cần thiết Nếu ngân sách hạn hẹp thì việc sử dụng phân tích VEN được dùng để đảm bảo số lượng các thuốc V, E được mua đầy đủ trước tiên Sau đó sẽ lựa chọn nhà cung cấp đáng tin cậy để mua thuốc thiết yếu Đối với nhà cung cấp mới có thể thử mua các thuốc không thiết yếu trước

- Về sử dụng thuốc: Theo dõi kiểm soát sử dụng thuốc, đưa ra các kiến nghị về

sử dụng thuốc V và E, xem xét sử dụng thuốc không thiết yếu

- Về dự trữ: Chú ý đặc biệt lưu trữ các thuốc V, E có một lượng tồn kho an toàn nhất định, tránh trường hợp thiếu thuốc

Trang 20

Nhóm III gồm 1 nhóm: CN là các thuốc ít quan trọng

1.4 Các nghiên cứu liên quan

1.4.1 Nghiên cứu đánh giá sử dụng thuốc tại bệnh viện thông qua phân tích ABC - VEN

1.4.1.1 Nghiên cứu trên thế giới

Nghiên cứu của Green Terry Kathleen Holloway, Carandang Edelisa, Hogerzeil Hans, và Lee David Laing Richard (năm 2003) tại Ấn Độ sử dụng phân tích ABC để phân tích danh mục thuốc bệnh viện nhằm xác định các nhóm cần kiểm soát nghiêm ngặt trong số 421 thuốc trong danh mục Kết quả cho thấy, tỷ lệ các thuốc theo nhóm A,B,C tương ứng là 13,8%; 21,9%; 64,4% về số khoản mục và 70%; 20%; 10% về giá trị trong toàn bộ ngân sách thuốc, từ đó chỉ ra các thuốc cần kiểm soát, hoặc thay thế[27]

Còn tại Pháp phân tích ABC được thực hiện qua nhiều giai đoạn, đầu tiên là các thuốc đắt tiền (60-80% ngân sách) để thực hiện tốt hợp đồng mua bán Sau đó đến các thuốc đặc biệt (15% ngân sách) là các thuốc chỉ có mặt tại Bệnh viện được HĐT&ĐT lựa chọn, khó thay đổi về giá Đối với các thuốc Generic được mua theo hình thức đấu thầu cạnh tranh [27]

Theo nghiên cứu của Zainutdinov, S.H (năm 2009), kết quả phân tích ABC được thực hiện tại một bệnh viện điều trị nhiễm khuẩn ruột vào năm 2007 cho thấy

Trang 21

tỉ lệ (tính theo giá trị ) của các A, B, C như sau: nhóm A (67,6%), nhóm B (26,1%)

và nhóm C (6,3 %) tương ứng tỷ lệ theo chủng loại là 14%, 23% và 63% [31] Kết quả phân tích VEN cho thấy sử dụng 49,5% nhóm thuốc V (tối cần), 41,2% nhóm E (thiết yếu) và 9,3% nhóm N (không thiết yếu) Theo kết quả này, rõ ràng là nên xem xét lại cấu trúc của các loại thuốc mua theo định hướng gia tăng ngân sách theo hướng tăng tỷ trọng của các loại thuốc tối cần và thiết yếu [31]

Kết quả nghiên cứu của Devnani, M., A Gupta, and R Nigah (năm 2010) Phân tích ABC và VEN của Cửa hàng Dược phẩm của Viện Nghiên cứu, Nghiên cứu và Chăm sóc Sức khỏe Đại học Ấn Độ, cho kết quả: Phân tích ABC chỉ ra rằng 13,8%, 21,9%, 64,4% chủng loại thuốc theo A,B, C đã sử dụng 70%, 20%, 10,1% toàn bộ ngân sách thuốc Phân tích VEN chỉ ra 12,1%, 59,4%, 28,5% chủng loại theo V, E, N đã sử dụng 17,1%, 72,4%, 10,5% toàn bộ ngân sách thuốc Kỹ thuật phân tích ABC - VEN thực hiện hàng ngày nhằm tối ưu nguồn lực và loại trừ tình trạng hết hàng tại Khoa Dược bệnh viện trong nghiên cứu trên [26]

1.4.1.2 Nghiên cứu tại Việt Nam

Nghiên cứu của Hoàng Thị Minh Hiền (2012) về “Hoạt động cung ứng thuốc tại bệnh viện Hữu Nghị - thực trạng và 1 số giải pháp” Các thành viên HĐT&ĐT đã tiến hành phân tích VEN các thuốc trong nhóm A trong ba năm 2008-2010 Các thuốc nhóm A được các thành viên phân tích nằm trong nhóm V và E chiếm tỷ trọng cao về số loaị thuốc Nhóm N chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ (5- 7% số loại thuốc) Trong ba năm các thuốc nhóm N chiếm tỷ trọng 4,77%, 4,03% và 2,34% giá trị tiêu thụ, khối lượng tiêu thụ chiếm 13- 27% trong nhóm A Các thuốc N trong nhóm A chiếm tỷ trọng số lượng tiêu thụ cao, giá trị tiêu thụ lớn trong khi tác dụng không rõ rệt Sau khi có các số liệu về chủng loại, giá trị tiêu thụ, số lượng tiêu thụ của các thuốc không thiết yếu, đề tài sẽ đề xuất HĐT&ĐT can thiệp trong sử dụng thuốc như thông tin cho các bác sỹ về tác dụng của các thuốc, giám sát hạn chế kê đơn, giảm ngân sách cho các thuốc nhóm N; tăng ngân sách cho các thuốc nhóm V và E giúp sử dụng hiệu quả nguồn kinh phí hạn hẹp của bệnh viện [10]

Nghiên cứu của Huỳnh Hiền Trung phân tích ABC cũng cho thấy việc áp dụng giải pháp can thiệp từ 2006-2008 đã làm cho nhóm thuốc A giảm từ 69,9%

Trang 22

xuống còn 65,5% và từ 9,2% theo chủng loại trước can thiệp chỉ còn 4,3% sau can thiệp, với phân tích VEN đã làm cho nhóm thuốc N giảm từ 10,8% xuống còn 7% theo giá trị Trong phân tích kết hợp ABC-VEN làm cho nhóm thuốc I giảm từ 71,3% xuống còn 67,7% theo giá trị, từ 14,8% theo chủng loại trước can thiệp chỉ còn 9,1% sau can thiệp, nhóm II giảm từ 25,8% xuống còn 20,4% theo giá trị, từ 57,3% theo chủng loại trước can thiệp chỉ còn 41,6% sau can thiệp, nhóm III giảm

từ 3% xuống còn 1,3% theo giá trị, từ 27,9% theo chủng loại trước can thiệp chỉ còn 11,5% sau can thiệp [21]

Nghiên cứu của Thái Phương Phiên (2018) về “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Thuận năm 2017” kết quả phân tích ABC - VEN cho thấy trong các nhóm I, II, III, nhóm I chiếm lên đến 75,56% giá trị sử dụng Nghiên cứu khuyến nghị bệnh viện cần ưu tiên đặt mua các thuốc nhóm I để giữ ổn định ngân sách hàng năm và luôn sẵn có trong kho để phục vụ cho công tác chữa bệnh [14]

Nghiên cứu của Vũ Thị Hương (2012), “Đánh giá hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong xây dựng và thực hiện danh mục thuốc tại một số bệnh viện

đa khoa” kết quả phân tích ABC danh mục thuốc sử dụng năm 2009 cho thấy: số khoản mục thuốc chiếm 70% tổng giá trị sử dụng (nhóm A) của các bệnh viện đều nằm trong khoảng từ 11,0% đến 13,1% tổng số khoản mục thuốc, trung bình là 11,7% ± 0,6, như vậy là hợp lý 20% tổng giá trị sử dụng thuốc (nhóm B) nằm trong khoảng từ 16% đến 21,2% số lượng thuốc (trung bình 18,9% ± 2,0%) và 10% tổng giá trị sử dụng thuốc (nhóm C) nằm trong khoảng từ 65,7% đến 72,8% số lượng thuốc (trung bình 69,2% ± 2,1%) Nghiên cứu đánh giá các bệnh viện đa khoa chưa thực sự quan tâm đến việc sử dụng thuốc sản xuất trong nước, thuốc mang tên gốc, nên giá trị thuốc sản xuất trong nước chỉ chiểm chiếm 35% giá trị sử dụng, thuốc mang tiên gốc chỉ chiếm tỷ lệ 22,3% [13]

Nghiên cứu của Phạm Hoàng Chương (2015) về “Phân tích hoạt động tồn trữ, cấp phát và sử dụng thuốc tại Bệnh viện đa khoa huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang năm 2014” cho thấy 75,23% ngân sách vớigiá trị 10.380.709.336 VNĐ được phân bổ cho 19,42% của tổng nhu cầu thuốc (hạng A) với 68 thuốc; 16,57% ngân

Trang 23

sách với giá trị 2.286.432.988 VNĐ được phân bổ cho 16% tổng nhu cầu thuốc (hạng B) với 56 thuốc; còn lại 8,2% ngân sách với giá trị 1.131.487.660 VNĐ được phân bổ cho 64,58% tổng nhu cầu thuốc (hạng C) với 226 thuốc Nghiên cứu nhân định: bệnh viện cũng đã mua sắm tương đối tập trung vào các thuốc hay được sử dụng nhiều nhất trong điều trị, đây là các thuốc có giá trị và số lượng sử dụng lớn trong bệnh viện Chính vì thế cần ưu tiên trong mua sắm, nhưng đồng thời cũng cần

có sự quản lý chặt chẽ các thuốc thuộc phân hạng A này[6]

Nghiên cứu của Cao Thị Thúy (2016) về “Phân tích cơ cấu danh mục thuốc

sử dụng tại Trung tâm Y tế Nghĩa Đàn năm 2015” với kết quả: các thuốc nhóm A chiếm 78,7% tổng giá trị sử dụng thuốc với số lượng chiếm 13,4% tổng số lượng thuốc của trung tâm Trong nhóm thuốc A, thuốc nội chiếm tỷ lệ chủ yếu với 73,5%

về số lượng và 68,1% về giá trị sử dụng.Thuốc V chiếm có 68 khoản mục chiếm 26,9%, giá trị sử dụng chiếm 16,5% Thuốc N gồm 20 khoản mục chiếm 7,9%, giá trị sử dụng chiếm 15,1% Thuốc nhóm E gồm 165 khoản mục chiếm tỷ lệ cao nhất 65,2% và giá trị sử dụng chiếm 68,4% Các thuốc AN còn chiếm một tỷ lệ lớn trong danh mục sử dụng, mặc dù chỉ chiếm 2,4% về số lượng nhưng chiếm đến 12,7% về giá trị sử dụng Trong các thuốc AN chủ yếu là các thuốc vitamin và khoáng chất, các thuốc hỗ trợ điều trị Nghiên cứu nhận định: Việc dành ra một khoản ngân sách lớn cho các loại thuốc này đã gây ra tình trạng lãng phí, dẫn đến không còn nguồn

để đầu tư cho các thuốc tối cần và thiết yếu khác[18]

1.4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng thuốc tại bệnh viện

1.4.2.1 Yếu tố thuộc bệnh viện

- Vai trò của Hội đồng thuốc và Điều trị: Nghiên cứu của Nguyễn Văn Thuận

và các cộng sự năm 2015, nghiên cứu về Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng và đánh giá công tác quản lý, sử dụng thuốc tại Bệnh viện Quân y 5, giai đoạn 2009 – 2011 cho thấy,Hội đồng Thuốc và Điều trị là đơn vị chủ trì xây dựng danh mục thuốc nên có ảnh hưởng lớn đến việc sử dụng thuốc tại bệnh viện Nghiên cứu cũng cho thấy mặc

dù HĐT&ĐT tại bệnh viện đã thực hiện được đầy đủ các chức năng nhiệm vụ được quy định (xây dựng các quy định cơ bản về cung ứng, quản lý, sử dụng thuốc, xây dựng, sửa đổi và cập nhật danh mục thuốc bệnh viện, tổ chức bình bệnh án, kiểm tra

Trang 24

chất lượng thuốc tại Khoa Dược…), tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại (giám sát kê đơn và sử dụng thuốc chưa thường xuyên, chưa thực sự điều chỉnh được sử dụng thuốc…) Vì vậy, vẫn còn hiện tượng lạm dụng thuốc điều trị trong một số ít trường hợp [17]

Kết quả nghiên cứu của Vũ Thị Hương năm 2012 về Đánh giá hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong xây dựng và thực hiện danh mục thuốc tại một số bệnh viện đa khoa cho thấy Hội đồng thuốc và điều trị tại các bệnh viện là yếu tố quyết định đến danh mục thuốc bệnh viện Tuy nhiên, mặc dù đã tiến hành các bước lựa chọn thuốc nhưng do các yếu tố chủ quan (chưa phân tích kỹ tình hình sử dụng thuốc năm trước, chưa đánh giá đầy đủ các thông tin thu thập) và các yếu tố khách quan (nguồn thông tin không đầy đủ và không cập nhật, không được hỗ trợ kinh phí hoạt động) nên danh mục thuốc bệnh viện vẫn chưa là công cụ giúp định hướng và điều tiết chi phí trong điều trị [13]

- Mô hình bệnh tật của bệnh viện là số liệu thông kê về bệnh tật thuộc bệnh viện trong khoảng thời gian nhất định Tùy theo hạng và tuyến bệnh viện mà mô hình bệnh tật bệnh viện có thể thay đổi (do hạng bệnh viện liên quan tới kinh phí,

kỹ thuật điều trị, danh mục thuốc sử dụng, biên chế), từ đó tác động đến danh mục thuốc và việc sử dụng thuốc tại bệnh viện[10]

- Phác đồ điều trị: là tài liệu hướng dẫn cho thầy thuốc thực hành những công việc cụ thể và không thể thiếu trong quá trình điều trị Theo Tổ chức y tế thế giới một hướng dẫn thực hành điều trị về thuốc bao gồm đủ 4 thông số: hợp lý, an toàn, hiệu quả, kinh tế, do đó danh mục thuốc của BV cần dựa vào các phác đồ điều trị trong nước, nước ngoài Không có phác đồ điều trị thì không thể xây dựng danh mục thuốc một cách khoa học [10],[ 28]

- Vai trò của khoa Dược: Kết quả nghiên cứu của Thái Phương Phiên năm

2018 về Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Thuận năm 2017, cho thấy: khoa Dược chưa phổ biến, cập nhật các kiến thức chuyên môn liên quan đến thuốc và sử dụng thuốc cho cán

bộ y tế, tham gia công tác cảnh giác Dược, theo dõi tập huấn các báo cáo về tác dụng không mong muôn và theo dõi phản ứng có hại của thuốc cho toàn thể nhân viên BV Chưa thực hiện tốt công tác Dược lâm sàng trong giám sát việc kê đơn

Trang 25

thuốc nội trú và ngoại trú, thông tin tương tác thuốc tại các buổi sinh hoạt khoa học [14]

- Các yếu tố khác: Trình độ chuyên môn, kinh nghiệm của bác sĩ; triển khai các dịch vụ kỹ thuật mới; khả năng chi trả của người bệnh, việc thanh toán hay không thanh toán Bảo hiểm y tế, việc HĐT&ĐT, khoa Dược thực hiện những quy định của Bộ Y tế như thực hiện công tác Dược lâm sàng và thông tin thuốc… là những căn cứ quan trọng trong việc xây dựng danh mục thuốc của bệnh viện [10],[ 28]

1.4.2.2 Yếu tố thuộc chính sách

Danh mục thuốc chủ yếu do Bộ Y tế ban hành từ năm 2015, chưa được chỉnh sửa bổ sung kịp thời trong khi trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, dẫn đến gây khó khăn cho các cơ sở y tế trong việc xây dựng danh mục thuốc đáp ứng trong điều trị và thực hiện các kỹ thuật mới về phục vụ người bệnh được tốt hơn[14]

Danh mục thuốc cung ứng trong bệnh viện là một tiền đề rất quan trọng cho việc sử dụng hợp lý, an toàn thuốc tại các khoa lâm sàng Chỉ những thuốc thực sự cần thiết mới được đưa vào danh mục, tránh đưa những thuốc không có hiệu quả điều trị vào trong danh mục vì có nhiều thuốc trong danh mục sẽ khó kiểm soát và

có thể gây hại cho người bệnh [12]

Danh mục thuốc được Bộ Y tế phân cấp theo hạng BV, như Alendronat chỉ được sử dụng cho BV hạng I, nếu là BV hàng II khi tiếp nhận nhiều bệnh nhân đến khám và điều trị loãng xương đã gặp phải khó khăn khi sử dụng thuốc trên trong điều trị nên phải chuyển bệnh nhân lên tuyến trên Điều này cũng góp phần gây quá tải cho tuyến trên đồng thời hạn chế năng lực phát triển chuyên môn của tuyến dưới [14]

Chính sách của Bảo hiểm xã hội Việt nam thay đổi làm ảnh hưởng đến sử dụng thuốc như: Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã ban hành các văn bản có ảnh hưởng đến việc sử dụng một số mặt hàng thuốc đã có trong danh mục thuốc BV như Alphachymotryppsin, Piaseledine, Mypara đã phải thay đổi chỉ định dùng hoặc không được tiếp tục sử dụng [14]

Trang 26

1.5 Vài nét về Bệnh viện Lao và bệnh Phổi Tiền Giang

1.5.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Tiền thân của Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Tiền Giang là khoa Lao phổi thuộc Bệnh viện Đa Khoa Trung Tâm Tiền Giang Năm 1998 được tách ra thành Trung Tâm Lao Tiền Giang và đến 2003 thành Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Tiền Giang

- Tên đơn vị: Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Tiền Giang

- Địa chỉ: 504/1A, ấp Long Hưng, xã Phước Thạnh, TP Mỹ Tho, Tiền Giang

- Điện thoại: (0273)3 855 443, Fax: (0273)3 856 851

- Cơ quan chủ quản: Sở Y tế Tiền Giang

Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Y tế, chịu sự quản lý, chỉ đạo và hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra của Giám Đốc Sở Y tế về nghiệp

vụ chuyên môn, kinh phí và nhân lực Là một cơ sở khám, chữa bệnh tại chổ và chỉ đạo tuyến huyện, xã Thực hiện các nhiệm vụ: Cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh, đào tạo cán bộ, nghiên cứu khoa học, chỉ đạo tuyến, phòng bệnh, hợp tác quốc tế, quản

1.5.2 Mô hình bệnh tật, chức năng và nhiệm vụ

- Bệnh viện Lao và Bệnh phổi là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Y tế, chịu

sự quản lý, chỉ đạo và hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra của Giám Đốc Sở Y tế về nghiệp vụ chuyên môn, kinh phí và nhân lực Là một cơ sở khám, chữa bệnh tại chổ

và chỉ đạo tuyến huyện, xã

- Cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh: Là nơi tiếp nhận tất cả các trường hợp về lao và bệnh phổi từ ngoài vào hoặc các bệnh viện khác chuyển đến cấp cứu khám bệnh, chữa bệnh nội trú hoặc ngoại trú theo chế độ chính sách Nhà nước quy định

Trang 27

- Đào tạo cán bộ: Tổ chức đào tạo chuyên khoa về bệnh lao và bệnh phổi cho tuyến cơ sở

- Nghiên cứu khoa học: Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi là nơi thực hiện các đề tài nghên cứu khoa học cấp cơ sở, ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào việc khám bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người bệnh

- Hệ thống chỉ đạo tuyến Bệnh viện Lao và bệnh Phổi: Được tổ chức theo tuyến kỹ thuật, tuyến trên có trách nhiệm chỉ đạo kỹ thuật cho tuyến dưới ( tập huấn, kiểm tra giám sát…)

- Phòng bệnh: Song song với công tác khám chữa bệnh thì công tác phòng bệnh là nhiệm vụ quan trọng của Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Tuyên truyền giáo dục sức khỏe cho cộng đồng về chăm sóc sức khỏe ban đầu trong cộng đồng Phối hợp với các cơ sở y tế dự phòng thực hiện thường xuyên nhiệm vụ phòng chống dịch

- Hợp tác quốc tế: Hợp tác với các tổ chức hay cá nhân theo đúng quy định của Nhà nước

- Quản lý kinh tế: Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Nhà nước về thu, chi ngân sách Bệnh viện, từng bước thực hiện hạch toán chi phí về khám bệnh, chữa bệnh Có kế hoạch sử dụng hiệu quả ngân sách của bệnh viện, từng bước thực hiện hạch toán chi phí về khám bệnh, chữa bệnh Có kế hoạch sử dụng hiệu quả ngân sách Nhà nước cấp Tạo thêm ngồn kinh phí từ các dịch vụ y tế như: Viện phí, đầu tư nước ngoài

HĐT&ĐT bệnh viện có nhiệm vụ: Xây dựng các quy định về quản lý và sử dụng thuốc, xây dựng danh mục thuốc dùng trong bệnh viện, xác dịnh các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc Khoa dược có nhiệm vụ: Lập kế hoạch, cung ứng thuốc, theo dõi, quản lý sử dụng thuốc, đầu mối tổ chức triển khai hoạt động của HĐT&ĐT, Bảo quản thuốc theo đúng nguyên tắc “Thực hành tốt bảo quản thuốc”, công tác dược lâm sàng và thông tin thuốc, quản lý, theo dõi việc thực hiện các quy định chuyên môn về dược tại các khoa trong bệnh viện, Phối hợp với khoa cận lâm sàng và lâm sàng theo dõi, kiểm tra, đánh giá, giám sát việc sử dụng thuốc an toàn, tham gia chỉ đạo tuyến

Trang 28

Kết quả khám bệnh, chữa bệnh thực hiện trong năm 2017 -2018:

- Năm 2017:

+ Tổng số lượt khám bệnh ngoại trú: 32.500 lượt

+ Tổng số bệnh nhân điều trị nội trú: 1.758 bệnh nhân

+ Tổng số ngày điều trị nội trú: 19.426

+ Ngày điều trị bình quân cho 1 bệnh nhân: 11 ngày

+ Công suất sử dụng giường bệnh: 88,87%

- Năm 2018:

+ Tổng số lượt khám bệnh ngoại trú: 33.260 lượt

+ Tổng số bệnh nhân điều trị nội trú: 1.824 bệnh nhân

+ Tổng số ngày điều trị nội trú: 20.165

+ Ngày điều trị bình quân cho 1 bệnh nhân: 11 ngày

+ Công suất sử dụng giường bệnh: 90,95%

Phân tích ABC và VEN, rồi kết hợp thành ma trận ABC/VEN, tứ kết quả đó đánh giá phân tích đánh giá việc sử dụng thuốc, hiện tại chưa được bệnh viện quan thực hiện

Trang 29

- Cơ cấu giá trị sử dụng theo phân tích ABC

- Cơ cấu giá trị sử dụng theo phân tích VEN

- Cơ cấu giá trị sử dụng theo phân tích ABC/VEN

- Trình độ chuyên môn, kinh nghiệm của bác sĩ;

- Triển khai các dịch vụ kỹ thuật mới;

- Giá thuốc, khả năng chi trả của người bệnh

Yếu tố chính sách nhà nước

- Quy định của Bộ Y tế: Chính sách quốc gia về thuốc, Hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở có giường bệnh, danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu, thông tin dược về chỉ định, tác dụng phụ, thu hồi thuốc

- Chính sách Bảo hiểm xã hội: chấp nhận thanh toán/ thanh toán một phần/ không thanh toán 1 loại thuốc

- Các buổi hội thảo,

thông tin thuốc

Trang 30

Ninh Thuận năm 2017” của Thái Phương Phiên, năm 2018 [14], để làm cơ sở xây dựng khung lý thuyết cho nghiên cứu

Trang 31

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu định lượng: sử dụng số liệu thứ cấp bao gồm: báo cáo sử dụng thuốc năm 2017 và năm 2018, cơ sở dữ liệu (phần mềm quản lý bệnh viện) liên quan đến thuốc sử dụng tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Tiền Giang năm 2017 và năm 2018

- Nghiên cứu định tính:

+ Lãnh đạo bệnh viện (Chủ tịch HĐT&ĐT)

+ Thành viên HĐT&ĐT

+ Nhân viên Khoa Dược

+ Trưởng Khoa lâm sàng

+ Điều dưỡng trưởng khoa Lâm sàng và điều dưỡng hành chính khoa Lâm sàng

2.2 Thời gian - địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: Từ ngày 04/2019 đến ngày 08/2019

- Địa điểm: Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Tiền Giang

2.3 Thiết kế - nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính

- Cấu phần định lượng nhằm đánh giá sử dụng thuốc tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Tiền Giang, giai đoạn 2017 - 2018 thông qua phân tích ABC - VEN

- Cấu phần định tính được tiến hành sau khi có kết quả sơ bộ của nghiên cứu định lượng, nhằm cung cấp thông tin để phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng thuốc tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Tiền Giang

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.4.1 Nghiên cứu định lượng

- Số liệu thứ cấp: Toàn bộ báo cáo sử dụng thuốc cho bệnh nhân nội trú và ngoại trú năm 2017 và năm 2018; cơ sở dữ liệu (phần mềm quản lý bệnh viện) liên quan đến thuốc sử dụng tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Tiền Giang năm 2017 và năm 2018

Trang 32

2.4.2 Nghiên cứu định tính:

Sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích, lựa chọn những đối tượng đang phụ trách, công việc trực tiếp có liên quan hoặc có nhiều thông tin về chủ đề nghiên cứu với cỡ mẫunhư sau:

- Lãnh đạo BV đồng thời là chủ tịch HĐT&ĐT: 01 cuộc PVS

-Thành viên HĐT&ĐT:03 cuộc PVS đối với 03 thành viên của HĐT&ĐTĐT, trong đó có 1 thành viên là thư ký HĐT&ĐT

- Trưởng khoa lâm sàng: tất cả trưởng khoa lâm sàng là khoa Khám bệnh hồi sức cấp cứu, trưởng khoa Lao- HIV, trưởng khoa Bệnh Phổi gồm 03 cuộc PVS (Chọn mẫu toàn bộ)

- Nhân viên khoa Dược: PVS 01 nhân viên thống kê báo cáo khoa Dược và

01 cuộc TLN ( 03 người tham gia) với các dược sĩ khoa Dược

- Điều dưỡng khoa Lâm sàng: 01 cuộc TLN (06 người tham gia) với các Điều dưỡng trưởng và Điều dưỡng hành chính 03 khoa Lâm sàng

Tổng số mẫu nghiên cứu định tính: 08 cuộc PVS và 02 cuộc TLN, với tổng

số 17 người tham gia

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Thu thập số liệu định lượng

Số liệu định lượng được thu thập bằng Biểu mẫu thu thập số liệu: Phụ lục 2

Số liệu thứ cấp đã có sẵn thông tin: Tên thuốc, Hoạt chất - nồng độ - hàm lượng, đơn vị tính, đơn giá, số lượng sử dụng Dựa vào yêu cầu phân tích ABC – VEN, bổ sung các thông tin như: giá trị tiền mỗi thuốc, phần trăm giá trị mỗi thuốc, tác dụng dược lý, nguồn gốc xuất xứ, đường dùng

Trang 33

- Phỏng vấn sâu dựa theo bộ câu hỏi đã được soạn sẵn với đối tượng tham gia nhằm làm rõ các mục tiêu nghiên cứu Tổng cộng có 08 cuộc phỏng vấn sâu và 01 cuộc thảo luận nhóm cho 04 nhóm đối tượng: nhóm lãnh đạo; nhóm thành viên HĐT&ĐT; nhóm trưởng khoa lâm sàng; nhóm nhân viên (chọn có chủ đích)

- Thời gian của cuộc phỏng vấn sâu kéo dài 20 đến 40 phút

- Địa điểm phỏng vấn tùy theo sự lựa chọn của người tham gia nghiên cứu (nơi yên tĩnh, chỉ có người phỏng vấn và người tham gia)

2.6 Các biến số và chủ đề nghiên cứu

2.6.1 Các biến số trong nghiên cứu định lƣợng

Tóm tắt các biến số chính trong nghiên cứu định lượng được trình bày trong bảng :

Bảng chi tiết các các biến số chính trong nghiên cứu định lượng được trình bày trong phụ lục 1

2.6.2 Các chủ đề trong nghiên cứu định tính

Sau khi có kết quả phân tích định lượng, tiến hành xây dựng bộ câu hỏi cụ thể các yếu tố ảnh hưởng theo các chủ đề:

- Các yếu tố ảnh hưởng thuộc bệnh viện: Hoạt động của HĐT&ĐT, mô hình bệnh tật, triển khai các dịch vụ kỹ thuật mới, phác đồ điều trị, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm của Bác sĩ, hoạt động của khoa Dược, giá thuốc, khả năng chi trả của người bệnh

- Các yếu tố ảnh hưởng thuộc chính sách nhà nước: chính sách của Bộ Y tế, của Bảo hiểm xã hội

1 Thuốc nhóm A, B, C

2 Cơ cấu nhóm thuốc A theo tác dụng dược lý

3 Cơ cấu nhóm thuốc A theo nguồn gốc xuất xứ

4 Cơ cấu nhóm thuốc A theo đường dùng

5 Thuốc nhóm V, E, N

6 Ma trận ABC-VEN

Trang 34

- Các yếu tố ảnh hưởng thuộc công ty Dược: Trình dược viên, tình hình cung ứng thuốc, các buổi hội thảo, thông tin thuốc

Các bước phân tích ABC [20]

- Bước 1: Trích xuất các thông tin sau từ báo cáo sử dụng thuốc điều trị năm 2017 và năm 2018 của Bệnh viện Lao và bệnh Phổi Tiền Giang: tên thuốc, đơn vị tính, đơn giá, số lượng sử dụng

- Bước 2: Tính số tiền cho mỗi thuốc bằng cách nhân đơn giá với số

lượng Tổng số tiền sẽ bằng tổng của lượng tiền cho mỗi thuốc

- Bước 3: Tính giá trị % cho mỗi thuốc bằng cách lấy số tiền của mỗi

thuốc chia cho tổng số tiền

- Bước 4: Sắp xếp lại các thuốc theo thứ tự % giảm dần

- Bước 5: Tính giá trị % tích lũy của tổng giá trị của mỗi thuốc: bắt đầu với % giá trị thuốc số 1 sau đó cộng với % giá trị thuốc tiếp theo trong danh sách Tiếp tục tiến hành như vậy cho đến hết

- Bước 6: Phân hạng ABC đối với từng thuốc:

+ Thuốc hạng A: Thuốc có giá trị chiếm 75 – 80 % so với tổng giá trị tiền thuốc

+Thuốc hạng B: Thuốc có giá trị chiếm từ 15 - 20% so với tổng giá trị tiền thuốc

+ Thuốc hạng C: Thuốc có giá trị chiếm từ 5 - 10% so với tổng giá trị tiền thuốc

Các bước phân tích VEN:

Căn cứ vào cẩm nang hướng dẫn thực hành Hội đồng thuốc và điều trị của WHO (2004) và tiến hành 01 cuộc họp HĐT&ĐT sắp xếp thuốc theo 3 loại V, E, và N [22]:

Trang 35

- Bước 1: Từng thành viên hội đồng sắp xếp các nhóm thuốc theo 3 loại V, E,

N

- Bước 2: Tập hợp và thống nhất kết quả hội đồng

- Bước 3: Lựa chọn và loại bỏ những phương án điều trị trùng lặp

- Bước 4: Xem xét những thuốc thuộc nhóm N và hạn chế mua hoặc loại bỏ những thuốc không có nhu cầu điều trị

- Bước 5: Xem xét lại số lượng mua dự kiến, mua thuốc nhóm V, E trước nhóm N và đảm bảo thuốc nhóm V và E có một lượng dự trữ an toàn

- Bước 6: Giám sát đơn đặt hàng và lượng tồn kho của nhóm V và E chặt chẽ hơn nhóm N

Sau đó căn cứ vào báo cáo sử dụng thuốc tính tỷ lệ từng thuốc theo VEN

Phân tích ma trận ABC – VEN:

Dữ liệu các cuộc phỏng vấn sâu sau khi thu thập dưới dạng máy ghi ghi âm, ghi chép bằng tay và đánh máy, thông tin đối tượng phỏng vấn được mã hóa dưới dạng chữ số

Các dữ liệu được chọn lọc và đưa vào nghiên cứu theo các chủ đề

Trang 36

2.8 Đạo đức trong nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu thiết thực được lãnh đạo bệnh viện quan tâm ủng hộ Và được Hội đồng Đạo đức – Trường Đại học Y tế công cộng thông qua trước khi tiến hành triển khai, quyết định số: 233/2019/YTCC-HD3 ngày 23 tháng 4 năm 2019 của Hội đồng đạo đức trong NCYSH về việc chấp thuận các vấn đề đạo đức NCYSH (Phụ lục 12)

Các nhóm lãnh đạo; nhóm thành viên HĐT&ĐT; nhóm trưởng khoa lâm sàng; nhóm nhân viên có liên quan hiểu được mục tiêu, nội dung nghiên cứu, đối tượng

ký vào giấy đồng ý tham gia nghiên cứu, chỉ tiến hành khi có sự chấp nhận hợp tác tham gia của các đối tượng nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu có một vài vấn đề nhạy cảm, có thể ảnh hưởng đến tính trung thực của thông tin thu thập được, nên mọi thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu được giữ kín Các số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu được phản hồi với lãnh đạo bệnh viện sau khi kết thúc nghiên cứu, và có thể làm cơ sở cho Bệnh viện Lao và bệnh Phổi Tiền Giang quản

lý trong việc sử dụng thuốc

Trang 37

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đánh giá sử dụng thuốc tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Tiền Giang giai đoạn 2017 - 2018 thông qua sử dụng bộ công cụ ABC – VEN

3.1.1 Cơ cấu giá trị sử dụng theo phân tích ABC

3.1.1.1 Phân tích chung

Kết quả phân tích ABC: Phụ lục 9

Bảng 3.1: Cơ cấu danh mục thuốc phân tích ABC

Số tiền (Triệu VNĐ)

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Tổng 2.471,8 100 2.511,2 100 230 100 239 100 Kết quả trong bảng cho thấy:

Năm 2017, danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Tiền Giang gồm 230 thuốc, tổng giá trị sử dụng là 2.471,8 triệu đồng, trong đó thuốc nhóm A có giá trị chiếm tỷ lệ 75,6% với số lượng chiếm 17,4% bao gồm 40 thuốc; thuốc nhóm B có giá trị chiếm 15,3% với số lượng chiếm 15,2% bao gồm 35 thuốc; thuốc nhóm C giá trị chiếm 9,1% với số lượng chiếm 67,4% bao gồm 155 thuốc

Tương tự, trong năm 2018 danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Tiền Giang gồm 239 thuốc, tổng giá trị sử dụng là 2.511,2 triệu đồng, trong đó thuốc nhóm A có giá trị chiếm tỷ lệ 75,5% với số lượng chiếm 18,4% bao gồm 44 thuốc ; thuốc nhóm B có giá trị chiếm 15,2% với số lượng chiếm 15,1% bao gồm 36 thuốc; thuốc nhóm C giá trị chiếm 9,3% với số lượng chiếm 66,5% bao gồm 159 thuốc Như vậy trong cả 2 năm 2017 và 2018, các nhóm ABC có cơ cấu đúng theo quy định của Thông tư số 21/2013/TT-BYT, của Bộ Y tế ngày

Trang 38

08/8/2013, về việc Quy định tổ chức và hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện

3.1.1.2 Phân tích cơ cấu nhóm A

Nhóm A là nhóm có giá trị sử dụng cao, chúng ta phân tích nhóm này nhằm lượng giá mức độ tiêu thụ thuốc, phản ánh nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng và từ đó phát hiện những vấn đề chưa hợp lý trong sử dụng thuốc

- Cơ cấu nhóm A theo nhóm tác dụng dƣợc lý

Dựa vào Thông tư 30/2018/TT-BYT ngày 30 tháng 10 năm 2108 của Bộ Y

tế, ta có kết quả các nhóm thuốc theo tác dụng dược lý như sau:

Bảng 3.2:Cơ cấu nhóm A theo nhóm tác dụng dƣợc lý

Nhóm thuốc

Năm 2017 Năm 2018 Năm 2017 Năm 2018

Số tiền (Triệu VNĐ)

Tỷ lệ (%)

Số tiền (Triệu VNĐ)

Tỷ lệ (%)

Số lƣợng

Tỷ lệ (%)

Số lƣợng

Tỷ

lệ (%)

Trang 39

Thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn có giá trị sử dụng cao nhất trong các nhóm thuốc: năm 2017 là 36,2% qua năm 2018 giảm xuống còn 25,1%, trong khi thuốc đường hô hấp giá trị sử dụng năm 2018 tăng hơn năm 2017, cụ thể giá trị sử dụng năm 2017 là 16,5% qua năm 2018 tăng lên 20,8%

Thuốc Hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết: năm 2017 có 04 thuốc giá trị sử dụng chiếm 11,8%, trong đó hoạt chất Methylprednisolon 40mg chiếm 9,6% Năm 2018 có 05 thuốc giá trị sử dụng chiếm 12,4%, trong đó đó hoạt chất Methylprednisolon 40mg chiếm 7,7%

Thuốc đường tiêu hóa giá trị sử dụng năm 2017 chiếm 4,5%, qua năm 2018 tăng lên 11,5% Và Khoáng chất và vitamin giá trị sử dụng năm 2017 chiếm 2,3%, qua năm 2018 tăng lên 9,8%

Trang 40

- Cơ cấu nhóm A theo nguồn gốc xuất xứ

Bảng 3.3: Cơ cấu nhóm A theo nguồn gốc xuất xứ

Tỷ lệ (%)

Số tiền (Triệu VNĐ)

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Sản xuất

trong nước 1.536,7 82,2 1.489,5 78,6 35 87,5 37 84,1 Nhập khẩu 332,6 17,8 405,9 21,4 5 12,5 7 15,9

Tổng 1.869,3 100 1.895,4 100 40 100 44 100 Kết quả trong bảng 3.3 cho thấy thuốc nhập khẩu năm 2018 được sử dụng nhiều hơn so với năm 2017, cả về giá trị sử dụng và số khoản mục, cụ thể: năm

2017 giá trị chiếm tỷ lệ 17,8% với số lượng chiếm 12,5%, năm 2018 giá trị chiếm tỷ

lệ 21,4% với số lượng chiếm 15,9%

- Cơ cấu nhóm A theo đường dùng

Bảng 3.4: Cơ cấu nhóm A theo đường dùng

Số tiền (Triệu VNĐ)

Tỷ

lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Đường

uống

917,5 49,1 995,1 52,5 28 70,0 29 65,9 Đường

tiêm

682,4 36,5 595,4 31,4 9 22,5 11 25,0 Đường

khác

269,4 14,4 304,9 16,1 3 7,5 4 9,1

Tổng 1.869,3 100 1.895,4 100 40 100 44 100

Ngày đăng: 31/01/2021, 15:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w