1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng căng thẳng và các yếu tố ảnh hưởng của điều dưỡng lâm sàng tại hai bệnh viện sản tại thành phố hồ chí minh hiện đang học liên thông tại trường đại học nguyễn tất thành năm 2019

119 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu “Thực trạng căng thẳng và các yếu tố ảnh hưởngcủa điều dưỡng lâm sàng tại hai bệnh viện sản tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện đang học liên thông tại trường Đại học Nguyễn Tất Th

Trang 1

LÊ MINH SANG

THỰC TRẠNG CĂNG THẲNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU DƯỠNG LÂM SÀNG TẠI HAI BỆNH VIỆN SẢN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN ĐANG HỌC LIÊN THÔNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH NĂM 2019

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

MÃ SỐ: 8720802

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

LÊ MINH SANG

THỰC TRẠNG CĂNG THẲNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU DƯỠNG LÂM SÀNG TẠI HAI BỆNH VIỆN SẢN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN ĐANG HỌC LIÊN THÔNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH NĂM 2019

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

MÃ SỐ: 8720802

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: PGS.TS NGUYỄN BÍCH DIỆP

HÀ NỘI, 2019

Trang 3

Để hoàn thành luận văn này tôi xin chân thành cảm ơn:

- Ban giám hiệu, lãnh đạo khoa điều dưỡng và các đồng nghiệp tại trường Đại học Nguyễn Tất Thành đã tạo điều kiện cho tôi được tham gia và hoàn thành khóa học

- Các Thầy, Cô giáo trường Đại học Y tế công cộng đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập

- Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS Nguyễn Bích Diệp - Viện Sức khoẻ nghề nghiệp và Môi trường và NCS Nguyễn Thái Quỳnh Chi - Trường Đại học Y tế công cộng đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn

- Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và tập thể lớp cao học QLBV khóa

10 TP HCM đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Tôi xin trân trọng cám ơn!

Hà Nội, tháng năm 2019

Trang 4

LỜI CẢM ƠN i

ĐẶT VẤN ĐỀ 1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1.2.2 Căn cứ vào nguyên nhân gây căng thẳng 5

1.1.7.2 Căng thẳng nghề nghiệp của điều dưỡng

Trang 5

1.2.1 Trên thế giới 9

1.3 Các nghiên cứu về một số yếu tố liên quan đến căng thẳng của điều

1.4 Giới thiệu thang đo đánh giá mức độ căng thẳng 14

1.5 Tổng hợp một số nghiên cứu sử dụng thang đo DASS 21 và ENSS 16 1.6 Giới thiệu trường Đại học Nguyễn Tất Thành 18

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

Trang 6

2.2.2 Thiết kế nghiên cứu 25

3.1 Thông tin chung của đối tượng tham gia nghiên cứu 33

3.2.1.1 Căng thẳng khi đối mặt với cái chết của người bệnh 35 3.2.1.2 Căng thẳng khi mâu thuẫn với bác sĩ 37 3.2.1.3 Căng thẳng khi chưa có sự chuẩn bị về mặt cảm xúc khi chăm sóc người bệnh

38

Trang 7

dưỡng

3.2.1.5 Căng thẳng do các vấn đề liên quan đến cấp trên 41 3.2.1.6 Căng thẳng do khối lượng công việc 43 3.2.1.7 Căng thẳng do không chắc chắn về hướng điều trị cho người

bệnh

45

3.2.1.8 Căng thẳng do người bệnh và gia đình người bệnh 46 3.2.1.9 Tổng hợp mức độ căng thẳng nghề nghiệp của điều dưỡng 49 3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến căng thẳng của điều dưỡng 50

4.1 Tình trạng căng thẳng nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 55 4.1.1 Căng thẳng khi đối mặt với cái chết của người bệnh 55

4.1.3 Căng thẳng khi chưa có sự chuẩn bị về mặt cảm xúc khi chăm sóc

người bệnh

56

4.1.4 Căng thẳng liên quan đến đồng nghiệp điều dưỡng 57 4.1.5 Căng thẳng do các vấn đề liên quan đến cấp trên 58

4.1.7 Căng thẳng do không chắc chắn về hướng điều trị cho người bệnh 60

Trang 8

4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến căng thẳng của điều dưỡng 62

Một số yếu tố ảnh hưởng đến căng thẳng của điều dưỡng 67

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 10

Bảng 3.2: Mức độ căng thẳng của điều dưỡng khi đối mặt với cái chết của

người bệnh

35

Bảng 3.3: Mức độ căng thẳng của điều dưỡng khi mâu thuẫn với bác sĩ 37

Bảng 3.4: Mức độ căng thẳng của điều dưỡng khi chưa có sự chuẩn bị về

mặt cảm xúc khi chăm sóc người bệnh

39

Bảng 3.5: Mức độ căng thẳng của điều dưỡng do các vấn đề liên quan đến

đồng nghiệp điều dưỡng

40

Bảng 3.6: Mức độ căng thẳng của điều dưỡng do các vấn đề liên quan đến

cấp trên

41

Bảng 3.7: Mức độ căng thẳng của điều dưỡng do khối lượng công việc 43

Bảng 3.8: Mức độ căng thẳng của điều dưỡng do không chắc chắn về hướng điều trị cho người bệnh

45

Bảng 3.9: Mức độ căng thẳng của điều dưỡng do người bệnh và gia đình

người bệnh

46

Trang 11

yếu tố

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1: Mức độ của các nhóm nguyên nhân gây ra căng thẳng nghề

nghiệp

50

Trang 12

Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, sức khỏe tâm thần ngày càng được quan tâm, trong đó căng thẳng là vấn đề khá phổ biến và gây nên nhiều hậu quả nặng nề Điều dưỡng là nghề đặc thù, đặc biệt là điều dưỡng khối lâm sàng là những người

có thời gian tiếp xúc, chứng kiến những bệnh tật, đau đớn của người bệnh cũng như các yếu tố nguy cơ liên quan đến công việc hàng ngày dễ dẫn đến căng thẳng

Nghiên cứu “Thực trạng căng thẳng và các yếu tố ảnh hưởngcủa điều dưỡng lâm sàng tại hai bệnh viện sản tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện đang học liên thông tại trường Đại học Nguyễn Tất Thành năm 2019” đã được tiến hành trong khoảng thời

gian từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2019, với hai mục tiêu (1) Mô tả tình trạng căng thẳng của điều dưỡng lâm sàng tại hai bệnh viện sản và đang học liên thông từ Trung cấp lên Đại học tại trường Đại học Nguyễn Tất Thành năm 2019, (2) Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến căng thẳng của điều dưỡng lâm sàng tại một số bệnh viện và đang học liên thông từ Trung cấp lên Đại học tại trường Đại học Nguyễn Tất Thành năm 2019

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính được tiến hành trên 232 điều dưỡng lâm sàng làm việc tại hai bệnh viện Hùng Vương và Từ Dũ, đang học liên thông từ Trung cấp lên Đại học năm 1 và năm 2 tại trường Đại học Nguyễn Tất Thành Sử dụng bộ câu hỏi ENSS thang đo Likert 4 mức độ để khảo sát mức độ căng thẳng nghề nghiệp của các điều dưỡng theo 8 lĩnh vực Điểm trung bình về căng thẳng nghề nghiệp ở mỗi lĩnh vực được tính và đánh giá theo 3 mức độ (thấp, trung bình và cao) Định tính sử dụng kỹ thuật thảo luận nhóm với 10 điều dưỡng trưởng tua trực

Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ căng thẳng nghề nghiệp của điều dưỡng

ở mức trung bình (Điểm TB 2,14) Trong đó mức độ căng thẳng cao nhất của điều dưỡng là khi phải đối mặt với cái chết của người bệnh (Điểm TB 2,49), kế đến là căng thẳng do người bệnh và gia đình người bệnh (Điểm TB 2,41), căng thẳng do khối lượng công việc (Điểm TB 2,21), căng thẳng do mâu thuẫn với bác sĩ (Điểm

TB 2,15), căng thẳng do chưa có sự chuẩn bị về mặt cảm xúc khi chăm sóc người

Trang 13

bệnh (Điểm TB 2,04), thấp nhất là các vấn đề liên quan đến đồng nghiệp điều dưỡng và các vấn đề liên quan đến cấp trên trực tiếp quản lý (điểm TB 1,89)

Có một số yếu tố ảnh hưởng đến căng thẳng nghề nghiệp của điều dưỡng Yếu tố

cá nhân: tuổi có ảnh hưởng đến căng thẳng nghề nghiệp của ĐD; ĐD nam ít căng

thẳng hơn ĐD nữ; ĐD làm việc ở khoa Hồi sức tích cực, Cấp cứu, Phòng mổ thì căng thẳng nhiều hơn các khoa khác; ĐD có nhiều năm kinh nghiệm trong nghề

nghiệp ít căng thẳng hơn ĐD có ít năm kinh nghiệm Yếu tố gia đình: ĐD có nhà

riêng sẽ ít căng thẳng hơn ĐD chưa có nhà riêng; ĐD có con nhỏ dưới 5 tuổi, chăm sóc người thân già yếu/ bệnh/ tật, là người lo kinh tế chính trong gia đình, mối quan hệ không được hòa hợp trong gia đình sẽ căng thẳng nhiều hơn so với ĐD

không ở trong hoàn cảnh này Yếu tố xã hội: ĐD gặp phải hoặc chứng kiến tình

trạng kẹt xe trên đường hoặc tai nạn giao thông, trộm cắp, cướp giật tại nơi sinh sống hoặc nơi làm việc thì mức độ căng thẳng sẽ nhiều hơn so với ĐD gặp phải

hoặc chứng kiến những tình cảnh này Yếu tố học tập: ĐD vừa đi làm vừa đi học

thì căng thẳng sẽ cao hơn so với ĐD chỉ có đi làm

Trang 14

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra khái niệm: “Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ là không có bệnh hoặc tật” [39] Qua đó có thể thấy sức khỏe tinh thần là một trong những thành tố quan trọng cấu thành sức khỏe của mỗi cá nhân Loài người đã trải qua các giai đoạn của bệnh từ các bệnh truyền nhiễm, đến các bệnh về thể chất và đang chuyển sang giai đoạn bệnh về tinh thần trong thế kỷ XXI Căng thẳng liên quan đến nghề nghiệp là một trong những căn bệnh hàng đầu gây chấn thương đến người lao động Những nghiên cứu mới đây đã chỉ ra hậu quả xấu của tình trạng căng thẳng kéo dài liên tục làm ảnh hưởng đến tâm lý và sức khỏe tâm thần, đồng thời ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất của người lao động như tăng nguy cơ bị bệnh tim mạch, huyết áp cao, rối loạn giấc ngủ… Căng thẳng không chỉ ảnh hưởng đến từng cá thể bao gồm chất lượng công việc, giảm năng suất lao động mà còn ảnh hưởng đến cả cộng đồng xung quanh Theo khảo sát của Viện Quốc gia Sức khỏe và

An toàn nghề nghiệp của Hoa Kỳ, năm 2007 có 40% người được hỏi cho rằng căng thẳng là nguyên nhân chính khiến người lao động phải đi bệnh viện [1]

Căng thẳng nghề nghiệp là vấn đề của mọi thời đại và được coi là một tiêu điểm của các nhà nghiên cứu hiện nay Nghề Y là một nghề đặc biệt, do đối tượng trực tiếp là con người, đồng thời đây cũng nghề tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây căng thẳng, trong đó phải kể tới người làm công tác điều dưỡng (ĐD) Hans Selye (nhà sinh lý học người Canada) đã sử dụng thuật ngữ căng thẳng để mô tả hội chứng của quá trình thích nghi với mọi loại bệnh tật và đã đưa ra định nghĩa “Căng thẳng là một phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước những tình huống căng thẳng” [35]

Nhiều nghiên cứu về căng thẳng nghề nghiệp ở điều dưỡng đã chỉ ra việc phải đối mặt với các vấn đề liên quan đến tử vong của NB trong quá trình làm việc

là những nguyên nhân gây căng thẳng nhất trong công việc của người ĐD [32], [40], [41]

Trang 15

Ngoài ra, mâu thuẫn với bác sĩ, người bệnh và gia đình người bệnh, công việc quá tải là những yếu tố gây căng thẳng và chán nản trong công việc của ĐD [14] [41] Đối với điều dưỡng lâm sàng vừa đi học và đi làm, nghiên cứu của Leodoro Jabien Labrague (2013) đã chỉ ra yếu tố gây căng thẳng nhất là kỳ thi, bài tập và công việc quá tải ở bệnh viện kết hợp với những yêu cầu học ở trường [48]

Bên cạnh sự phát triển kinh tế xã hội, nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân ngày càng cao, đòi hỏi ngành y tế phải nâng cao chất lượng chuyên môn, dịch

vụ, do vậy áp lực công việc ngày càng lớn [2] ĐD là lực lượng lao động chiếm phần lớn trong tổng số nhân viên các cơ sở khám chữa bệnh, là người trực tiếp có mặt để điều trị chăm sóc cho NB Ngoài công tác chuyên môn ĐD còn đối mặt với những áp lực từ người nhà NB, từ các thủ tục hành chính, các khoản thanh toán chi phí bảo hiểm y tế, học tập để nâng cao trình độ, công việc gia đình… tất cả đã tạo cho ĐD quá nhiều áp lực gây nên tình trạng căng thẳng

Căng thẳng không những ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân viên ĐD mà còn làm giảm sự tập trung chú ý trong công việc, dễ gây ra tình trạng sai sót làm nguy hại đến tính mạng NB Hiện nay ở Việt Nam việc nghiên cứu các yếu tố gây căng thẳng ở ĐD đã có nhiều, tuy nhiên ở đối tượng điều dưỡng đang học liên thông từ Trung cấp lên Đại học và đặc biệt ở các điều dưỡng lâm sàng làm việc tại bệnh viện Hùng Vương và Từ Dũ đang học liên thông tại trường Đại học Nguyễn Tất Thành thì chưa có nghiên cứu nào Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến căng thẳng của điều dưỡng lâm sàng tại một

số bệnh viện và đang học liên thông tại trường Đại học Nguyễn Tất Thành năm 2019” nhằm tìm ra những yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng căng thẳng của các ĐD lâm sàng đang vừa học vừa làm, từ đó góp phần đưa ra một số giải pháp nhằm hạn chế tình trạng căng thẳng trong nhóm đối tượng này

Trang 16

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả tình trạng căng thẳng của điều dưỡng sản bệnh viện đang học liên thông tại trường Đại học Nguyễn Tất Thành năm 2019

2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến căng thẳng của điều dưỡng sản bệnh viện đang học liên thông tại trường Đại học Nguyễn Tất Thành năm 2019

Trang 17

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Căng thẳng

Trong cuộc sống hiện đại, khi xã hội càng phát triển, căng thẳng xuất hiện ngày càng nhiều bao gồm các biểu hiện khó chịu hay những áp lực của đời sống cá nhân

Năm 1915, bác sĩ chuyên khoa thần kinh nổi tiếng của Hoa Kỳ - Walter Cannon - là người đầu tiên đưa ra khái niệm căng thẳng, theo ông, căng thẳng là biểu hiện khó chịu hay những áp lực của đời sống cá nhân [31]

Năm 1984, Lazarus và Folkman tuyên bố rằng căng thẳng là một mối quan

hệ tương hỗ năng động giữa con người và môi trường [43]

Căng thẳng bao gồm hai khía cạnh (i) tình huống căng thẳng dùng để chỉ tác nhân kích thích gây ra căng thẳng và (ii) đáp ứng căng thẳng dùng để chỉ trạng thái

cơ thể con người phản ứng với căng thẳng [17]

Căng thẳng liên quan nghề nghiệp là sự tương tác giữa các điều kiện lao động với đặc trưng của người lao động khiến cho các chức năng bình thường về tâm lý hay sinh lý hoặc cả hai bị thay đổi Nói cách khác căng thẳng nghề nghiệp là những đòi hỏi lao động vượt quá năng lực ứng phó của người lao động [5]

Như vậy có thể xem căng thẳng như sự đáp ứng của con người trước một nhu cầu hoặc là sự tương tác trong mối quan hệ giữa con người với môi trường xung quanh Nói cách khác, căng thẳng bình thường góp phần làm cho cơ thể thích nghi, nếu đáp ứng của cá nhân với với căng thẳng không đầy đủ, không thích hợp và cơ thể không tạo ra được cân bằng mới thì những chức năng của cơ thể ít nhiều bị rối loạn, dẫn đến những thay đổi về sinh lý, tâm lý, hành vi tạo ra những căng thẳng bệnh lý cấp tính hoặc kéo dài [12]

1.1.2 Phân loại căng thẳng

1.1.2.1 Căn cứ vào mức độ căng thẳng

Trang 18

Căng thẳng bình thường: Sự đáp ứng là thích hợp và giúp cho cá thể có

được những phản ứng đúng, nhằm tạo ra một cân bằng mới sau khi chịu tác động từ bên ngoài

Căng thẳng bệnh lý: Khả năng đáp ứng của cá thể tỏ ra không đầy đủ hay

không thích hợp, không thể tạo ra ngay một cân bằng mới, vì vậy xuất hiện rối loạn chức năng, thể hiện qua các dấu hiệu tâm thần, cơ thể và tập tính tạm thời hay kéo dài [23]

1.1.2.2 Căn cứ vào nguyên nhân gây căng thẳng

Căng thẳng sinh thái: là căng thẳng mà yếu tố gây nên có nguồn gốc sinh thái, phát

sinh từ mối quan hệ giữa môi trường bên trong và môi trường bên ngoài của chủ thể

*Căng thẳng do chấn thương, bệnh tật: là một trong những nguyên nhân gây

nên căng thẳng sinh thái, vì nó trực tiếp làm tổn hại suy giảm đến chức năng hoạt động của thực thể

*Căng thẳng do tiếng ồn và các tác động vật lý, sinh hóa: là nguyên nhân

gây nên căng thẳng sinh thái

Căng thẳng tâm lý - xã hội: các yếu tố tâm lý – xã hội tác động gây nên căng

thẳng

Căng thẳng sinh lý: học thuyết hành vi đưa ra mô hình (S-R) kích thích – phản

ứng, quan điểm này nhấn mạnh đến những đáp ứng thần kinh và thể dịch [19]

1.1.3 Nguyên nhân gây ra căng thẳng

Căng thẳng có tính chất tự diễn tiến trong thời gian dài hoặc xảy ra một cách đột ngột quá sức chịu đựng của cá nhân Nguyên nhân căng thẳng có thể xuất phát

từ môi trường bên ngoài, cũng có thể xuất phát từ chính bên trong con người, cùng một sự kiện tác động nhưng mỗi người sẽ có một nhận định riêng về sự kiện đó mang tính đe dọa, có hại hay thách thức và sẽ có các biểu hiện căng thẳng khác nhau Sự khác biệt đó là do mỗi người có quá trình nhận thức diễn ra không như nhau Như vậy nguyên xuất phát từ chính bản thân mỗi người là nguyên nhân quan trọng và có ảnh hưởng rất lớn đến mức độ căng thẳng của mỗi cá nhân [40]

Trang 19

Theo Đặng Phương Kiệt (2004) và F.B.Furagher (2004), các nguyên nhân gây căng thẳng có thể đến từ các yếu tố thảm họa thiên nhiên (bão, lũ lụt, động đất, sóng thần …), các yếu tố xã hội (chiến tranh, khủng hoảng kinh tế, tắc đường …), các yếu tố cá nhân (tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn, thu nhập …), các yếu tố về công việc (tính chất công việc, môi trường làm việc, mối quan hệ với đồng nghiệp,

sự động viên khuyến khích …), các yếu tố về gia đình (ly thân/ ly hôn, mất người thân, xung đột của các thành viên trong gia đình …) [5],[33]

Theo Trịnh Tất Thắng (2017), căng thẳng với những hoàn cảnh gây ra bởi những quan hệ giữa người với người, những mâu thuẫn trong gia đình, đồng nghiệp, căng thẳng trong học hành, thi cử, nhưng thực ra đứng trước bất kỳ một thay đổi nào cũng có thể dẫn đến tình trạng căng thẳng Những thay đổivề khí hậu, sự khác biệt về văn hóa, những thay đổi trong nghề nghiệp, công việc như nhận công việc mới, thay đổi nơi ở, nơi làm việc.Thay đổi về cơ thể như ở tuổi dậy thì, tiền mãn kinh, tuổi già bệnh tật Như vậy các yếu tố gây căng thẳng có thể được chia thành 4 cấp độ: cá nhân, gia đình, tổ chức đơn vị và môi trường (tự nhiên và xã hội) [13]

Theo Nguyễn Thị Hải, căng thẳng chia thành 3 mức độ [3]:

Mức độ 1 - ít trầm trọng: khi căng thẳng chỉ biểu hiện một mặt, không kéo dài,

chủ thể có thể tự khắc phục được

Mức độ 2 - trầm trọng: khi căng thẳng biểu hiện hai hay một số mặt lặp đi lặp lại

trong thời gian tương đối dài, phải khắc phục trong thời gian nhất định

Mức độ 3 - rất trầm trọng: khi căng thẳng biểu hiện ở nhiều mặt, diễn ra trong

thời gian khá dài, phải khắc phục trong thời gian rất dài

1.1.5 Các biểu hiện của căng thẳng

Trang 20

Căng thẳng là một phần tất yếu, không thể tránh khỏi trong cuộc sống của con người Căng thẳng nếu nhìn nhận ở khía cạnh tích cực thì nó là sự biểu hiện đáp ứng của cá nhân đối với những yếu tố tác nhân, hay tình huống trong cuộc sống mà con người phải đối mặt Giúp con người thích nghi, hòa hợp cùng sống chung với căng thẳng, biến nó thành động lực giúp con người phát triển [14]

Căng thẳng tiêu cực có thể phá vỡ cân bằng trong cuộc sống của con người làm nẩy sinh nhiều vấn đề về sức khỏe như suy kiệt, lo âu, trầm cảm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bản thân và xã hội [18]

Người bị căng thẳng thường có các biểu hiện về thực thể (như tăng nhịp tim, tăng huyết áp, nhức đầu, mệt mỏi, thở ngắn hôi, ra mồ hôi …) Biểu hiện về cảm xúc (như cảm thấy khó chịu, dễ cáo gắt, buồn bả, chán nản, thờ ơ, không thân thiện,

sa sút tinh thần …) Có những hành vi như lạm dụng thuốc lá, rượu, bia, dễ gây hấn, bất cần, xáo trộn các sinh hoạt hằng ngày (ăn uống, giấc ngủ), mất tập trung, hay quên, xa lánh mọi người …Nếu căng thẳng kéo dài sẽ tổn hại đến hệ miễn dịch và các chức năng sinh lý khác, làm suy yếu khả năng chống lại bệnh tật của cơ thể

cũng như sự xâm nhập của vi khuẩn và làm tăng nguy cơ gây tử vong [22]

1.1.6 Ảnh hưởng của căng thẳng

Một số ảnh hưởng sinh lý, đồng thời là những biểu hiện cụ thể của căng thẳng [5]:

Ảnh hưởng đến tim mạch: rối loạn nhịp tim, huyết áp, thiếu máu cơ tim cục bộ Ảnh hưởng đến hệ bài tiết: đổ mồ hôi một cách khác thường như để mồ hôi tay Ảnh hưởng đến cơ khớp: khiến cơ bắp dễ căng cứng, mệt mỏi: lưng, cổ, hàm hay

mặt dễ bị đơ hoặc đau nhức

Ảnh hưởng đến da: da trở nên kém mịn màng, nhanh lão hóa, dễ nổi mụn, có khi

còn làm xuất hiện các bệnh nguy hiểm khác như chàm, bội nhiễm

Ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa: khó tiêu, đầy hơi, chướng bụng, tiêu chảy hoặc táo bón,

đồng thời tạo ra những thay đổi trong ăn uống như ăn không ngon miệng, ăn quá nhiều hoặc ít hơn bình thường, không muốn ăn

Trang 21

Ảnh hưởng đến sinh dục: giảm nhu cầu tình dục, lãnh cảm, rối loạn kinh nguyệt,

đau bụng nhiều hơn khi hành kinh

Ảnh hưởng đến giấc ngủ: rối loạn giấc ngủ như khó ngủ, ngủ chập chờn, hay thức

giấc, hay có ác mộng

Ảnh hưởng đến hệ thần kinh: gây nhức đầu, chóng mặt, hoa mắt và nhiều trường

hợp gây chứng suy nhược thần kinh

1.1.7 Điều dưỡng và căng thẳng nghề nghiệp

1.1.7.1 Điều dưỡng

Theo WHO, điều dưỡng là sự bảo vệ, nâng cao, tối ưu về sức khỏe và các khả năng; dự phòng bệnh và sang thương; xoa dịu nỗi đau qua chẩn đoán và điều trị đáp ứng con người; tăng cường chăm sóc các cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội [40]

Điều dưỡng là một nghệ thuật sử dụng môi trường của người bệnh để hỗ trợ

sự hồi phục sức khỏe của người bệnh Florent Nightingale đã nhấn mạnh đến công việc của người điều dưỡng như là một nghệ thuật, đòi hỏi sự khéo léo, tinh tế, nhạy cảm…để kết hợp, hóa giải, cải biến và sử dụng chính các yếu tố, những tác động của môi trường xung quanh để giúp người bệnh hồi phục một cách tự nhiên [39]

1.1.7.2 Căng thẳng nghề nghiệp của điều dưỡng

Theo Lazarus và Folkman (1984), điều dưỡng là một nghề rất đặc thù, đặc điểm và tính chất công việc chính là các yếu tố gây căng thẳng Và đặc điểm cá nhân của điều dưỡng tạo điều kiện thuận lợi cho việc tăng mức độ căng thẳng [43]

Căng thẳng ở mức độ vừa được coi như một động lực làm việc và cung cấp năng lượng cần thiết để chấp nhận thách thức Tuy nhiên, nếu áp lực rất cao sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến nhân viên và tổ chức [44]

Căng thẳng liên quan đến công việc gây ra từ mâu thuẫn giữa yêu cầu công việc và khả năng của cá nhân để thực hiện các công việc đó Một cá nhân có mức độ hài lòng với công việc thể hiện rằng cá nhân đó có trạng thái tâm lý ổn định, vì trạng thái tâm lý liên quan đến đặc điểm và tính cách của con người Sự không hài lòng trong công việc làm gia tăng mức độ căng thẳng [45]

Trang 22

French và cộng sự (2000) đã xác định những yếu tố căng thẳng nghề nghiệp bao gồm: đối mặt với cái chết của người bệnh, mâu thuẫn với bác sĩ, chưa có sự chuẩn bị về mặt cảm xúc, các vấn đề liên quan đến đồng nghiệp điều dưỡng, các vấn đề liên quan đến cấp trên, phân biệt đối xử, khối lượng công việc, không chắc chắn về hướng điều trị cho người bệnh, người bệnh và gia đình người bệnh [25]

Happell và cộng sự (2011) đã xác định có 6 yếu tố chính của căng thẳng nghề nghiệp: (i) khối lượng công việc, áp lực thời gian; (ii) mối quan hệ với đồng nghiệp; (iii) thiếu sự quan tâm, hỗ trợ từ cấp trên; (iv) người bệnh và gia đình người bệnh, đối mặt với cái chết; (v) làm việc theo ca; (vi) thiếu sự khen thưởng [47]

Yếu tố môi trường và điều kiện làm việc không thuận lợi để điều dưỡng không thể đáp ứng tốt nhất theo tiêu chuẩn chất lượng cao nhất cho người bệnh Trong những trường hợp này, điều dưỡng trải qua sự căng thẳng, hối hận, bất lực, đau đớn về tinh thần và tổn thương về mặt đạo đức nghề nghiệp Do đó hiệu quả công việc và năng suất lao động giảm, và người gánh chịu hậu quả chính là người bệnh Do đó, căng thẳng nghề nghiệp của điều dưỡng được xem là một hiện tượng phức tạp được quan tâm không chỉ ở một vùng, một quốc gia, mà nó được quan tâm trên toàn cầu [46]

1.2 Các nghiên cứu về tình trạng căng thẳng của điều dưỡng

1.2.1 Trên thế giới

Nghiên cứu của Mohsen Adib và cộng sự (2007), thực hiện ở Kashan, Iran,

số liệu thu thập qua phỏng vấn sâu cá nhân với 19 ĐD có ít nhất 2 năm kinh nghiệm

và không có tiền sử bệnh tâm thần Các nội dung được phỏng vấn sâu bao gồm nhận thức của ĐD về căng thẳng nghề nghiệp, sự quan tâm đến nghề nghiệp và sự ưu tiện giữa sự nghiệp với cuộc sống gia đình Kết quả cho thấy, môi trường làm việc mà trong đó ĐD bị áp lực có tác động tiêu cực đến chăm sóc NB, ảnh hưởng đến cuộc sống cá nhân và phá vỡ hạnh phúc gia đình của họ Một số ý kiến cho rằng cường

độ căng thẳng có liên quan đến tuổi tác, kinh nghiệm làm việc, giờ làm việc trong tuần, nơi làm việc và nhân cách của ĐD [24]

Trang 23

Nghiên cứu của Refai Yassen Al-Hussein (2010) đã sử dụng thang đo DASS

21 để đánh giá mức độ căng thẳng của ĐD tại bảy bệnh viện thuộc thành phố Mosul

ở Iraq và mức độ căng thẳng của ĐD được tìm thấy là khoảng 10% [29]

Căng thẳng cũng phát sinh từ việc thiếu chuẩn bị, thay đổi đột ngột tại nơi làm việc Có ý kiến cho rằng, khi bạn đột nhiên chuyển sang một cộng việc mới, vấn đề này có thể tạo ra căng thẳng, bởi vì các đồng nghiệp mà bạn làm việc cùng nhau được thay đổi và hoàn cảnh của NB cũng khác nhau Tại trường Đại học Y khoa Harran Sanliwfa, Thổ Nhĩ Kỳ của T.Ulas và cộng sự (2013), đánh giá các thông số oxy hóa gây căng thẳng ở 70 ĐD làm việc ở ca ngày tờ 8 giờ đến 16 giờ (8 giờ) và 70 ĐD làm việc ca đêm từ 16 giờ - 8 giờ (16 giờ) trong đơn vị hồi sức tích cực Kết quả phát hiện các thông số căng thẳng tăng lên vào cuối ca trực [27]

Nghiên cứu của Nijole Galdikiene và cộng sự (2014) đã sử dụng thang đo ENSS, đánh giá căng thẳng của 187 điều dưỡng làm việc ở 18 trung tâm chăm sóc sức khỏe ban đầu ở Lithuania Kết quả nghiên cứu cho thấy điều dưỡng căng thẳng cao nhất là khi phải đối mặt với cái chết của người bệnh, mâu thuẫn với bác sĩ, người bệnh và gia đình người bệnh [41]

Từ một số nghiên cứu trên thế giới nêu trên đã mô tả được phần nào tình trạng căng thẳng của nhân viên ĐD làm việc tại bệnh viện

1.2.2 Tại Việt Nam

Nghiên cứu của Trần Thị Thúy (2011) đánh giá trạng thái căng thẳng trên đối tượng nhân viên y tế khối lâm sàng tại BV Ung Bướu Hà Nội Có 120 nhân viên y tế khối lâm sàng bệnh viện Ung Bướu Hà Nội tham gia nghiên cứu [15] Tác giả sử dụng thang đo DASS 21 xác định tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế Kết quả thu được có 36,9% nhân viên y tế có biểu hiện căng thẳng

Nghiên cứu của Đậu Thị Tuyết năm 2013 về “Tình trạng căng thẳng, lo âu, trầm cảm của cán bộ y tế khối lâm sàng tại bệnh viện đa khoa thành phố Vinh, bệnh viên đa khoa 115 Nghệ An năm 2013 và một số yếu tố liên quan” [21] Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng thang đo DASS 21 làm công cụ thu thập số liệu Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ cán bộ y tế có biểu hiện căng thẳng tại Bệnh viện Đa

Trang 24

khoa Thành phố Vinh là 16,8% thấp hơn tại Bệnh viện Đa khoa 115 là 24,5%, trong khi đó căng thẳng của đối tượng nghiên cứu chung là 20,4%

Nghiên cứu của Dương Thành Hiệp về “Tình trạng căng thẳng của ĐD, hộ sinh ở 8 khoa lâm sàng tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre năm 2014

và một số yếu tố liên quan” đã mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp định tính và định lượng được thực hiện với 246 ĐD, hộ sinh [4] Tác giả thu thập số liệu dựa vào

bộ công cụ DASS 21 của Lovibond đã được chuẩn hóa tại Việt Nam Kết quả cho thấy có 56.9% ĐD, hộ sinh tham gia nghiên cứu có nguy cơ bị căng thẳng

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Tuyên về “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến căng thẳng (căng thẳng) của ĐD viên lâm sàng bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định, năm 2015” đã sử dụng bộ công cụ DASS 21 để đánh giá [20] Kết quả nghiên cứu 483 ĐD viên lâm sàng có tỉ lệ bị căng thẳng là 18% Trong số 87 trường hợp bị căng thẳng thì có 12.6% căng thẳng nặng, 5.7% căng thẳng rất nặng, đa số căng thẳng nhẹ 50.6% và vừa 31%

Nghiên cứu của tác giả Bạch Nguyên Ngọc (2015) về “Căng thẳng nghề nghiệp và một số yếu tố liên quan của ĐD tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai, năm 2015” đã sử dụng bộ công cụ DASS 21 để xác định tỉ lệ căng thẳng [8] Kết quả nghiên cứu trên 250 ĐD khối lâm sàng có tỉ lệ căng thẳng là 25.2%, trong đó mức

độ nhẹ 10.4%, mức độ vừa 8.8%, mức độ nặng 6% và không có mức độ rất nặng

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Ngọc (2017) về “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng căng thẳng của ĐD viên khối lâm sàng bệnh viện Trung Ương Huế”, phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp định tính, thiết kế nghiên cứu cắt ngang với phương pháp thu thập thông tin là phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi có cấu trúc với sự tham gia của 320 ĐDV đang làm việc tại bệnh viện Trung Ương Huế [9] Bộ câu hỏi nghiên cứu định lượng được thiết kế dựa trên thang đo DASS 21 nhằm xác định tỉ lệ căng thẳng của ĐDV Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ căng thẳng của ĐDV bệnh viện Trung Ương Huế là 28,1%

Trang 25

Các nghiên cứu tại Việt Nam nêu trên cũng đã xác nhận tình trạng căng thẳng của ĐD viên làm việc tại bệnh viện Hầu như căng thẳng luôn luôn hiện diện trong đời sống hàng ngày của một người làm nghề chăm sóc sức khỏe người bệnh

1.3 Các nghiên cứu về một số yếu tố liên quan đến căng thẳng của điều dưỡng 1.3.1 Yếu tố cá nhân

Nghiên cứu của 3 tác giả Lê Thành Tài, Trần Ngọc Xuân, Trần Trúc Linh

(2008) tiến hành tại 3 địa điểm Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ, Bệnh viện

Đa khoa Thành phố Cần Thơ, Bệnh viện Đa khoa Châu Thành-Hậu Giang, nhằm đánh giá tình trạng căng thẳng trên đối tượng là 378 ĐD Kết quả nghiên cứu xác định yếu tố thâm niên công tác có mối liên quan có ý nghĩa thống kê đến tình trạng

căng thẳng [11]

Nghiên cứu của Mai Hòa Nhung (2014) về “Tình trạng căng thẳng nghề nghiệp của ĐD tại bệnh viện Giao thông Vận tải” với thang đo DASS 21, nghiên cứu cho thấy ĐD từ 30 tuổi trở xuống có biểu hiện căng thẳng gấp 6.6 lần so với nhóm ĐD viên từ 30 tuổi trở lên, nhóm có thâm niên dưới 10 năm căng thẳng gấp 3.1 lần nhóm trên 10 năm [10]

1.3.2 Yếu tố gia đình

Nghiên cứu cứu của tác giả Đỗ Nguyễn Nhựt Trần và cộng sự (2008), tại huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai đánh giá về tình trạng căng thẳng và yếu tố liên quan ở cán bộ y tế hiện đang làm việc tại các cơ sở y tế, nghiên cứu đã mở rộng đến các yếu tố cá nhân như mối quan hệ vói gia đình, bạn bè, hàng xóm hay các hoạt động thể lực Kết quả là chưa tìm thấy mối quan hệ giữa tình trạng căng thẳng và các yếu tố liên quan [18]

Nghiên cứu của Trần Thị Thúy (2011) tại Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội và nghiên cứu của Đậu Thị Tuyết (2013) tại 2 Bệnh viện (Bệnh viên Đa khoa Thành phố Vinh và Bệnh viên Đa khoa 115 Nghệ An), đã đưa một số yếu tố gia đình vào

để tìm hiểu mối liên hệ với tình trạng căng thẳng như số con, chăm sóc con nhỏ dưới 5 tuổi, chăm sóc người thân già yếu, bệnh tật, thu nhập chính trong gia đình, nhà riêng ổn định, mối quan hệ trong gia đình [15],[21] Tuy nhiên kết quả nghiên

Trang 26

cứu chưa tìm thấy mối liên hệ nào có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng căng thẳng và các yếu tố này

Nghiên cứu của Dương Thành Hiệp (2014) về “Tình trạng căng thẳng của

ĐD, hộ sinh ở 8 khoa lâm sàng tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre năm

2014 và một số yếu tố liên quan” Kết quả nghiên cứu cho thấy các ĐD, hộ sinh phải chăm sóc con nhỏ có nguy cơ bị căng thẳng cao hơn 1.9 lần so với những người không có hoàn cảnh này [4]

1.3.3 Yếu tố nghề nghiệp

Qua nghiên cứu của Đặng Trần Ngọc Thanh và cộng sự (2008) tại 7 khoa ICU của 7 bệnh viện (BV) đa khoa cấp I tại TPHCM (BV 115, Nguyễn Trãi, Trưng Vương, Nguyễn Tri Phương, An Bình, Đa khoa Sài Gòn, Gia Định), tác giả đã sử dụng bộ câu hỏi nghiên cứu ENSS nhằm xác định tỉ lệ căng thẳng của ĐDV, kết quả đã chỉ ra các yếu tố liên quan chán nản công việc của ĐD là công việc quá tải, căng thẳng tại nơi làm việc, tuổi tác, thời gian làm việc và sự hỗ trợ của đồng nghiệp là những yếu tố gây chán nản trong công việc của ĐD [14]

Theo nghiên cứu của Trần Thị Ngọc Mai, Nguyễn Hữu Hùng, Trần Thị Thanh Hương (2013) tại Đại học Thăng Long và Đại học Thành Tây về “Thực trạng căng thẳng nghề nghiệp của ĐD lâm sàng đang học hệ cử nhân vừa làm vừa học tại trường Đại học Thăng Long và Thành Tây”, tác giả đã sử dụng bộ câu hỏi nghiên cứu với thang đo NSS nhằm xác định tỉ lệ căng thẳng của 300 ĐDV, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng nhóm tác nhân gây căng thẳng thường xuyên nhất và có mức độ cao nhất đối với ĐD là các nhóm liên quan đến (i) chứng kiến cái chết và sự chịu đựng đau đớn của NB và (ii) khối lượng công việc lớn với mức độ gây căng thẳng Các ĐD làm việc ở khoa Hồi sức cấp cứu có tần suất mắc căng thẳng cao hơn ĐD làm ở các khoa khác [6]

Nghiên cứu của Dương Thành Hiệp (2014) về “Tình trạng căng thẳng của

ĐD, hộ sinh ở 8 khoa lâm sàng tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre năm

2014 và một số yếu tố liên quan” với việc sử dụng thang đo DASS 21 trên 246 ĐD

đã cho ra kết quả những người có mối quan hệ với cấp trên không tốt và chỉ tương

Trang 27

dối tốt thì nguy cơ bị căng thẳng gấp 1.93 lần so với những người có mối quan hệ tốt đối với đồng nghiệp, những người có mối quan hệ với đồng nghiệp không tốt và chỉ tương dối tốt thì nguy cơ bị căng thẳng gấp 1.7 lần so với những người có mối quan hệ tốt Đối với những người thường xuyên gặp phải thái độ không tốt từ NB hay người nhà NB thì có nguy cơ bị căng thẳng gấp 1.95 lần so với những người thỉnh thoảng hoặc không phải gặp tình huống đó [4]

1.3.4 Yếu tố môi trường văn hóa xã hội

Các yếu tố về tình trạng kẹt xe, tai nạn giao thông, tình trạng trộm cắp, cướp giật cũng được đưa vào trong nghiên cứu của Trần Thị Thúy (2011) và Đậu Thị Tuyết (2013) Tuy nhiên ở cả 2 nghiên cứu trên đều không tìm thấy mối liên quan

có ý nghĩa thống kê, điều có thể là do tại địa bàn nghiên cứu, những vấn đề này chưa đủ nhiều và chưa tới mức nghiêm trọng để có thể tác động đến tâm lý con người [15],[21]

Theo nghiên cứu của Mai Hòa Nhung (2014) về “Tình trạng căng thẳng nghề nghiệp của ĐDV tại bệnh viện Giao thông vận tải”, với việc bổ sung thêm tình trạng kẹt xe, tai nạn giao thông và tình trạng trộm cắp, cướp giật tại khu vực sống vào trong nghiên cứu để tìm hiểu mối liên quan của các yếu tố trên với tình trạng căng thẳng [10] Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm ĐD thường xuyên gặp tình trạng kẹt

xe, tai nạn giao thông có biểu hiện căng thẳng cao hơn gấp 2 lần so với không bao giờ hoặc thỉnh thoảng mới gặp, nhóm ĐD thỉnh thoảng và thường xuyên gặp tình trạng trộm cắp, cướp giật tại khu vực sống có biểu hiện căng thẳng cao gấp 2.7 lần

so với nhóm ĐD không bao giờ gặp Điều này cũng dể hiểu là do bệnh viện đặt tại khu vực đông dân cư nên tình trạng kẹt xe, tai nạn giao thông xảy ra thường xuyên khiến cho ĐD rất căng thẳng khi lưu thông trên đường

1.4 Giới thiệu thang đo đánh giá mức độ căng thẳng

1.4.1 Thang đo DASS 21

Thang đo DASS 21 (Depression-Anxiety-Căng thẳng Scale 21, thang đo

đánh giá mức độ trầm cảm-lo âu-căng thẳng) được giới thiệu năm 1997 là phiên bản

rút gọn của thang đo DASS 42 [38] Thang đo DASS 42 được Lovibond S.H và

Trang 28

Levinbond P.F thiết kế nam 1995, là công cụ tự điền gồm có 42 mục nhằm đo lường 3 trạng thái cảm xúc tiêu cực của con người là lo âu, trầm cảm, căng thẳng Các nghiên cứu cần thiết đã được tiến hành và khẳng định tính nhất quán giữa thang

đo DASS 42 và DASS 21 Thang đánh giá căng thẳng, lo âu, trầm cảm của Lovibond (DASS 42 và DASS 21) đã được Viện Sức khỏe Tâm thần quốc gia dịch

và đã xác nhận như một công cụ sàng lọc lo âu, trầm cảm, căng thẳng

Thang đo DASS 21 bao gồm 21 câu hỏi với các mức độ từ 0 - 3, trong đó các đối tượng nghiên cứu sẽ đọc hết tất cả các câu hỏi và khoanh tròn vào mức độ tương ứng với trạng thái cảm xúc của mình Điểm của lo âu, trầm cảm và căng thẳng được tính bằng cách cộng điểm của 21 đề mục thành phần rồi nhân hệ số 2, sau đó được phân loại mức độ như sau:

Bảng 1.1 Đánh giá mức độ Trầm cảm - Lo âu - Căng thẳng (thang đo DASS 21)

1.4.2 Thang đo ENSS

Thang đo ENSS (Expanded Nursing Căng thẳng Scale) là một phiên bản mở rộng và cập nhật của thang đo NSS (Nursing Căng thẳng Scale) được phát triển bởi French và đồng nghiệp [25] NSS là công cụ đầu tiên để đánh giá căng thẳng trong công việc của ĐD Thang đo NSS có 34 mục, 4 điểm nhằm đánh giá các nguồn chính của căng thẳng trong những tình huống chăm sóc NB

Thang đo ENSS đã được chuẩn hóa và sử dụng trong các nghiên cứu về căng thẳng ở một số nước trên thế giới và Châu Á Ở Việt Nam, bộ câu hỏi ENSS đã

Trang 29

được dịch sang tiếng Việt và khảo sát trên 150 ĐD tại các bệnh viện ở Thái Nguyên bởi tác giả Nguyễn Ngọc Hà năm 2011 [34] Bộ câu hỏi ENSS được sử dụng để khảo sát tình trạng căng thẳng của ĐD gồm trên 8 lĩnh vực: (1) Đối mặt với cái chết của NB, (2) Mâu thuẫn với BS, (3) Chưa có sự chuẩn bị về mặt cảm xúc, (4) Các vấn đề liên quan đến đồng nghiệp ĐD, (5) Các vấn đề liên quan đến cấp trên (người quản lý), (6) Khối lượng công việc, (7) Không chắc chắn về hướng điều trị cho NB, (8) NB và gia đình NB Hệ số Cronbach’s alpha của bộ câu hỏi ENSS là α = 0.96

Bộ câu hỏi ENSS gồm 54 câu, mỗi câu hỏi có 4 phương án chọn từ 1 là “chưa bao giờ căng thẳng”, 2 là “thỉnh thoảng căng thẳng”, 3 là “thường xuyên căng thẳng” đến 4 là “vô cùng căng thẳng” Điểm trung bình càng cao, có nghĩa là mức

độ căng thẳng của ĐD càng cao

Mức độ căng thẳng được chia làm 3 mức độ theo bảng 1.2

Bảng 1.2 Đánh giá mức độ căng thẳng (thang đo ENSS)

1.5 Tổng hợp một số nghiên cứu sử dụng thang đo DASS 21 và ENSS

Một số nghiên cứu sử dụng thang đo DASS 21 và ENSS được trình bày trong bảng 1.3

Bảng 1.3 Các nghiên cứu sử dụng thang đo DASS 21 và ENSS

Trang 30

NSS

Trang 31

Mặt khác, học viên cũng muốn đo lường nguyên nhân và mức độ căng thẳng đối với sự ảnh hưởng từ các yếu tố cá nhân, gia đình, xã hội và yếu tố học tập khi các yếu tố này luôn tồn tại xung quanh người điều dưỡng viên trong từng ngày

Sau khi tìm được những nguyên nhân chính gây ra mức độ căng thẳng nhiều nhất, học viên sẽ có những khuyến nghị, đề xuất giúp cải thiện giảm căng thẳng cho người điều dưỡng đang trong hoàn cảnh vừa làm vừa học

1.6 Giới thiệu trường Đại học Nguyễn Tất Thành

Trang 32

Trường Đại học Nguyễn Tất Thành được thành lập ngày 5 tháng 06 năm

1999 và phát triển đến ngày hôm nay với cột mốc như sau:

Năm 1999: tên gọi là Trung tâm đào tạo Công nhân May thuộc công ty dệt may Sài Gòn

Năm 2002: Trường Kinh Tế Kỹ Thuật Nghiệp Vụ Bán Công Nguyễn Tất Thành

Năm 2005: Trường Cao Đẳng Kỹ Thuật Nghiệp Vụ Bán Công Nguyễn Tất Thành

Năm 2006: Trường Cao Đẳng Nguyễn Tất Thành

Năm 2011: Trường Đại học Nguyễn Tất Thành

Đại học Nguyễn Tất Thành là trường nằm trong doanh nghiệp trực thuộc tập đoàn Dệt May Việt Nam, thuộc khối Viện – Trường của Bộ Công Thương

Trường Đại học Nguyễn Tất Thành đã không ngừng đầu tư, xây dựng và phát triển để trở thành một trường Đại học đẳng cấp quốc gia và hội nhập quốc tế Sau gần 20 năm, đến nay trường đã có những bước tiến vượt trội trong đầu tư xây dựng và công tác đào tạo với 14 khoa (Y, Dược, Điều Dưỡng, Quản trị - Luật, Tài chính – Kế toán, Cơ khí – Điện – Điện tử - Ô tô, Công nghệ hóa và thực phẩm, Công nghệ sinh học và môi trường, Công nghệ thông tin, Âm nhạc, Kiến trúc – Xây dụng – Mỹ thuật ứng dụng, Ngoại ngữ, Du lịch và Việt Nam học, Ngoại thương)

với 54 chương trình đào tạo

Khoa Điều Dưỡng hiện đang đào tạo khoảng 1800 sinh viên chính qui tại trường và liên kết với các bệnh viên đào tạo liên thông khoảng 3000 sinh viên của

40 lớp là các ĐD đang làm việc tại các bệnh viện và các cơ sở khám chữa bệnh [25]

Điểm nhấn của chương trình liên thông tại Đại học Nguyễn Tất Thành là đào tạo theo học chế tín chỉ giúp người học chủ động trong quá trình học tập Ngoài ra, thời gian học linh động, chủ yếu học vào buổi tối các ngày trong tuần và thứ bảy, chủ nhật để người học có thể vừa làm vừa học mà vẫn có cơ hội nhận được tấm bằng đại học, cao đẳng chính quy [51]

Trang 33

1.7 Giới thiệu bệnh viện Hùng Vương [49]

Bệnh viện Hùng Vương trải qua các giai đoạn hình thành như sau:

Khởi đầu, là nhà Bảo sanh Chợ lớn có 60 giường- chủ yếu sanh thường và được dùng làm Trường nữ hộ sinh bản xứ để đào tạo các lớp nữ hộ sinh Năm 1940, được sử dụng một phần làm Viện dưỡng nhi nuôi trẻ mồ côi Năm 1947, được sử dụng một phần làm khu doanh trại của quân Nhật Năm 1952 được dùng làm đồn công an gọi chuyên bắt giam và tra tấn tù chính trị Năm 1958 Bảo sanh viện Hùng Vương, với qui mô 180 giường , được xếp Bảo sanh viện hạng II Năm 1968 Bảo sanh viện có 292 giường chuyên về Sản phụ khoa và là trung tâm số 1 nghiên cứu

kế hoạch hóa gia đình Năm 1975 Bảo sanh viện được nâng lên 375 giường được xếp Bảo sanh viện hạng I

Năm 1978 bệnh viện chuyên khoa Sản phụ tuyến 4 của Thành phố Hồ Chí Minh với qui mô 400 giường, phục vụ cho 18 quận huyện nội ngoại thành với số dân 3,5 triệu Bệnh viện thực hiện các nhiệm vụ và chức năng như (i) tuyến cao khám và điều trị các Sản phụ và bệnh lý phụ khoa, KHGĐ; (ii) nghiên cứu khoa học; (iii) chỉ đạo tuyến - thực hiện y tế dự phòng; (iv) đào tạo, huấn luyện cho sinh viên và cán bộ công nhân viên; và (v) hợp tác quốc tế

Hiện nay bệnh viện Hùng Vương là bệnh viện chuyên ngành sản phụ khoa tuyến Trung ương, hạng I; với quy mô 900 giường, trong đó có 100 giường sơ sinh Trung bình mỗi năm bệnh viện đón chào khoảng từ 35.000 đến 40.000 trẻ sơ sinh chào đời; từ 20.000 đến 25.000 ca phẫu thuật

Bệnh viện có trên 1.200 nhân viên; gồm 30 khoa, phòng trong đó 20 khoa lâm sàng và cận lâm sàng, 10 phòng chức năng

Các lĩnh vực nổi bật của bệnh viện: chẩn đoán trước sinh, sản khoa, phụ khoa, hiếm muộn, khám Nhi và các dịch vụ khác

1.8 Giới thiệu bệnh viện Từ Dũ [50]

Trang 34

Bệnh viện Từ Dũ ra đời vào năm 1923 Đến năm 1937, là bảo sanh viện mang tên Maternité Indochinoise (Bảo sanh viện Đông Dương) Do tình hình chiến tranh, nên khi xây dựng xong, bảo sanh viện bị quân đội Pháp, sau đó là Nhật trưng dụng làm nơi đóng quân Đến tháng 9 năm 1943, bảo sanh viện mới chính thức hoạt động với khoảng 100 giường bệnh

Năm 1944, bệnh viện đổi tên thành Việt Nam Bảo sanh viện Đến năm 1946 được đổi thành Maternité George Béchamps, còn được gọi là "Nhà sanh Chú Hỏa" Đến năm 1948, bệnh viện được đổi tên thành Bảo sanh viện Từ Dũ

Về cơ sở vật chất: Vào thời gian đầu hoạt động năm 1943, bảo sanh viện vẫn chưa có cơ sở cận lâm sàng, cho đến 1946 mới đặt được một phòng thí nghiệm vi trùng học Số lượng giường bệnh cũng tăng dần để phục vụ nhu cầu người dân Năm 1962, bảo sanh viện có 300 giường, đến năm 1972 là 506 giường

Đến ngày 8 tháng 4 năm 2004, bệnh viện được đổi tên thành Bệnh viện Từ Dũ với tổng số giường là 1.000 giường

Ngày nay, Bệnh viện Từ Dũ là một bệnh viện đầu ngành về sản phụ khoa, hiếm muộn và thụ tinh nhân tạo của cả nước, đồng thời là trung tâm sản phụ khoa lớn nhất khu vực phía Nam với tổng số giường bệnh lên 1.000 giường Hiện nay, bệnh viện gồm 8 phòng chức năng, 16 khoa lâm sàng và 7 khoa cận lâm sàng

1.9 Khung lý thuyết

Khung lý thuyết được xây dựng dựa theo tổng quan các nghiên cứu đã làm

về căng thẳng của điều dưỡng Ngoài ra, học viên có tham khảo tài liệu của Đặng Phương Kiệt (2004), F.B.Furagher (2004) và Trịnh Tất Thắng (2017), các yếu tố ảnh hưởng đến căng thẳng nghề nghiệp có thể đến từ [5],[13],[33]:

Yếu tố cá nhân (tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn, thu nhập …)

Yếu tố gia đình (ly thân/ ly hôn, mất người thân, xung đột của các thành viên

trong gia đình …)

Trang 35

Yếu tố xã hội, môi trường (chiến tranh, khủng hoảng kinh tế, tắc đường, thảm

học thiên nhiên…)

Yếu tố căng thẳng trong học tập, thi cử…: …: Nhóm yếu tố này học viên

muốn đưa vào để khám phá mức độ ảnh hưởng đến tình trạng căng thẳng nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu bởi nhóm đối tượng trong nghiên cứu này là các điều dưỡng đang theo học chương trình liên thông tại trường Đại học Nguyễn Tất Thành Nhóm đối tượng của nghiên cứu này có điểm khác biệt so với các nghiên cứu khác về căng thẳng của điều dưỡng

Trang 36

KHUNG LÝ THUYẾT

Căng thẳng nghề nghiệp

- Đối mặt với cái chết của NB

- Mâu thuẩn với BS

- Chưa có sự chuẩn bị về mặt cảm xúc khi chăm sóc người bệnh

- Các vấn đề liên quan đến đồng nghiệp ĐD

- Các vấn đề liên quan đến cấp trên (người quản lý)

- Khối lượng công việc

- Không chắc chắn về hướng điều trị cho

- Khoa đang công tác

- Số năm công tác trong nghề điều

dưỡng

Yếu tố gia đình

- Có nhà riêng

- Chăm sóc con nhỏ dưới 5 tuối

- Chăm sóc người già/yếu/bệnh tật

- Là người đem lại thu nhập chính

Trang 37

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Nghiên cứu định lượng

Là các ĐD sản của bệnh viện Hùng Vương và Từ Dũ đang học liên thông từ Trung cấp lên Đại học, năm 1 và năm 2 tại trường Đại học Nguyễn Tất Thành năm

2019 (chương trình học liên thông là 2,5 năm)

Lý do: chọn đối tượng nghiên cứu của hai bệnh viện này vì đây là hai bệnh viện

có cùng chuyên khoa sản, hoàn cảnh làm việc và tính chất công việc tương đối giống nhau nên mức độ căng thẳng sẽ có sự tương đồng Từ đó có thể đưa ra khuyến nghị phù hợp chung cho cả hai bệnh viện, và những khuyến nghị đó có thể mang tính đại diện cho bệnh viện chuyên khoa sản Nghiên cứu không chọn đối tượng năm 3 vì tại thời điểm lấy mẫu nghiên cứu đối tượng này đã tốt nghiệp ra trường Đây cũng là điểm hạn chế của nghiên cứu này vì tại thời điểm làm nghiên cứu từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2019, đối tượng năm 3 tốt nghiệp ra trường vào tháng 6 năm 2019

* Tiêu chuẩn lựa chọn

- ĐD sản đang làm việc tại bệnh viện Hùng Vương hoặc Từ Dũ

- ĐD đang học liên thông từ Trung cấp lên Đại học, năm 1 hoặc năm 2 tại trường Đại học Nguyễn Tất Thành năm 2019

- ĐD có mặt tại thời điểm phát bộ câu hỏi khảo sát

- Đồng ý tham gia nghiên cứu

* Tiêu chuẩn loại trừ

- ĐD không làm việc tại bệnh viện Hùng Vương hoặc Từ Dũ.do học ghép lớp

- ĐD trước đây làm việc tại bệnh viện Hùng Vương hoặc Từ Dũ, nhưng hiện tại không còn làm việc tại một trong hai bệnh viện này

- ĐD đang làm việc tại bệnh viện Hùng Vương hoặc Từ Dũ nhưng không làm việc tại các khoa lâm sàng trực tiếp chăm sóc người bệnh

Trang 38

- ĐD không phải là sinh viên chính thức đang theo học năm 1 hoặc năm 2, vì có thể là các sinh viên của các khóa trước học lại một số môn học

2.1.2 Nghiên cứu định tính

Thảo luận nhóm với điều dưỡng trưởng tua trực của hai bệnh viện Hùng Vương và Từ Dũ

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

*Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2019

*Địa điểm nghiên cứu

Trường Đại học Nguyễn Tất Thành

2.2.2 Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu: cắt ngang phân tích Sử dụng phương pháp định lượng

2.2.3 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.2.3.1 Cỡ mẫu

* Nghiên cứu định lượng

Áp dụng công thức tính cỡ mẫu nhằm ước lượng tỉ lệ:

Trong đó:

- n: cỡ mẫu tối thiểu

Trang 39

- p: tỉ lệ ước tính ĐD bị căng thẳng nghề nghiệp, chọn giá trị p=0,18 (tương đương 18%) (dựa theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Tuyên tại Bệnh viện Đa khoa Bình Định, năm 2015 [20]

- d: độ chính xác mong muốn (sai số cho phép), chọn giá trị d là 0,05

Qua công thức trên đã tính được cỡ mẫu là 227 điều dưỡng, cộng thêm 10%

dự phòng là 23 điều dưỡng, ta được cỡ mẫu là 250 điều dưỡng Thực tế học viên đã thu thập số liệu trên 250 điều dưỡng

* Nghiên cứu định tính

Thảo luận nhóm trên hai nhóm:

- Nhóm 1 gồm 5 điều dưỡng trưởng tua trực của bệnh viện Hùng Vương

- Nhóm 2 gồm 5 điều dưỡng trưởng tua trực của bệnh viện Từ Dũ

2.2.3.2 Phương pháp chọn mẫu

* Nghiên cứu định lượng

Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống Học viên lập danh sách mẫu các ĐD lâm sàng của hai bệnh viện Hùng Vương và Từ Dũ đang học lớp liên thông từ Trung cấp lên Đại học từ năm 1 và năm 2 (thỏa mãn tiêu chí lựa chọn)

Tổng số ĐD lâm sàng của hai bệnh viện này đang theo học tại trường Đại học Nguyễn Tất Thành là 500 người Nghiên cứu cần chọn ra 250 người nên khoảng cách mẫu k=500/250=2 Chọn ngẫu nhiên người đầu tiên trong danh sách, sau đó cứ 2 người lại chọn người tiếp theo cho đến khi đủ cỡ mẫu của nghiên cứu

* Nghiên cứu định tính

Chọn mẫu chủ đích 5 điều dưỡng trưởng tua trực của bệnh viện Hùng Vương

và 5 điều dưỡng trưởng tua trực của bệnh viện Từ Dũ

2.2.4 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu

2.2.4.1 Công cụ thu thập số liệu

* Nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu này sử dụng bộ câu hỏi phát vấn để thu thập số liệu, gồm 3 phần (Phụ lục 1):

Trang 40

Phần 1: Câu hỏi khảo sát thông tin về đặc tính của đối tượng tham gia nghiên cứu

(13 câu hỏi), bao gồm:

- Yếu tố cá nhân: 5 câu thông tin về tuổi, giới, tình trạng hôn nhân, thâm niên làm việc, v.v

- Yếu tố gia đình: 5 câu thông tin về nhà ở, thu nhập, chăm sóc con nhỏ, người già yếu, v.v

- Yếu tố xã hội: 3 câu thông tin về tình trạng tai nạn giao thông, kẹt xe trên đường, trộm cắp, cướp giật

Phần 2: Câu hỏi khảo sát mức độ căng thẳng nghề nghiệp ở điều dưỡng (54 câu):

sử dụng thang đo ENSS đã được chuẩn hóa và sử dụng trong các nghiên cứu về căng thẳng ở một số nước trên thế giới và Châu Á, đặc biệt ở Việt Nam, bộ câu hỏi ENSS đã được dịch sang tiếng Việt và khảo sát trên 150 ĐD tại các bệnh viện ở Thái Nguyên bởi tác giả Nguyễn Ngọc Hà năm 2011 [35] Hệ số Cronbach’s alpha của bộ câu hỏi ENSS là α = 0.96 Bộ câu hỏi ENSS gồm trên 8 lĩnh vực như sau:

- Đối mặt với cái chết của người bệnh: 7 câu

- Mâu thuẫn với bác sĩ: 5 câu

- Chưa có sự chuẩn bị về mặt cảm xúc khi chăm sóc người bệnh: 3 câu

- Các vấn đề liên quan đến đồng nghiệp điều dưỡng: 6 câu

- Các vấn đề liên quan đến cấp trên (người quản lý): 7 câu

- Khối lượng công việc: 9 câu

- Không chắc chắn về hướng điều trị cho người bệnh: 9 câu

- Người bệnh và gia đình người bệnh: 8 câu

Đánh giá mức độ căng thẳng nghề nghiệp theo 8 lĩnh vực nói trên sử dụng thang

đo Likert 4 mức độ (1 = chưa bao giờ căng thẳng, 2= thỉnh thoảng căng thẳng, 3= thường xuyên căng thẳng, 4= vô cùng căng thẳng)

Cách tính điểm trung bình tổng của điểm căng thẳng: là tổng các điểm căng

thẳng thành phần chia cho số lượng các thành phần căng thẳng trong mỗi lĩnh vực

- Đối mặt với cái chết của người bệnh: trung bình tổng của điểm căng thẳng là tổng các điểm căng thẳng thành phần chia cho 7

Ngày đăng: 31/01/2021, 14:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm