Nghiên cứu “Thực trạng đào tạo và sử dụng nhân lực y tế theo chế độ cử tuyển, liên thông và theo địa chỉ tại tỉnh Hoà Bình giai đoạn 2011-2018” nhằm mô tả thực trạng đào tạo và sử dụng N
Trang 1HOÀNG THỊ VÂN ANH
THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG NHÂN LỰC Y TẾ THEO CHẾ ĐỘ CỬ TUYỂN, LIÊN THÔNG VÀ THEO ĐỊA CHỈ
TẠI TỈNH HOÀ BÌNH GIAI ĐOẠN 2011-2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701
HÀ NỘI, 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
HOÀNG THỊ VÂN ANH
THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG NHÂN LỰC Y TẾ THEO CHẾ ĐỘ CỬ TUYỂN, LIÊN THÔNG VÀ THEO ĐỊA CHỈ
TẠI TỈNH HOÀ BÌNH GIAI ĐOẠN 2011-2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN MINH LỢI
HÀ NỘI, 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Y tế công cộng, tôi
xin chân thành cảm ơn:
Đảng ủy, Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau Đại học và các Bộ môn Trường Đại học Y tế công cộng đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình
học tập tại trường
TS Nguyễn Minh Lợi - Cục khoa học công nghệ và Đào tạo, Bộ Y tế, Ths Dương Kim Tuấn - Bộ môn Dịch tễ, Trường Đại học Y tế công cộng là những người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện và có những ý
kiến góp ý quý báu cho tôi trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Các thầy giáo, cô giáo đã tận tình giảng dạy, góp ý giúp đỡ tôi trong quá trình
học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Ban giám đốc Sở Y tế Hòa Bình, Trung tâm y tế các huyện trên địa bản tỉnh Hòa Bình đã ủng hộ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thu thập số liệu và nghiên
cứu
Bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia đình đã luôn động viên, tạo điều
kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Học viên
Hoàng Thị Vân Anh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 4
1.2 Thực trạng đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực y tế theo chế độ cử tuyển, liên thông, theo địa chỉ trên thế giới 5
1.3 Thực trạng đào tạo nhân lực y tế tại một số vùng khó khăn tại Việt Nam 8
1.3.1 Nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực y tế tại một số vùng khó khăn tại Việt Nam 8
1.3.2 Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực y tế theo chế độ cử tuyển, liên thông và theo địa chỉ tại Việt Nam 9
1.4 Một số thuận lợi, khó khăn của công tác đào tạo nhân lực y tế tại Việt Nam 11
1.4.1 Thuận lợi trong công tác đào tạo nhân lực y tế tại Việt Nam 11
1.4.2 Khó khăn trong công tác đào tạo nhân lực y tế 11
CHƯƠNG 2:ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21
2.2 Đối tượng nghiên cứu 21
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng 21
2.2.2 Đối tượng nghiên cứu định tính 21
2.3 Thiết kế nghiên cứu 21
2.4 Mẫu và phương chọn mẫu 21
2.4.1 Mẫu và phương pháp chọn mẫu định lượng 21
2.4.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu định tính 22
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 23
2.6 Các biến số chính của nghiên cứu 23
2.6.1 Biến số nghiên cứu mục tiêu 1 23
2.6.2 Nội dung và chủ đề nghiên cứu mục tiêu 2 23
2.7 Phương pháp phân tích số liệu 24
2.8 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 24
2.9 Hạn chế nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 25
CHƯƠNG 3:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
3.1 Thực trạng đào tạo và sử dụng nhân lực y tế theo chế độ cử tuyển, liên thông và theo địa chỉ tại tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2011-2018 27
Trang 53.1.1 Thực trạng đào tạo nhân lực y tế theo chế độ cử tuyển, liên thông và theo
địa chỉ tại tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2011-2018 27
3.1.2 Thực trạng sử dụng nhân lực y tế theo chế độ cử tuyển, liên thông và theo địa chỉ tại tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2011-2018 35
3.2 Phân tích một số thuận lợi và khó khăn trong đào tạo và sử dụng nhân lực y tế theo chế độ cử tuyển, liên thông và theo địa chỉ tại Hoà Bình giai đoạn 2011 - 2018 37
3.2.1 Phân tích một số yếu tố thuận lợi trong đào tạo và sử dụng nhân lực y tế theo chế độ cử tuyển, liên thông và đào tạo theo địa chỉ tại tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn 2011 - 2018 38
3.2.2 Phân tích một số yếu tố khó khăn trong đào tạo và sử dụng nhân lực y tế theo chế độ cử tuyển, liên thông và đào tạo theo địa chỉ tại tỉnh Hòa Bình giai đoạn từ 2011-2018 46
CHƯƠNG 4:BÀN LUẬN 57
4.1 Thực trạng đào tạo và sử dụng nhân lực y tế theo chế độ cử tuyển, liên thông và theo địa chỉ tại tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2011-2018 57
4.1.1 Thực trạng đào tạo nhân lực y tế tại tỉnh Hòa Bình theo chế độ cử tuyển, liên thông và theo địa chỉ tại tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2011 - 2018 59
4.1.2 Thực trạng sử dụng nhân lực y tế theo chế độ cử tuyển, liên thông và theo địa chỉ tại tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2011 - 2018 65
4.2 Thuận lợi và khó khăn trong đào tạo và sử dụng nhân lực y tế theo chế độ cử tuyển, liên thông và theo địa chỉ tại tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2011-2018 66
KẾT LUẬN 71
1 Thực trạng đào tạo và sử dụng nhân lực y tế theo chế độ cử tuyển, liên thông và theo địa chỉ tại tỉnh Hòa Bình, giai đoạn 2011 - 2018 71
2 Một số thuận lợi và khó khăn 71
KHUYẾN NGHỊ 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
PHỤ LỤC……… 81
Phụ lục 3.1:Bảng thu thập số liệu nhân sự được cử đi đào tạo của tỉnh Hòa Bình từ năm 2011-2018 79
Phụ lục 3.2: Bảng thu thập số liệu nhân sự được cử đi đào tạo của tỉnh Hòa Bình từ năm 2011-2018 80
Phụ lục 4.1: Bảng thu thập số liệu nhân lực được sử dụng sau khi đào tạo cử tuyển, liên thông hoặc đào tạo theo địa chỉ của tỉnh Hòa Bình từ năm 2011-2018 81
Phụ lục 4.2: Bảng thu thập số liệu nhân lực được sử dụng sau khi đào tạo cử tuyển, liên thông hoặc đào tạo theo địa chỉ của tỉnh Hòa Bình từ năm 2011-2018 82
Phụ lục 5: Phỏng vấn sâu đại diện các nhà hoạch định chính sách tại địa phương 83
Phụ lục 6: Phỏng vấn sâu người triển khai thực hiện chính sách/Người quản lý sử dụng cán bộ 85
Trang 6Cử tuyển, liên thông và theo địa chỉ 87
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2 1: Bảng lấy mẫu và phương pháp thu thập thông tin tại tỉnh Hoà Bình 23Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng cử công tác đào tạo giai đoạn 2011-2018 27Bảng 3.2 Phân bổ tỉ lệ khối trường theo từng loại hình đào tạo tại tỉnh Hoà Bình giai đoạn 2011-2018 30Bảng 3.3 Phân bổ tỉ lệ các chuyên ngành đào tạo phân theo chương trình đào tạo NLYT giai đoạn 2011-2018 31Bảng 3.4 Phân bổ tình trạng học tập của CBYT được cử đi đào tạo tại tỉnh Hoà Bình giai đoạn 2011- 2018 34Bảng 3.5 Phân bổ tỉ lệ xếp loại đào tạo của NLYT được sử dụng sau khi đào tạo tại tỉnh Hoà Bình giai đoạn 2011- 2018 34Bảng 3.6 Phân bổ tỉ lệ quay lại cơ quan cũ sau khi được đào tạo của CBYTtheo loại hình đào tạo tại tỉnh Hòa Bình từ năm 2011-2018 37
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Phân bổ số lượng đào tạo NLYT theo loại hình đào tạo tại tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2011- 2018 28Biểu đồ 3.2 Phân bố số lượng người đi học theo tuyến tại tỉnh Hoà Bình giai đoạn 2011-2018 29Biểu đồ 3.3 Phân bổ số lượng người đi học theo tuyến tại tỉnh Hoà Bình giai đoạn 2011-2018 30Biểu đồ 3.4 Số lượng học viên được cử đi học hệ liên thông theo chuyên ngành đào tạo giai đoạn 2011-2018 32Biểu đồ 3.5 Số lượng học viên được cử đi học hệ cử tuyển theo chuyên ngành đào tạo giai đoạn 2011-2018 33Biểu đồ 3.6 Số lượng học viên được cử đi học hệ đào tạo theo địa chỉ theo chuyên ngành đào tạo giai đoạn 2011-2018 33Biểu đồ 3.7 Số lượng sinh viên ra trường theo 3 loại hình giai đoạn 2011-2018 35Biểu đồ 3.8 Số lượng nhân lực đào tạo được phân về các khối bệnh viện/ dự phòng tại tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2011-2018 36Biểu đồ 3.9 Số lượng nhân lực đào tạo được phân về các tuyến tỉnh/huyện/xã tại tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2011-2018 36
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Phần viết tắt Phần viết đầy đủ
BGDĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
WHO Tổ chức Y tế thế giới (World Health Oganization)
Trang 10bộ y tế (CBYT) cho các vùng trong cả nước Tỉnh Hoà Bình là một tỉnh nằm trong vùng khó khăn tại khu vực phía Tây Bắc của Việt Nam, Mạng lưới y tế đã có từ tuyến tỉnh đến tuyến xã, tuy nhiên nguồn nhân lực cho y tế, đặc biệt là NLYT ở khối dự phòng, tuyến huyện và tuyến xã còn thiếu rất nhiều chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của nhân dân các dân tộc trong tỉnh Đề án đào tạo cho CBYT tuyến cơ sở đã được tỉnh triển khai thực hiện gần 20 năm Tuy nhiên, trong quá trình triển khai các chính sách trên vẫn còn nhiều bất cập do chưa có một nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng kết quả đào tạo nhân lực y tế tại địa phương Nghiên cứu “Thực trạng đào tạo và sử dụng nhân lực y tế theo chế độ cử tuyển, liên thông và theo địa chỉ tại tỉnh Hoà Bình giai đoạn 2011-2018” nhằm mô tả thực trạng đào tạo và sử dụng NLYT theo chế độ cử tuyển, liên thông và theo địa chỉ, từ
đó phân tích một số những thuận lợi, khó khăn và đưa ra giải pháp kiến nghị phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo và sử dụng NLYT tại tỉnh Hoà Bình
Nghiên cứu cắt ngang kết hợp định tính và định lượng Phương pháp định lượng sử dụng số liệu thứ cấp từ tuyến tỉnh và tuyến huyện tại tỉnh Hoà Bình ghi nhận các đối tượng về: thực trạng số lượng, ngành nghề gửi đi đào tạo phân theo tuyến và khối bệnh viện, dự phòng; Số lượng cán bộ trở về địa phương công tác và
bố trí sử dụng NLYT phân theo tuyến và khối bệnh viện, dự phòng do các cơ quan quản lý và sử dụng nhân lực y tế trên địa bàn tỉnh Hoà Bình cung cấp trong giai đoạn từ 2011 đến 2018 Phương pháp định tính chọn mẫu có chủ đích gồm 17 cuộc phỏng vấn sâu và 8 cuộc thảo luận nhóm trên 3 nhóm đối tượng gồm: Đối tượng
Trang 11được cử đi đào tạo; Cơ quan cử người đi đào; Người/cơ quan tiếp nhận người được
cử đi đào tạo trở về làm việc sau khi tốt nghiệp
Kết quả nghiên cứu cho thấy trong giai đoạn 2011-2018 số lượng cán bộ cử đi học có xu hướng ngày càng tăng ở nhóm đối tượng cử tuyển và liên thông, không
có đối tượng được cử đi đào tạo theo hình thức địa chỉ từ năm 2014 Đối tượng cử
đi học là người dân tộc chiếm đa số, đối tượng cử đi học liên thông tuyến xã còn thấp (11.4%) Có sự phân bố chưa phù hợp trong việc phân công đối tượng sau đào tạo giữa các tuyến tỉnh, huyện, xã và giữa khối lâm sàng và khối dự phòng 100% các đối tượng liên thông quay lại cơ quan công tác, tỷ lệ đi làm cao ở nhóm cử tuyển (88,5) và thấp hơn ở nhóm đào tạo địa chỉ (63.6%) Các yếu tố thuận lợi được xác định bao gồm: Chính sách hỗ trợ chi phí trong quá trình đào tạo; Chính sách hỗ trợ của địa phương/đơn vị về bố trí phân công công tác sau đào tạo Các yếu tố khó khăn được xác định là các rào cản về ngôn ngữ, trình độ của các đối tượng được cử
đi học, cùng với khó khăn trong việc thiếu sự liên kết giữa cơ sở đào tạo và đơn vị
cử đối tượng đi học
Từ những kết quả nghiên cứu thu được, chúng tôi đưa ra một số khuyến nghị của nghiên cứu: Tiếp tục có chính sách khuyến khích cho cán bộ đi học ở những chuyên ngành còn thiếu nhân lực; Xây dựng kết hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo giai đoạn gắn liền với xây dựng vị trí việc làm và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp; Cần phối hợp chặt chẽ với cơ sở đào tạo trong việc quản lý đối tượng để địa phương kịp thời nắm bắt thông tin học sinh, đồng thời phối kết hợp trong công tác giáo dục, quản lí sinh viên đạt hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh
Trang 12và 16 điều dưỡng cho 10.000 dân Để đạt được các tiêu chí này trong nhiều năm qua, Bộ Y tế đã xây dựng nhiều chính sách nhằm tăng cường công tác đào tạo ở các vùng khó khăn Các chính sách về đào tạo cử tuyển, liên thông và theo địa chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao số lượng và phân bổ hợp lý cán bộ y tế cho các vùng trong cả nước
Tỉnh Hoà Bình là một tỉnh nằm trong vùng khó khăn tại khu vực phía Tây Bắc của Việt Nam Tỉnh Hoà Bình có tổng số 210 xã, phường trong đó có đến 96 xã nằm trong danh sách các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu vào diện đầu tư Chương trình 135 [24] Giao thông đi lại không thuận tiện, trình độ dân trí thấp, 2/3 dân cư là người đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu là người dân tộc Mường (63%) [25], Tày, Dao, Thái, người dân tộc Kinh sống tập trung ở thành phố
và giải rác ở các huyện Để khắc phục những khó khăn về nhân lực y tế Nhà nước
và tỉnh Hòa Bình đã ban hành nhiều chính sách để tăng cường chất lượng cán bộ y
tế tại tỉnh Hòa Bình
Mạng lưới y tế đã có từ tuyến tỉnh đến tuyến xã, tuy nhiên nguồn nhân lực cho
y tế, đặc biệt là NLYT ở khối dự phòng, tuyến huyện và tuyến xã còn thiếu rất nhiều chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của nhân dân các dân tộc trong tỉnh Theo báo cáo thống kê, trong giai đoạn 2010-2014, số lượng cán bộ y tế (CBYT) trong các cơ sở công lập trên địa bàn tỉnh Hoà Bình có tăng nhưng không đáng kể Năm 2010 toàn tỉnh có 3.025 CBYT, đến năm 2014 tăng lên 3.811 người
Tỷ lệ CBYT/10.000 dân năm 2010 là 37 đến năm 2014 tăng lên 45.81 nhưng vẫn thấp hơn tỉ lệ của toàn quốc (46 CBYT/10.000 dân năm 2012); Tỉ lệ bác sĩ/10.000
Trang 13dân tăng từ 6,1 năm 2010 tăng lên 7,01 năm 2014, thấp hơn mức trung bình của toàn quốc (7,8) Số lượng CBYT phân bố không đồng đều giữa tuyến tỉnh và tuyến
cơ sở, nếu chỉ tính riêng tỷ lệ BS và dược sỹ đại học/10.000 dân trực tiếp phục vụ tại tuyến y tế cơ sở thì tỷ lệ đạt thấp so với yêu cầu, hiện mới có 3,7 BS/10.000 dân; 0,09 DSĐH/10.000 dân [25]
Đề án đào tạo cho CBYT tuyến cơ sở đã được tỉnh triển khai thực hiện gần 20 năm Tuy nhiên, trong quá trình triển khai các chính sách trên vẫn còn nhiều bất cập
do đó rất cần thiết có một nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng kết quả đào tạo nhân lực y tế tại địa phương Câu hỏi đặt ra là tại địa phương khi triển khai và thực hiện những chính sách này có những thuận lợi, khó khăn gì và giải pháp để nâng cao hiệu quả của chính sách cho phù hợp với đặc thù từng tỉnh như thế nào Năm
2018, trường Đại học Y tế công cộng chủ trì đề tài nghiên cứu cấp Bộ: “Nghiên cứu thực trạng đào tạo và sử dụng nhân lực y tế theo chế độ cử tuyển và theo địa chỉ tại Việt Nam” với mong muốn thực hiện một đề tài nghiên cứu về vấn đề
tào tạo và sử dụng NLYT tại tỉnh Hoà Bình, được sự đồng ý của chủ nhiệm đề tài
tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng đào tạo và sử dụng nhân lực y tế theo chế độ
cử tuyển, liên thông và theo địa chỉ tại tỉnh Hoà Bình giai đoạn 2011-2018” nhằm
mô tả thực trạng đào tạo và sử dụng NLYT theo chế độ cử tuyển, liên thông và theo địa chỉ, từ đó phân tích một số những thuận lợi, khó khăn và đưa ra giải pháp kiến nghị phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo và sử dụng NLYT tại tỉnh Hoà Bình
Trang 14MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả kết quả đào tạo và sử dụng nhân lực y tế theo chế độ cử tuyển, liên thông và theo địa chỉ tại tỉnh Hoà Bình giai đoạn 2011- 2018
2 Phân tích một số thuận lợi và khó khăn trong đào tạo và sử dụng nhân lực y
tế theo chế độ cử tuyển, liên thông và theo địa chỉ tại tỉnh Hoà Bình giai đoạn 2011
- 2018
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
Khái niệm nguồn nhân lực y tế
Năm 2006, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra định nghĩa “Nhân lực y tế (NLYT) bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khoẻ” Theo đó, NLYT bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế, người làm công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấp các dịch vụ y tế [31] Như vậy, NLYT bao gồm cán bộ y tế (CBYT) chính thức và cán bộ không chính thức (tình nguyện viên xã hội, những người chăm sóc sức khoẻ gia đình, lang y) Theo định nghĩa của WHO thì tại Việt Nam các đối tượng được coi là NLYT sẽ bao gồm các CBYT đang làm việc trong hệ thông y tế công lập, các
cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học Y – dược và tất cả những người khác đang tham gia vào các hoạt động quản lý, cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ nhân dân
Đào tạo cử tuyển
Theo Nghị định 134/2006/NĐ-CP Cử tuyển là việc tuyển sinh không qua thi tuyển vào đại học, cao đẳng, trung cấp để đào tạo cán bộ, công chức, viên chức cho các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và các dân tộc thiểu số chưa có hoặc có rất ít cán bộ đạt trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp [13]
Chế độ cử tuyển quy định tại Nghị định này bao gồm: tuyển sinh; tổ chức và kinh phí đào tạo; phân công công tác cho người được cử đi học sau khi tốt nghiệp; bồi hoàn học bổng, chi phí đào tạo đối với người được cử đi học theo chế độ cử tuyển sau khi tốt nghiệp không chấp hành sự phân công công tác
Theo Nghị định 49/2015/NĐ-CP ngày 15/5/2015 [18] sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 134/2006/NĐ-CP định nghĩa Cử tuyển được sửa đổi bổ sung như sau: Cử tuyển là việc tuyển sinh không qua thi tuyển vào đại học, cao đẳng, trung cấp để đào tạo cán bộ, công chức theo yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế, đào đạo viên chức theo nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập cho các
Trang 16vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và các dân tộc thiểu số chưa có hoặc có rất ít cán bộ đạt trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp [18]
Đào tạo liên thông
1 Theo Thông tư số 55/2012/TT-BGDĐT định nghĩa: Đào tạo liên thông là biện pháp tổ chức đào tạo trong đó người học được sử dụng kết quả học tập đã có
để học tiếp ở trình độ cao hơn cùng ngành đào tạo hoặc khi chuyển sang ngành đào tạo hay trình độ đào tạo khác [1]
2 Đào tạo liên thông được tổ chức theo hình thức chính quy hoặc vừa làm vừa học
3 Đào tạo liên thông từ xa được quy định trong quy chế riêng
Các ngành khoa học sức khỏe mới được áp dụng liên thông gồm: những người
có bằng tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng thuộc khối ngành sức khỏe được tuyển sinh đào tạo trình độ đại học các ngành: Điều dưỡng, Hộ sinh, Y tế công cộng, Kỹ thuật
y học Các thí sinh đã được đào tạo trong quân đội cũng được xét trong thông tư Tất cả các đối tượng này trước hết đều yêu cầu phải có bằng tốt nghiệp đúng chuyên ngành phù hợp và đào tạo theo chương trình của Bộ Y tế
Đào tạo theo địa chỉ
Ðào tạo theo địa chỉ là hình thức đào tạo dựa theo hợp đồng thỏa thuận giữa nhà trường và đơn vị có nhu cầu sử dụng nhân lực, trong đó đơn vị có nhu cầu sử dụng nhân lực phải cam kết sẽ tiếp nhận học sinh sau khi tốt nghiệp về làm việc tại đơn vị [6]
1.2 Thực trạng đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực y tế theo chế độ cử tuyển, liên thông, theo địa chỉ trên thế giới
Theo số liệu cập nhật của WHO năm 2013 về số tỷ lệ NVYT (bác sỹ và điều dưỡng) trên 10.000 dân được trình bày ở Biểu đồ 1.1 thì Đông Nam Á có mật độ tương đối thấp so với các khu vực khác trên thế giới, chỉ cao hơn khu vực Nam Á
và cận Sahara nhưng cũng đã cao hơn mốc 22,8 của WHO khuyến cao năm 2006 Tuy nhiên, trong biểu đồ dưới đây cho thấy có một số nước trong đó có Việt Nam không đáp ứng tiêu chuẩn “cơ bản” về số lượng nhân lực chăm sóc sức khỏe của WHO
Trang 17Biểu đồ 1.1: Số lượng nhân viên y tế trên 10.000 dân tại các nước khu vực Đông Nam Á (nguồn: WHO, 2013)
Nhân lực y tế đóng vai trò quan trọng trong hệ thống y tế để nâng cao chất lượng dịch vụ và hướng tới các mục tiêu về sức khỏe Tuy nhiên, nhân lực y tế trong hệ thống y tế trên thế giới đang trong tình trạng thiếu hụt khi họ phải đối mặt với nhiều ảnh hưởng từ nhân khẩu, gánh nặng bệnh tật, dịch bệnh, tài chính, sự phát triển của khoa học, toàn cầu hóa Số lượng cán bộ y tế không đủ dẫn tới sự mất cân bằng trong đào tạo, vấn đề phân bố không thích hợp của từng địa phương, chưa kể đến sự hao hụt nhân lực theo nhiều lý do khác Tại khu vực Tây Thái Bình Dương, nơi thiếu nhiều nhân lực y tế, nhất là cán bộ y tế có kinh nghiệm Tình trạng thiếu hụt ở mỗi nước là khác nhau, chẳng hạn như ở Australia có mật độ cán bộ y tế là 11/1000 dân, trong khi đó ở đảo Solomon chỉ có 1/1000 dân Sự thiếu hụt này cũng diễn ra ở các vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn và ở cả các khu vực nghèo của thành thị Có sự phân bố không đều về cả số lượng và kỹ năng trong mỗi ngành nghề Ngay đối với nước phát triển như Australia vẫn có sự thiếu hụt các bác sĩ chuyên khoa, như sức khỏe tâm thần, phẫu thuật chỉnh hình, chăm sóc cấp cứu và gây mê… Ở những nước có thu nhập thấp và trung bình còn thiếu nhiều về điều dưỡng và nữ hộ sinh Những vấn đề tồn tại chung cho tất cả các nước trong khu vực
Trang 18là có tỉ lệ hao hụt nhân lực cao và cán bộ y tế làm việc không hết khả năng mà vấn
đề sâu xa là do cấu trúc không cân đối giữa nam/nữ, người lao động lớn tuổi, điều kiện làm việc không đủ, sự dịch chuyển biến động cán bộ y tế từ công sang tư, từ trong nước ra các nước khác [32]
Đào tạo nhân lực y tế theo chế độ cử tuyển, liên thông hay theo địa chỉ là những biện pháp khắc phục tình trạng thiếu nhân lực y tế và làm đa dạng hóa các hình thức đào tạo khác nhau để phát triển nguồn nhân lực y tế, nhằm ưu tiên các nhân viên y tế vùng nông thôn được đào tạo, thực hành lâm sàng một cách bài bản nhằm mang lại một đội ngũ nhân viên phù hợp, có năng lực thích hợp với từng chức năng tại các vùng, để nhanh chóng giải quyết được những bất cập hiện tại
Các hệ thống y tế tại Châu Phi cận Sahara phải đối mặt với nhiều thách thức
về năng lực của nguồn nhân lực y tế để thực hiện các nhiệm vụ của họ, việc can thiệp và phát triển năng lực trên phạm vi rộng nhằm giải quyết những hạn chế này [30] Tại các nước thu nhập thấp và trung bình, việc đào tạo như một chiến lược để cải thiện hiệu suất và tăng cường nhân lực của nhân viên y tế Một nghiên cứu được thực hiện trên 18 đối tượng cử tuyển đến từ các nước châu Phi được tham gia một chương trình đào tạo các chuyên gia trong việc phát triển nguồn nhân lực y tế, thông qua các cách trực tiếp hoặc kết hợp học từ xa Chức năng chuyên môn là một trong những tiêu chí để các đối tượng này được đào tạo cử tuyển, ngoài ra còn cân nhắc các tiêu chí bổ sung khác như trình độ học vấn, hay khoảng thời gian họ quay lại phục vụ địa phương mình Sau thi tiến hành phỏng vấn, đã có 5/18 người đã rời khỏi địa phương mình để đến các cơ quan tư nhân/quốc tế do không hài lòng về thù lao, điều khiện và triển vọng nghề nghiệp [27] Tại một quần đảo Marshall ở Micronesia, một quần đảo ít dân cư, có nguồn lực y tế cực kỳ hạn chế đã nỗ lực cung cấp các dịch vụy tế hợp lý cho người dân trên đảo bằng cách cử những người dân bản địa đi đào tạo để họ trở thành các trợ lý sức khỏe, và trở về phục vụ cộng đồng địa phương [28] Vai trò của nhân lực y tế công cộng trong việc cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản được công nhận rộng rãi tại Iran, vai trò của nhân viên y tế công cộng được nhấn mạnh trong hội nghị Alma Ata từ năm 1987, đào tạo nhân viên y tế cử tuyển là một trong những khía cạnh quan trọng
Trang 19nhằm phục vụ người dân địa phương tại Iran Các kế hoạch đào tạo cử tuyển của họ đều được quốc gia tạo điều kiện thực hiện và đảm bảo tính bền vững Điều này nhằm cung cấp một môi trường đào tạo toàn diện, phù hợp, tăng kiến thức, kỹ năng
và tạo động lực để các nhân viên y tế sau khi đào tào quay lại phục vụ cộng đồng Nội dung đào tạo được thay đổi chương trình để phù hợp với nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu ngày càng tăng Các khóa đào tạo này để giải quyết các nhu cầu của địa phương được tốt hơn [29]
1.3 Thực trạng đào tạo nhân lực y tế tại một số vùng khó khăn tại Việt Nam
1.3.1 Nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực y tế tại một số vùng khó khăn tại Việt Nam
Công tác phát triển NLYT trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu đáng kể Với mục tiêu “Đẩy mạnh phát triển nguồn NLYT về các số lượng và chất lượng, đáp ứng tốt nhu cầu của ngành y tế; tăng cường NLYT cho nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa…” trong giai đoạn 2011 – 2015, số lượng bác sĩ và dược sĩ đại học tăng lên đáng kể từ 7,33 và 1,9 năm 2011, lên đến 7,61 và 2,12 năm 2013, ước tính đến năm 2015 đạt 8,0 và 2,2 [8] Tỷ lệ trạm y tế có bác sĩ hoạt động tăng từ 70% năm 2010 lên đến 75% năm 2013 và ước tính đạt 80% năm 2015 Dù chưa đáp ứng được việc bao phủ toàn bộ các TYT, tỷ lệ TYT có bác sĩ đã tăng trong giai đoạn qua Tuy nhiên Tỷ lệ TYT có bác sĩ đã gia tăng trong thời gia qua Tuy nhiên,
sự phân bố về TYT có bác sĩ có sự khác nhau giữa các vùng Các tỉnh vùng Trung
du và miền núi phía Bắc, Bắc trung bộ và Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên vẫn năm trong nhóm thấp
Số lượng CBYT hàng năm vẫn tăng đều về cả số lượng lẫn cơ cấu nhân sự, nhưng sự phân bố nguồn nhân lực ngành y tế rất chênh lệch, nơi thành phố, thành thị tập trung đông CBYT có trình độ cao, nơi vùng sâu, vùng xa, vùng nghèo thì rất thiếu cả về số lượng và chất lượng trình độ CBYT thấp, ảnh hưởng không nhỏ đến việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ KCB của người dân Đồng bằng sông Cửu Long và Tây nguyên vẫn là hai khu vực có số bác sĩ trên vân dân thấp nhất cả nước (4,5 và 4,8) [7] Trong khi đó, thành thị chiếm 28,1% dân số cả nước nhưng chiếm 51,3% tổng số CBYT (15% ở trung ương và 37% ở tuyến huyện) [7] Hiện nay, tuyến
Trang 20Trung ương có số bác sĩ nhiều gấp 47,8 lần số y sĩ; tỷ lệ này giảm dần ở tuyến tỉnh, huyện (2,8 lần) và xã (0,3 lần) Hiện nay nếu muốn 10 BS/10.000 dân như ở các nước trong khu vực thì cần phải bổ sung thêm 34.000 bác sĩ Thiếu CBYT xảy ra ở khu vực YTDP, tuyến cơ sở và vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa Theo dự thảo quy hoạch phát triển nhân lực và hệ thống đào tạo y tế đến năm 2020, cán bộ cho TTYT quận/huyện rất thiếu (90% đơn vị) Ước tính cần bổ sung 34.000 cho YTDP Nếu theo quy hoạch của Bộ Y tế thì cần bổ sung 15.979 người cho tuyến tỉnh và tuyến huyện Thiếu nhân lực y tế cũng xảy ra ở một số chuyên khoa như Răng Hàm Mặt (tỷ lệ bác sĩ trên dân là 1/25000 quá thấp so với nhu cầu) và Lao và bệnh phổi, chuyên ngành Da liễu, nhi, truyền nhiễm và HIV/AIDS [6] Cơ cấu nhân lực cũng chưa cân đối theo giới và dân tộc Theo thống kê năm 2009 thì tổng số CBYT người dân tộc thiểu số là 21.637 người Số lượng này vẫn còn thấp vì dân tộc thiểu số sống giải rác ở các khu vực trên toàn quốc Cơ cấu về giới của CBYT khác nhau tuỳ loại CBYT, cơ cấu bác sĩ thì nhiều nam hơn, trong khi các hình thức còn lại như điều dưỡng và nữ hộ sinh thì tỷ lệ nữ lại nhiều hơn
1.3.2 Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực y tế theo chế độ cử tuyển, liên thông và theo địa chỉ tại Việt Nam
Chế độ cử tuyển vào đại học, cao đẳng, trung cấp bắt đầu được thực hiện từ năm 1990 đến nay Sau gần 30 năm thực hiện chế độ cử tuyển, hàng chục ngàn học sinh là người các DTTS và người Kinh mà gia đình định cư ở vùng KT-XH đặc biệt khó khăn được cử đi học và hoàn thành chương trình đào tạo đại học, cao đẳng, trung cấp trở về tham gia phát triển KT-XH ở vùng DTTS và miền núi; nhiều người phát triển tốt, trở thành những cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị, những doanh nhân và người lao động có trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp; vấn đề thiếu hụt cán bộ có trình độ ở vùng DTTS và miền núi đã được khắc phục một phần Bắt đầu từ năm 2007, những quy định chế độ cử tuyển thực hiện theo Nghị định 134 của Chính phủ [13] và Nghị định 49 của Chính phủ [18] đã sửa đổi, bổ sung một số quy định cụ thể về chế độ cử tuyển cho phù hợp với yêu cầu thời kì mới Trong giai đoạn từ 2007-2013, số học sinh cử tuyển vào tạo đại học, cao đẳng,
Trang 21trung cấp theo kế hoạch là 14.463 chỉ tiêu, thực hiện được 12.776 (88,34%) và 1.305 chỉ tiêu trung cấp, thực hiện được 1.076 (82,45%) [20].
Từ khi chế độ cử tuyển thực hiện theo Nghị định 134 và Nghị định 49, số lượng học sinh cử tuyển tăng rất nhanh, song đến năm 2013 lại bắt đầu giảm nhanh,
cụ thể: Năm 2014 cử tuyển 514 học sinh; năm 2015 cử tuyển 225 học sinh; năm
2016 cử tuyển 313 học sinh và từ năm 2014 một số địa phương vùng DTTS đã không thực hiện chế độ cử tuyển: năm 2014 các tỉnh Bắc Kạn, Phú Thọ, Đắk Nông,
Bà Rịa - Vũng Tàu và Hậu Giang; năm 2015 các tỉnh Ninh Bình, Cao Bằng, Bắc Kạn, Phú Thọ, Thanh Hóa, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên, Kon Tum, Đắk Nông, Lâm Đồng, Bà Rịa - Vũng Tàu, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang và Cà Mau;… Đến năm 2017, còn 8 tỉnh, thành phố tiếp tục cử học sinh đi học theo chế độ cử tuyển: Hà Giang, Lạng Sơn, Điện Biên, Hòa Bình, Phú Yên, Ninh Thuận, Trà Vinh, Bạc Liêu với tổng chỉ tiêu tuyển sinh là 78 học sinh [20].Tại tỉnh Hòa Bình, bắt đầu từ năm 1998, Sở Y tế Hòa Bình đã tham mưu cho
Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình thành lập Đề án 168 về đào tạo bác sĩ tuyến cơ sở giai đoạn 1998 - 2005 Trong đề án, Ủy ban nhân dân tỉnh giao cho Sở Y tế họp đồng với Học viện Quân y đào tạo được 4 khóa học Trong quá trình đào tạo, Ủy ban nhân dân tỉnh đã hỗ trợ kinh phí đào tạo: Tiền ôn thi đầu vào, học phí, tiền điện, nước sinh hoạt cho học viên hàng năm Kết thúc 4 khóa đào tạo có 106 bác sĩ chuyên tu tốt nghiệp nhưng có 101 bác sĩ về công tác tại địa phương và có 5 bác sĩ chuyển công tác hoặc xin thôi việc, tỉnh đến hết năm 2009, tỉnh Hòa Bình mới chỉ đạt 48 % xã có bác sĩ [11] Để nhanh chóng khắc phục tình trạng thiếu cán bộ có trình độ chuyên môn cao, trong giai đoạn từ năm 2010 - 2020, tỉnh Hòa Bình tiếp tục có những chính sách mới được chiển khai nhằm tăng nhanh số lượng cán bộ có trình độ chuyên môn, nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân các dân tộc trong tỉnh
Trang 221.4 Một số thuận lợi, khó khăn của công tác đào tạo nhân lực y tế tại Việt Nam
1.4.1 Thuận lợi trong công tác đào tạo nhân lực y tế tại Việt Nam
Mạng lưới các cơ sở đào tạo cán bộ y tế đã được mở rộng đáng kể trong thời gian qua Tính đến tháng 6-2014, cả nước đã có 173 cơ sở đào tạo cán bộ y tế ở tất
cả các trình độ Trong đó, có 35 cơ sở đào tạo trình độ đại học, 44 cơ sở đào tạo trình độ cao đẳng và 123 cơ sở đào tạo trình độ trung cấp chuyên nghiệp [8]
Cơ sở vật chất của nhiều trường đã từng bước được cải thiện Bên cạnh nguồn kinh phí từ NSNN, một số dự án vốn vay ODA đã ưu tiên hỗ trợ nâng cấp cơ sở vật chất các trường trung cấp, cao đẳng, đại học y dược
Hệ thống các cơ sở đào tạo cán bộ y tế đã được sắp xếp lại, mở rộng về quy
mô trên cả nước với nhiều hình thức đào tạo nhằm khắc phục tình trạng thiếu hụt cán bộ y tế, nhất là vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa Hệ thống các trường này tạo
ra nguồn bổ sung cho đội ngũ nhân lực y tế dồi dào Số lượng sinh viên đại học ra trường tăng nhanh, năm 2014 có trên 7.000 bác sĩ ra trường, tăng hơn một nghìn so với năm 2013 [8]
Nguồn nhân lực điều dưỡng được đào tạo bao gồm các bậc đại học, cao đẳng, trung cấp với quy mô lớn Với chỉ tiêu tuyển sinh cao đẳng, trung cấp điều dưỡng từ khoảng trên 11.000 người năm 2006 và tăng dần đến trên 35.000 người năm 2014 Đào tạo sau đại học (bác sĩ chuyên khoa I, II, nội trú, thạc sĩ và tiến sĩ) ngành y tế được tăng cường ở tất cả các loại hình, số lượng học viên sau đại học tốt nghiệp năm 2010 là 3.378 người, đến năm 2013 đã tăng lên 4.680 người [8]
1.4.2 Khó khăn trong công tác đào tạo nhân lực y tế
Công tác đào tạo cán bộ y tế chủ yếu vẫn dựa trên năng lực và công tác bảo đảm chất lượng của các trường y dược Chương trình đào tạo chưa được thực hiện hiệu quả do còn hạn chế trong việc hướng dẫn, theo dõi, giám sát và đánh giá chặt chẽ; chương trình đào tạo chưa hội nhập với thế giới cả về cách tiệp cận, phương pháp và nội dung đào tạo
Trang 23Kết quả giám sát tại 44 trường cao đẳng y tế cho thấy, nhiều trường đào tạo quy mô lớn (có 5 trường trên 2 nghìn sinh viên) nhưng nhân lực giảng viên trình độ sau đại học còn ít (42% số trường còn dưới 20% giảng viên trình độ đại học) Kết quả giám sát tại 10 trường đại học về đào tạo theo chế độ cử tuyển, liên thông và theo địa chỉ sử dụng cho thấy số lượng cử tuyển, liên thông y đa khoa và liên thông ngành dược lớn [8]
Chất lượng nhân lực y tế, đặc biệt là ở tuyến xã trong sơ cấp cứu, chẩn đoán
và điều trị một số bệnh, cũng như kiến thức về xử lý bệnh dịch còn hạn chế Theo một nghiên cứu ở khu vực miền núi, chỉ có 17,3% số bác sĩ và y sĩ được hỏi có kiến thức và kỹ năng đúng trong xử trí sơ cấp cứu, 17% biết được các dấu hiệu nguy hiểm trong thời kỳ phụ nữ mang thai, 50,5% biết cách chẩn đoán tăng huyết áp và 15,6% biết cách xử trí một vụ dịch [8]
Phân bổ nhân lực y tế còn nhều bất cập Mặc dù đã có những biến chuyển trong tuyển dụng, phân bổ nhân lực nhưng vẫn còn nhiều bất cập; chênh lệch về số lượng và chất lượng nhân lực y tế giữa khu vực điều trị và dự phòng, giữa các chuyên ngành, giữa trung ương và địa phương
Phân bố nhân lực y tế chưa hợp lý giữa các khu vực địa lý, giữa thành thị và nông thôn, đặc biệt khu vực miền núi Hiện nay, cán bộ y tế có trình độ đại học trở lên tập trung chủ yếu ở các thành phố và khu vực kinh tế phát triển Hiện có tới 45% nhân lực y tế có trình độ đại học trở lên ở tuyến trung ương, trong khi ở địa phương chỉ là 23%
Tại địa phương, 50% bác sĩ và 69% dược sĩ đại học làm việc ở tuyến tỉnh, 34% bác sĩ và 31% dược sĩ đại học làm việc ở tuyến huyện, 17% bác sĩ và 1% dược
sĩ đại học làm việc ở tuyến xã
Số lượng dược sĩ đại học ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh chiếm hơn 48% tổng số dược sĩ của cả nước; chủ yếu (92%) số dược sĩ này làm việc trong khu vực
tư nhân, chiếm hơn một nửa số dược sĩ thuộc khối tư nhân của cả nước Tại các
Trang 24bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, số lượng dược sĩ đại học chỉ chiếm tỷ lệ 19,6% nhân lực dược chung [8]
Tỷ số bác sĩ trên một vạn dân trên cả nước tăng đều và ở một số địa phương khá cao, nhưng ở một số tỉnh miền núi phía bắc, đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ, tỷ lệ này vẫn còn thấp
Phân bố bất hợp lý giữa các khoa ngay trong một bệnh viện, một số khoa thiếu bác sĩ như khoa truyền nhiễm, khoa Lao, khoa Tâm thần
Công tác quy hoạch, kế hoạch và quản lý nhân lực tại các tuyến còn hạn chế Công tác theo dõi, quản lý nhân lực chưa được chuẩn hóa Thiếu thông tin đầy đủ, chính xác, cụ thể về nhân lực y tế
Chế độ đãi ngộ đối với cán bộ y tế chưa phù hợp, lương và phụ cấp thấp, không tương xứng với thời gian học tập, công sức, môi trường, điều kiện làm việc vất vả, độc hại, nguy hiểm, nhất là ở khu vực miền núi, nông thôn Cùng với hạn chế trong năng lực phục vụ là các hiện tượng tiêu cực trong ngành y tế ở một số nơi đang đang là mối quan tâm, bức xúc của xã hội
1.5 Giới thiệu nghiên cứu gốc “Nghiên cứu thực trạng đào tạo và sử dụng nhân lực y tế theo chế độ cử tuyển và theo địa chỉ tại Việt Nam”
Năm 2018, trường Đại học Y tế công cộng chủ trì đề tài nghiên cứu cấp Bộ
“Nghiên cứu thực trạng đào tạo và sử dụng nhân lực y tế theo chế độ cử tuyển và theo địa chỉ tại Việt Nam” với các mục tiêu: 1 Đánh giá thực trạng đào tạo và sử dụng nhân lực y tế theo chế độ cử tuyển và theo địa chỉ tại Việt Nam giai đoạn 2007- 2015; 2 Phân tích được các chính sách về đào tạo và sử dụng nhân lực y tế theo chế độ cử tuyển và theo địa chỉ tại Việt Nam giai đoạn 2007- 2015; 3 Kiến nghị được một số giải pháp và điều chỉnh chính sách phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo và sử dụng nhân lực y tế theo chế độ cử tuyển và theo địa chỉ tại Việt Nam Nghiên cứu được thực hiện tại 8 tỉnh đại diện cho các tỉnh thuộc các vùng khó khăn của Việt Nam bao gồm: Điện Biên, Hòa Bình, Thái Nguyên, Kon Tum, Quảng Trị, Đồng Tháp, Hậu Giang và Trà Vinh Thời gian thực hiện đề tài là 24 tháng Đề
Trang 25tài nghiên cứu 3 nội dung chính bao gồm: Nội dung 1: Xây dựng thuyết minh đề tài nghiên cứu, phân tích các chính sách về đào tạo và sử dụng nhân lực theo chế độ cử tuyển và theo địa chỉ; Nội dung 2: Đánh giá thực trạng đào tạo và sử dụng nhân lực theo chế độ cử tuyển và theo địa chỉ; Nội dung 3: Tổ chức hội thảo chia sẻ kết quả nghiên cứu Hiện nay đề tài đang tiến hành nội dung 3: Tổ chức hội thảo chia sẻ kết quả nghiên cứu
Với mong muốn thực hiện một đề tài nghiên cứu về vấn đề đào tạo và sử dụng nhân lực y tế tại tỉnh Hoà Bình Được sự đồng ý của chủ nhiệm đề tài là TS Nguyễn Minh Lợi, tôi được tham gia vào nghiên cứu với vai trò thành viên tham gia thu thập số liệu tại tỉnh Hoà Bình và được phép sử dụng số liệu để thực hiện đề tài luận
văn “Thực trạng đào tạo và sử dụng nhân lực y tế theo chế độ cử tuyển, liên thông và theo địa chỉ tại tỉnh Hoà Bình giai đoạn 2011-2018” Đề tài của tôi được
thực hiện trong phạm vi giới hạn một phần của nội dung 2 gồm 2 cấu phần định tính
và định lượng Phần định lượng tôi sử dụng bộ phiếu thu thập số liệu thứ cấp thu thập số liệu về thực trạng đào tạo và sử dụng nhân lực y tế tại tỉnh Hoà Bình trong giai đoạn từ năm 2011 - 2018 Số liệu thứ cấp nghiên cứu gốc chỉ thu thập số liệu về thực trạng đào tạo và sử dụng nhân lực y tế theo chế độ cử tuyển và theo địa chỉ tại
4 đơn vị tuyến tỉnh trong giai đoạn 2007-2015 gồm: Sở Y tế Hoà Bình, Bệnh viện
đa khoa tỉnh, Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, Trung tâm phòng chống bệnh xã hội và một đơn vị tuyến huyện là trung tâm y tế huyện Kim Bôi Ngoài số liệu thu thập được từ nghiên cứu gốc, để có đánh giá tổng thể về thực trạng đào tạo và sử dụng NLYT tại tỉnh Hoà Bình tôi bổ sung thêm vào để tài nghiên cứu số liệu thứ cấp thu thập về thực trạng đào tạo và sử dụng nhân lực y tế theo chế độ cử tuyển, liên thông
và theo địa chỉ trên địa bàn toàn tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2011-2015 và số liệu thu thập mới trong giai đoạn từ năm 2016 - 2018 Phần định tính tôi sử dụng bộ phiếu phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm của nghiên cứu gốc gồm 10 cuộc phỏng vấn sâu
và 4 cuộc thảo luận nhóm, trong đó: Phỏng vấn sâu: lãnh đạo Sở Y tế tỉnh Hoà Bình, trưởng phòng Tổ chức cán bộ Sở Y tế; Lãnh đạo và trưởng phòng tổ chức cán bộ: Bệnh viện đa khoa tỉnh Hoà Bình, trung tâm y tế dự phòng tỉnh, trung tâm phòng chống bệnh xã hội và 2 lãnh đạo là bệnh viện và trung tâm y tế dự phòng
Trang 26huyện Kim Bôi 04 cuộc thảo luận nhóm cho 2 nhóm đối tượng được cử đi đào tạo liên thông, theo địa chỉ và cử tuyển ở tuyến tỉnh và tuyến huyện Ngoài ra, tôi bổ sung vào nghiên cứu thêm 4 cuộc phỏng vấn sâu và 4 cuộc thảo luận nhóm với lãnh đạo và 2 nhóm đối tượng được cử đi đào tạo cử tuyển, liên thông và theo địa chỉ ở tuyến huyện gồm: hai huyện Cao Phong và Lạc Thủy Bện cạnh đó để tìm hiểu rõ hơn những quy định, cũng như những thuận lợi, khó khăn trong việc triển khai chính sách đào tạo cử tuyển, liên thông và theo địa chỉ tại tỉnh Hoà Bình tôi bổ sung thêm vào nghiên cứu thêm 3 cuộc phỏng vấn sâu với lãnh đạo 3 đơn vị tuyến tỉnh gồm: Lãnh đạo phòng Văn Xã - UBND tỉnh Hoà Bình, lãnh đạo phòng Xây dựng chính quyền, công tác thanh niên – Sở Nội vụ tỉnh Hoà Bình, lãnh đạo phòng Giáo dục chuyên nghiệp - Sở giáo dục và đào tạo tỉnh Hoà Bình
1.6 Giới thiệu một số đặc điểm hệ thống y tế tỉnh Hòa Bình và đề án đào tạo nhân lực y tế tại Hòa Bình
1.6.1 Đặc điểm chung của tỉnh Hoà Bình
Tỉnh Hoà Bình là một tỉnh miền núi phía tây bắc Việt Nam, tiếp giáp với phía tây đồng bằng Sông Hồng, có vị trí địa lý thuận lợi: nằm ở cửa ngõ phía Tây Bắc, giao thông đi lại thuận tiện, phía bắc giáp với tỉnh Phú Thọ, phía Nam giáp với các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình; phía Đông giáp với thủ đô Hà Nội; phía tây giáp tỉnh Sơn
La, Thanh Hoá Thủ phủ là thành phố Hoà Bình Tỉnh Hoà Bình có 11 huyện, thị và
210 xã phường thị trấn Diện tích toàn tỉnh: 4.662,5 km, dân số gầm 900.000 người với nhiều dân tộc đang sinh sống (6 dân tộc), đông nhất là dân tộc Mường chiếm 63% dân số của tỉnh [25]
Cơ cấu tổ chức: Hệ thống y tế tỉnh Hoà Bình về cơ cấu tổ chức gồm Sở Y tế
và các đơn vị trực thuộc Sở Y tế, trong đó có 2 chi cục (Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm và Chi cục Dân số - kế hoạch hoá gia đình); 9 đơn vị thuộc về lĩnh vực y
tế dự phòng và các trung tâm chuyên khoa, chuyên ngành tuyến tỉnh; 11 trung tâm y
tế dự phòng và 11 Trung tâm Dân số - Kế hoạch hoá gia đình tuyến huyện
Mạng lưới các cơ sở KCB gồm: 4 Bệnh viện đa khoa và chuyên khoa tuyến tỉnh; 11trung tâm y tế tuyến huyện và thành phố, 21 phòng khám đa khoa khu vực
và 210 trạm y tế xã, thị trấn
Trang 27Nhân lực y tế: Trong giai đoạn 2010-2014, Số lượng nhân viên y tế trong các
cơ sở công lập trên địa bàn tỉnh có tăng nhưng không đáng kể Năm 2010 toàn tỉnh
có 3.025 CBYT, đến năm 2014 tăng lên 3.811 người Tỷ lệ CBYT/10.000 dân năm
2010 là 37 đến năm 2014 tăng lên 45.81 nhưng vẫn thấp hơn tỉ lệ của toàn quốc (46CBYT/10.000 dân năm 2012); Tỉ lệ bác sĩ/10.000 dân tăng từ 6,1 năm 2010 tăng lên 7,01 năm 2014, thấp hơn mức trung bình của toàn quốc (7,8) Tỷ lệ DSĐH/10.000 dân đạt 0,52 thấp hơn nhiều so với tỉ lệ chung của cả nước (1.9) Tỷ
lệ điều dưỡng, kĩ thuật viên đạt mức 2,53 năm 2014 Số lượng CBYT có trình độ đại học trở lên trong những năm gần đây tăng chậm Năm 2010 toàn tỉnh có 476 người có trình độ đại học và đã tăng lên 671 người vào năm 2014 chiếm tỷ lệ 17,6% Số cán bộ có trình độ sau đại học năm 2010 là 158 người và năm 2014 là
197 người chiếm 5,2% tổng số CBYT toàn tỉnh [25]
1.6.2 Giới thiệu về đề án đào tạo nhân lực y tế của tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2010-2020
Hoà Bình là tỉnh miền núi, kinh tế còn nhiều khó khăn; chính sách tuyển dụng
và thu hút nhân tài chưa thu hút được các bác sĩ, dược sĩ đại học về công tác tại tỉnh Nhiều năm qua số bác sĩ, dược sĩ đại học về tỉnh Hoà Bình công tác rất ít, thậm trí
là người có hộ khẩu ở Hoà Bình sau khi tốt nghiệp đã không trở về tỉnh công tác mà đến các tỉnh, thành phố lân cận làm việc Công tác xã hội hoá y tế còn nhiều hạn chế; nhu cầu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ cho nhân dân ngày càng cao,
do vậy các cơ sở y tế công lập của tỉnh luôn trong tình trạng thiếu nhân lực có trình
độ đại học trở lên ở tất cả các tuyến, đặc biệt là tuyến y tế cơ sở
Theo báo cáo thống kê năm 2010 biên chế giao cho ngành y tế đạt 77.7% so với nhu cầu biên chế tối thiểu (mới có 2043/2620 biên chế) Toàn tỉnh có 527 bác sĩ, trong đó có 220 BS đang công tác tại tuyến tỉnh; 155 bác sĩ đang công tác tại tuyến huyện; 124 BS tuyến xã đạt tỷ lệ 59.04 xã có BS; 28 BS hành nghề y tư nhân; có 54 dược sĩ đại học (DSĐH), trong đó 27 DSĐH hành nghề tư nhân Nếu tính riêng tỷ lệ
BS và DSĐH/10.000 dân trực tiếp phục vụ tuyến y tế cơ sở thì tỷ lệ đạt thấp so với yêu cầu, hiện mới có 3,7 BS/10.000 dân; 0.09 DSĐH/1 vạn dân
Trang 28Để nhanh chóng khắc phục tình trạng thiếu bác sĩ, dược sĩ đại học ở tuyến y tế
cơ sở và để đáp ứng yêu cầu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân ngày càng cao, đặc biệt đối với vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, Hội đồng nhân dân tỉnh Hoà Bình đã thông qua Nghị quyết số 151/2010/NQ-HĐND ngày 21/7/2010 về việc thông qua “Đề án đào tạo bác sĩ, dược sĩ đại học tuyến y tế cơ sở tỉnh Hoà Bình, giai đoạn 2010 – 2020”
Mục tiêu của đề án là phấn đấu đến năm 2020 nâng tỉ lệ bác sỹ, dược sĩ đại học phục vụ tại các đơn vị y tế công lập là 7 bác sĩ/10.000 dân; 1,5 dược sĩ đại học/vạn dân; đủ số lượng bác sĩ theo quy định cho các đơn vị y tế tuyến huyện; 100% TYT xã, phường, thị trấn có bác sĩ
Nhu cầu bác sĩ, dược sĩ cần được đào tạo theo bình quân/10.000 dân, cân đối giữa số nghỉ hưu, chuyển công tác với số tuyển dụng mới hàng năm, số bổ sung do biến động rủi do ngoài ý muốn và tỷ lệ tăng dân số tự nhiên Dự kiến số bác sĩ, dược sĩ được đào tạo trong 10 năm tới là 420 người, trong đó 86 bác sĩ thuộc TYT, đơn vị tuyến huyện là 260 người và 74 bác sĩ đào tạo bổ sung Số dược sĩ cần đào tạo là 145 dược sĩ đại học
Kế hoạch đào tạo bao gồm 3 loại hình:
- Đào tạo chính quy: Tư vấn hướng nghiệp, khuyến khích học sinh tốt nghiệp các trường trung học phổ thông nộp hồ sơ thi vào vào các trường đại học y, dược trong cả nước Có chính sách của địa phương để động viên, thu hút các bác sĩ, dược
sỹ đại học sau khi tốt nghiệp về công tác tại tuyến cơ sở
- Đào tạo liên thông (chuyên tu):
+ Bác sĩ: Từ 35 - 40 người/năm, tại Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên và Trường Đại học Y Thái Bình
+ Dược sỹ: Từ 9 - 12 người/năm, tại Trường Đại học Dược Hà Nội và Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, Đại học Y Hải Phòng
- Đào tạo chính quy theo địa chỉ:
+ BS: Từ 15 - 20 người/năm, tại Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên và Trường Đại học Y Thái Bình
+ Dược sỹ: Từ 6 - 8 người/1 năm, tại Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên
Trang 29- Đào tạo cử tuyển:
+ Bác sĩ: 10 người/1 năm, tại Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, Đại học
Y Hải Phòng
+ Dược sỹ: 5 người/1 năm, tại Trường Đại học Dược Hà Nội và Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên
Điều kiện, tiêu chuẩn đối tượng đào tạo:
- Đối với đào tạo liên thông chuyên tu 4 năm:
+ Đối tượng là những cán bộ y, dược đang công tác tại các cơ sở y tế công lập
đủ tiêu chuẩn theo quy định của Bộ Y tế
+ Cam kết công tác lâu dài tại các cơ sở y tế tuyến cơ sở của tỉnh Hoà Bình + Được Hội đồng xét tuyển của tỉnh cử đi học
- Đối với đào tạo chính quy theo địa chỉ (Bác sỹ 6 năm; dược sỹ 5 năm):
+ Đối tượng là những học sinh đã dự thi tuyển đại học khối A hoặc khối B đạt điểm sàn trở lên (theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo)
+ Cam kết công tác lâu dài tại tuyến y tế cơ sở của tỉnh Hòa Bình
+ Được Hội đồng xét tuyển của tỉnh cử đi học
- Đối với đào tạo cử tuyển (BS 7 năm; dược sỹ 6 năm): Thực hiện theo Nghị định số 134/2006/NĐ - CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ[13] và Thông tư liên tịch số 13/2008 của liên Bộ: Giáo dục và Đào tạo - Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội - Bộ Tài chính - Bộ Nội vụ - Uỷ ban Dân tộc [10]
Chế độ chi trả các chi phí đào tạo:
- Loại hình đào tạo cử tuyển hoặc đào tạo thuộc chỉ tiêu phân bổ của Bộ Y tế
từ nguồn ngân sách địa phương
- Loại hình đào tạo liên thông (chuyên tu): Ngân sách tỉnh hỗ trợ 50% chỉ phí đào tạo (không tính tiền nhà, tiền tài liệu)
- Loại hình đào tạo chính quy (đỗ thẳng đại học) và chính quy theo địa chỉ: Ngân sách tỉnh hỗ trợ 50% chi phí đào tạo (không tính tiền nhà, tiền tài liệu)
- Ngoài ra còn loại hình đào tạo bác sỹ chính quy cử tuyển ngoài ngân sách Nhà nước do Tổ chức Hỗ trợ phát triển giáo dục miền núi (HED0) - thuộc Bộ Giáo
Trang 30dục và Đào tạo tổ chức đào tạo tại Trường Đại học Y Thái Bình, kinh phí do học sinh đóng góp
- Các thí sinh đào tạo theo địa chỉ, đào tạo liên thông (chuyên tu) do Sở Y tế làm cơ quan thường trực xét duyệt trình UBND tỉnh phê duyệt
Trang 311.7 Khung lý thuyết
Khung lý thuyết được xây dựng dựa trên các nhu cầu tìm hiểu thông tin từ các bên liên quan bao gồm đối tượng cán bộ được cử đi đào tạo, nhóm đối tượng tiếp nhận cán bộ sau đào tạo và cơ quan chủ quản cử đi đào tạo Trong khuôn khổ của nghiên cứu, các yếu tố liên quan đến đơn vị đào tạo chưa được đề cập đến Các thông tin định lượng và bộ hướng dẫn phỏng vấn sâu được xây dựng dựa trên cơ sở các thông tin đề cập trong khung lý thuyết, chi tiết được nêu rõ trong phần phương
pháp nghiên cứu
THỰC TRẠNG
Đào tạo
- Số lượng cử đi đào tạo: cử
tuyển, liên thông, đào tạo theo
địa chỉ
- Chuyên ngành đào tạo
- Số lượng cử đi đào tạo phân
theo tuyến/khối
- Kết quả đào tạo
Sử dụng
- Số lượng ra trường hàng năm
- Số lượng phân công sau đào tạo về tuyến/khối
Người/đối tượng
được cử đi đào tạo
+ Nhu cầu nguyện
vọng học
+ Thuận lợi, khó khăn
trong quá trình học
Người/đối tượng tiếp nhận người được cử đi đào tạo trở về làm việc + Chế độ, tiêu chuẩn
cho cán bộ + Quy định của cơ quan
+ Sự tạo điều kiện
Trang 32CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu trong thời gian từ tháng 02 năm
2019 đến tháng 6 năm 2019
- Địa điểm nghiên cứu: Tại tỉnh Hoà Bình
2.2 Đối tượng nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng
- Số liệu thứ cấp từ tuyến tỉnh và tuyến huyện tại tỉnh Hoà Bình về: thực trạng
số lượng, ngành nghề gửi đi đào tạo phân theo tuyến tỉnh, huyện, xã và khối bệnh viện, dự phòng; Số lượng ngành nghề trở về địa phương công tác và bố trí sử dụng nhân lực y tế phân theo tuyến tỉnh, huyện, xã và khối bệnh viện, dự phòng do các cơ quan quản lý và sử dụng nhân lực y tế trên địa bàn tỉnh Hoà Bình cung cấp trong giai đoạn từ 2011 đến 2018
2.2.2 Đối tượng nghiên cứu định tính
- Đối tượng được cử đi đào tạo: Cán bộ y tế được cử đi đào tạo liên thông, cử tuyển, đào tạo theo địa chỉ
- Cơ quan cử người đi đào tạo gồm: Lãnh đạo UBND tỉnh/ Sở Nội vụ/ Sở giáo dục đào tạo/Sở Y tế tỉnh
- Người/cơ quan tiếp nhận người được cử đi đào tạo trở về làm việc sau khi tốt nghiệp gồm lãnh đạo và trưởng phòng Tổ chức cán bộ: Bệnh viện đa khoa tỉnh Hoà Bình, Trung tân Y tế dự phòng tỉnh, Trung tâm phòng chống bệnh xã hội, Bệnh viện
và Trung tâm y tế dự phòng cáchuyện: Kim Bôi, Cao phong, Lạc Thủy
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp giữa định lượng và định tính
2.4 Mẫu và phương chọn mẫu
2.4.1 Mẫu và phương pháp chọn mẫu định lượng
Trang 33Số liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2018 tại báo cáo, sổ sách, số liệu thống kê từ báo cáo NLYT hàng năm, hợp đồng đào tạo, danh sách cán bộ được cử đi đào tạo, quyết định cử đi học, quyết định phân công công tác cho cán bộ do các cơ quan quản lý và sử dụng nhân lực y tế trên địa bàn tỉnh Hoà Bình cung cấp trong giai đoạn từ năm 2011-2018
2.4.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu định tính
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích, tổng số 17 cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm bao gồm:
- Đại diện cho cơ quan cử nhân lực đi đào tạo: 01 Lãnh đạo UBND tỉnh, 01 lãnh đạo Sở Nội vụ, 01 lãnh đạo Sở giáo dục đào tạo, 01 lãnh đạo Sở Y tế tỉnh Tổng số 4 cuộc phỏng vấn
- Đại diện cơ quan tiếp nhận người được cử đi đào tạo trở về làm việc sau khi tốt nghiệp được chia thành 2 cấp:
+ Cấp tỉnh: 01 đại diện trưởng phòng tổ chức cán bộ Sở Y tế Hoà Bình, lãnh đạo và 01 trưởng Phòng Tổ chức cán bộ của 03 cơ quan: Bệnh viện đa khoa tỉnh, Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, Trung tâm phòng chống Bệnh xã hội tỉnh Tổng số 7 người
+ Cấp huyện: Đại diện lãnh đạo của 03 cơ quan: Bệnh viện huyện và trung tâm y tế dự phòng huyện Kim Bôi, Cao Phong, Lạc Thủy Tổng số 6 người
- Đối tượng được cử đi đào tạo: tiến hành 08 cuộc thảo luận nhóm đối tượng tương ứng cho các loại hình đào tạo cử tuyển, liên thông và theo địa chỉ tại 3 tuyến: + Tuyến tỉnh: Đại diện đối tượng của Sở Y tế, Bệnh viện tỉnh, TTYTDP tỉnh,
TT PC bệnh xã hội tỉnh, mỗi nơi: 02 người cử tuyển tiến hành 01 thảo luận nhóm đối tượng Cử tuyển Tương tự với đối tượng đào tạo liên thông, theo địa chỉ
+ Tuyến huyện: Đại diện đối tượng của 3 bệnh viện huyện và 3 TTYT dự phòng huyện, mỗi nơi: 02 người cử tuyển/huyện và 04 Trạm Y tế xã/huyện, mỗi
Trang 34nơi: 01 người cử tuyển tiến hành 01 thảo luận nhóm đối tượng cử tuyển Tương
tự với với đối tượng đào tạo liên thông, theo địa chỉ
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
- Sử dụng bộ phiếu thu thập thông tin và phiếu phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm
từ nghiên cứu gốc
- Nghiên cứu viên liên hệ về lịch làm việc với lãnh đạo và cán bộ phụ trách công tác đào tạo và gửi phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu, phiếu thu thập số liệu thứ cấp, nội dung phiếu phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm đến các đối tượng nghiên cứu để đối tượng nghiên cứu chuẩn bị đầy đủ thông tin cần thiết trước khi nghiên cứu viên đến thu thập số liệu, phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm
2.6 Các biến số chính của nghiên cứu
2.6.1 Biến số nghiên cứu mục tiêu 1
Từ các báo cáo NLYT, hợp đồng đào tạo, danh sách cán bộ được cử đi đào tạo, quyết định cử đi học, quyết định phân công công tác cho cán bộ do Sở Y tế Hoà Bình và các trung tâm y tế cung cấp cũng như số liệu từ nghiên cứu gốc, nghiên cứu viên sẽ tiến hành thu thập số liệu định lượng có sẵn bao gồm thông tin chung của cán bộ được cử đi học bao gồm: thời gian đào tạo, ngành đào tạo, địa chỉ đào tạo, kết quả học tập, thời gian quay trở lại và thời gian công tác, thông tin về công tác triển khai đào tạo và sử dụng cán bộ cử tuyển, liên thông và đào tạo theo địa chỉ
Số liệu thứ cấp được thu thập từ năm 2011 đến năm 2018 theo các biểu mẫu thu thập số liệu tại phụ lục 1 và phụ lục 2
2.6.2 Nội dung và chủ đề nghiên cứu mục tiêu 2
Đối với cơ quan cử đi đào tạo:
- Bối cảnh thực hiện chính sách của cơ quan đơn vị về chương trình cử tuyển,
liên thông và đào tạo địa chỉ
- Cách thức chọn, xét duyệt, tuyển sinh, chọn đối tượng được cử đi đào tạo
- Nhu cầu của tỉnh/huyện và chỉ tiêu giao
- Thuận lợi khó khăn khi cử cán bộ đi học
- Phối hợp với các trường trong quản lý cán bộ trong quá trình đi học
Trang 35- Thuận lợi khó khăn khi quản lý cán bộ trong quá trình đi học
- Chính sách duy trì, quản lý cán bộ sau đi học về
Đối tượng được cử đi đào tạo (cử tuyển, liên thông và theo địa chỉ):
- Quá trình tiếp nhận các thông tin về chính sách và các hướng dẫn thực hiện
- Thuận lợi, khó khăn khi tiếp nhận thông tin
- Thuận lợi khó khăn khi làm thủ tục xin học, tuyển sinh
- Thuận lợi khó khăn khi đang theo học
- Thuận lợi khó khăn khi trở lại địa phương công tác
- Nhu cầu bản thân
- Đề xuất, khuyến nghị để có chương trình đào tạo hiệu quả hơn
- Đề xuất, khuyến nghị về công việc của đối tượng sau khi được đào tạo
Người/đối tượng tiếp nhận người được cử đi đào tạo trở về làm việc:
- Phân bổ cán bộ sau khi được đào tạo
- Đáp ứng nhu cầu địa phương
- Chính sách duy trì, quản lý cán bộ sau đi học về
- Khó khăn, thuận lợi trong việc duy trì, quản lý cán bộ sau khi đi học về
- Các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo NLYT theo chế độ cử tuyển, liên thông và theo địa chỉ tại địa phương
2.7 Phương pháp phân tích số liệu
- Tất cả số liệu định lượng thu thập được làm sạch, mã hóa và nhập vào phần mềm SPSS Bộ số liệu bao gồm các thông tin thu thập được qua bảng kiểm được thiết lập sẵn Bộ số liệu này được bảo mật và chỉ những người có tránh nhiệm mới được phép tiếp cận
- Nghiên cứu phân tích số liệu dựa trên các mục tiêu nghiên cứu bao gồm cả phân tích mô tả và phân tích tương quan
- Các số liệu định tính sẽ được gỡ băng và những ý kiến, đóng góp, quan điểm của các đối tượng sẽ được lưu trữ và báo cáo
2.8 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
- Nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng đạo đức theo công văn số 151/2019/YTCC-HD3 ngày 18/4/2019 về việc chấp thuận các vấn đề đạo đức
Trang 36NCYSH của Trường Đại học Y tế Công cộng Nghiên cứu không gây ảnh hưởng gì đối với đối tượng và những người có liên quan Nghiên cứu được chủ nhiệm đề tài nghiên cứu đồng ý cho phép sử dụng số liệu từ nghiên cứu gốc để thực hiện đề tài tại địa phương
- Tất cả các đối tượng nghiên cứu được giải thích rõ ràng mục đích nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu có quyền từ chối tham gia, chỉ điều tra những người tự nguyện tham gia nghiên cứu Các thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu được đảm bảo giữ bí mật tuyệt đối
- Kết quả nghiên cứu được phản hồi về địa phương trên cơ sở đó để nâng cao chất lượng trong công tác đào tạo CBYT tại tỉnh Hoà Bình
2.9 Hạn chế nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số
Do phạm vi của nghiên cứu gốc, đề tài chưa tìm hiểu được các yếu tố thuận lợi, khó khăn đến từ yếu tố môi trường và đơn vị đào tạo
Nghiên cứu có thể phát sinh sai số do điều tra viên tại địa phương có sơ xuất trong việc điền số liệu vào biểu mẫu thu thập hoặc trong quá trình phỏng vấn sâu, đối tượng nghiên cứu có thể hiểu nhầm nội dung câu hỏi và trả lời không đúng nội dung mà nghiên cứu cần Mặt khác, các đối tượng có thể không nhớ hoặc nhớ sai về các nội dung được hỏi Những sai số ngữ cảnh là những yếu tố liên quan đến bản thân cuộc phỏng vấn, câu trả lời của đối tượng có thể thay đổi phụ thuộc vào các ngữ cảnh khác nhau
Phương pháp khắc phục:
- Thu thập số liệu thứ cấp: Biểu mẫu tự điền của số liệu thứ cấp được chuyển cho người điều phối tại địa phương Cán bộ điều phối có trách nhiệm thu thập thông tin tự điền vào biểu mẫu này Cán bộ nghiên cứu thu thập lại biểu mẫu tự điền và kiểm tra sự đầy đủ của thông tin, đối chiếu ngẫu nhiên các thông tin trong biểu mẫu với các báo cáo tại địa phương Sở Y tế, Trung tâm Y tế địa phương đóng dấu vào biểu mẫu tự điền để xác nhận tính chính xác của các số liệu được báo cáo
Trang 37- Quá trình phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm có sử dụng thiết bị ghi âm và người hỗ trợ ghi lại các ý chính đảm bảo tính chính xác và hệ thống của thông tin phản hồi từ đối tượng
- Nghiên cứu tiến hành từ cấp huyện, sau đó mới lên đến cấp tỉnh, tăng tính phản hồi và độ chân thực thông tin về thực trạng của công tác đào tạo
Trang 38CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3
3.1 Thực trạng đào tạo và sử dụng nhân lực y tế theo chế độ cử tuyển, liên
thông và theo địa chỉ tại tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2011-2018
3.1.1 Thực trạng đào tạo nhân lực y tế theo chế độ cử tuyển, liên thông và theo địa chỉ tại tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2011-2018
Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng cử đi đào tạo giai đoạn
2011-2018
Đối tượng cử đi công
tác đào tạo
Hệ đào tạo Liên thông ĐT địa chỉ Cử tuyển Chung
Tần số (n)
Tỷ lệ (%)
Tần
số (n)
Tỷ lệ (%)
Tần số (n)
Tỷ lệ (%)
Tần
số (n)
Tỷ lệ (%)
Tuổi Tuổi cử đi học 30±3,9 19,1±0,5 19,2±0,9 27,7±5,6
Về các đặc điểm nhân khẩu học, độ tuổi trung bình chung của đối tượng được
cử đi học đào tạo là 27,7 ± 5,6 tuổi; những đối tượng trong chương trình liên thông
Trang 39có độ tuổi lớn hơn nhất (30 ± 3,9), các đối tượng ở trong chương trình đào tạo địa chỉ và cử tuyển có tuổi trung bình tương đương
Về giới tính, nhìn chung tỉ lệ đối tượng nữ được cử đi học nhiều hơn đối tượng
là nam (76,9% so với 23,1%); Đặc thù này tương tự ở tất cả các loại hình đào tạo,
số lượng đối tượng nữ được cử đi đào tạo theo chế độ liên thông, đào tạo theo địa chỉ, cử tuyển giai đoạn 2011-2018 lần lượt là 80%, 58,5%, 68,4%
Về dân tộc, đối tượng được cử đi học nhiều nhất là 397 đối tượng dân tộc Mường chiếm 51%, ít nhất là 6 đối tượng dân tộc Dao chiếm 0,8% Còn lại số đối tượng dân tộc Kinh, Thái, Tày lần lượt là 337, 18, 20 (43,3%; 2,3%; 2,6%) Được
cử đi học hệ cử tuyển, đối tượng dân tộc Mường chiếm tỷ lệ cao nhất 66,2%; ít nhất
là dân tộc Thái có 5 đối tượng chiếm 3,8%; Không có đối tượng dân tộc Tày và Dao Được cử đi học đào tạo liên thông; đối tượng dân tộc Kinh được cử đi học nhiều nhất 313 đối tượng chiếm 51,8%; tiếp đến là dân tộc Mường (46,2%), ít nhất
là đối tượng dân tộc Thái 12 đối tượng chiến 2% Được cử đi học đào tạo theo địa chỉ nhiều nhất là đối tượng dân tộc Mường với 30 đối tượng chiếm 73,2%
Biểu đồ 3.1 Phân bố số lượng đào tạo NLYT theo loại hình đào tạo tại
tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2011- 2018
Biểu đồ 3.1 cho thấy, Số lượng được cử đi học đào tạo liên thông xu hướng tăng dần, giai đoạn 2013-2015 số lượng đối tượng được cử đi học giảm từ 74 đối tượng năm 2012 xuống còn thấp nhất còn 24 đối tượng năm 2015 nhưng sau đó
Trang 40tăng mạnh trở lại trong giai đoạn 2016-2018, cao nhất là 130 đối tượng được cử đi học đào tạo năm 2018 cao gấp 3,1 so với năm 2011
Số lượng được cử đi học đào tạo theo địa chỉ giai đoạn 2011-2013 có xu hướng tăng nhẹ từ 12 đối tượng được cử đi học đào tạo năm 2011 lên 22 đối tượng năm 2013, giai đoạn sau đó 2014-2018 không có đối tượng nào được cử đi học chương trình đào tạo theo địa chỉ
Số lượng được cử đi học đào tạo cử tuyển giữ ổn định trong khoảng từ 10 đến
27 đối tượng trong giai đoạn 2011-2018, cao nhất là năm 2013 với 27 đối tượng được cử đi học và thấp nhất là năm 2016 chỉ có 2 đối tượng được cử đi học
Biểu đồ 3.2 Phân bố số lượng người đi học theo tuyến tại
tỉnh Hoà Bình giai đoạn 2011-2018
Biểu đồ 3.2 cho thấy, theo đặc thù của các đối tượng, chỉ có đối tượng theo hệ đào tạo liên thông có thông tin về tuyến và khối công tác trước khi được cử đi học,
đa phần các đối tượng được cử đi học liên thông là từ tuyến huyện (58,6%) và theo khối bệnh viện (68,5%) Nhóm đối tượng được cử đi học từ tuyến xã còn thấp (13,1%)
Xem xét theo trục thời gian từ năm 2011 – 2018, các đối tượng tuyến xã chỉ bắt đầu được lưu ý từ năm 2017 đến nay, chỉ có 4 đối tượng (năm 2012) trong giai đoạn từ năm 2011 – 2016 được cử đi học Trong khi đó nhóm đối tượng ở tuyến