1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan của người bệnh ung thư đang điều trị tại các khoa lâm sàng bệnh viện đại học y dược thành phố hồ chí minh năm 2019

104 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 2,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mối liên quan giữa các yếu tố thuộc về bệnh viện đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư .... Mối liên quan giữa các yếu tố thuộc về bệnh viện đến chất lượng cuộc sống của người

Trang 2

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS.BS NGUYỄN DUY PHONG

HÀ NỘI, 2019

Trang 3

MỤC LỤC i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ v

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Một số khái niệm 4

1.1.1 Chất lượng cuộc sống 4

1.1.2 Người bệnh ung thư – Thực trạng ung thư 5

1.2 Chất lượng cuộc sống ở người bệnh ung thư 5

1.2.1 Trên Thế giới 5

1.2.2 Tại Việt Nam 10

1.3 Các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống ở người bệnh ung thư 12

1.3.1 Yếu tố thuộc về Bệnh viện 12

1.3.2 Yếu tố nhân khẩu 13

1.3.3 Các yếu tố tình trạng bệnh và điều trị 17

1.3.4 Sự hỗ trợ của gia đình 18

1.4 Công cụ đo lường chất lượng cuộc sống 18

1.4.1 Đánh giá chất lượng cuộc sống 18

1.4.2 Các công cụ khảo sát về chất lượng cuộc sống 19

1.4.3 Độ tin cậy và tính giá trị của thang đo EORTC QLQ-C30 20

1.5 Giới thiệu Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM 20

1.6 Khung lý thuyết nghiên cứu 22

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang 23

2.2 Đối tượng nghiên cứu 23

2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 23

2.4 Cỡ mẫu 23

2.5 Phương pháp chọn mẫu 24

Trang 4

2.6.1 Công cụ thu thập số liệu 24

2.6.2 Phương pháp thu thập số liệu 26

2.7 Các biến số nghiên cứu 26

2.8 Phương pháp phân tích số liệu 27

2.10 Kiểm soát sai số 28

2.11 Đạo đức trong nghiên cứu 28

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 29

3.1 Thực trạng chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư theo thang đo EORTC QLQ-C30 29

3.2 Mối liên quan giữa các yếu tố thuộc về bệnh viện đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư 30

3.2.1 Đặc điểm các yếu tố thuộc về Bệnh viện 30

3.2.2 Mối liên quan giữa các yếu tố thuộc về bệnh viện đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư 34

3.3 Mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu, tình trạng bệnh và điều trị, sự hỗ trợ của gia đình đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư 38

3.3.1 Đặc điểm các yếu tố nhân khẩu, tình trạng bệnh và điều trị, sự hỗ trợ gia đình 38

3.3.2 Mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu, tình trạng bệnh và điều trị, sự hỗ trợ của gia đình đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư 41

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 47

4.1 Thực trạng chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư theo thang đo EORTC QLQ-C30 47

4.2 Mối liên quan giữa các yếu tố thuộc về bệnh viện đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư 50

4.2.1 Đặc điểm các yếu tố thuộc về bệnh viện 50

4.2.2 Mối liên quan giữa các yếu tố thuộc về Bệnh viện đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư 51

4.3 Mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu, tình trạng bệnh và điều trị, sự hỗ trợ của gia đình đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư 53

Trang 5

trợ của gia đình 53

4.3.2 Mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu, tình trạng bệnh và điều trị, sự hỗ trợ của gia đình đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư 55

ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

PHỤ LỤC 1 71

PHỤ LỤC 2 80

PHỤ LỤC 3 85

PHỤ LỤC 4: GIẤY CHẤP THUẬN Y ĐỨC 86

Trang 6

Bệnh viện Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM

Trang 7

Bảng 2.1 Các biến số trong nghiên cứu 26

Bảng 3.1 Điểm chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư 29

Bảng 3.2 Mô tả các yếu tố cơ sở vật chất, tiện ích phục vụ người bệnh 30

Bảng 3.3 Mô tả các yếu tố tinh thần thái độ phục vụ của nhân viên y tế 31

Bảng 3.4 Mô tả các yếu tố về hoạt động khám, chữa bệnh 32

Bảng 3.5 Mô tả các yếu tố về chi phí khám, chữa bệnh 33

Bảng 3.6 Mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống với các yếu tố cơ sở vật chất, tiện ích phục vụ người bệnh kiểm định Anova 34

Bảng 3.7 Mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống với các yếu tố tinh thần thái độ phục vụ của nhân viên y tế 35

Bảng 3.8 Mối liên quan giữa điểm chất lượng cuộc sống với các yếu tố về hoạt động khám, chữa bệnh của bệnh viện 36

Bảng 3.9 Mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống với các yếu tố về chi phí khám, chữa bệnh 37

Bảng 3.10 Mô tả các yếu tố nhân khẩu của người bệnh ung thư (n=318) 38

Bảng 3.11 Phân bổ các yếu tố tình trạng bệnh và điều trị 40

Bảng 3.12 Phân bổ các yếu tố sự hỗ trợ gia đình của người bệnh ung thư 40

Bảng 3.13 Mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống với các yếu tố nhân khẩu 41 Bảng 3.14 Mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống với yếu tố nhân khẩu (tt) 42 Bảng 3.15 Mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống với yếu tố tình trạng bệnh và điều trị 44

Bảng 3.16 Mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống với yếu tố tình trạng bệnh và điều trị (tt) 45

Bảng 3.17 Mối liên quan giữa CLCS với các yếu tố sự hỗ trợ gia đình 46

BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1 Phân bổ đối tượng nghiên cứu theo loại ung thư 39

Trang 8

Đặt vấn đề: Ung thư là bệnh lý nan y nguy hiểm, tạo ra gánh nặng bệnh tật trên

toàn thế giới với số lượng người bệnh (NB) ngày càng gia tăng NB ung thư phải đối mặt với một số vấn đề và cuối cùng, CLCS của NB ngày càng bị suy giảm [21] [56] CLCS ngày càng được xem là một kết quả quan trọng trong chăm sóc lâm sàng [23] và mong muốn cải thiện CLCS luôn được xem như một phần quan trọng trong chiến lược điều trị bệnh ung thư [18] Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM với thực trạng một lượng lớn NB ung thư đang điều trị, bên cạnh hiệu quả của việc điều trị thì CLCS của NB luôn là điều đội ngũ y bác sĩ quan tâm Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Chất lượng cuộc sống

và các yếu tố liên quan của người bệnh ung thư đang được điều trị tại các khoa lâm sàng, Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh năm 2019” Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thêm những minh chứng khoa học cho việc hoạch định kế hoạch và tổ chức các chương trình hỗ trợ NB ung thư trong tương lai tại BV

Mục tiêu: Mô tả điểm CLCS và xác định mối liên quan giữa CLCS với các yếu tố

của NB ung thư tại các khoa lâm sàng, Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh năm 2019

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, thực hiện từ tháng 08/01/2019 đến

30/7/2019 trên 318 NB ung thư tại 07 khoa lâm sàng tại Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM theo phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên đơn Sử dụng thang đo EORTC QLQ-C30 đánh giá điểm CLCS chung và 4 khía cạnh CLCS của NB ung thư

Kết quả: Điểm trung bình CLCS chung của NB ung thư 49,2  6.5 điểm (thấp nhất

là 20 điểm cao nhất là 60,9 điểm) Lĩnh vực triệu chứng có điểm trung bình thấp nhất là 40,1  24.4 điểm và lĩnh vực chức năng cao nhất với 54,8  26.1 điểm Có sự khác biệt giữa điểm CLCS chung ở NB với yếu tố nhân viên Bệnh viện đối xử tử tế và Bác sĩ tư vấn

để lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp, tôn trọng NB (p<0,05) Có mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu, tình trạng bệnh và hỗ trợ gia đình: nhóm tuổi, tôn giáo, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp và tình trạng kinh tế bản thân, tình trạng kinh tế gia đình, loại ung thư, thời gian mắc bệnh và người hỗ trợ là vợ chống (p<0,05)

Kết luận: Điểm trung bình CLCS chung của NB ung thư ở mức thấp, với CLCS ở

lĩnh vực chức năng ghi nhận cao điểm hơn CLCS ở lĩnh vực tinh thần Tập huấn kỹ năng giao tiếp của NVYT với NB được BV rất chú trọng và tiến hành đào tạo thường xuyên Ngoài ra, đến xây dựng hệ thống hỗ trợ NB ung thư, đặc biệt quy trình tư vấn chuyên biệt dành cho NB ung thư (trước khi nhận tin và trong quá trình điều trị) được thực hiện nhằm nâng cao CLCS của NB ung thư đang điều trị tại Bệnh viện

Từ khóa: chất lượng cuộc sống, người bệnh ung thư, EORTC QLQ-C30, Bệnh

viện Đại học Y Dược TPHCM

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư bệnh lý nan y nguy hiểm, tạo ra gánh nặng bệnh tật trên Thế giới với số lượng người mắc ngày càng nhiều Trên Thế giới, năm 2018 ước tính có khoảng 18,1 triệu chẩn đoán ung thư mới và 9,6 triệu người bệnh tử vong do ung thư [19] và ở Việt Nam trong năm 2014 đã có 58.200 trường hợp nam giới và 33.400 trường hợp nữ giới tử vong do ung thư [71] Theo báo cáo quốc gia về ung thư của Hàn Quốc năm 2014, tỉ lệ sống còn sau 5 năm tại Hàn Quốc ở NB là 69,4%, trong đó 2/3 số NB sẽ vượt qua được 5 năm [50] Tỉ lệ sống sót toàn bộ của NB ung thư ngày càng cải thiện do những tiến bộ y học cùng với sự ra đời của các phương pháp điều trị tiên tiến và những phác đồ được chứng minh là có hiệu quả [50]

NB ung thư phải đối mặt với một số vấn đề tâm lý: stress, lo lắng, trầm cảm; Một số tác dụng phụ sinh lý như: rụng tóc, đau, mệt mỏi, buồn nôn, nôn mửa; Một

số tác dụng phụ xã hội như: bị cô lập xã hội, hạn chế vai trò và chức năng của bản thân; Và cuối cùng, CLCS của NB ngày càng bị suy giảm [21] [56]

CLCS là một khái niệm rộng bao gồm các chiều kích thước như hoạt động thể chất, sức khỏe tinh thần, cảm xúc và xã hội của người bệnh [35] CLCS ngày càng được xem là một kết quả quan trọng trong chăm sóc lâm sàng và là yếu tố khách quan để đánh giá chất lượng dịch vụ, nhu cầu chăm sóc sức khỏe, hiệu quả của các can thiệp và phân tích tiện ích chi phí Việc đánh giá CLCS phản ánh sự xem trọng NB cảm thấy như thế nào và NB hài lòng như thế nào với việc điều trị ngoài việc tập trung vào kết quả điều trị bệnh Đo lường CLCS sẽ giúp nắm bắt quan điểm của NB về bệnh tình và cách điều trị, nhu cầu chăm sóc sức khỏe của NB [23] Khi các nhà cung cấp dịch vụ y tế thực hiện các chính sách mới, điều quan trọng là ảnh hưởng của thay đổi chính sách đối với CLCS của những người tiếp xúc với các dịch vụ y tế được đánh giá [72] Mong muốn cải thiện CLCS luôn được xem như một phần quan trọng trong chiến lược điều trị bệnh ung thư [18]

Với NB ung thư, có nhiều vấn đề liên quan đến thể chất và tinh thần ảnh hưởng đến CLCS như: mệt mỏi, mất ngủ, rối loạn nuốt, ăn không ngon [52] suy giảm khả năng tình dục [16] rối loạn cảm xúc, đau khổ tâm chất [29], đau đớn thể chất [48] và nhiều vấn đề khác Một số triệu chứng của ung thư xuất hiện sau khi

Trang 10

NB được chẩn đoán và trong quá trình điều trị làm suy giảm CLCS, gây nên hệ quả

về các suy nghĩ tiêu cực, phần nào ảnh hưởng đến kết quả điều trị [20] Ngoài ra, nhiều nghiên cứu cho thấy các yếu tố về cơ sở vật chất, thái độ phục vụ của nhân viên y tế, chi phí khám chữa bệnh có liên quan đến CLCS ở NB ung thư [36, 69] Đây là các yếu tố thuộc về quản lý mà Bệnh viện có thể cải thiện nhằm mang lại môi trường điều trị, dịch vụ tốt nhất đến NB ung thư đang điều trị, giúp nâng cao hiệu quả điều trị cũng như CLCS ở NB

Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM là bệnh viện hạng I có quy mô 1.000 giường với tổng số lượt thăm, khám bệnh ngoại trú và nội trú mỗi ngày khá cao Báo cáo hoạt động của Bệnh viện cho thấy trung bình mỗi năm có khoảng 59.979 ca nhập viện trong đó có khoảng 15.000- 16.000 NB bị ung thư Các loại ung thư thường gặp bao gồm: ung thư thực quản, dạ dày, gan, đại tràng, trực tràng, vú, tuyến giáp Thời gian nằm viện của NB ung thư dao động 14 – 100 ngày tại các đơn

vị [1] Với thực trạng một lượng lớn NB ung thư đang điều trị tại Bệnh viện, bên cạnh hiệu quả của việc điều trị thì CLCS của NB luôn là điều đội ngũ y bác sĩ quan tâm Do vậy câu hỏi đặt ra ở đây là thực trạng CLCS và các yếu tố nào ảnh hưởng đến CLCS của NB ung thư đang điều trị tại BV ĐHYD TPHCM Vì thế, chúng tôi

thực hiện nghiên cứu: “Chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan của người bệnh ung thư đang được điều trị tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh năm 2019” Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thêm

những minh chứng khoa học cho việc hoạch định kế hoạch và tổ chức các chương trình hỗ trợ NB ung thư trong tương lai tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố

Hồ Chí Minh

Trang 11

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Xác định CLCS của NB ung thư tại các khoa lâm sàng, Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh năm 2019

2 Xác định mối liên quan giữa các yếu tố thuộc về bệnh viện đến CLCS của NB ung thư tại các khoa lâm sàng, Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh năm 2019

3 Xác định mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu, tình trạng bệnh và điều trị,

sự hỗ trợ của gia đình đến CLCS của NB ung thư tại các khoa lâm sàng, Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh năm 2019

Trang 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Chất lượng cuộc sống

Tổ chức Y tế Thế giới (1995) định nghĩa chất lượng cuộc sống (CLCS) là những cảm nhận chủ quan của từng cá nhân về cuộc sống của chính họ, được đặt trong bối cảnh văn hóa và các hệ thống giá trị mà họ đang sống và liên quan đến các mục đích, nguyện vọng, tiêu chuẩn và các mối quan tâm của các cá nhân này [8, 70] Vì thế có thể hiểu tại sao các thang đo CLCS sức khỏe là những bảng câu hỏi

về cảm nhận của từng người chứ không dựa vào đánh giá chuyên môn của bác sĩ hoặc kết quả xét nghiệm [12]

Về CLCS liên quan đến sức khỏe (tiếng Anh viết tắt là HRQoL), là một khái niệm rộng bao gồm các chiều kích thước như hoạt động thể chất, sức khỏe tinh thần, cảm xúc và xã hội Vượt xa các biện pháp trực tiếp về sức khỏe cộng đồng, tuổi thọ, và nguyên nhân của cái chết, và tập trung vào các tác động liên quan đến CLCS [35] Có nhiều chỉ số được dùng để đánh giá CLCS liên quan đến sức khỏe như chỉ số chức năng tự nhận thức cũng như các chức năng về thể chất và cảm xúc Nhìn chung, các biện pháp đưa ra một đánh giá toàn diện về gánh nặng của bệnh có thể ngăn ngừa, chấn thương, và khuyết tật [73]

Một nghiên cứu (NC) thực hiện tại một cở sở bệnh viện thuộc đại học ở Ấn

Độ, do tác giả Kannan thực hiện vào năm 2011, trên người bệnh (NB) ung thư được hóa trị liệu cho các loại ung thư khác nhau Kết quả chỉ ra rằng 80% NB trong NC được báo cáo là có điểm CLCS ở mức TB và dưới TB, ngày càng cho thấy tầm quan trọng của CLCS như một kết quả điều trị, ngoài các kết quả lâm sàng khác [34]

Sức khỏe và bệnh tật đại diện cho một quá trình liên tục, liên quan đến kinh

tế, văn hóa xã hội, kinh nghiệm cá nhân và các khía cạnh lối sống Vì vậy, nâng cao CLCS đã trở thành một trong những mục tiêu được ưu tiên bên cạnh cải thiện bệnh

lý của chăm sóc lâm sàng và chính sách công cộng trong lĩnh vực y học dự phòng [40]

Trang 13

1.1.2 Người bệnh ung thư – Thực trạng ung thư

Ung thư là vấn đề y tế chính trên toàn cầu Hiện nay, ung thư được xếp vào loại bệnh tật gây ra gánh nặng kinh tế và tỉ lệ tử vong cao Kết quả thống kê từ tổ chức GLOBOCAN (2012) cho thấy 14,1 triệu chẩn đoán ung thư mới và hơn 8,2 triệu trường hợp tử vong do ung thư trong năm 2012 Các chẩn đoán phổ biến cũng trong thống kê GLOBOCAN (2012) bao gồm: ung thử phổi (1,82 triệu), ung thư vú (1,67 triệu) và đại trực tràng (1,36 triệu); Các bệnh dễ gây tử vong nhất gồm: ung thư phổi (1,6 triệu), ung thư gan (745.000) và ung thư dạ dày (723.000) [25] Đến năm 2018, GLOBOLCAN thống kê rằng ước tính sẽ có khoảng 18,1 triệu ca ung thư mới và 9,6 triệu ca tử vong do ung thư Trong cả hai giới kết hợp, ung thư phổi được chẩn đoán phổ biến nhất (11,6% tổng số trường hợp) và là nguyên nhân thuộc nhóm gây tử vong nhiều nhất (18,4% tổng số ca tử vong do ung thư), theo sau là ung thư vú đặc trưng ở nữ (11,6%), ung thư tuyến tiền liệt (7,1%) và ung thư đại trực tràng (6,1%), dạ dày (8,2%) và gan (8,2%) [19]

Tại Việt Nam, các loại ung thư hàng đầu trong nước là: phổi, gan, dạ dày, ruột - trực tràng và mũi họng thường gặp ở nam giới; Và vú, cổ tử cung, dạ dày, gan, ruột kết-trực tràng và phổi thường gặp ở nữ giới [66]

1.2 Chất lượng cuộc sống ở người bệnh ung thư

1.2.1 Trên Thế giới

Một nghiên cứu của tác giả Nolte S và cộng sự (2019) thu thập dữ liệu định mức có hệ thống trong dân số Châu Âu nói chung và tạo ra dữ liệu định mức tương đương cho từng quốc gia ở Châu Âu và Bắc Mỹ Nghiên cứu đã thu thập dữ liệu CLCS của NB ung thư bằng thang đo QLQ-C30 của dân số trên 11 quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu (EU), Nga, Thổ Nhĩ Kỳ, Canada và Hoa Kỳ (n ≥ 1000 / quốc gia) Các mẫu đại diện được phân tầng theo giới tính và nhóm tuổi (18-39, 40-49, 50-59, 60-69 và ≥ 70 tuổi) Sau khi áp dụng các trọng số dựa trên số liệu thống kê phân bổ dân số của Liên Hợp Quốc, nghiên cứu đã tính toán điểm số miền QLQ-C30 để tạo ra một “Tiêu chuẩn QLQ-C30 của Châu Âu” dựa trên các quốc gia EU Hơn nữa, nghiên cứu đã tính điểm định mức QLQ-C30 cho tất cả 15 quốc gia riêng

lẻ Kết quả cho thấy, tổng cộng có 15386 NB ung thư hoàn thành khảo sát trực

Trang 14

tuyến Đối với mẫu EU, hầu hết các miền QLQ-C30 cho thấy sự khác biệt theo giới tính, tuổi, cụ thể với nam giới có sức khỏe tốt hơn nữ giới, trong khi hiệu ứng tuổi tác khác nhau giữa các miền Sự khác biệt lớn hơn đáng kể đã được nhìn thấy trong khi so sánh giữa các quốc gia, nếu NB ở Áo và Hà Lan báo cáo sức khỏe luôn tốt hơn so với NB tại Anh và Ba Lan Nghiên cứu này là lần đầu tiên thu thập có hệ thống dữ liệu định mức dân số chung EORTC QLQ-C30 trên khắp châu Âu và Bắc

Mỹ, áp dụng phương pháp thu thập dữ liệu nhất quán trên 15 quốc gia Những dữ liệu định mức mới này tạo điều kiện thuận lợi cho nội địa hợp lệ cũng như so sánh giữa các quốc gia và giải thích điểm số QLQ-C30 [47]

Tác giả Malathi G Nayak và các cộng sự (2017) đã tiến hành một cuộc khảo sát trên 768 NB ung thư được lựa chọn bằng kỹ thuật lấy mẫu thuận tiện Dữ liệu trong NC được thu thập bằng kỹ thuật phỏng vấn bộ câu hỏi Kết quả chỉ ra NB ung thư trong NC có 30,2% thuộc nhóm 51 đến 60 tuổi, phần lớn mắc ung thư đầu và cổ (chiếm 40,1%) và 57,7% mắc bệnh khi vào giai đoạn III NC tìm thấy 82,3% NB ung thư có điểm CLCS thấp NB ung thư trải qua nhiều triệu chứng ảnh hưởng đến CLCS của họ Cần phải phát triển các biện pháp giúp NB cải thiện CLCS [46]

Với nhiều loại ung thư, tác giả tìm thấy nhiều NC quan tâm đến CLCS ở những NB ung thư vú và chủ yếu sử dụng thang đo EORTC QLQ-C30 kết hợp với thang đo CLCS QLQ- BR23 dành riêng cho NB ung thư vú Kết quả trong nhiều

NC cho thấy, với thang đo EORTC QLQ-C30 điểm TB CLCS chung của NB ung thư vú dao động từ 48,33 - 65,7 điểm [55] [27] [39] Có sự khác nhau về điểm TB CLCS chung ở các NC với các yếu tố liên quan khác nhau Đặc tính của mỗi quốc gia, phương pháp thực hiện NC tạo nên những có sự khác biệt này

Cụ thể, trong NC thực hiện bởi Ganesh S và cộng sự (2016) về CLCS của

NB ung thư vú ở Malaysia, có 223 NB ung thư vú đã được tuyển chọn với tỷ lệ đáp ứng là 92,1% Tuổi TB của NB là 52,4 tuổi (KTC 95% = 51,0, 53,7, SD = 10,3) Đa

số người được hỏi là người Mã Lai (60,5%), tiếp theo là người Trung Quốc (19,3%), người Ấn Độ (18,4%) và những người khác (1,8%) Hơn 50% số người được hỏi mắc ung thư giai đoạn III và giai đoạn IV ác tính Đánh giá CLCS chung

TB của NB ung thư vú là 65,7 điểm (Độ lệch chuẩn (ĐLC) = 21,4 điểm) Trong lĩnh

Trang 15

vực chức năng (LVCN) thì điểm TB “Chức năng nhận thức” là cao nhất (84,1 điểm, ĐLC = 18,0), trong khi tại lĩnh vực triệu chứng (LVTC) cao nhất là “Khó khăn tài chính (KKTC)” (40,1 điểm, ĐLC = 31,6)

NC tiếp theo được thực hiện bởi tác giả Manandhar thực hiện năm 2014 về CLCS của NB ung thư vú đang điều trị tại các trung tâm ung thư quốc gia ở Nepal Kết quả NC cho thấy: Điểm TB CLCS chung cao hơn mức TB là 52,8 điểm, với ĐLC là 24,6 điểm Trong thang đo QLQ-C30, LVCN cho thấy chức năng có điểm thấp nhất là chức năng cảm xúc và xã hội, và chức năng có điểm TB cao nhất là chức năng thể chất và vai trò Gần 90% NB trong NC gặp khó khăn kinh tế [39]

Với tác giả Saleha thực hiện một NC tại các khoa lâm sàng Bệnh viện KEMU Mayo tại Lahore, Pakistan từ tháng 5 đến tháng 11 năm 2009 Kết quả cho thấy: tuổi TB của NB là 46,3 ± 9,52 tuổi Với điểm CLCS chung là 48,33 ± 27,77 điểm [55]

Nghiên cứu mô tả và cắt ngang được tác giả Sema Üstündağ và cộng sự (2015) thực hiện để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến CLCS của NB ung thư NC

đã thu thập dữ liệu từ 352 NB ung thư ngoại trú tại một Bệnh viện nhà nước Thổ Nhĩ Kỳ Các kết quả NC như sau: NB là phụ nữ (54,8%), đã kết hôn (83,5%), tốt nghiệp tiểu học (57,1%), nội trợ (44,6%) và trải qua liệu pháp dựa trên fluorouracil (47,2%) và hầu hết tất cả các NB đều có nghi lễ tôn giáo và văn hóa đối với căn bệnh này Phụ nữ có sức khỏe thể chất và xã hội kém hơn nam giới (p = 0,001, p = 0,0001) Người độc thân có tâm lý và sức khỏe chung kém hơn (p = 0,0001, p = 0,0001) Các bà nội trợ có sức khỏe thể chất và xã hội kém nhất (p <0,05) NB ung thư vú có sức khỏe xã hội kém nhất so với các NB ung thư khác [64]

CLCS ở NB ung thư tại các nước đang phát triển đã và đang được chú trọng

NC của Mohan đánh giá CLCS trên 76 NB ung thư phổi, bằng cách sử dụng bảng câu hỏi CLCS WHOQoL-Bref phiên bản tiếng Hindi của WHO Trong NC kể trên nam giới chiếm 87%, tuổi TB là 55 tuổi (SD = 10) Ho, khó thở, đau ngực và xuất huyết lần lượt có mặt ở 83%, 72%, 66% và 43% NB TB thời gian của các triệu chứng là 5,9 tháng (khoảng 1-13), 89% bị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ Số năm TB hút thuốc là 23 (khoảng 0,5-88) Hầu hết NB (chiếm 53%) có chỉ số

Trang 16

Karnofsky (KPS) ở mức 70% là “Mất khả năng làm việc, hoạt động bình thường nhưng còn tự phục vụ” và 83% NB ở giai đoạn III, IV [43] Kết quả NC cho thấy

NB bị ung thư phổi ở một nước đang phát triển như Ấn Độ có CLCS không đạt yêu cầu [43]

Năm 2009, tác giả Ozturk A thực hiện đánh giá CLCS và chức năng phổi của những người sống sót lâu dài của ung thư phổi không tế bào nhỏ được điều trị bằng

xạ trị triệt để hoặc sau phẫu thuật Với mục đích mô tả CLCS, đánh giá chức năng phổi và so sánh các đặc điểm nhân khẩu học và lâm sàng với CLCS ở những người sống sót lâu dài của ung thư phổi không tế bào nhỏ được điều trị bằng xạ trị triệt để hoặc sau phẫu thuật Trong đó, 28 NB đã được tuyển dụng vào NC được theo dõi

TB 46 tháng (khoảng: 25-125 tháng) Kết quả thấy là CLCS của NB sống còn sau 2 năm xạ trị là tốt Từ đó khuyến nghị cần có những NC sâu hơn để hiểu rõ hơn về CLCS trước điều trị của NB ung thư [49]

Một NC tổng hợp các bài báo về CLCS của 8 quốc gia Trung Đông của tác giả Haddou Rahou B và cộng sự, năm 2016 về CLCS ở phụ nữ Ả Rập bị ung thư

vú Việc tìm kiếm được tiến hành bằng cách sử dụng các tiêu chí bao gồm và loại trừ và phù hợp với các mục báo cáo ưu tiên cho các tổng quan hệ thống/phân tích tổng hợp (PRISMA) Các cơ sở dữ liệu được tư vấn là PubMed, Science Direct, Index Medicus cho World Health Organisation Đông Địa Trung Hải, Tạp chí Châu Phi trực tuyến Kết quả NC cho thấy điểm số tốt về sức khỏe tổng quát (SKTQ) được ghi nhận tại phụ nữ Ả Rập sống ở các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (điểm TB = 74,6) so với các quốc gia khác [28]

CLCS ở NB ung thư đang trải qua hóa trị liệu tại một trung tâm chăm sóc Đại học ở vùng Malwa, Bang Punjab do tác giả Harminder Singh cùng các cộng sự thực hiện năm 2014 Tổng cộng có 131 NB ung thư được tuyển dụng với tuổi TB là 49,05 ± 14,35 tuổi NC tìm mối liên quan của tình trạng SKTQ với 4 nhóm triệu chứng, đó là: mất ngủ, đau, mất cảm giác ngon miệng, táo bón và nhóm KKTC Kết quả NC thấy rằng SKTQ cải thiện đáng kể ở nhóm ba so với nhóm một, cho thấy sức khỏe tổng thể và CLCS chung của NB được cải thiện khi phiên hóa trị tiến triển Mặc dù CLCS của NB không cho thấy sự cải thiện đáng kể trong tất cả các

Trang 17

lĩnh vực khi trải qua hóa trị tương ứng, nhưng chẩn đoán hợp lý với phương pháp điều trị thích hợp bao gồm hóa trị liệu có thể làm giảm nhận thức tiêu cực của NB

về ung thư như một căn bệnh gây tử vong, hướng đến cải thiện sức khỏe tinh thần cho NB [57]

NC của Mckernan (2008) thực hiện tại Anh trên 152 NB bị ung thư dạ dày hoặc thực quản, được phân loại bằng phân loại di căn hạch UICC (TNM) và đã được phẫu thuật hoặc điều trị giảm nhẹ trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm

1997 đến tháng 12 năm 2002 NC cho thấy điểm số các LVCN trải dài từ 0 đến 100 Các yếu tố được tìm thấy có liên quan đến CLCS ở NB ung thư bao gồm: tuổi, kích thước khối u, giai đoạn di căn hạch, cân nặng và điều trị [41]

NC của Jocham (2009) tiến hành tại miền Nam nước Đức trên 121 NB Trong đó bao gồm 64 NB đang nằm nội trú tại BV và 57 NB trong nhóm được chăm sóc tại nhà Các chẩn đoán phổ biến nhất là ung thư dạ dày - ruột (31%), ung thư niệu sinh dục (19,3%), ung thư phổi (17,4%), ung thư vú (17,4%) và các chẩn đoán ung thư khác (15,1%) Kết quả cho thấy chức năng nhận thức có TB cao nhất 58.6 ± 30.3 và triệu chứng nặng nề nhất là mệt mỏi (72.5 ± 21.2 TB SKTQ là 29.3

± 31.6 và KKTC là 33 ± 33.5 [31]

Một nghiên cứu về CLCS trên 127 NB ung thư của tác giả Maria Eliane Moreira Freire và cộng sự (2018) với mục đích đánh giá CLCS của NB ung thư trong chăm sóc giảm nhẹ và mối liên hệ của nó với các khía cạnh lâm sàng và cận lâm sàng Kết quả NC cho thấy tình trạng SKTQ và LVCN của NB có điểm CLCS thấp nhất; Với LVTC, đau, mệt mỏi, mất ngủ và chán ăn được nhấn mạnh Trong mối liên quan giữa các lĩnh vực CLCS với các biến số nhân khẩu học tìm thấy mối liên quan đáng kể với: tuổi tác và học vấn với chức năng nhận thức Bên cạnh đó, thu nhập hàng tháng của NB ung thư có mối liên quan đến SKTQ của NB Suy giảm năng lực chức năng do ung thư ảnh hưởng đến khả năng thực hiện các hoạt động thường ngày, các mối quan hệ xã hội và tình trạng tài chính của NB [26]

Trang 18

Với mục đích kiểm tra cụ thể mối liên quan giữa các biện pháp khách quan

về gánh nặng tài chính và CLCS và sức khỏe tinh thần của NB ung thư, tác giả Park

J và Look KA thực hiện nghiên cứu “Mối liên quan khách quan giữa gánh nặng tài chính và CLCS và sức khỏe tinh thần của NB ung thư”, năm 2018 Dữ liệu về NB ung thư được lấy từ khảo sát bảng chi tiêu y tế năm 2010 đến 2014 Gánh nặng tài chính cao được định nghĩa là tỷ lệ chi phí chăm sóc sức khỏe ngoài gia đình hàng năm so với thu nhập gia đình vượt quá 10% hoặc 20% Hồi quy tuyến tính đa biến được sử dụng để ước tính mối quan hệ giữa gánh nặng tài chính cao và CLCS của

NB Kết quả là trong số 6.799 NB ung thư, 15% và 6% trải qua gánh nặng tài chính cao vượt quá 10% và 20% thu nhập gia đình So với những NB không có gánh nặng tài chính cao, NB ung thư có gánh nặng tài chính cao có nhiều khả năng có CLCS thấp hơn đáng kể và có xu hướng đau khổ tâm lý không đặc hiệu hơn Mức gánh nặng tài chính cao hơn có liên quan đến CLCS thấp hơn, với mối liên quan mạnh

mẽ hơn với sức khỏe thể chất so với sức khỏe tinh thần và xu hướng đau khổ tâm lý không đặc hiệu hơn Gánh nặng tài chính cao ở những NB mắc bệnh ung thư có liên quan đáng kể với CLCS thấp hơn và sức khỏe tâm thần kém Cùng với những nỗ lực giảm chi phí chăm sóc sức khỏe cho những người sống sót sau ung thư, cần phải

có thêm các biện pháp can thiệp để đảm bảo CLCS và sức khỏe tâm lý của những người sống sót sau ung thư [51]

1.2.2 Tại Việt Nam

Tại Việt Nam, do tình trạng gia tăng tỉ lệ ung thư nhanh chóng, CLCS của

NB ngày càng được quan tâm và cải thiện

Một NC về triệu chứng đau và CLCS của NB ung thư giai đoạn tiến xa tại Bệnh viện Ung Bướu TPHCM thực hiện trong năm 2009 và 2010 của tác giả Vũ Văn Vũ Với thiết kế là NC cắt ngang trên 256 NB được thu thập dữ kiện qua 2 thang đo Một thang đo về tình trạng đau và thang đo thứ 2 đo lường về CLCS của EPRTC QLQ-30 Kết quả thấy rằng 73,3% NB đang có triệu chứng đau, trong đó

có 63% NB đang chịu “đau ít” hoặc “không đau” (dưới 5 điểm) Trong số NB ung thư tham gia NC, điểm SKTQ đạt mức TB 53,7 điểm Đau làm suy giảm CLCS của

NB ở các LVCN như hoạt động thể chất (p<0,001), chức năng (p= 0,001), cảm xúc

Trang 19

(p= 0,004), nhận thức (p=0,012) Và các LVTC như mệt mỏi, buồn nôn, v.v… TC đau làm giảm điểm SKTQ của NB (p=0,000) Tuy nhiên, triệu chứng đau không làm tăng thêm tổn hại về tài chính cho NB [13]

NC khác ở NB ung thư phổi không tế bào nhỏ tại Trung tâm Y học Hạt nhân

và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai có sự thay đổi tích cực CLCS sau 02 tháng điều trị NB thay đổi điểm số CLCS về các chức năng sau: thể chất (80,5 - 86,7); hoạt động (72,7 - 85,3); chức năng cảm xúc (65,4 - 87,8) Trong lĩnh vực triệu chứng cho thấy: mệt mỏi (24,8 - 13,7); khó thở (17,9 - 2,6); ho (48,7 - 2,6); ho ra máu (9,7 - 0,0); đau (26,3 - 10,3); rối loạn giấc ngủ (25,6 - 15,4); táo bón (14,1 - 0,0); tiêu chảy (điểm số 5,1 - 20,5) Điểm số CLCS chung thay đổi là 51,9 - 59,0 và vấn đề tài chính (33,3 -61,5) Tuy nhiên, NB vẫn gặp các tác động xấu là triệu chứng tiêu chảy

và KKTC [9]

Nhóm tác giả Trần Văn Thiệp và các cộng sự tiến hành NC “CLCS và hài lòng NB ung thư vú giai đoạn sớm sau đoạn nhũ tiết kiệm da và tái tạo vú tức thì” nhằm đánh giá kết quả an toàn, CLCS và hài lòng của NB ung thư vú sau đoạn nhũ tiết kiệm da và đoạn nhũ chừa núm vú với tái tạo vú tức thì Thực hiện tại Khoa ngoại 4, Bệnh viện Ung bướu TPHCM từ năm 2003 - 2006 Sử dụng thang đo QOL-ACD-B của Nhật để đánh giá CLCS của NB Kết quả cho thấy CLCS NB tái tạo vú tức thì và bảo tồn vú cao hơn nhóm đoạn nhũ về cảm nhận hình dáng cơ thể (p=0,01) và khía cạnh tình dục (p=0,03) [11]

NC của Phạm Đình Hoàng (2018) trên 116 phụ nữ được chẩn đoán là ung thư vú Trong đó, các cách phát hiện bệnh bao gồm: nghi ngờ mắc bệnh và phát hiện khi tự đi khám là cao nhất (55,2%); khi thấy triệu chứng và đi khám (25,0%)

và phát hiện qua khám sức khỏe định kỳ (19,8%) Những NB trong NC này là những người nhập cư, họ chủ yếu làm nghề công nhân tại quận Thủ Đức Điểm CLCS tổng quát TB của NB là 66,6 ± 16,2 Trong đó, điểm chức năng thể chất là 77,7 ± 20,1, chức năng hoạt động 76,1 ± 22,8, chức năng cảm xúc 87,1 ± 17,7, chức năng nhận thức 83,5 ± 19,2, chức năng xã hội 77,2 ± 23,6 Các yếu tố có liên quan đến CLCS NB ung thư bao gồm: tuổi, nghề nghiệp, học vấn, tôn giáo, giai đoạn bệnh, bệnh lý kèm theo, chia sẻ tình hình bệnh tật, quản lý căng thẳng, chỉ số hạnh phúc, chi trả điều trị: hài lòng về tiện nghi bệnh viện, KKTC [7]

Trang 20

1.3 Các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống ở người bệnh ung thư

1.3.1 Yếu tố thuộc về Bệnh viện

1.3.1.1 Các yếu tố về cơ sở vật chất

Phần lớn các NB trong NC của tác giả Rowlands (2008) tại Khoa Chăm sóc giảm nhẹ, Bệnh viện Velindre, Vương quốc Anh trên những NB ung thư thời kì cuối bày tỏ sự ưa thích mạnh mẽ đối với một phòng nhiều giường khi họ đủ khỏe để tương tác và một buồng đơn khi họ bị bệnh hoặc cận tử NC trên cũng cho thấy tất

cả NB đều cảm thấy môi trường chăm sóc có ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần của

họ Một số tiêu chí về cơ sở vật chất mà NB cho rằng quan trọng đến CLCS của mình bao gồm: sự sạch sẽ, tầm nhìn ra bên ngoài, ánh sáng và môi trường thoáng mát [30] Kết quả trong các NC trước tại Hoa Kỳ về việc xây dựng bệnh viện mới với tất cả các phòng đều là phòng đơn Mặc dù chính sách hiện tại khuyến nghị sử dụng phòng một giường, NC này cho thấy sự cần thiết phải kết hợp giữa các phòng nhiều giường và phòng đơn liên quan đến tác động của môi trường đến CLCS của

NB [65]

1.3.1.2 Các yếu tố về tinh thần thái độ phục vụ của NVYT

Từ thập niên 80, các NC trên NB ung thư đã chỉ ra tầm quan trọng trong việc giao tiếp, hành xử của NVYT ảnh hưởng đến CLCS Sự nhiệt tình trong hướng dẫn, chu đáo trong tư vấn và rõ ràng trong việc truyền đạt thông tin y tế đóng góp đến tiến trình chữa trị lâu dài của NB ung thư [67]

NC của tác giả Rowlands (2008) tại Khoa Chăm sóc giảm nhẹ, Bệnh viện Velindre, Vương quốc Anh trên những NB ung thư thời kì cuối cho thấy thái độ, năng lực và sự giúp đỡ của nhân viên tạo ra bầu không khí của cơ sở y tế bất kể bố trí, nội thất, thiết bị và trang trí [30]

CLCS của NB ung thư vú tại một số BV Ung bướu tại Việt Nam, tác giả Nguyễn Thu Hà và các cộng sự tìm thấy những biến số ảnh hưởng đến CLCS của

NB đó là chất lượng giao tiếp, hướng dẫn và giúp NB lựa chọn quyết định điều trị tốt nhất cũng như cảnh báo những tác dụng phụ mà NB phải trải qua [6] Một NC khác của Phạm Đình Hoàng (2018) trên NB ung thư vú Qua NC nhận thấy tác động

Trang 21

của các yếu tố có liên quan đến chi trả điều trị: hài lòng về tiện nghi BV, KKTC của

NB đến điểm CLCS [7]

1.3.1.3 Các yếu tố về chi phí khám, chữa bệnh

Bên cạnh đó, ung thư là một tình trạng sức khỏe mạn tính dù là sau điều trị

và để lại nhiều tác động lớn về mặt kinh tế cho NB CancerCare –Mạng lưới hỗ trợ cho NB ung thư đã nhận thấy tỉ lệ lần lượt là 18% và 11% NB ung thư đã bỏ qua các loại thuốc hoặc hủy một cuộc hẹn y tế trong 3 tháng qua vì vấn đề tài chính Một số tình trạng kinh tế mà NB phải đối mặt như: phá sản, bán nhà và vay tiền họ hàng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe tinh thần ở NB [30] Do đó việc thông báo chi phí ngay từ đầu bao gồm chi phí điều trị, chi phí các dịch vụ kèm theo là cần thiết nhằm giúp NB có hoạch định kinh tế tốt hơn

Tại Thổ Nhĩ Kỳ, một kết quả NC thấy là: để có hiệu quả, việc điều trị cần phải được chấp nhận, dễ hiểu và được mô tả rõ ràng phù hợp với các ưu tiên cuộc sống của NB Sự chấp nhận điều trị phụ thuộc vào khả năng của điều dưỡng và của các bác sĩ lâm sàng khác trong việc kết nối với NB để có thể chuẩn bị tốt cho họ về trải nghiệm điều trị theo ý nghĩa của cuộc sống của họ Bên cạnh đó, việc giải thích

cụ thể, minh bạch, rõ ràng về phác đồ điều trị, cũng như duy trì mức độ CLCS của

NB trong toàn bộ quá trình điều trị [24]

Một NC về CLCS của NB ung thư ở Estonia, sử dụng thang đo WHOQoL của Tổ chức Y tế Thế giới NC cho thấy rằng khi đánh giá CLCS ở NB ung thư, điểm sức khỏe thể chất là thấp nhất và cao nhất là chức năng giao tiếp xã hội Rõ ràng, sự cần thiết về các hệ thống hỗ trợ NB ung thư Tư vấn chuyên nghiệp nên có sẵn cho NB và gia đình, bạn bè của họ, lý tưởng nhất là thông qua một mạng lưới các NB ung thư cũ Bên cạnh đó tất cả các NB ung thư nên được tiếp cận với vật lý trị liệu [53]

1.3.2 Yếu tố nhân khẩu

Giới tính, Tuổi

Saleha S B và các cộng sự, 2010 cho thấy ở những NB nữ giới, NB trẻ tuổi tìm thấy có điểm CLCS tốt hơn so với những NB lớn tuổi (p<0,05) [55]

Trang 22

NC thực hiện bởi tác giả Ganesh S và cộng sự, năm 2016 về CLCS của NB ung thư vú ở Malaysia cho thấy yếu tố dự báo quan trọng cho tình trạng CLCS chung là tuổi tác CLCS của NB ung thư vú được phản ánh bởi SKTQ của NB được cải thiện khi tuổi tác tăng lên [27] Trong NC tác giả Manandhar S và cộng sự, năm

2014 cho thấy những người già được tìm thấy có CLCS chung tốt [39] NC của Mckernan (2008) cho thấy các yếu tố có liên quan đến CLCS ở NB ung thư bao gồm: tuổi, cân nặng [41]

NC của tác giả Ozturk A và các cộng sự, năm 2009 đánh giá CLCS và chức năng phổi của những người sống sót lâu dài của ung thư phổi không tế bào nhỏ được điều trị bằng xạ trị triệt để hoặc sau phẫu thuật Yếu tố tuổi, trình độ học vấn được xác định là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến CLCS [49]

Trình độ học vấn

Tác giả Ozturk A thực hiện đánh giá CLCS và chức năng phổi của những người sống sót lâu dài của ung thư phổi không tế bào nhỏ được điều trị bằng xạ trị triệt để hoặc sau phẫu thuật, năm 2009 NC thực hiện trên 28 NB theo dõi TB 46 tháng (khoảng: 25-125 tháng) Kết quả thấy là CLCS của NB sống còn sau 2 năm

xạ trị là tốt và trình độ học vấn được xác định là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến CLCS [49] Khảo sát năm 2015 tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội tìm thấy có mối liên quan giữa yếu tố trình độ văn hóa với CLCS, kết quả có ý nghĩa thống kê [3]

Tôn giáo

Yếu tố tôn giáo, tín ngưỡng và nghi lễ văn hóa có thể tương tác với nhau và việc phải đối mặt với các sự kiện khủng hoảng gia tăng các hành vi thực hành tôn giáo Hai NC được tiến hành tại Hoa Kỳ và Thụy Điển kết luận rằng thực hành tôn giáo và tinh thần cải thiện CLCS, sức khỏe thể chất, hy vọng và sự hài lòng nói chung và làm giảm sự lo lắng [15, 60]

Tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp

NC của Sema Üstündağ và cộng sự (2015) cho thấy NB ung thư nữ có sức khỏe thể lý và CLCS xã hội kém hơn nam giới (t = 3,285, p = 0,001; Z = 4,529, p = 0,0001) Người độc thân có CLCS mặt tâm lý và sức khỏe nói chung kém hơn so

Trang 23

với NB đã kết hôn (t = 14.294, p = 0,0001; t = 13,783, p = 0,0001) Không có mối quan hệ giữa giáo dục và CLCS (p > 0,05) Các bà nội trợ có sức khỏe thể chất và CLCS xã hội thấp hơn các nhóm khác được NC (p < 0,05) [64]

Tác giả Allegra W Timperi và cộng sự (2014) thực hiện nghiên cứu đoàn hệ tương lai với 2.013 phụ nữ được chẩn đoán từ 2006 - 2011 bị ung thư vú xâm lấn ở Kaiser Permanente, Bắc California nhằm mô tả mối liên quan giữa số giờ làm việc mỗi tuần và thay đổi việc làm với CLCS của NB Kết quả NC nhận thấy lúc ban đầu sức khỏe tổng thể cao hơn đối với những phụ nữ làm việc ít nhất vài giờ mỗi tuần so với những phụ nữ không làm việc Phụ nữ làm việc 1 - 19 giờ mỗi tuần tại cơ sở cũng có sức khỏe chức năng cao hơn so với phụ nữ không làm việc Có một mối liên hệ tích cực, có ý nghĩa giữa số giờ làm việc mỗi tuần và sức khỏe thể chất và xã hội Sau sáu tháng theo dõi, phụ nữ làm việc ít nhất 20 giờ mỗi tuần có sức khỏe thể chất và chức năng cao hơn so với những người không làm việc Điểm số thấp hơn

về sức khỏe thể chất và chức năng đã được quan sát thấy ở những phụ nữ ngừng làm việc trong thời gian theo dõi sáu tháng [62] Do vậy với những NB ung thư làm

ở những nhóm nghề khác nhau sẽ có sự khác biệt về CLCS của NB

Tình trạng kinh tế của bản thân, tình trạng kinh tế của gia đình

Kết quả NC của tác giả Maria Eliane Moreira Freire và công sự (2018) đánh giá CLCS của NB ung thư vú tại Brazil tìm thấy NB ung thư có thu nhập hàng tháng từ một đến ba mức lương tối thiểu có điểm CLCS SKTQ cao hơn Cho thấy với những NB nhận được mức lương tốt hơn có thể đáp ứng các nhu cầu về sức khỏe của bản thân tốt hơn [26]

NC của Nayak và George tại Ấn Độ tìm thấy sự ảnh hưởng tích cực đến CLCS của NB ung thư từ yếu tố kinh tế gia đình của NB [46]

Tác giả Park J và Look KA thực hiện nghiên cứu “Mối liên quan khách quan giữa gánh nặng tài chính và CLCS và sức khỏe tinh thần của NB ung thư”, năm

2018 cho thấy trong số 6.799 NB ung thư, 15% và 6% trải qua gánh nặng tài chính cao vượt quá 10% và 20% thu nhập gia đình So với những NB không có gánh nặng tài chính cao, NB ung thư có gánh nặng tài chính cao có nhiều khả năng có CLCS thấp hơn đáng kể hơn Do vậy, nếu NB có tình trạng kinh tế của bản thân tốt và tình

Trang 24

trạng kinh tế gia đình đủ hỗ trợ NB trong quá trình điều trị được xem như một yếu

tố bảo vệ đối với việc cải thiện CLCS của NB ung thư [51]

Trang 25

1.3.3 Các yếu tố tình trạng bệnh và điều trị

Loại ung thư

Một NC cho thấy NB có ung thư vú có điểm số CLCS xã hội thấp hơn các nhóm NB ung thư khác NC này cũng chỉ ra rằng ở NB có điểm CLCS thấp thường tìm đến các phương pháp dân gian như đi “thầy lang” hoặc đeo các loại bùa [64]

Giai đoạn bệnh và thời gian mắc bệnh

Năm 2009 tác giả Ozturk A và các cộng sự thực hiện NC “Đánh giá CLCS

và chức năng phổi của những người sống sót lâu dài của ung thư phổi không phải tế bào nhỏ được điều trị bằng xạ trị triệt để hoặc sau phẫu thuật” Mối tương quan cao nhất của EORTC QLQ-C30 và thang đo hiệu suất Karnofsky (KPS) trong bảng câu hỏi được tìm thấy là với chức năng vật lý và táo bón (r = 0,41, r = 0,44 có ý nghĩa thống kê với p<0,05) Giai đoạn bệnh, hóa trị liệu, bệnh comorid và hút thuốc thụ động được xác định là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến CLCS [49] NC của Mohan (2006) đánh giá CLCS trên 76 NB ung thư phổi, bằng cách sử dụng bảng câu hỏi CLCS WHOQOL-BREF phiên bản tiếng Hindi của WHO Kết quả NC cho thấy 83% NB ở giai đoạn III, IV và không tìm thấy mối liên quan giữa CLCS của

NB với giai đoạn bệnh [43] Tuy nhiên, trong NC của tác giả Phạm Đình Hoàng cho thấy rằng giai đoạn càng trễ CLCS của NB càng suy giảm Điểm CLCS tổng quát giảm theo giai đoạn bệnh: ở nhóm NB giai đoạn I là 78,3 ± 9,1; nhóm giai đoạn II là 62,2 ± 15,4; nhóm 60 giai đoạn III là 58,3 ± 17,0 và giai đoạn IV là 48,8 ± 7,5 điểm,

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) [7]

Trong NC tác giả Mehnert A và Koch U, năm 2008 cho thấy: CLCS thấp hơn (p<0,01) và mức độ lo lắng cao hơn (p<0,001) đã được quan sát thấy ở những người sống sót sau ung thư so với các nhóm so sánh quy chuẩn điều chỉnh theo tuổi Thời gian kể từ khi chẩn đoán ung thư lại không tìm thấy sự tác động đáng kể đến tâm lý cũng như CLCS của NB [42] Khảo sát CLCS trên NB ung thư và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng được thực hiện tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm

2015 tìm thấy có mối tương quan giữa: giai đoạn bệnh, thời gian mắc bệnh và phương pháp điều trị với điểm CLCS Thời gian mắc bệnh kéo dài, giai đoạn nặng

và việc được điều trị chăm sóc giảm nhẹ có liên quan đến thực tế rằng CLCS thấp

Trang 26

hơn có ý nghĩa thống kê Manandhar S và cộng sự, năm 2014 cho thấy những NB bị ung thư vú giai đoạn I được tìm thấy có CLCS chung tốt [39]

Bệnh kèm theo

NC của tác giả Huakang Tu và cộng sự tiến hành tại Hong Kong cho thấy các bệnh mãn tính của NB đóng góp hơn một phần trăm nguy cơ ung thư và hơn một phần ba nguy cơ tử vong do ung thư Hoạt động thể chất có liên quan đến việc giảm gần 40% nguy cơ ung thư liên quan đến các bệnh mãn tính [63]

1.3.4 Sự hỗ trợ của gia đình

Có sự hỗ trợ từ gia đình

Trong NC của Nayak và George tại Ấn Độ nhằm tìm hiểu về mối liên hệ giữa CLCS và sự hỗ trợ từ gia đình NC cho thấy rào cản lớn nhất trong trong khía cạnh hỗ trợ từ gia đình đối với NB là yếu tố kinh tế [46]

Một NC khác tại tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc trên 803 NB ung thư cho thấy một mô hình chăm sóc tích hợp bao gồm chăm sóc phục hồi sau khi can thiệp y khoa tại gia đình và đáp ứng tốt các nhu cầu chăm sóc sau bệnh từ gia đình và cộng đồng sẽ giúp cải thiện CLCS của NB [68]

Mức độ hỗ trợ

NC của Nayak và George tại Ấn Độ cho thấy các yếu tố thoải mái khi chia sẻ tình trạng bệnh tật với các thành viên trong gia đình, do vậy mức độ hỗ trợ nhiều hay ít từ phía gia đình cũng như người hỗ trợ sẽ ảnh hưởng nhiều đến sự thoải mái chia sẻ từ phía NB, từ đó giúp cải thiện CLCS của NB [46]

Người hỗ trợ chính thời điểm hiện tại

Với NC của Phạm Đình Hoàng (2018) trên 116 phụ nữ được chẩn đoán là ung thư vú Kết quả NC cho thấy các yếu tố có liên quan đến CLCS NB ung thư là yếu tố chia sẻ tình hình bệnh tật của NB Yếu tố người hỗ trợ chính hiện tại của NB

sẽ ảnh hưởng đến sự chia sẻ của NB về tình hình bệnh tật [7]

1.4 Công cụ đo lường chất lượng cuộc sống

1.4.1 Đánh giá chất lượng cuộc sống

Đánh giá CLCS đối với các tình trạng hay chẩn đoán bệnh lý khác nhau là rất cần thiết, nó giúp phản ánh tầm ảnh hưởng của tình trạng bệnh đến các khía cạnh

Trang 27

chất lượng trong cuộc sống của NB Bên cạnh đó, việc tìm hiểu CLCS giúp đánh giá các biện pháp, giải pháp can thiệp về y mặt học hiệu quả như thế nào đến NB

Theo WHO, CLCS liên quan đến sức khỏe nói chung được xem là cấu trúc tích hợp nhiều chiều kích thước như: sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần, quan hệ

xã hội và toàn trạng nói chung [70]

Một định nghĩa khác CLCS bao gồm 4 chiều kích thước quan trọng: thể lý và vận động thô, tình trạng tinh thần, điều kiện kinh tế xã hội và nhận thức chủ quan về tình trạng bản thân (triệu chứng và đặc biệt là cơn đau) Định nghĩa này nêu rõ tầm quan trọng trong việc phân biệt 2 phương pháp đánh giá CLCS: một là qua cảm nhận khách quan về tình trạng tinh thần (xác định bằng các triệu chứng được quan sát rõ ràng) và hai là trải nghiệm mang tính chủ quan (ví dụ như tự đánh giá về CLCS của mình) Từ đó dẫn đến việc phải cân nhắc khi chọn phương pháp đánh giá CLCS chủ quan hay khách quan Với đánh giá khách quan hướng đến các phương pháp xác định tình trạng của người bệnh hoặc cảm nhận của họ một cách rõ ràng Ngược lại, đánh giá chủ quan tập trung vào việc chính người bệnh tự mô tả tình trạng thể chất và kèm theo là cảm xúc trong trải nghiệm của họ Do đó việc đánh giá CLCS này cần dựa trên các trạng thái tâm lý của người bệnh, ngoài các chẩn đoán

về bệnh học như: rối loạn trầm cảm, lo âu mà còn các thành phần khác như mức độ hài lòng, sự hi vọng, khả năng thích ứng [58]

1.4.2 Các công cụ khảo sát về chất lượng cuộc sống

Thang đo CLCS được xây dựng và có thể chia thành 2 nhóm chính: tổng quát hoặc chuyên biệt theo bệnh lý [12] Có nhiều bộ công cụ đánh giá CLCS đang được sử dụng phổ biến trên thế giới, như thang đo WHOQoL-BREF và thang đo EORTC QLQ-C30

Về thang đo WHOQoL-BREF là một phiên bản ngắn gồm 26 câu hỏi được phát triển từ WHOQoL -100 nhằm giảm bớt gánh nặng cho người trả lời và cần thiết trong những cuộc điều tra dịch tễ lớn Công cụ này là công cụ đo lường CLCS chung được sử dụng trong một loạt các bệnh, cho mức độ khác nhau của mức độ bệnh [54, 61]

Trang 28

Trong khi đó NC hướng đến sử dụng công cụ đánh giá chuyên biệt theo bệnh

lý sẽ hỗ trợ việc thực hành lâm sàng tốt hơn Vì vậy NC lựa chọn bộ câu hỏi EORTC QLQ-C30, đây là thang đo chung giúp đánh giá toàn diện các mặt của CLCS dành cho hầu hết các chẩn đoán ung thư khác nhau và nó đã được chuẩn hóa

và sử dụng rộng rãi tại Việt Nam, trên nhiều đối tượng [10] [6] [13]

1.4.3 Độ tin cậy và tính giá trị của thang đo EORTC QLQ-C30

Thang đo CLCS EORTC QLQ-C30 được phát triển từ năm 1986 Tính thống nhất nội bộ của chỉ số này đạt yêu cầu và đã được khẳng định qua nhiều NC trên thế giới [32] [14] [22] EORTC QLQ-C30 được dịch và chuẩn hoá thành 81 ngôn ngữ, được sử dụng tại hơn 3000 NC trên toàn Thế giới Tại Việt Nam, NC trên NB ung thư ở TPHCM cho thấy hệ số Cronbach’s alpha của thang đo này là 0,93, từ đó khẳng định tính tin cậy nội bộ của thang đo này [10]

Thang đo EORTC QLQ-C30 chứa 30 câu, dùng để đo lường trong 4 lĩnh vực: 2 câu về SKTQ (câu 29,30), 15 câu về LVCN (câu 1-7, 20-27), 12 câu về LVTC (câu 8-19), 1 câu về KKTC (câu 28) Câu 29, 30 gồm thang điểm từ 1 đến 7, những câu còn lại được đo lường bởi thang đo gồm 4 giá trị từ 1, 2, 3, 4 tương ứng với các mức 1 = không có, 2 = ít, 3 = nhiều, 4 = rất nhiều Điểm số của thang đo này dao động từ 0 tới 100 và có ý nghĩa như sau: Vấn đề SKTQ, LVCN: điểm số càng cao, chức năng càng tốt Vấn đề về LVTC, KKTC: điểm số càng cao tương ứng triệu chứng càng nặng, khó khăn về tài chính càng nhiều

Thang đo EORTC QLQ-C30 được sử dụng rộng rãi trên Thế giới Tác giả Alawadhi và Ohaeri (2010) gợi ý các phiên bản chuẩn hóa theo ngôn ngữ địa phương nên có hệ số tương quan nội tại > 0,4 và thang đo tổng nên có Cronbach’s alpha trên 0,7 [17] Bảng hỏi EORTC QLQ-C30 phiên bản 3.0 chuẩn hóa ngôn ngữ Việt được NC chúng tôi sử dụng nhằm điều tra thu thập thông tin trong NC chúng tôi đạt độ tin cậy cao, được chứng minh qua nhiều NC khác tại Việt Nam [5], [6]

1.5 Giới thiệu Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM

Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM là bệnh viện công lập, hạng 1, với quy

mô 1.000 giường, với NB ngoại trú trung bình 7.000 lượt NB mỗi ngày và nội trú 1.000 NB, Bệnh viện trực thuộc ĐHYD TPHCM Đây là một cơ sở khám, chữa

Trang 29

bệnh và bên cạnh đó cũng là cơ sở đào tạo thực hành lâm sàng của trường Đại học Ngoài chức năng khám, chữa bệnh, Bệnh viện còn có chức năng nghiên cứu khoa học, ứng dụng các công nghệ kỹ thuật cao trong chẩn đoán, điều trị, chăm sóc sức khỏe nhân dân; tham gia đào tạo, đào tạo liên tục và là cơ sở thực hành lâm sàng đào tạo nguồn nhân lực y tế theo các quy định của pháp luật Bệnh viện có nguồn nhân lực rất dồi dào, với hơn 2.500 nhân viên [2]

Theo báo cáo hoạt động của Bệnh viện cho thấy trung bình mỗi năm có khoảng 59.979 ca nhập viện trong đó có khoảng 15.000- 16.000 NB bị ung thư Với các loại ung thư thường gặp bao gồm: ung thư thực quản, dạ dày, gan, đại tràng, trực tràng, vú, tuyến giáp Thời gian nằm viện của NB ung thư dao động 14 – 100 ngày tại các Khoa lâm sàng

Nhằm mang lại kết quả điều trị tốt nhất đối với NB điều trị ung thư, bên cạnh việc áp dụng các kĩ thuật, phương pháp điều trị hiện đại, tiên tiến, Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM còn chú trọng vào các hoạt động chăm sóc, nâng cao tinh thần cho NB Với đội ngũ nhân viên Công tác xã hội dồi dào, tích cực trong các hoạt động hỗ trợ NB ung thư, tư vấn, giới thiệu dịch vụ chuyển tiếp, hỗ trợ chăm sóc NB

có hoàn cảnh khó khăn Ngoài ra, còn có rất nhiều hoạt động như thăm hỏi NB nặng, điều trị dài ngày, tặng quà ngày sinh nhật, hỗ trợ tư vấn tâm lý miễn phí cho

NB trong quá trình điều trị Tất cả các hoạt động đều hướng đến nâng cao sức khỏe tinh thần, cải thiện CLCS của NB ung thư điều trị tại Bệnh viện Nhằm ngày càng nâng cao chất lượng điều trị cũng như dịch vụ của Bệnh viện

Trang 30

1.6 Khung lý thuyết nghiên cứu

Khung lý thuyết được xây dựng trên cơ sở tổng quan tài liệu, ngoài ra một số yếu tố thuộc về Bệnh viện được chúng tôi đưa ra phù hợp với thực trạng tại Bệnh viện Các biến số này được xem là những biến số mới mà chúng tôi muốn thu thập,

và đây là điểm khác giữa NC của này với các NC khác

Chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư

dịch vụ khác, yên tĩnh, cảnh quan bệnh viện

- Về tinh thần thái độ phục vụ của NVYT: thái độ giao

tiếp của nhân viên y tế và thông tin cụ thể tình trạng

bệnh

- Về các hoạt động khám, chữa bệnh: thông tin về

thuốc, các xét nghiệm, thông tin trước điều trị can

thiệp, khám khi có các bất thường, tư vấn lựa chọn

phương pháp điều trị, đảm bảo sự riêng tư khi thăm

- Tình trạng kinh tế của bản thân

- Tình trạng kinh tế của gia đình

Trang 31

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang

2.2 Đối tượng nghiên cứu

NB ung thư tại các khoa lâm sàng, Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh năm 2019

Tiêu chuẩn chọn vào:

 NB đang điều trị ung thư tại BV;

 NB tỉnh táo, có khả năng hiểu, trả lời phỏng vấn viên về các nội dung;

 NB có sự phản hồi đồng ý tham gia NC

Tiêu chuẩn loại ra:

 NB là trẻ em (từ 15 tuổi trở xuống)

 NB ung thư tại các khoa lâm sàng tại Bệnh viện có thở máy, đang nằm tại ICU, cấp cứu

 NB ung thư giai đoạn IV tại các khoa lâm sàng

2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

 Thời gian nghiên cứu: từ tháng 08/01/2019 đến 30/7/2019

 Địa điểm nghiên cứu: tại 7 khoa lâm sàng có NB ung thư tại Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM

2.4 Cỡ mẫu

+ Với: α là sai lầm loại 1  α = 0,05

+ Z (1-α/2) là trị số từ phân phối chuẩn Z(1-α/2) = 1,96

+ δ là độ lệch chuẩn ước lượng trong dân số Lấy σ = 21,4 điểm theo nghiên cứu của tác giả Ganesh S và cộng sự [27]

+ d là độ chính xác tuyệt đối mong muốn Lấy d = 2,5 điểm

 Áp dụng công thức trên ta tính được cỡ mẫu: n = 282 người bệnh

 Dựa trên tỷ lệ phản hồi của nghiên cứu Ganesh S và cộng sự (2016) là 92,1%, vì vậy nghiên cứu dự trù thêm 10% mẫu

Vậy n = 310 người bệnh

Trang 32

 Nghiên cứu tiến hành lẫy mẫu thực tế được 318 người bệnh

Số lượng mẫu thực tế

Giai đoạn 2: Sử dụng phần mềm chọn ngẫu nhiên đơn ra những NB theo

danh sách tại các khoa Sau khi có danh sách NB, nghiên cứu viên đã đến gặp trực tiếp Trưởng/Phó trưởng Khoa, Điều dưỡng trưởng tại từng đơn vị Sau khi đơn vị đồng ý cho việc thu thập dữ liệu, nghiên cứu viên tiến hành đến gặp các đối tượng nghiên cứu thông báo về nội dung, mục đích nghiên cứu và thực hiện phỏng vấn Với trường hợp NB từ chối tham gia nghiên cứu, công tác lấy dữ kiện được tiếp tục với NB tiếp theo trong danh sách phân bổ ngẫu nhiên để phỏng vấn

2.6 Công cụ thu thập số liệu và phương pháp thu thập

2.6.1 Công cụ thu thập số liệu

Các phần của bộ câu hỏi bao gồm 3 phần như sau:

Phần 1: Thông tin về các nhóm yếu tố như:

 Thông tin nhân khẩu: giới tính, tuổi, tôn giáo, tình trạng học vấn, hôn nhân, nghề nghiệp, tình trạng kinh tế của bản thân và gia đình;

 Yếu tố về tình trạng bệnh và điều trị: loại bệnh, thời gian mắc bệnh, mức độ bệnh, bệnh kèm theo;

 Sự hỗ trợ của gia đình: có hay không sự hỗ trợ, mức độ hỗ trợ, người

hỗ trợ chính tại thời điểm hiện tại

Trang 33

Phần 2: Đánh giá của người bệnh về các yếu tố thuộc về Bệnh viện

 Về CSVC: tình trạng nhà vệ sinh, tình hình an ninh, dịch vụ khác, yên tĩnh, cảnh quan bệnh viện

 Về tinh thần thái độ phục vụ của nhân viên y tế: thái độ giao tiếp của nhân viên y tế và thông tin cụ thể tình trạng bệnh

 Về các hoạt động khám chữa bệnh: thông tin về thuốc, các xét nghiệm, thông tin trước thực hiện các điều trị can thiệp, khám khi có các bất thường, tư vấn để lựa chọn phương pháp điều trị, đảm bảo sự riêng tư khi thăm khám

 Chi phí khám chữa bệnh: công khai chi phí, khả năng chi trả

Phần 3: Đo lường về chất lượng cuộc sống: sử dụng thang EORTC

QLQ-C30 để phỏng vấn NB về CLCS [11] Thang đo gồm 30 câu hỏi, các biến số đầu ra là điểm CLCS về:

Sức khỏe tổng quát: biến số định lượng có điểm từ 0 đến 100, được

xác định bằng TB cộng của các câu C29, C30

Lĩnh vực chức năng: biến số định lượng có điểm từ 0 đến 100, được

xác định bằng TB cộng của các câu C1-7, C20-27

Lĩnh vực triệu chứng: biến số định lượng có điểm từ 0 đến 100,

được xác định bằng TB cộng của các câu C8-19

Lĩnh vực tài chính: biến số định lượng có điểm từ 0 đến 100, được

xác định bằng điểm TB của câu C28

CLCS chung: là TB cộng của 4 khía cạnh bao gồm: sức khỏe tổng

quát, lĩnh vực chức năng, lĩnh vực triệu chứng và lĩnh vực tài chính Chúng tôi ghi nhận hệ số Conbach’s alpha các lĩnh vực thang đo EORTC QLQ-C30 đều trên 0,90 Hệ số Conbach’s alpha tổng của thang đo là 0,97 cho thấy thang đo EORTC QLQ-C30 phiên bản tiếng Việt có độ tin cậy cao và được Việt hóa tốt về mặt ngữ nghĩa và văn hóa Các lĩnh vực đánh giá của thang đo có hệ số tin cậy cao, từ đó phản ánh đúng tình trạng CLCS của NB ung thư

Trang 34

2.6.2 Phương pháp thu thập số liệu

Trước tiên học viên thực hiện liên hệ các thủ tục hành chính xin phép về việc

NC khoa học tại Bệnh viện

Nghiên cứu pilot với 10 mẫu, nhằm hiệu chỉnh lại chính tả, nội dung các câu hỏi sao cho ngắn gọn, dễ hiểu, thuận tiện

Nghiên cứu có 05 điều tra viên hỗ trợ, trước khi tiến hành khảo sát điều tra viên đã tập huấn về nội dung Nhấn mạnh mục đích NC, chuẩn hóa nội dung, cho

02 điều tra viên thực hành hỏi lẫn nhau để làm quen và hiệu chỉnh bộ câu hỏi lần nữa nếu có sai lỗi

Dựa vào danh sách NB khảo sát, học viên gặp trực tiếp Trưởng/Phó trưởng khoa, Điều dưỡng trưởng các Khoa thông báo về nội dung, mục đích nghiên cứu và tiến hành thực hiện phỏng vấn NB Nếu NB từ chối, tiếp tục chọn mời người tiếp theo trong danh sách để phỏng vấn Tiến hành khảo sát NB từ 15/4/2019 đến 30/6/2019

Sau khi điều tra viên hoàn tất việc thu thập bộ câu hỏi, nghiên cứu viên thực hiện kiểm tra lại sự đầy đủ về nội dung và bắt buộc điều tra viên bổ sung các nội dung còn thiếu sót

2.7 Các biến số nghiên cứu

Các nội dung về biến số trong NC được tổng hợp như Bảng 2.1 dưới đây Về

nội dung chi tiết các biến số nằm tại Phụ lục 2

Bảng 2.1 Các biến số trong nghiên cứu

2 Thông tin về các yếu tố nhân khẩu 09 biến số

3

Thông tin về các yếu tố về tình trạng bệnh và

4 Thông tin về sự hỗ trợ của gia đình 03 biến số

5 Thông tin về các yếu tố thuộc về BV 15 biến số

Trang 35

2.8 Phương pháp phân tích số liệu

 Xử lý số liệu sau thu thập:

 Các dữ kiện sau khi được thu thập, trước khi nhập liệu, NC viên kiểm tra sự đầy đủ thông tin của bộ câu hỏi

 Tiến hành mã hóa số liệu, ví dụ 1 là có và 0 là không để thuận tiện cho công tác nhập liệu và phân tích dữ kiện

 Sử dụng phần mềm Epidata 3.1 cho việc nhập các số liệu, đảm bảo sự chính xác của các số liệu khi nhập vào Sau khi nhập liệu kết thúc, tiến hành kiểm tra các số liệu ngoại lai, đảm bảo đúng khi đối chiếu với phiếu giấy

 Sử dụng phần mềm Stata, phiên bản 14 thực hiện phân tích dữ liệu

 Áp dụng các phân tích mô tả: tỉ lệ %, TB, trung vị, độ lệch chuẩn, khoảng tứ

vị các biến số về thông tin nhân khẩu, về yếu tố bệnh, các yếu tố về sự hỗ trợ của gia đình và các yếu tố thuộc BV

 Cách tính điểm số các lĩnh vực sức khỏe của thang đo EORTC QLQ-C30

được miêu tả chi tiết tại Phụ lục 2 Với phương pháp đánh giá giá kết quả

theo thang đo EORTC QLQ-C30 như sau:

 Điểm CLCS chung có điểm từ 0 đến 100, điểm càng cao thì CLCS của

NB ung thư càng tốt

 Điểm số lĩnh vực SKTQ và LVCN cũng có điểm từ 0 đến 100 điểm, điểm càng cao thì sức khỏe tổng quát và chức năng của NB ung thư càng tốt

 Với điểm số lĩnh vực LVTC và KKTC cũng có điểm từ 0 đến 100 điểm, điểm càng cao thì triệu chứng của NB càng trầm trọng và tình trạng tài chính của NB càng khó khăn

 Sử dụng kiểm định T-test, Anova nhằm so sánh sự khác biệt về điểm TB CLCS giữa NB có các đặc điểm nền, tình trạng bệnh lý, đánh giá về các yếu

tố thuộc về BV khác nhau Ví dụ so sánh sự khác biệt CLCS giữa giới nam,

nữ chúng tôi dùng T-test

 Để so sánh sự khác biệt CLCS giữa các nhóm tuổi, tình trạng hôn nhân, học vấn … chúng tôi dùng Anova Và sau đó sử dụng phân tích sâu Anova là Bonferroni để so sánh sự khác biệt chi tiết giữa các nhóm của 1 biến số

Trang 36

2.10 Kiểm soát sai số

2.11 Đạo đức trong nghiên cứu

 Học viên thực hiện nghiêm chỉnh trong việc xét duyệt đạo đức số

86/2019/YTCC-HD3 ngày 05/04/2019 (Phụ lục 3)

 Nghiên cứu hoàn toàn được sự chấp thuận của Lãnh đạo BV

 Nghiên cứu không can thiệp, không gây nguy cơ cho NB

 Tôn trọng sự đồng ý tham gia nghiên cứu của NB

 Quyền được riêng tư của NB luôn được tôn trọng

 Bảo mật thông tin đối tượng nghiên cứu

 Đối tượng NC có thể ngừng tham gia trong bất kỳ giai đoạn nào nếu cảm thấy bất tiện

Trang 37

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 3.1 Thực trạng chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư theo thang đo EORTC QLQ-C30

Bảng 3.1 Điểm chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư

Theo hướng dẫn của EORTC QLQ – C30, điểm số CLCS chung, SKTQ, LVCN có điểm từ 0 đến 100 điểm, điểm càng cao thì CLCS chung, sức khỏe tổng quát và chức năng của NB ung thư càng tốt Điểm số trong LVTC và KKTC có điểm từ 0 đến 100, với điểm số càng cao cho thấy các triệu chứng càng trầm trọng

và tài chính càng khó khăn

Điểm TB CLCS chung của NB ung thư ở mức thấp 49,2 điểm, độ lệch chuẩn

là 6,5 điểm Trong đó, NB có điểm CLCS thấp nhất là 20 điểm và cao nhất là 60,9 điểm Trong 4 lĩnh vực CLCS thì LVTC có điểm TB thấp nhất là 40,1 điểm và điểm

TB của LVCN cao nhất với 54,8 điểm, tuy nhiên so với thang điểm chung thì chỉ ở trên mức TB Hai lĩnh vực còn lại là sức khỏe tổng quát (SKTQ) và KKTC có điểm

Trang 38

3.2 Mối liên quan giữa các yếu tố thuộc về bệnh viện đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư

3.2.1 Đặc điểm các yếu tố thuộc về Bệnh viện

Bảng 3.2 Mô tả các yếu tố cơ sở vật chất, tiện ích phục vụ người bệnh

Vào buổi tối, Bệnh viện có yên tĩnh

Cảnh quan trong và ngoài của Bệnh viện

Trang 39

Nhận định của NB về thực trạng nhà vệ sinh tại BV là thuận tiện và rất thuận tiện chiếm 32,1% và 65,4%

Với tình hình an ninh, trật tự của Bệnh viện cho thấy 6,3% NB cho rằng tình hình an ninh, trật tự chấp nhận được, NB vẫn cảm giác chưa an toàn Tuy nhiên, 87,1% NB đã đánh giá tốt rằng tình hình an ninh, trật tự rất tốt, NB không lo lắng,

để tâm nhiều

Với việc đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt cá nhân khác được NB đánh giá chủ yếu là Bệnh viện có đáp ứng, rất đầy đủ và giá hợp lý, chiếm 55,7% Bên cạnh có 24,5% NB đánh giá rằng Bệnh viện có đáp ứng, nhưng giá cao hơn bên ngoài

NB đánh giá về mức độ yên tĩnh của Bệnh viện là tương đối yên tĩnh và yên tĩnh chiếm 77.3%

Cảnh quan trong và ngoài của BV được NB đánh giá tốt, tạo cảm giác thoải mái, chiếm tỉ lệ là 68,2%

Bảng 3.3 Mô tả các yếu tố tinh thần thái độ phục vụ của nhân viên y tế

Trang 40

Bảng 3.4 Mô tả các yếu tố về hoạt động khám, chữa bệnh

Trước khi thực hiện các điều trị can thiệp (hóa trị, xạ

trị, phẫu thuật) được thông tin, giải thích lý do

Khi có những triệu chứng bất thường, có được bác sĩ

Được bác sĩ tư vấn để lựa chọn phương pháp điều trị

Việc thông tin, giải thích lý do sử dụng thuốc trong quá trình điều trị được

NB đánh giá rằng BV thực hiện thông tin đầy đủ, chiếm 87,8% Tuy nhiên vẫn có 11,9% NB thấy rằng việc giải thích chỉ ở mức độ chấp nhận được

Ngày đăng: 31/01/2021, 14:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w