1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI HOẠT ĐỘNG CÔNG tác xã hội và một số yếu tố ẢNH HƯỞNG tại BỆNH VIỆN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU, TỈNH bến TRE, GIAI đoạn 2016 2019

160 46 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 3,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU Công tác xã hội CTXH trong bệnh viện có nhiệm vụ bảo vệ quyền được chăm sóc sức khỏe của người bệnh NB thông qua việc tư vấn các vấn đề xã hội có liên quan cho NB và n

Trang 1

ĐƯỜNG THỊ TRÚC

THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI HOẠT ĐỘNG

CÔNG TÁC XÃ HỘI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI BỆNH VIỆN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU, TỈNH BẾN TRE,

GIAI ĐOẠN 2016 - 2019

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802

HÀ NỘI, 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

ĐƯỜNG THỊ TRÚC

THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI BỆNH VIỆN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU, TỈNH BẾN TRE,

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Một số khái niệm liên quan tới đề tài 3

1.1.1 Khái niệm công tác xã hội 3

1.1.2 Khái niệm công tác xã hội trong bệnh viện 3

1.1.3 Khái niệm người làm công tác xã hội trong bệnh viện 3

1.2 Một số hoạt động trọng tâm của công tác xã hội trong bệnh viện 4

1.2.1 Hoạt động trợ giúp người bệnh gặp khó khăn khi khám bệnh, chữa bệnh 4

1.2.2 Huy động và điều phối nguồn lực hỗ trợ cho người bệnh và bệnh viện 5

1.2.3 Hoạt động hỗ trợ nhân viên y tế 5

1.2.4 Truyền thông về công tác xã hội 6

1.2.5 Đào tạo, bồi dưỡng 6

1.2.6 Các hoạt động khác 6

1.3 Nhiệm vụ của phòng công tác xã hội 6

1.3.1 Nhiệm vụ công tác xã hội của bệnh viện 6

1.3.2 Những yếu tố ảnh hưởng khi triển khai hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện 8

1.4 Những nghiên cứu về hoạt động công tác xã hội 10

1.4.1 Những nghiên cứu về thực trạng triển khai hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện ở một số nước trên thế giới và tại Việt Nam 10

1.4.2 Những nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến triển khai hoạt động

công tác xã hội trong bệnh viện 14

1.5 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu 21

Trang 4

1.6 Khung lý thuyết của nghiên cứu 22

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đối tượng nghiên cứu 25

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 25

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 25

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 26

2.2.1 Thời gian nghiên cứu 26

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 26

2.3 Thiết kế nghiên cứu 26

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 26

2.4.1 Cỡ mẫu 26

2.4.2 Phương pháp chọn mẫu 27

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 28

2.5.1 Công cụ thu thập số liệu 28

2.5.2 Quy trình thu thập số liệu 29

2.6 Các biến số nghiên cứu và định nghĩa biến 29

2.6.1 Các nhóm biến số chính bao gồm 29

2.6.2 Nội dung, chủ đề nghiên cứu định tính 30

2.7 Phương pháp phân tích số liệu 30

2.7.1 Số liệu định lượng 30

2.7.2 Thông tin định tính 31

2.8 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 31

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32

3.1 Thực trạng triển khai hoạt động CTXH và một số kết quả ban đầu khi triển khai tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu từ tháng 4/2016 đến tháng 3/2019 32

3.1.1 Mô tả thực trạng các hoạt động CTXH đã được triển khai trong giai đoạn 2016 - 2019 32

3.1.2 Mô tả phòng CTXH tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu 33

3.1.3 Một số kết quả ban đầu khi triển khai hoạt động CTXH tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre từ tháng 4/2016 đến tháng 3/2019 35

Trang 5

3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng khi triển khai thực hiện hoạt động công tác xã hội 60

3.2.1 Chính sách và thực thi chính sách 60

3.2.2 Sự ủng hộ của các bên liên quan 63

3.2.3 Khả năng về nguồn lực khi triển khai thực hiện các hoạt động CTXH tại bệnh viện 73

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 80

4.1 Thực trạng triển khai hoạt động CTXH tại BVNĐC, tỉnh Bến Tre, giai đoạn 2016 – 2019 80

4.1.1 Triển khai hoạt động tư vấn giải quyết các vấn đề CTXH cho NB/NNNB trong quá trình KCB 80

4.1.2 Triển khai hoạt động truyền thông và phổ biến, giáo dục pháp luật 81

4.1.3 Triển khai hoạt động vận động, tiếp nhận tài trợ 83

4.1.4 Triển khai hoạt động hỗ trợ NVYT 83

4.1.5 Triển khai hoạt động đào tạo, bồi dưỡng 85

4.1.6 Triển khai hoạt động tổ chức đội ngũ CTV làm CTXH của bệnh viện 86

4.1.7 Triển khai hoạt động tổ chức các hoạt động từ thiện, CTXH của bệnh viện tại cộng đồng 88

4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng khi triển khai hoạt động CTXH tại BVNĐC 90

4.2.1 Chính sách và thực thi chính sách 90

4.2.2 Sự ủng hộ của các bên có liên quan 93

4.2.3 Khả năng về nguồn lực khi triển khai thực hiện các hoạt động CTXH tại bệnh viện 99

4.3 Một số hạn chế của nghiên cứu 105

4.4 Sai số và biện pháp khắc phục sai số 105

4.4.1 Sai số của nghiên cứu 105

4.4.2 Biện pháp khắc phục 106

KẾT LUẬN 107

5.1 Thực trạng triển khai hoạt động CTXH tại BVNĐC từ 4/2016 – 3/2019 107

5.2 Một số yếu tố ảnh hưởng khi triển khai hoạt động CTXH tại bệnh viện 107

KHUYẾN NGHỊ 109

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BVNĐC Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu

BGĐ BV Ban giám đốc bệnh viện

BGĐ SYT Ban Giám đốc Sở Y tế

GĐ 1 Giai đoạn 1 (4/2016 – 3/2017)

GĐ 2 Giai đoạn 2 (4/2017 – 3/2018)

GĐ 3 Giai đoạn 3 (4/2018 – 3/2019)

NASW National Association of Social Workers - Hiệp hội quốc

gia về công tác xã hội Mỹ

NB Người bệnh

NVCTXH Nhân viên Công tác xã hội

UNICEF United Nations International Children's - Emergency

Fund - Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc

WHO Tổ chức y tế thế giới

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Số lượng mẫu của nghiên cứu định tính 27 Bảng 3.1 Các hoạt động được Phòng CTXH triển khai 32 Bảng 3.2 Cơ cấu nhân lực phòng Công tác xã hội 33 Bảng 3.3 Số lượng cộng tác viên thuộc mạng lưới CTXH làm việc tại các khu vực trong bệnh viện 34 Bảng 3.4 Nguồn kinh phí hoạt động 35 Bảng 3.5 Kết quả triển khai hoạt động tư vấn giải quyết các vấn đề về CTXH cho NB/NNNB trong quá trình khám chữa bệnh 36 Bảng 3.6 Kết quả triển khai hoạt động truyền thông và phổ biến, giáo dục pháp luật: 41 Bảng 3.7 Kết quả hoạt động vận động, tiếp nhận tài trợ 44 Bảng 3.8 Kết quả triển khai hoạt động hỗ trợ nhân viên y tế 49 Bảng 3.10 Kết quả triển khai hoạt động tổ chức đội ngũ CTV làm CTXH của bệnh viện 54 Bảng 3.11 Kết quả triển khai hoạt động tổ chức các hoạt động từ thiện, CTXH của bệnh viện tại cộng đồng………57

Trang 8

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Công tác xã hội (CTXH) trong bệnh viện có nhiệm vụ bảo vệ quyền được chăm sóc sức khỏe của người bệnh (NB) thông qua việc tư vấn các vấn đề xã hội có liên quan cho NB và người nhà người bệnh (NNNB) trong quá trình điều trị; tìm kiếm các dịch vụ hỗ trợ trên cơ sở tìm hiểu và phân tích các yếu tố xã hội có ảnh hưởng đến sức khỏe của NB; kết nối các dịch vụ hỗ trợ cho từng NB; nghiên cứu cung cấp bằng chứng từ thực tế hoạt động để đề xuất chính sách; hỗ trợ giải tỏa tâm

lý cho NB, NNNB và nhân viên y tế…Thông tư số 43/2015/TT-BYT của Bộ Y tế được ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2015, quy định về nhiệm vụ và hình thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ CTXH của bệnh viện Nghiên cứu này nhằm mô tả thực

trạng và một số yếu tố ảnh hưởng khi triển khai hoạt động CTXH tại Bệnh viện

Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre, giai đoạn 2016 – 2019 Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp định tính dựa trên số liệu thứ cấp có liên quan đến triển khai hoạt động CTXH từ tháng 4/2016 đến tháng 3/2019, và kết quả từ 06 cuộc phỏng vấn sâu, 03 cuộc thảo luận nhóm

Kết quả cho thấy bệnh viện đã triển khai cả 07 hoạt động theo Thông tư 43 của Bộ Y tế Trong đó, có 03 hoạt động được sự ủng hộ rất nhiều từ các đối tượng

có liên quan, gồm: hoạt động hỗ trợ, tư vấn giải quyết các vấn đề về CTXH cho người bệnh và NNNB trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh; hoạt động vận động tiếp nhận tài trợ; hoạt động tổ chức các hoạt động từ thiện, CTXH tại bệnh viện và cộng đồng Từ năm 2016 - 2019, phòng CTXH có 04 nội dung trợ giúp NB, riêng nội dung trợ giúp về thủ tục hành chính chiếm tỷ lệ cao nhất là 48,5%; tổng số tiền nhà hảo tâm gửi vào quỹ từ thiện của bệnh viện 849.772.000 đồng và 2.215 lượt hỗ trợ trực tiếp cho NB có hoàn cảnh khó khăn với số tiền 1.200.625.827đồng; 25 chuyến khám bệnh về nguồn đã khám 11.272 lượt người dân tại các địa phương với tổng kinh phí khám, cấp thuốc miễn phí 3.005.000.000đồng do các tổ chức, cá nhân tài trợ Những yếu tố ảnh hưởng tích cực khi triển khai hoạt động CTXH là có căn

cứ pháp lý, sự ủng hộ của các đối tượng có liên quan và bệnh viện đã trang bị đầy

đủ cơ sở vật chất và trang thiết bị cần thiết, đảm bảo đáp ứng cho hoạt động CTXH tại bệnh viện Bên cạnh đó, nhân lực có trình độ chuyên môn cần thiết như tâm lý học, báo chí và CTXH chưa được bố trí tại phòng CTXH; nhân viên y tế chưa được cập nhật kiến thức về CTXH, về y học đã ảnh hưởng đến thực trạng triển khai dẫn đến hoạt động đào tạo, bồi dưỡng và hoạt động thông tin, truyền thông và phổ biến, giáo dục pháp luật khi triển khai theo Thông tư 43 còn nhiều hạn chế

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngày nay, tại các bệnh viện đa số nhân viên y tế không có đủ thời gian và khả năng để giải quyết nhiều nhu cầu bức xúc của người bệnh/người nhà người bệnh như: hướng dẫn giải thích về quy trình khám chữa bệnh, tư vấn về phác đồ điều trị, cách phòng ngừa bệnh tật cho đến hỗ trợ về tâm lý, tinh thần cho người bệnh, khai thác thông tin về đặc điểm nhân khẩu xã hội của người bệnh, cung cấp thông tin về giá cả, chất lượng, địa điểm của các loại dịch vụ… Hoạt động công tác

xã hội ở bệnh viện sẽ giúp cho mối quan hệ giữa nhân viên y tế và người bệnh, người nhà người bệnh tốt hơn Đây là một bước phát triển mới trong công tác chăm sóc và phục vụ người bệnh [20]

Công tác xã hội trong bệnh viện có vai trò quan trọng trong việc tạo dựng mối quan hệ hài hòa giữa tinh thần và thể chất của người bệnh, giữa người bệnh với người thân, giữa người bệnh với những người xung quanh và với nhân viên y tế Do

đó, trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, bệnh viện là nơi cần có hoạt động của công tác xã hội nhất Tại các nước phát triển, hầu hết các bệnh viện đều có phòng Công tác xã hội và đây là một trong những điều kiện được công nhận là hội viên của Hội các bệnh viện Sự hỗ trợ của nhân viên công tác xã hội làm tăng thêm sự hài lòng của người bệnh và người nhà người bệnh khi đến điều trị tại bệnh viện [20]

Tại Việt Nam, đến năm 2020 Bộ Y tế sẽ triển khai thành lập phòng Công tác

xã hội tại 100% bệnh viện tuyến Trung ương, 60% bệnh viện tuyến tỉnh và 30% các bệnh viện và trung tâm y tế quận, huyện có thành lập phòng Công tác xã hội [1]

Hiện nay, các bệnh viện trên cả nước hầu hết đã thành lập Phòng/Tổ công tác

xã hội theo Thông tư 43/2015/TT-BYT của Bộ Y tế Riêng phòng Công tác xã hội của Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre được thành lập từ năm 2016, với số nhân sự là 05 người, bước đầu đã triển khai hầu hết các nhiệm vụ cơ bản theo Thông tư 43/2015/TT-BYT Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, với khả năng về nguồn lực của bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu vẫn còn yếu tố ảnh hưởng dẫn đến kết quả hoạt động còn hạn chế ở một số nội dung

Để biết được việc triển khai hoạt động công tác xã hội tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu như thế nào? Và khi triển khai hoạt động công tác xã hội có những yếu

tố ảnh hưởng nào tác động? Trả lời cho các câu hỏi trên, tác giả tiến hành nghiên

cứu đề tài “Thực trạng triển khai hoạt động công tác xã hội và một số yếu tố

ảnh hưởng tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre, giai đoạn 2016 - 2019”

Trang 10

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng triển khai hoạt động công tác xã hội tại Bệnh viện

Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre, giai đoạn 2016 – 2019

2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng khi triển khai hoạt động công tác xã

hội tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre, giai đoạn 2016 – 2019

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm liên quan tới đề tài

1.1.1 Khái niệm công tác xã hội

Công tác xã hội là một ngành khoa học và một nghề thực hành được xã hội công nhận nhằm thay đổi nhận thức và hành vi của cá nhân, nhóm và cộng đồng; đồng thời góp phần cải thiện môi trường xã hội để trao quyền và phát huy tiềm năng giải quyết vấn đề xã hội của cá nhân, nhóm và cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển xã hội [15]

Theo Hiệp hội quốc gia Nhân viên xã hội Mỹ (NASW), “Công tác xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó” [33], [35]

1.1.2 Khái niệm công tác xã hội trong bệnh viện

Công tác xã hội trong bệnh viện được xem là một lĩnh vực chuyên biệt thuộc công tác xã hội Công tác xã hội trong bệnh viện xem xét các vấn đề tâm lý – xã hội

và những khó khăn của người bệnh/người nhà người bệnh/nhân viên y tế trong việc tiếp cận các nguồn lực hoặc dịch vụ y tế nhằm giúp họ vượt qua khó khăn, khơi dậy/phát huy năng lực của bản thân trong quá trình điều trị bệnh, chăm sóc người

bệnh, hướng tới sự hài lòng và hỗ trợ nâng cao chất lượng khám chữa bệnh [15]

Định nghĩa công tác xã hội y tế được Harriet Barlett đưa ra năm 1934 trong một báo cáo “Công tác xã hội bệnh viện là một hình thức đặc biệt của công tác xã hội cá nhân và nó tập trung vào mối liên hệ giữa bệnh tật và sự thích nghi xã hội kém” Định nghĩa này nhấn mạnh đến những khía cạnh xã hội của con người Vì vậy nó bao hàm cả những khái niệm và tâm lý xã hội, những vấn đề liên quan đến bệnh tâm thần và những vấn đề về nhân cách đòi hỏi nhân viên xã hội phải xem xét

con người trong sự tương tác với môi trường xã hội [28]

1.1.3 Khái niệm người làm công tác xã hội trong bệnh viện

Người làm công tác xã hội trong bệnh viện là cán bộ/nhân viên thuộc biên chế hoặc có hợp đồng lao động với bệnh viện thuộc các khoa/phòng trong bệnh viện

Trang 12

có tham gia trực tiếp hoặc phối hợp với Phòng/Tổ công tác xã hội triển khai các hoạt động CTXH trong bệnh viện theo hướng dẫn tại Thông tư 43/2015/TT-BYT quy định về hình thức và nhiệm vụ công tác xã hội trong bệnh viện

Người làm công tác xã hội trong bệnh viện bao gồm: Cán bộ/nhân viên công tác xã hội; bác sỹ điều trị; điều dưỡng; cán bộ/nhân viên dinh dưỡng; dược sỹ; kỹ thuật viên; cán bộ/nhân viên thuộc các khoa/phòng có liên quan

1.2 Một số hoạt động trọng tâm của công tác xã hội trong bệnh viện

Hoạt động CTXH trong bệnh viện tại Việt Nam được thực hiện dựa trên Thông tư số 43/2015/TT-BYT của Bộ Y tế tập trung vào các hoạt động như sau:

1.2.1 Hoạt động trợ giúp người bệnh gặp khó khăn khi khám bệnh, chữa bệnh

Để hoạt động này đạt hiệu quả, mang lại lợi ích thiết thực cho người bệnh và người đến trợ giúp, người làm công tác xã hội cần vận dụng các kỹ năng công tác xã hội để xác định, lượng giá được khó khăn của người bệnh và xây dựng kế hoạch can thiệp, trợ giúp như:

- Trợ giúp về thủ tục hành chính: Hướng dẫn, cung cấp thông tin về dịch

vụ khám chữa bệnh tại đơn vị; các dịch vụ liên quan như: ăn, ở, sinh hoạt tại bệnh viện Trợ giúp các vấn đề liên quan đến Bảo hiểm Y tế; Quyền lợi khám chữa bệnh Hướng dẫn, tư vấn các thủ tục chuyển tuyến/chuyển cơ sở khám chữa bệnh; thủ tục xuất viện; giới thiệu người bệnh/các đối tượng yếu thế như: trẻ bị bỏ rơi, người bệnh lớn tuổi vô gia cư đến các địa điểm hỗ trợ tại cộng đồng [3]

- Trợ giúp về tâm lý, tinh thần: Tiếp cận, trò chuyện, lắng nghe chia sẻ của

người bệnh từ khi họ mới tiếp nhận thông tin về bệnh; trong thời gian người bệnh điều trị Tổ chức các buổi tọa đàm, tham vấn tâm lý cá nhân hoặc nhóm Tổ chức chương trình, sự kiện hỗ trợ tinh thần phù hợp với điều kiện, quy mô, tính chất của từng đơn vị Tổ chức các chương trình tập luyện, trị liệu như: tập thiền, yoga

- Trợ giúp về vật chất/tài chính: Chi phí điều trị; chi phí sinh hoạt; hỗ trợ

chỗ ở hoặc địa điểm lưu trú; suất ăn từ thiện; trang phục, quần áo; trang thiết bị hỗ trợ khác như: Xe lăn, nạng,

- Trợ giúp chăm sóc trong điều trị và ra viện:

+ Đối tượng trợ giúp gồm: Người bệnh neo đơn không có người chăm sóc,

Trang 13

người bệnh là trẻ mồ côi không có người đỡ đầu, không có khả năng về tài chính, không có bảo hiểm y tế

+ Hoạt động trợ giúp gồm: Thăm hỏi, tham gia vận động tài trợ, tham gia vận động trợ giúp; kêu gọi cộng đồng trợ giúp tài chính, hỗ trợ chăm sóc người bệnh không người thân về sinh hoạt thiết yếu trong thời gian người bệnh điều trị,…

+ Hỗ trợ người bệnh ra viện: Người làm công tác xã hội trợ giúp người bệnh làm các thủ tục xuất viện hoặc chuyển tuyến, thủ tục đảm bảo quyền lợi bảo hiểm ; kết nối với chính quyền địa phương, trung tâm bảo trợ xã hội hoặc các tổ chức, cá nhân hảo tâm, người thân của người bệnh (nếu có) để trợ giúp vấn đề chăm sóc sau điều trị cho người bệnh khi ra viện, trở về nhà hoặc chăm sóc tại cộng đồng

1.2.2 Huy động và điều phối nguồn lực hỗ trợ cho người bệnh và bệnh viện

- Huy động và điều phối nguồn lực con người (tình nguyện viên công tác xã hội, cộng tác viên công tác xã hội, )

- Huy động và điều phối nguồn lực vật chất (xe lăn, nạng, xe vận chuyển người bệnh và các trang thiết bị phục vụ khác , nhà lưu trú cho người bệnh/người nhà người bệnh, phòng học, thư viện, khu vực vui chơi, ti vi, đồ chơi, sách báo, tạp chí )

- Huy động và điều phối nguồn lực tài chính (chi phí điều trị, chi phí đầu tư trang thiết bị phục vụ người bệnh )

- Huy động và điều phối nguồn lực xã hội (vận động doanh nghiệp xã hội dạy nghề, hỗ trợ tiếp cận việc làm cho người bệnh, mạng lưới hỗ trợ người bệnh )

1.2.3 Hoạt động hỗ trợ nhân viên y tế

- Phối hợp, cung cấp thông tin về người bệnh (những khó khăn về tài chính người bệnh gặp phải; đặc điểm tâm sinh lý, nhân khẩu của người bệnh; vấn đề về sức khỏe tâm thần của người bệnh ) [3]

- Hỗ trợ tinh thần, tâm lý cho nhân viên y tế (thông qua các chương trình như tham vấn tâm lý cá nhân, tổ chức các hoạt động văn hóa tinh thần )

- Làm cầu nối hòa giải những khó khăn trong việc giao tiếp, khó khăn khi phối hợp điều trị cho người bệnh,…

Trang 14

1.2.4 Truyền thông về công tác xã hội

- Truyền thông về các hoạt động, dịch vụ công tác xã hội tại đơn vị

- Truyền thông về chính sách, quyền lợi của người bệnh trong khám bệnh, chữa bệnh

- Phối kết hợp với các bên có liên quan trong việc truyền thông giáo dục phổ biến về phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe trước, trong và sau điều trị

- Truyền thông khích lệ tinh thần, tạo động lực cho người bệnh (về tấm gương người bệnh giàu nghị lực, về các cơ hội học tập, học nghề, việc làm đến việc lập gia đình/kết hôn cho người bệnh )

- Truyền thông, kêu gọi/vận động cộng đồng quan tâm, trợ giúp người bệnh đặc biệt khó khăn

1.2.5 Đào tạo, bồi dưỡng

- Tham gia đào tạo, bồi dưỡng, hướng dẫn thực hành nghề công tác xã hội cho sinh viên các cơ sở đào tạo nghề công tác xã hội

- Bồi dưỡng, tập huấn kiến thức công tác xã hội cho đội ngũ nhân viên y tế, cho đội ngũ cộng tác viên, tình nguyện viên về công tác xã hội

- Tham gia học tập nâng cao trình độ, chuyên môn, bồi dưỡng nghiệp vụ nghề công tác xã hội tại cộng đồng

1.2.6 Các hoạt động khác

- Tổ chức mạng lưới cộng tác viên công tác xã hội tại bệnh viện

- Tổ chức mạng lưới tình nguyện viên công tác xã hội tại bệnh viện

- Tham gia tổ chức các hoạt động công tác xã hội tại cộng đồng

1.3 Nhiệm vụ của phòng công tác xã hội

Căn cứ Điều 2 Thông tư 43/2015/TT-BYT ngày 26 tháng 11 năm 2015 của

Bộ Y tế quy định về nhiệm vụ và hình thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ công tác xã

hội của bệnh viện như sau:

1.3.1 Nhiệm vụ công tác xã hội của bệnh viện

1 Hỗ trợ, tư vấn giải quyết các vấn đề về công tác xã hội cho người bệnh và người nhà người bệnh trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh (sau đây gọi chung là người bệnh), bao gồm:

Trang 15

a) Đón tiếp, chỉ dẫn, cung cấp thông tin, giới thiệu về dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện cho người bệnh ngay từ khi người bệnh vào khoa khám bệnh hoặc phòng khám bệnh;

b) Tổ chức hỏi thăm người bệnh và người nhà người bệnh để năm bắt thông tin về tình hình sức khỏe, hoàn cảnh khó khăn của người bệnh, xác định mức độ và

có phương án hỗ trợ về tâm lý, xã hội và tổ chức thực hiện;

c) Hỗ trợ khẩn cấp các hoạt động công tác xã hội cho người bệnh là nạn nhân của bạo hành, bạo lực gia đình, bạo lực giới, tai nạn, thảm họa nhằm bảo đảm an toàn cho người bệnh: hỗ trợ về tâm lý, xã hội, tư vấn về pháp lý, giám định pháp y, pháp y tâm thần và các dịch vụ phù hợp khác;

d) Hỗ trợ, tư vấn cho người bệnh về quyền, lợi ích hợp pháp và nghĩa vụ của người bệnh, các chương trình, chính sách xã hội về bảo hiểm y tế, trợ cấp xã hội trong khám bệnh, chữa bệnh;

đ) Cung cấp thông tin, tư vấn cho người bệnh có chỉ định chuyển cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc xuất viện; Hỗ trợ thủ tục xuất viện và giới thiệu người bệnh đến các địa điểm hỗ trợ tại cộng đồng (nếu có);

e) Phối hợp, hướng dẫn các tổ chức, tình nguyện viên có nhu cầu thực hiện,

hỗ trợ về công tác xã hội của bệnh viện;

2 Thông tin, truyền thông và phổ biến, giáo dục pháp luật:

a) Thực hiện công tác phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí;

b) Xây dựng kế hoạch truyền thông giáo dục sức khỏe cho người bệnh và tổ chức thực hiện kế hoạch sau khi được phê duyệt;

c) Xây dựng nội dung, tài liệu để giới thiệu, quảng bá hình ảnh, các dịch vụ

và hoạt động của bệnh viện đến người bệnh và cộng đồng thông qua tổ chức các hoạt động, chương trình, sự kiện, hội nghị, hội thảo;

d) Cập nhật và tổ chức phổ biến các chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan đến công tác khám bệnh, chữa bệnh, hoạt động của bệnh viện cho nhân viên y tế, người bệnh và người nhà người bệnh;

đ) Tổ chức thực hiện quy tắc ứng xử, hòm thư góp ý của bệnh viện;

e) Tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao phù hợp cho

Trang 16

nhân viên y tế và người bệnh

5 Đào tạo, bồi dưỡng:

a) Tham gia hướng dẫn thực hành nghề công tác xã hội cho học sinh, sinh viên các cơ sở đào tạo nghề công tác xã hội;

b) Bồi dưỡng, tập huấn kiến thức về công tác xã hội cho nhân viên y tế và nhân viên bệnh viện; phối hợp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cơ bản về y tế cho người làm việc về công tác xã hội

6 Tổ chức đội ngũ cộng tác viên làm công tác xã hội của bệnh viện

7 Tổ chức các hoạt động từ thiện, công tác xã hội của bệnh viện tại cộng đồng (nếu có)

1.3.2 Những yếu tố ảnh hưởng khi triển khai hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện

- Chính sách và thực thi chính sách:

Một số văn bản là cơ sở pháp lý để triển khai hoạt động CTXH tại bệnh viện hiện nay:

Thứ nhất, khởi điểm cho sự phát triển nghề công tác xã hội ở nước ta là Quyết

định số 32/2010/QĐ-TTg Ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề

án phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam, giai đoạn 2010-2020”;

Thứ hai, Thông tư số 08/2010/TT-NBV ban hành ngày 25/8/2010 của Bộ Nội

vụ ban hành chức danh, mã số các ngạch viên chức công tác xã hội

Thứ ba, Thông tư liên tịch số 11/2011/TTLT/BTC-BLĐTBXH ban hành ngày

26/01/2011 của liên Bộ Tài chính – Bộ Lao động – Thương binh và xã hội hướng dẫn

Trang 17

quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2011-2020”

Thứ tư, Quyết định số 2514/QĐ-BYT ban hành ngày 15/7/2011 của Bộ trưởng

Bộ Y tế phê duyệt Đề án “Phát triển nghề công tác xã hội trong ngành Y tế giai đoạn 2011-2020”;

Thứ năm, Thông tư liên tịch số 30/2015/TTLT- BLĐTBXH-NBV ban hành

ngày 19/08/2015 của Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội và Bộ Nội vụ về việc quy định mã số tiêu chuẩn, chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành CTXH

Thứ sáu, Thông tư 43/2015/TT-BYT ban hành ngày 26/11/2015 của Bộ Y tế

quy định nhiệm vụ và hình thức thực hiện nhiệm vụ công tác xã hội trong bệnh viện

Các văn bản quy phạm pháp luật trên đã hướng dẫn, quy định, giúp cho hoạt động CTXH tại bệnh viện và người cán bộ chuyên trách sẽ có đầy đủ căn cứ để thực hiện công việc chuyên môn; các phòng ban trong bệnh viện cũng chủ động lựa chọn cán bộ tham gia phối hợp với phòng CTXH một cách chính thức Bên cạnh đó, các tổ chức, cá nhân NHT sẽ có được một đầu mối hợp tác bài bản, đúng quy trình, đúng đối tượng tiếp nhận, sử dụng và tạo được lòng tin lẫn nhau trong hoạt động triển khai CTXH giữa bệnh viện và NHT

- Sự ủng hộ của các bên có liên quan khi triển khai hoạt động công tác

xã hội tại bệnh viện

Theo nội dung Thông tư 43/2015/TT-BYT của Bộ Y tế, khi bệnh viện triển khai hoạt động CTXH, các đối tượng có liên quan chịu trách nhiệm phối hợp thực hiện bao gồm:

Thứ nhất, Sở Y tế có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra hoạt động

công tác xã hội tại các bệnh viện thuộc thẩm quyền quản lý

Thứ hai, Giám đốc bệnh viện có trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư 43

và ban hành, kế hoạch hoạt động hằng năm của bệnh viện về công tác xã hội và tổ chức thực hiện

Thứ ba, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc triển khai thực

hiện CTXH có trách nhiệm thực hiện Thông tư 43 của Bộ Y tế

Trang 18

Thứ tư, các khoa, phòng, đơn vị trong bệnh viện phải thực hiện nhiệm

vụ được giao và phân công một nhân viên y tế tham gia làm cộng tác viên công tác

xã hội trong bệnh viện Đồng thời, giới thiệu người bệnh đến phòng Công tác xã hội hoặc đề nghị phòng Công tác xã hội cử nhân viên đến để trợ giúp, tư vấn cho người bệnh, hoặc cung cấp thông tin đầy đủ kịp thời về sức khỏe của người bệnh để phòng, tổ Công tác xã hội hỗ trợ, tư vấn cho người bệnh

- Khả năng về nguồn lực của bệnh viện khi triển khai thực hiện công tác

xã hội

- Thứ nhất, về cơ sở vật chất và trang thiết bị, theo Điều 6 của Thông tư

43/2015/TT-BYT ngày 26/11/2015 của Bộ Y tế có quy định như sau:

+ Phòng, Tổ Công tác xã hội được bố trí phòng làm việc tại vị trí thuận lợi,

dễ tiếp xúc với người bệnh trong bệnh viện và được trang bị đủ trang thiết bị cần thiết để thực hiện nhiệm vụ

+ Tổ Hỗ trợ người bệnh phải được bố trí ở trung tâm của Khoa khám bệnh, ở

vị trí người dân dễ nhận biết và dễ tiếp xúc

- Thứ hai, về nhân lực, theo khoản 3, điều 4 của Thông tư 43/2015/TT-BYT

ngày 26/11/2015 của Bộ Y tế có quy định như sau:

+ Nhân lực của phòng Công tác xã hội bao gồm các viên chức, nhân viên chuyên ngành công tác xã hội; chuyên ngành truyền thông, y tế hoặc ngành khoa học xã hội khác được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về công tác xã hội

- Thứ ba, về tài chính, đã có Thông tư liên tịch số

11/2011/TTLT/BTC-BLĐTBXH ban hành ngày 26/01/2011 của liên Bộ Tài chính – Bộ Lao động – Thương binh và xã hội hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện Quyết định

số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2011-2020”

1.4 Những nghiên cứu về hoạt động công tác xã hội

1.4.1 Những nghiên cứu về thực trạng triển khai hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện ở một số nước trên thế giới và tại Việt Nam

Tác giả Lê Minh Hiển và Nguyễn Thị Thùy Dương với bài viết: “Kết quả các hoạt động công tác xã hội tại bệnh viện Chợ Rẫy” cho thấy tiền thân của phòng

Trang 19

CTXH tại bệnh viện Chợ Rẫy là Tổ Y xã hội, được thành lập từ năm 2004 và trực thuộc phòng Kế hoạch tổng hợp Đến năm 2008, tổ Y xã hội được tách ra thành đơn

vị Y xã hội độc lập và dưới sự quản lý trực tiếp của Giám đốc bệnh viện Chợ Rẫy Đơn vị Y xã hội đã thực hiện công tác y xã hội tại bệnh viện với mục đích hỗ trợ bệnh nhân nghèo thông qua thiết lập mối quan hệ với các Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo, với các mạnh thường quân để nhận tài trợ Kết quả là từ năm 2009 đến 2015, Đơn vị Y xã hội đã giúp đỡ 15.286 lượt bệnh nhân với tổng số tiền vận động là 32,582 tỉ đồng Tháng 8 năm 2015, Đơn vị Y xã hội được kiện toàn lại tổ chức và thành lập phòng Công tác xã hội [9], [13]

- Hoạt động tư vấn giải quyết các vấn đề về công tác xã hội cho người bệnh/người nhà người bệnh trong quá trình khám chữa bệnh

Theo NASW (2011), nhiệm vụ trợ giúp người bệnh của nhân viên CTXH gồm có: Sàng lọc và đánh giá ban đầu NB/NNNB; Đánh giá toàn diện tâm lý xã hội của bệnh nhân; Tư vấn NB/NNNB hiểu về bệnh tật của mình cũng như hiểu và lựa chọn phương pháp điều trị hoặc từ chối điều trị; Giúp NB/NNNB điều chỉnh cảm xúc khi nhập viện; phát hiện các phản ứng cảm xúc/xã hội có ảnh hưởng đến quá trình điều trị và phát triển của bệnh tật trong quá trình điều trị; Giáo dục bệnh nhân

về vai trò của các thành viên trong nhóm chăm sóc sức khỏe; hỗ trợ NB/NNNB liên

hệ với các thành viên của đội chăm sóc, giải thích thông tin trong quá trình điều trị; Giáo dục bệnh nhân về các mức độ điều trị, chăm sóc (cấp tính, điều trị nội trú hay chăm sóc tại nhà), những quyền lợi của người bệnh; Giải thích để người bệnh có thể

ra quyết định hoặc thay mặt cho bệnh nhân và gia đình quyết định lựa chọn điều trị;

Sử dụng biện pháp can thiệp khủng hoảng tâm thần; Chẩn đoán bệnh tâm thần tiềm

ẩn, cung cấp hoặc giới thiệu cho tâm lý trị liệu cá nhân, gia đình và nhóm; Đảm bảo liên lạc và đào tạo, cung cấp kiến thức cho nhóm chăm sóc bệnh nhân, gia đình NB

về chăm sóc sau khi người bệnh rời bệnh viện giữa và chăm sóc sức khỏe [32]

Tại Việt Nam, các nghiên cứu cho thấy hoạt động hỗ trợ người bệnh của nhân viên CTXH chủ yếu tập trung hỗ trợ thủ tục hành chính và hỗ trợ NB có hoàn cảnh khó khăn Nghiên cứu của Lê Minh Hiển (2014) về “Thực trạng của hoạt động giúp đỡ người bệnh có hoàn cảnh khó khăn tại bệnh viện Chợ Rẫy giai đoạn 2009-

Trang 20

2013” cho thấy việc thành lập đơn vị Y xã hội để trợ giúp cho người bệnh có hoàn cảnh khó khăn của Bệnh viện Chợ Rẫy là đúng đắn, giai đoạn 2009-2013 đã giúp 4.412 lượt người bệnh với số tiền hơn 18,6 tỉ đồng, tặng 5.306 phần quà, tư vấn và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho 58 lượt người bệnh, giúp phương tiện vận chuyển ra viện cho 69 lượt người bệnh, giúp dinh dưỡng đặc hiệu cho 11 lượt người bệnh, giúp áo quan 4 lượt, phát 4.500 suất ăn miễn phí/ngày [9]

Nghiên cứu của Đoàn Thị Thùy Loan (2016) tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa trong năm 2014-2015, cho thấy bệnh viện đã tổ chức hỗ trợ tư vấn tâm

lý cho 54.000 lượt NB/NNNB, giúp đỡ 08 NB cơ nhỡ, 09 trẻ bỏ rơi về Trung tâm Bảo trợ, so với quy định của Bộ Y tế bệnh viện đã tổ chức cung cấp thông tin về dịch vụ khám chữa bệnh, chủ động thăm hỏi, phỏng vấn NB/NNNB để đánh giá mức độ cần hỗ trợ, nhân viên CTXH đã phối hợp với các bác sĩ điều trị và NVYT khác tại khoa, chưa giải thích cho NB/NNNB trong trường hợp có chỉ định chuyển tuyến [11]

- Hoạt động truyền thông và phổ biến, giáo dục pháp luật

Theo Trần Thị Vân Ngọc (2016) hoạt động truyền thông về CTXH chủ yếu thực hiện lồng ghép trong các sự kiện được tổ chức và được đánh giá là có hiệu quả, thu hút các Nhà tài trợ Bên cạnh đó các hoạt động truyền thông bệnh viện thực hiện với 4 nhóm nội dung bao gồm: Hoạt động khám chữa bệnh tại bệnh viện; Những thành tựu kỹ thuật; Những hình ảnh thân thiện của bệnh viện và những trường hợp

NB có hoàn cảnh khó khăn cần kết nối với các Nhà hảo tâm hỗ trợ [18]

- Hoạt động vận động, tiếp nhận tài trợ

Theo nghiên cứu của NASW (2011), nhiệm vụ CTXH trong huy động, điều phối hỗ trợ nguồn lực cho người bệnh bao gồm: Thúc đẩy dịch vụ định hướng hỗ trợ NB; Tìm kiếm, sắp xếp các nguồn lực/quỹ để tài trợ thuốc men, thiết bị y tế và các dịch vụ cần thiết khác Bảo vệ quyền chăm sóc sức khỏe của NB thông qua vận động chính sách y tế [32]

Ở Bệnh viện Nhi Trung ương cũng tiến hành vận động các nhà hảo tâm hỗ trợ cho người bệnh cần sự trợ giúp, bắt đầu từ việc tìm hiểu thông tin, xác định nhu cầu của người bệnh từ đó mà có can thiệp, vận động kinh phí hỗ trợ phù hợp [18]

Trang 21

- Hoạt động hỗ trợ nhân viên y tế

Nghiên cứu của L Ratoff, Anne Rose và Carole Smith (1974) chỉ ra rằng có nhiều khó khăn trong mối quan hệ giữa các bác sĩ và nhân viên CTXH, đầu tiên là

sự khác biệt trong cách tiếp cận, nhận thức vai trò nghề nghiệp, tiếp đến là phương pháp và tiến độ làm việc, quyền hạn và trách nhiệm của mỗi vị trí cũng như những xung đột trong quy định về vai trò, trách nhiệm của mỗi ngành nghề Tác giả cũng đưa ra khuyến nghị nên có các khóa đào tạo chung giữa sinh viên y khoa và sinh viên CTXH, bên cạnh đó trong công việc cần có sự tiếp xúc trực tiếp, trao đổi thẳng thắn để có quan điểm, cách làm chung giữa 02 ngành [30]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải Liên (2017) tại Bệnh viện Đại học Y Dược

TP Hồ Chí minh cho thấy nhân viên CTXH có hỗ trợ các bác sĩ, NVYT trong quá trình điều trị, chăm sóc thông qua hoạt động tư vấn tâm lý, lắng nghe, chia sẻ những nỗi lo của người bệnh, bên cạnh đó cũng chia sẻ với NVYT khi có trường hợp NB gặp vướng mắc trong quá trình điều trị, ngoài ra còn vận động quyên góp, hỗ trợ những trường hợp NVYT của bệnh viện gặp khó khăn, mắc bệnh nặng, qua đó cho thấy hoạt động hỗ trợ NVYT có tác động rất lớn, từ đó thúc đẩy hơn nữa tính tích cực của NVYT trong công việc [10]

Trên thế giới, nghiên cứu của Elizabeth Fusenig (2011) cho thấy nhân viên CTXH có vai trò như cầu nối các vấn đề văn hóa, xã hội của người bệnh với các bác

sĩ, điều dưỡng [27] Theo David Gould, nhân viên CTXH rất cần thiết phải có ở các bệnh viện nông thôn để chuyển tiếp người bệnh khi khẩn cấp và hỗ trợ quản lý người bệnh có nhu cầu phức tạp và hỗ trợ để đạt được kết quả xuất viện tốt hơn Ngoài việc hỗ trợ người bệnh, họ còn sự hợp tác chuyên môn y tế nhằm tăng cường khả năng quản lý người bệnh có nhu cầu chăm sóc phức tạp Kết quả cho thấy các hoạt động CTXH đã cải thiện có thể giúp bệnh viện quản lý các bệnh nhân có vấn

đề tâm lý xã hội phức tạp; nâng cao hiệu quả của bản kế hoạch xuất viện nhờ vai trò của thực hành công tác xã hội Bên cạnh đó những thực hành công tác xã hội đã đóng góp, cải tiến chất lượng của bệnh viện thông qua thực hiện liên lạc chặt chẽ hơn giữa các bác sĩ, điều dưỡng và các chuyên gia y tế khác với nhân viên CTXH,

tổ chức chăm sóc người bệnh toàn diện hơn [29]

Trang 22

- Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng về CTXH

Theo báo cáo của Unicef (2005), trong nhiều lĩnh vực ở Việt Nam, người làm CTXH đa phần không phải người được đào tạo chuyên sâu về CTXH mà được đào tạo từ nhiều ngành, nghề khác nhau đang thực hiện các nhiệm vụ của CTXH Một số trong số này trở thành nhân viên xã hội qua việc bổ sung bằng cấp, chứng chỉ về CTXH, tuy nhiên họ có xu hướng thích tập trung hơn vào các nhiệm vụ có liên quan đến bằng cấp mà họ được đào tạo ban đầu [37]

Tác giả Trần Thị Vân Ngọc (2016) cũng nêu khó khăn trong đào tạo là tài liệu đào tạo chưa chính thức cho người làm CTXH trong bệnh viện chưa được Bộ Y

tế ban hành, bệnh viện phải phối hợp với đơn vị khác để biên soạn tài liệu [18]

- Hoạt động tổ chức đội ngũ cộng tác viên làm CTXH của bệnh viện

Tại bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa, cộng tác viên là các sơ (sour) tình nguyện giúp đỡ người bệnh gặp hoàn cảnh khó khăn Tại Bệnh viện Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh, cộng tác viên CTXH là những sinh viên tình nguyện

hỗ trợ cho người bệnh, họ được tham gia một khóa đào tạo ngắn, trang bị những kiến thức, kỹ năng cơ bản để thực hiện các hoạt động CTXH, và họ làm tốt những hoạt động này [10], [11]

- Hoạt động từ thiện, CTXH của bệnh viện tại cộng đồng

Theo tác giả Nguyễn Thị Hải Liên , tổ chức các hoạt động từ thiện, CTXH của bệnh viện tại cộng đồng đã được P.CTXH triển khai thông qua các hoạt động:

tổ chức chương trình hiến máu nhân đạo, khám chữa người bệnh đạo, chăm sóc sức khỏe cộng đồng xây dựng nhà tình nghĩa [10]

1.4.2 Những nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến triển khai hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện

- Yếu tố tác động thứ nhất, đó là chính sách và thực thi chính sách

Bên cạnh Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Phát triển nghề Công tác xã hội giai đoạn 2010 – 2020 với mục tiêu “Phát triển công tác xã hội trở thành một nghề ở Việt Nam [23], Thông

tư số 43/2015/TT-BYT quy định nhiệm vụ và hình thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ công tác xã hội trong bệnh viện thì các bệnh viện mới triển khai các hoạt động công

Trang 23

tác xã hội, đối với văn bản quy định về chức danh, mã số ngạch viên chức CTXH có Thông tư liên tịch số 30/2015/TTLT-BLĐTBXH-BNV ngày 19/08/2015 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và Bộ Nội vụ về việc quy định mã số tiêu chuẩn, chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành Công tác xã hội, qua đó là cơ sở để thúc đẩy phát triển nghề công tác xã hội trong ngành Y tế, là cơ sở để các bệnh viện tuyển dụng nhân sự làm việc, bố trí các phương tiện, điều kiện làm việc, quy định tổ chức, mối quan hệ trong triển khai thực hiện các hoạt động CTXH trong bệnh viện Hiện nay, Quốc hội đã có dự thảo Luật Công tác xã hội với 126 Điều, gửi đăng lấy

ý kiến góp ý của người dân và các chuyên gia, khi Luật Công tác xã hội ra đời sẽ là

cơ sở pháp lý cao nhất để phát triển các hoạt động CTXH [2]

Theo nghiên cứu của tác giả Lê Minh Hiển (2014) cho thấy một số yếu tố ảnh hưởng đến triển khai CTXH là thiếu Thông tư hướng dẫn triển khai CTXH trong bệnh viện nên các hoạt động hỗ trợ người bệnh còn mang tính tự phát, chưa

có quy định về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của phòng CTXH trong bệnh viện, cũng chưa có mô hình hoạt động chuẩn và trường đào tạo về CTXH trong bệnh viện, chưa có chế độ phụ cấp, bồi dưỡng cho nhân viên Y xã hội và mạng lưới CTXH trong bệnh viện Yếu tố quan tâm, chỉ đạo, theo dõi, định hướng các hoạt động của Ban Giám đốc bệnh viện quyết định sự thành công trong các hoạt động CTXH, bên cạnh đó yếu tố tạo niềm tin cho các Nhà hảo tâm hỗ trợ người bệnh là quy trình hoạt động khách quan, công khai, minh bạch, tôn trọng quyền sở hữu của Nhà hảo tâm và người bệnh [9]

Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Đoàn Thị Thùy Loan (2016), ngay cả khi Thông tư hướng dẫn hoạt động CTXH ra đời việc triển khai các hoạt động vẫn gặp khó khăn do các nội dung hướng dẫn chưa sâu, chưa cụ thể, khi triển khai các nội dung vẫn còn gặp nhiều lúng túng, các bệnh viện vẫn vừa học vừa làm, chưa mang tính chuyên nghiệp cao [11]

- Yếu tố tác động thứ hai, đó là sự ủng hộ của các bên có liên quan khi triển khai thực hiện nhiệm vụ công tác xã hội

Ban Giám đốc

Đầu tiên, vai trò của người lãnh đạo có sự ảnh hưởng lớn đến triển khai các

Trang 24

hoạt động CTXH trong bệnh viện Theo nghiên cứu của Charles Auerbach (2008), một số nhà lãnh đạo bệnh viện có cách nhìn phiến diện, xem nhân viên CTXH là thứ yếu bởi ít có đóng góp cho việc khám, điều trị, chăm sóc người bệnh tại bệnh viện, trong khi bệnh viện phải tốn thêm chi phí cho nhân viên CTXH, tuy nhiên quan điểm tiết kiệm chi phí cho CTXH trong bệnh viện nhưng lại gây tốn kém nhiều hơn cho các dịch vụ xã hội do chính phủ chi trả cho các dịch vụ xã hội mà người bệnh sử dụng sau khi xuất viện [26]

Tác giả Lê Minh Hiển (2014) cho rằng, yếu tố quan tâm, chỉ đạo, theo dõi, định hướng các hoạt động của Ban Giám đốc bệnh viện quyết định sự thành công trong các hoạt động CTXH, bên cạnh đó việc tạo niềm tin cho Nhà hảo tâm hỗ trợ người bệnh là quy trình hoạt động khách quan, công khai, minh bạch, tôn trọng quyền sở hữu của Nhà hảo tâm và người bệnh [9]

Các khoa, phòng trong bệnh viện

Tại Việt Nam, đến nay đã có trên 80% bệnh viện thành lập phòng CTXH hoặc Tổ CTXH, hoạt động CTXH dần được quan tâm và có vị trí nhất định trong hệ thống bệnh viện, trợ giúp tích cực trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh, góp phần nâng cao sự hài lòng của người bệnh [4] Tuy nhiên mô hình, số lượng, chất lượng người làm CTXH tại các bệnh viện cũng không giống nhau, tại Bệnh viện Nhi Trung ương nhân viên phòng CTXH được chia làm 03 tổ (Tổ hành chính, Tổ Quan

hệ công chúng, cộng đồng và Tổ hỗ trợ người bệnh và NVYT), tại Bệnh viện Việt Đức phòng CTXH có 04 tổ (Tổ truyền thông, Tổ hỗ trợ người bệnh, Tổ trợ giúp xã hội, Tổ quản lý Nhà truyền thống), tại Bệnh viện Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh phòng CTXH có 05 tổ (Tổ vận động và tiếp nhận tài trợ, Tổ hỗ trợ và chăm sóc người bệnh, Tổ huấn luyện kiến thức về CTXH, Tổ truyền thông, Tổ vận chuyển), tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang phòng CTXH có 03 tổ (Tổ chăm sóc khách hàng, Tổ hỗ trợ người bệnh và nhân viên y tế, Tổ hỗ trợ tâm lý), tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa do có 03 nhân viên nên không chia tổ, ngoài 01 Trưởng phòng có trình độ cử nhân điều dưỡng phụ trách chung các hoạt động, 01 người có trình độ điều dưỡng trung cấp phụ trách Sổ sách và tiếp nhận các hoạt động hỗ trợ và 01 người có trình độ Cao đẳng CTXH phụ trách mảng tư vấn, phối

Trang 25

hợp nhân viên phòng khám giúp đỡ, hướng dẫn NB Ở các bệnh viện nêu trên đều

có điểm chung đó là có hệ thống các cộng tác viên CTXH là nhân viên y tế trong bệnh viện tại mỗi khoa, phòng cùng phối hợp với nhân viên phòng CTXH thực hiện các hoạt động, bên cạnh đó còn có các cộng tác viên từ bên ngoài bệnh viện như các tình nguyện viên, sinh viên, các sơ (sour)…[10], [11], [18], [22], [25]

Nhân viên y tế

Nghiên cứu của Lưu Thị Thắm (2018) cho thấy vai trò của các khoa, phòng trong bệnh viện rất quan trọng, đặc biệt là các đầu mối mạng lưới CTXH, việc lập danh sách, hồ sơ người bệnh cần hỗ trợ đến duy trì các hoạt động tại Bệnh viện Việt Đức như khám sức khỏe bên ngoài, hỗ trợ kinh phí, xe, hiện vật cho người bệnh khó khăn Tuy nhiên, việc phối hợp giữa nhân viên CTXH và NVYT chưa thực sự tốt dẫn đến người bệnh chưa biết, chưa tin tưởng sử dụng dịch vụ CTXH [22]

Trong các nghiên cứu của Lê Minh Hiển (2014), Đoàn Thị Thùy Loan (2016), Nguyễn Thị Hải Liên (2017) cũng đánh giá vai trò phối hợp giữa NVYT trong bệnh viện và nhân viên CTXH rất quan trọng trong việc triển khai các hoạt động CTXH, để làm tốt hơn CTXH cần có sự kết nối giữa NVYT và nhân viên CTXH từ việc xác định người bệnh có nhu cầu được hỗ trợ hoạt động CTXH cho đến các can thiệp hỗ trợ tâm lý, hỗ trợ về vật chất đối với những người bệnh có hoàn cảnh khó khăn [9], [10], [11]

Cộng tác viên công tác xã hội

Nghiên cứu của Lý Thị Hảo (2016) cho thấy việc có mạng lưới cộng tác viên CTXH ở tất cả các khoa, phòng bệnh viện có vai trò quan trọng, các cộng tác viên không chỉ giúp cho người bệnh của khoa điều trị được cung cấp đầy đủ thông tin về bệnh, về các thủ tục khám bệnh, chữa bệnh khi cần thiết; mà qua đó họ được giải tỏa tâm lý lo lắng về bệnh để yên tâm điều trị và tăng sự hài lòng khi đến viện Hơn nữa, các cộng tác viên sẽ là nguồn cung cấp thông tin kịp thời để nhân viên CTXH vào cuộc nhanh chóng, thực hiện các nhiệm vụ CTXH toàn diện, khách quan và hiệu quả Từ đó, cùng góp phần vào việc nâng cao chất lượng dịch vụ y tế của Viện,

và ở khía cạnh nào đó, họ sẽ cùng với NVYT tham gia điều trị cho người bệnh [8]

Đội ngũ cộng tác viên CTXH trong bệnh viện cũng rất đa dạng, theo tác giả

Trang 26

Nguyễn Thị Hải Liên (2017) tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh lực lượng CTV rất hùng hậu là những em sinh viên tham gia hoạt động tình nguyện, được trải rộng khắp toàn bệnh viện, hỗ trợ tối đa cho người bệnh, tuy nhiên

có sự hạn chế về kinh nghiệm như chưa có nhiều vốn sống, kinh nghiệm thực tế, có nhiều vấn đề chưa thể tự giải quyết được vẫn cần có sự hỗ trợ thêm từ nhân viên CTXH [10] Riêng tác giả Đoàn Thị Thùy Loan (2016) tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa, đội ngũ CTV lại là các sơ (sour) đến từ Nhà thờ, có trình độ điều dưỡng trung học, có kinh nghiệm sống, trình độ chuyên môn, có thể tạo niềm tin cho người bệnh, hoạt động ở khoa Hồi sức tích cực và chống độc đã hỗ trợ rất tích cực cho NVYT trong hoạt động chăm sóc người bệnh neo đơn, hỗ trợ về tinh thần cho người bệnh khi không có người nhà bên cạnh [11]

Nhà tài trợ

Vai trò của các Nhà tài trợ, Nhà hảo tâm cũng rất quan trọng trong triển khai các hoạt động CTXH, theo Lý Thị Hảo (2016), việc kêu gọi, kết nối, vận động nguồn lực hỗ trợ cho người bệnh giúp bệnh nhân giải quyết khó khăn trong quá trình điều trị bệnh tại bệnh viện, như: khó khăn về kinh phí điều trị hằng ngày, khó khăn khi không có nguồn tài chính để được điều trị bằng các kỹ thuật hiện đại, khó khăn trong điều kiện sinh hoạt cơ bản, ngoài ra hoạt động kết nối, vận động nguồn lực còn góp phần nâng cao uy tín của tổ chức, tập thể, cá nhân với cộng đồng; giúp

họ có thêm cơ hội thể hiện lòng nhân ái, thỏa mãn nhu cầu được sẻ chia với những hoàn cảnh yếu thế, khó khăn do bệnh tật gây ra Từ đó, lan tỏa hoạt động thiện nguyện tới nhiều cá nhân, đơn vị, tổ chức, góp phần xây dựng một cộng đồng nhân

ái Các nội dung kết nối, vận động nguồn lực hỗ trợ người bệnh bằng tiền mặt, các loại hình vật chất (đồ dùng cá nhân, suất ăn, bánh, sữa,…) Hay cũng có thể là các chương trình sự kiện, các hoạt động chúc mừng ngày lễ, tết… [8]

Nghiên cứu của Trần Thị Vân Ngọc (2015), Đoàn Thị Thùy Loan (2016) cho thấy, để tạo niềm tin cho các Nhà hảo tâm, Nhà tài trợ hỗ trợ cho các hoạt động CTXH, việc xây dựng và ban hành các quy trình, quy định tiếp nhận tài trợ, công khai các khoản kinh phí hỗ trợ đóng vai trò rất quan trọng, giúp tạo niềm tin cho các Nhà hảo tâm, Nhà tài trợ và khiến họ gắn bó hơn với các hoạt động CTXH trong

Trang 27

bệnh viện [11], [18]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải Liên (2017) cho thấy ngoài việc bệnh viện

có quy trình tiếp nhận và sử dụng tài trợ minh bạch làm cho các Nhà tài trợ tin cậy, sẵn sàng ủng hộ do họ biết rõ số tiền, hiện vật đóng góp dùng để làm gì, giúp đỡ trong trường hợp nào, hiệu quả như thế nào, việc kết nối, tìm kiếm các Nhà tài trợ còn có thể từ chính các người bệnh được bệnh viện chữa khỏi bệnh Tuy nhiên do nguồn kinh phí để hoạt động CTXH còn hạn hẹp, phụ thuộc nhiều vào Nhà tài trợ, phòng CTXH cũng chưa có tài khoản riêng nên khi cần hỗ trợ kinh phí cho người bệnh, phòng CTXH phải trải qua các thủ tục trình ký duyệt, thông qua nhiều phòng chức năng gây tốn nhiều thời gian Ngoài ra, khi cần kinh phí hỗ trợ người bệnh, nhân viên phòng CTXH phải vận động từng Nhà tài trợ quen biết cho từng trường hợp hay kêu gọi trên mạng xã hội nên rất mất thời gian, không kịp thời hỗ trợ điều trị gấp cho người bệnh khi cần [10]

Ngoài ra, tác giả Nguyễn Hy Lai, Nguyễn Thị Phương Linh với bài viết CTXH trong Bệnh viện chương trình đào tạo dưới góc nhìn tuyển dụng đã mô tả một trong những công việc trong bệnh viện của nhân viên CTXH, đó là thiết lập mối quan hệ với tất cả cơ quan, tổ chức và các nguồn lực xã hội để nối kết/chuyển gửi thân chủ và gia đình họ nhằm đáp ứng nhu cầu của họ Nguồn lực xã hội này có thể tồn tại trong bệnh viện hoặc ngoài cộng đồng, nơi thân chủ sinh sống Sự đa dạng về dịch vụ hỗ trợ và hình thức hoạt động của các nguồn lực này sẽ tăng cường khả năng giải quyết vấn đề của thân chủ một cách toàn diện trong quá trình trị liệu

và phục hồi [19]

- Yếu tố tác động thứ ba, đó là khả năng về nguồn lực khi triển khai hoạt động công tác xã hội

Nhân lực về công tác xã hội

Người làm CTXH trong bệnh viện có vai trò ảnh hưởng lớn đến triển khai các hoạt động Trên thế giới, theo nghiên cứu của Pia Tham (2006) về các yếu tố liên quan đến ý định của nhân viên CTXH nghỉ việc ở 309 nhân viên CTXH tại Stockholm cho thấy có 48% dự định rời bỏ công việc của họ Phân tích hồi quy logistic cho thấy những biến số có ảnh hưởng nhất đối với ý định nghỉ việc là thiếu

Trang 28

định hướng nguồn nhân lực trong tổ chức, mức độ nhân sự được khen thưởng cho một công việc được thực hiện tốt, cảm giác được chăm sóc tốt và quan tâm đến sức khỏe và hạnh phúc của họ [36] Nghiên cứu tổng quan của Chris Lloyd (2002) chỉ

ra rằng: Nghề CTXH là nghề có nguy cơ cao dẫn đến tình trạng căng thẳng và kiệt sức của nhân viên CTXH Các biến nhân khẩu học, các yếu tố liên quan đến cá nhân của nhân viên CTXH dường như không liên quan đáng kể đến căng thẳng và kiệt sức, các yếu tố liên quan đến tổ chức như áp lực công việc, khối lượng công việc, sự

mơ hồ về vai trò nghề nghiệp được xác định là yếu tố dự báo chính của tình trạng căng thẳng và kiệt sức ở nhân viên CTXH Các yếu tố rủi ro liên quan đến kiệt sức bao gồm thiếu thách thức trong công việc, tính tự chủ trong công việc thấp, mơ hồ

về vai trò bản thân, những khó khăn trong việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng và lòng tự trọng nghề nghiệp thấp Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng để giảm bớt nguy cơ căng thẳng và kiệt sức của nhân viên CTXH cần tăng sự hỗ trợ, động viên từ phía người quản lý, cải thiện cách thức quản lý hiệu quả hơn, tiến hành các biện pháp giảm và phòng ngừa căng thẳng liên quan đến công việc, bên cạnh đó cần đào tạo, trang bị kiến thức về nghề CTXH cho nhân viên CTXH [31]

Hamilton và cộng sự (2015) khi nghiên cứu về hoạt động của nhân viên CTXH của khoa Cấp cứu, lại đưa ra kết luận: nhân viên công tác xã hội có vị trí rất quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người bệnh, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị cho người bệnh [10], [27]

Cơ sở vật chất và trang thiết bị cần thiết

Theo nghiên cứu của Lý Thị Hảo (2016), để đảm bảo cung cấp dịch vụ CTXH cho bệnh nhân bệnh máu thì cần đảm bảo yếu tố về cơ sở vật chất, trang thiết bị như phòng bệnh, khu vực sân chơi, thư viện, hội trường… để tổ chức các hoạt động, các sự kiện văn hóa, giải tỏa căng thẳng tinh thần cho người bệnh, phòng bệnh thoáng mát, được trang bị đầy đủ giường nằm, nước uống, điều hòa, điện, quạt, ti vi, nhà tắm, khu vệ sinh… bên cạnh đó, việc bệnh viện thiết kế tài liệu truyền thông, phương tiện thông tin như tờ rơi, tài liệu về bệnh, phát các phóng sự trên hệ thống tivi, trên hệ thống bảng, biển điện tử tại viện, đường dây nóng ) qua

đó cung cấp các thông tin cơ bản khiến người bệnh hài lòng hơn, mặt khác tiết kiệm

Trang 29

thời gian cho cả nhân viên CTXH và các bác sĩ trong việc giải thích, cung cấp thông tin cho người bệnh trong quá trình khám chữa bệnh [8]

Tài chính (kinh phí cho hoạt động công tác xã hội)

Theo nghiên cứu của Đoàn Thị Thùy Loan (2016), hầu hết kinh phí để triển khai các hoạt CTXH của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa năm 2014-2015 đều được vận động từ các Nhà hảo tâm, đặc biệt đối với kinh phí dành hỗ trợ cho người bệnh có hoàn cảnh khó khăn Bên cạnh việc quảng bá hình ảnh, kết nối giữa các Nhà hảo tâm với người bệnh có hoàn cảnh khó khăn, bệnh viện còn tổ chức 8 sự kiện liên quan đến hỗ trợ tâm lý và tạo nguồn kinh phí cho 854 NB, tổ chức các chương trình gây quỹ như: Huy động tài trợ phát quà nhân ngày Quốc tế thiếu nhi, phối hợp với Hội Chữ thập đỏ và Công ty Cổ phần sữa Vinamilk tổ chức tặng sữa cho trẻ em đang điều trị tại bệnh viện, tổ chức chương trình Vui xuân ủng hộ Quỹ từ thiện phẫu thuật tim cho người bệnh nghèo, chưa tổ chức được hoạt động văn hóa, văn nghệ giúp cải thiện tinh thần cho người bệnh [11]

Nghiên cứu của Trần Thị Vân Ngọc (2015) tại Bệnh viện Nhi Trung ương hoạt động vận động tài trợ được đánh giá là rất hiệu quả do đặc thù đối tượng giúp

đỡ là bệnh nhi mắc bệnh hiểm nghèo và có hoàn cảnh khó khăn Tuy nhiên bệnh viện chưa vận động kinh phí cho hoạt động nghiên cứu khoa học và đào tạo về CTXH, do đó các Nhà tài trợ chưa hiểu được tầm quan trọng và tài trợ cho các hoạt động này [18]

1.5 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu

Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre là một trong 06 bệnh viện tuyến tỉnh trực thuộc Sở Y tế Bến Tre, là đơn vị sự nghiệp y tế công lập được công nhận nâng hạng bệnh viện và xếp hạng 1 từ năm 2018 Với chức năng khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân tỉnh nhà Tổng số CBVC là 1.113 người, có 08 phòng chức năng, 29 khoa lâm sàng và cận lâm sàng Số giường kế hoạch là 1.230 giường, công suất sử dụng giường bệnh trung bình > 105% Lượng bệnh nhân điều trị nội trú trung bình trong ngày khoảng 1.200 người bệnh, số lượt khám ngoại trú > 2.300 lượt/ngày [7]

Tính đến thời điểm nghiên cứu luận văn này, chưa có tác giả nghiên cứu về

Trang 30

lĩnh vực công tác xã hội tại bệnh viện Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, bệnh viện

là nơi cần có hoạt động của CTXH nhất trong việc hỗ trợ người bệnh và hỗ trợ NVYT giảm bớt áp lực công việc, nâng cao hiệu quả điều trị, chất lượng dịch vụ Đồng thời hỗ trợ bác sĩ trong phân loại người bệnh, tư vấn, giới thiệu dịch vụ chuyển tiếp

Phòng CTXH của Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu được thành lập từ tháng 4/2016 theo Quyết định số 288/QĐ-SYT ngày 04/4/2016 của Sở Y tế về việc thành lập P.CTXH thuộc BVNĐC; Quyết định số 293/QĐ-BVNĐC ngày 13 tháng 4 năm

2016 về việc ban hành Quy chế Phòng Công tác xã hội [21] Quyết định số BVNĐC ngày 01 tháng 6 năm 2016 về việc thành lập mạng lưới CTXH tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu Bến Tre [6] Ngoài ra, còn có Quy định số 414/QĐ-BVNĐC ngày 01 tháng 6 năm 2016 quy định chức năng, nhiệm vụ của mạng lưới CTXH trong bệnh viện [5] Phòng CTXH Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu là 01 trong 08 phòng chức năng của bệnh viện, tổng số nhân sự là 05 người, trong đó: 01 trưởng phòng và 01 phó phòng đều có trình độ chuyên môn là Ths.QLBV; 03 nhân viên có trình độ chuyên môn là điều dưỡng trung học, cử nhân Quản trị kinh doanh

416/QĐ-và cử nhân Công tác xã hội

Căn cứ vào Thông tư 43/2015/TT-BYT của Bộ Y tế, với điều kiện thực tế tại bệnh viện, tại thời điểm nghiên cứu phòng CTXH đã triển khai đủ 07 nhiệm vụ cơ bản theo hướng dẫn của Thông tư 43 Tuy nhiên, vẫn còn một số nội dung khi triển khai kết quả đạt được còn nhiều hạn chế Do vậy, để tìm hiểu thêm về thực trạng triển khai các hoạt động CTXH tại bệnh viện theo quy định từ Thông tư

43/2015/TT-BYT của Bộ Y tế như thế nào, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng triển khai hoạt động công tác xã hội tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre, giai đoạn 2016 - 2019”

1.6 Khung lý thuyết của nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết của nghiên cứu dựa trên hướng dẫn của Bộ Y tế về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của phòng CTXH trong bệnh viện theo Thông tư

số 43/2015/TT-BYT ngày 26 tháng 11 năm 2015 quy định về nhiệm vụ và hình thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ CTXH của bệnh viện [3]

Trang 31

Căn cứ vào 07 chức năng nhiệm vụ của công tác xã hội được quy định tại Thông tư 43/2015/TT-BYT, tác giả tiến hành mô tả thực trạng triển khai 07 nhiệm

vụ CTXH bao gồm các hoạt động: Hỗ trợ tư vấn NB/NNNB; Thông tin, truyền thông; Vận động tiếp nhận tài trợ; Hỗ trợ NVYT; Đào tạo, bồi dưỡng; Tổ chức đội ngũ CTV làm CTXH của bệnh viện; Tổ chức các hoạt động từ thiện, CTXH của bệnh viện tại cộng đồng Bên cạnh đó, tác giả sẽ phân tích một số yếu tố ảnh hưởng như: chính sách và thực thi chính sách; sự ủng hộ của các bên liên quan

và khả năng về nguồn lực cho hoạt động CTXH khi triển khai hoạt động CTXH tại bệnh viện trong giai đoạn 2016 – 2019

Trang 32

KHUNG LÝ THUYẾT

Được dựa vào hướng dẫn tại Thông tư 43/2015/TT-BYT ngày 26/11/2015 của Bộ Y tế quy định về nhiệm vụ và hình thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ công tác xã hội của bệnh viện

Chính sách và thực thi chính

sách:

- Đề án phát triển ngành CTXH

trong y tế giai đoạn 2011 – 2020

- Thông tư 43/2015/TT-BYT của

Bộ Y tế về CTXH

- Định hướng phát triển và các

quy định của bệnh viện nhằm

nâng cao sự hài lòng của người

bệnh

Sự ủng hộ của các bên có liên

quan

- Ban giám đốc; các khoa/ phòng

trong BV (NVYT; mạng lưới

CTXH; NV.CTXH)

- Các nhà hảo tâm, các tổ chức từ

thiện, các tổ chức quốc tế

- Cơ quan chức năng có liên quan

Khả năng về nguồn lực khi

triển khai hoạt động CTXH:

- Cơ sở vật chất và trang thiết bị

cần thiết

- Con người (người làm CTXH

trong và ngoài BV và người

tư 43/2015/TT-BYT của BYT

1/ Hỗ trợ, tư vấn giải quyết các vấn đề về CTXH cho NB và NNNB;

2/ Thông tin, truyền thông và phổ biến, giáo dục pháp luật;

3/ Vận động tiếp nhận tài trợ; 4/ Hỗ trợ nhân viên y tế ; 5/ Đào tạo, bồi dưỡng ; 6/ Tổ chức đội ngũ cộng tác viên làm CTXH của BV ;

7/ Tổ chức các hoạt động từ thiện, CTXH của BV tại cộng đồng

Trang 33

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu định lượng: Các văn bản, báo cáo, sổ sách, quy định liên quan

đến triển khai hoạt động CTXH tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu từ tháng 4/2016 đến tháng 3/2019

Nghiên cứu định tính: Đại diện BGĐ Sở Y tế, đại diện BGĐ bệnh viện,

Trưởng/phó phòng CTXH, Trưởng/phó phòng Điều dưỡng, Trưởng/phó khoa điều trị, nhà tài trợ, nhân viên CTXH, NVYT là cộng tác viên thuộc mạng lưới CTXH của bệnh viện, người bệnh nội trú tại bệnh viện nghiên cứu

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

Đối với nghiên cứu định lượng: Các văn bản chính thức, báo cáo chính thức,

sổ sách, quy định có giá trị sử dụng liên quan đến triển khai hoạt động CTXH tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu 4/2016 đến tháng 3/2019

Đối với nghiên cứu định tính: Đối tượng được biết về nội dung, mục đích

nghiên cứu và đồng ý tham gia nghiên cứu Thành phần gồm:

- Đại diện BGĐ Sở Y tế

- Đại diện BGĐ bệnh viện phụ trách CTXH

- Trưởng/phó phòng CTXH

- Trưởng/phó phòng Điều dưỡng

- Trưởng/phó khoa điều trị

- Nhà hảo tâm/Nhà tài trợ

- Nhân viên CTXH (03 nhân viên của phòng CTXH)

- NVYT là cộng tác viên thuộc mạng lưới CTXH của bệnh viện: 08 điều

dưỡng trưởng khoa

- Người bệnh nội trú tại bệnh viện nghiên cứu: có thời gian điều trị nội trú từ

ngày thứ 03 trở lên tại thời điểm thu thập số liệu

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

Đối với nghiên cứu định lượng

- Các báo cáo, sổ sách ghi chép các hoạt động CTXH không chính thức là các

Trang 34

báo cáo chưa được lãnh đạo phê duyệt

- Các văn bản, quy định chưa được lãnh đạo ký duyệt, được ký duyệt nhưng

chưa gửi cho các bên liên quan

Đối với nghiên cứu định tính

- Người bệnh không đủ sức khỏe để tham gia TLN hoặc không đồng ý trả lời

các câu hỏi

- Nhân viên làm CTXH và cán bộ y tế được chọn nêu trên không có mặt để trả

lời câu hỏi trong thời gian nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2.1 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01 đến tháng 8 năm 2019

Thời gian thu thập số liệu: Từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2019

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu (địa chỉ: phường 5,

thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre)

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp định tính

- Nghiên cứu định lượng kết hợp định tính: nhằm mô tả quá trình triển khai hoạt động CTXH tại bệnh viện nghiên cứu

- Nghiên cứu định tính: nhằm phân tích tìm hiểu những những yếu tố ảnh hưởng tới việc triển khai hoạt động CTXH tại bệnh viện nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang Sử dụng thiết kế nghiên cứu định tính kết hợp hồi cứu số liệu thứ cấp là các báo cáo của bệnh viện có liên quan đến hoạt động CTXH Việc thu thập số liệu định tính và định lượng được thực hiện đồng thời

để so sánh, đối chiếu kết quả

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.4.1 Cỡ mẫu

Số liệu thứ cấp: Được thu thập từ quá trình triển khai hoạt động CTXH tại

Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu 4/2016 đến tháng 3/2019, gồm: Báo cáo kết quả hoạt động CTXH; Báo cáo tổng kết hoạt động năm; Các văn bản quy định, hướng dẫn có liên quan đến triển khai các hoạt động CTXH; Sổ sách ghi chép chính thức các thông tin, số liệu liên quan đến triển khai hoạt động CTXH

Trang 35

Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính: Đối tượng được lựa chọn tham gia nghiên

cứu định tính dựa vào các tiêu chí: là cán bộ lãnh đạo, NVYT của bệnh viện có tham gia vào việc triển khai các hoạt động CTXH, các nhà hảo tâm có đóng góp cho hoạt động CTXH, người bệnh được thụ hưởng từ hoạt động CTXH của bệnh viện

1Bảng 2.1 Số lượng mẫu của nghiên cứu định tính

STT Đối tượng tham gia PVS và TLN Số lượng (người)

Số cuộc (cuộc) Phỏng

vấn sâu

Thảo luận nhóm

01 Đại diện BGĐ Sở Y tế 01 01

02 BGĐ bệnh viện phụ trách CTXH 01 01

03 Trưởng/phó phòng CTXH 01 01

04 Trưởng/phó phòng Điều dưỡng 01 01

05 Trưởng/phó khoa Điều trị 01 01

Số liệu thứ cấp: Sử dụng các báo cáo liên quan đến việc triển khai hoạt động

CTXH như: Báo cáo hoạt động CTXH năm 2018; báo cáo tổng kết hoạt động 4/2016 đến tháng 3/2019; các sổ sách, quy định liên quan đến CTXH của bệnh viện

Nghiên cứu định lượng: Số liệu được lấy từ các báo cáo của bệnh viện (xây

dựng bảng kiểm dựa trên cơ sở 07 nhiệm vụ CTXH tại Thông tư 43, tất cả được tập hợp thành các biến số của nghiên cứu đưa vào bảng kiểm thu thập số liệu sẵn có

Nghiên cứu định tính: Sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích, gồm:

- 06 cuộc PVS với 06 người: Đại diện lãnh đạo Sở Y tế; BGĐ bệnh viện

phụ trách phòng CTXH; trưởng phòng CTXH (người hiểu rõ nhất về hoạt động CTXH); trưởng/phó phòng Điều dưỡng, trưởng khoa điều trị (bởi họ tham gia vào

Trang 36

hoạt động công tác xã hội bệnh viện); nhà hảo tâm (người có nhiều đóng góp tích cực vào hoạt động CTXH của bệnh viện)

- Và 03 cuộc TLN với 21 người: 01 nhóm gồm 03 nhân viên phòng

CTXH; 01 nhóm gồm 08 điều dưỡng trưởng khoa (trực tiếp thực hiện hoạt động CTXH tại bệnh viện) và 01 nhóm gồm 10 người bệnh nội trú (là những người bệnh

có thời gian nằm viện từ 03 ngày trở lên trong quá trình điều trị tại bệnh viện)

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Công cụ thu thập số liệu

Số liệu thứ cấp: Thu thập từ các báo cáo của bệnh viện nghiên cứu

Sử dụng bảng kiểm soạn sẵn dựa theo 07 nhiệm vụ về CTXH được quy định tại Thông tư 43/2015/TT-BYT, để thu thập số liệu thứ cấp Số liệu được thu thập từ các báo cáo liên quan đến đề tài, lấy từ tháng 4/2016 đến tháng 3/2019

Số liệu định lượng: Sử dụng bảng kiểm soạn sẵn dựa theo Khung lý thuyết

có tham khảo các biến của tác giả Phạm Tiến Nam và cộng sự (2017) và tác giả Nguyễn Thị Hải Liên (2017) [10], [16], [17] Đồng thời căn cứ vào tình hình thực tế tại bệnh viện đang nghiên cứu để hoàn chỉnh bảng kiểm soạn sẵn Ngoài ra, tổng hợp một số ý kiến của đối tượng tham gia nghiên cứu để làm rõ thực trạng của việc triển khai các hoạt động CTXH (Phụ lục 3)

Số liệu định tính: Sử dụng bộ câu hỏi PVS và TLN dựa theo Khung lý

thuyết, tham khảo bộ câu hỏi PVS, thảo luận nhóm của tác giả Phạm Tiến Nam và cộng sự, tác giả Nguyễn Thị Hải Liên [9], [10], [16], [17] Ngoài ra, còn căn cứ vào tình hình thực tế tại bệnh viện đang nghiên cứu để hoàn chỉnh bộ câu hỏi nhằm bổ sung thêm thông tin về việc triển khai hoạt động CTXH và một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động CTXH (từ phụ lục số 4 đến số phụ lục số 08)

- Phỏng vấn sâu (PVS) và thảo luận nhóm (TLN) là hai phương pháp được áp

dụng trong nghiên cứu này, nhằm bổ sung thông tin về việc triển khai hoạt động CTXH và các yếu tố ảnh hưởng đến triển khai hoạt động CTXH trong bệnh viện

- Thảo luận nhóm người bệnh được sử dụng để làm rõ hơn về các hoạt động

CTXH của bệnh viện

- Sau khi xây dựng Bộ câu hỏi PVS và TLN có xin ý kiến các chuyên gia góp

Trang 37

ý, chỉnh sửa cho phù hợp và thử nghiệm trước khi tiến hành thu thập thông tin để

đảm bảo tính phù hợp

- Quá trình PVS và TLN do nghiên cứu viên trực tiếp thực hiện, thời gian

khoảng 30 phút (cho PVS) và 60 phút (cho TLN), được ghi chép và ghi âm (từ phụ lục số 04 đến phụ lục số 08)

2.5.2 Quy trình thu thập số liệu

Điều tra viên: Là nghiên cứu viên và 02 nhân viên y tế của bệnh viện Nghiên

cứu viên trực tiếp giám sát các điều tra viên còn lại

- Tập huấn điều tra viên: Nghiên cứu viên trực tiếp tập huấn điều tra viên

Nội dung tập huấn điều tra viên bao gồm:

+ Đạo đức trong phỏng vấn: ĐTV giải thích mục tiêu nghiên cứu và xin sự đồng ý tham gia của các đối tượng tham gia nghiên cứu

+ Kỹ năng và phương pháp phỏng vấn theo nội dung bộ câu hỏi

- Tổ chức thu thập số liệu:

+ Nghiên cứu viên xin ý kiến Ban Giám đốc bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre để tiến hành thu thập số liệu từ tháng 4/2019 đến 6/2019 Nghiên cứu viên gặp trực tiếp đối tượng được chọn để PVS và tiếp hành phỏng vấn

+ Nghiên cứu viên kết hợp với 02 Điều tra viên (ĐTV) là điều dưỡng trưởng khoa của bệnh viện để tổ chức 03 cuộc thảo luận nhóm

+ Trong quá trình thu thập thông tin nghiên cứu có ghi âm và ghi chép nhanh nội dung các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm

+ Quá trình thu thập thông tin được dừng lại khi NCV nhận thấy các thông tin thu thập đã bão hòa

2.6 Các biến số nghiên cứu và định nghĩa biến

Các biến số trong nghiên cứu này được xây dựng dựa trên khung lý thuyết, tham khảo các biến trong nghiên cứu của tác giả Phạm Tiến Nam và cộng sự (2017), tác giả Nguyễn Thị Hải Liên (2017) [10], [16]

(Các biến số nghiên cứu và định nghĩa biến được thể hiện tại Phụ lục số 4)

2.6.1 Các nhóm biến số chính bao gồm

- Nhóm biến số về hoạt động “Hỗ trợ, tư vấn giải quyết các vấn đề về CTXH

Trang 38

cho người bệnh và NNNB trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh”;

- Nhóm biến số về hoạt động “Thông tin, truyền thông và phổ biến, giáo dục pháp luật”;

- Nhóm biến số về hoạt động “Vận động tiếp nhận tài trợ”;

- Nhóm biến số về hoạt động “Hỗ trợ nhân viên y tế”;

- Nhóm biến số về hoạt động “Đào tạo, bồi dưỡng”;

- Nhóm biến số về hoạt động “Tổ chức đội ngũ cộng tác viên làm CTXH của bệnh viện”

- Nhóm biến số về hoạt động “Tổ chức các hoạt động từ thiện, CTXH của bệnh viện tại cộng đồng”

2.6.2 Nội dung, chủ đề nghiên cứu định tính

Chủ đề nghiên cứu định tính cho mục tiêu 1, cách thức triển khai, gồm:

- Hoạt động tư vấn giải quyết các vấn đề về CTXH cho NB/NNNB trong quá

trình khám chữa bệnh

- Hoạt động thông tin, truyền thông và phổ biến, giáo dục pháp luật

- Hoạt động vận động, tiếp nhận tài trợ

- Hoạt động hỗ trợ nhân viên y tế

- Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng về CTXH

- Hoạt động tổ chức đội ngũ CTV làm CTXH của bệnh viện

- Hoạt động tổ chức các hoạt động từ thiện, CTXH của BV tại cộng đồng Chủ đề nghiên cứu định tính cho mục tiêu 2 khi triển khai hoạt động CTXH, với các yếu tố ảnh hưởng bao gồm:

- Chính sách và thực thi chính sách

- Sự ủng hộ của các bên có liên quan (Ban Giám đốc; NVYT, CTV.CTXH; NVCTXH; nhà hảo tâm; các cơ quan chức năng có liên quan)

- Khả năng về nguồn lực (nhân lực tham gia hoạt động CTXH; cơ sở vật chất

và trang thiết bị cần thiết; kinh phí cho hoạt động CTXH)

2.7 Phương pháp phân tích số liệu

2.7.1 Số liệu định lượng

- Sử dụng phần mềm Microsoft Excel 2013 để nhập và tổng hợp số liệu thứ

Trang 39

cấp từ Bảng thu thập số liệu định lượng

- Kết quả xử lý số liệu được trình bày dưới dạng bảng

2.7.2 Thông tin định tính

- Thông tin định tính của nghiên cứu được lấy từ băng ghi âm các cuộc phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm và được thu gọn, lọc các ý chính, quan trọng trả lời các câu hỏi nghiên cứu hoặc ghi chép những ý kiến trên sổ

- Các nội dung phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm được đánh máy lại và lưu dưới dạng văn bản Nghiên cứu viên mã hóa thông tin theo các nội dung nghiên cứu Mỗi chủ đề nghiên cứu được so sánh giữa các đối tượng nghiên cứu và tổng hợp lại để rút ra kết quả nghiên cứu

2.8 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu

- Nghiên cứu được thực hiện căn cứ vào Quyết định số HD3 ngày 25 tháng 4 năm 2019 của Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu Y sinh Trường Đại học Y tế Công cộng về việc chấp thuận các vấn đề đạo đức NCYSH

267/2019/YTCC Đối tượng nghiên cứu được thông báo mục đích của nghiên cứu và đồng ý tham gia nghiên cứu, trong quá trình PVS, TLN đối tượng nghiên cứu có quyền từ chối trả lời hoặc không tham gia ý kiến những câu hỏi mà họ không muốn trả lời hoặc khó trả lời Tất cả các thông tin liên quan đến đối tượng nghiên cứu đều được giữ bí mật hoàn toàn

- Mọi thông tin, số liệu phải được thu thập đầy đủ, trung thực, chính xác và chỉ sử dụng vào mục đích nghiên cứu, kết quả thu được của nghiên cứu sẽ được phản hồi đến các cơ quan chức năng tại địa phương, những đơn vị liên quan

Trang 40

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thực trạng triển khai hoạt động CTXH và một số kết quả ban đầu khi triển khai tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu từ tháng 4/2016 đến tháng 3/2019 3.1.1 Mô tả thực trạng các hoạt động CTXH đã được triển khai trong giai đoạn 2016 - 2019

Phòng CTXH Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu được thành lập từ tháng 4/2016, với nhiệm vụ thực hiện theo Thông tư 43/2015/TT-BYT của Bộ Y tế

2Bảng 3.1 Các hoạt động được Phòng CTXH triển khai

Thời gian Các hoạt động được Phòng CTXH triển khai

- Tiếp tục các hoạt động năm 2017 – 2018 đã triển khai

- Thông tin, truyền thông và phổ biến, giáo dục pháp luật

- Tổ chức đội ngũ cộng tác viên ngoài bệnh viện

- Tổ chức các hoạt động từ thiện tại bệnh viện và cộng đồng

Qua bảng mô tả thực trạng triển khai các hoạt động CTXH tại BVNĐC, nhận thấy giai đoạn 1 đã triển khai được 04/07 hoạt động CTXH; giai đoạn 2 đã triển khai được 06/07 hoạt động CTXH; giai đoạn 3 đã triển khai được 07/07 hoạt động

Ngày đăng: 31/01/2021, 14:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w